Tải bản đầy đủ (.doc) (9 trang)

Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, thực tiễn thi hành và hướng hoàn thiện

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (183.72 KB, 9 trang )

Bài tập học kỳ môn tố tụng hình sự
Lời Mở Đầu
Trong những năm gần đây cùng với xu thế hội nhập của thế giới, nền kinh tế đất nước ta ngày
một phát triển. Nhưng bên cạnh đó, tệ nạn xã hội cũng gia tăng, tình hình tội phạm có những diễn biến
ngày càng phức tạp. Cùng với quá trình phát triển Đảng ta đã xác định việc mở rộng dân chủ và đổi
mới trên mọi lĩnh vực của đời sống là cần thiết, trong đó những vấn đề liên quan đến người bào chữa
và địa vị pháp lý của người bào chữa được đặc biệt quan tâm. Việc xác định đúng đắn quyền, nghĩa vụ
của người bào chữa trong tố tụng hình sự sẽ góp phần rất quan trọng đối với hiệu quả hoạt động tố
tụng hình sự và công cuộc cải cách tư pháp nói chung. Tìm hiểu khía cạnh của vấn đề “Quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, thực tiễn thi hành và hướng hoàn
thiện” nhằm hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả việc tham gia tố tụng của người bào chữa.
Nội dung

I. Lý luận chung về người bào chữa
1. Khái niệm người bào chữa.
Theo từ điển giải thích luật học thì: Người bào chữa là người tham gia tố tụng để bênh vực,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo. Nếu hiểu theo một nghĩa rộng hơn thì Người bào
chữa là người dùng lý lẽ và chứng cớ để bênh vực cho một đương sự nào đó thuộc một vụ án hình sự
hay dân sự, hoặc cho việc bào chữa cho đương sự đó đang bị lên án.
Người bào chữa là người tham gia tố tụng không có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án. Họ
tham gia tố tụng là nhằm để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội. Người bào
chữa không phải là người tiến hành tố tụng mà chỉ là người tham gia tố tụng. Từ “tham gia” nói lên
tính chất, vai trò của người bào chữa. “Người tham gia” chỉ là người góp phần hoạt động của mình
vào một hoạt động chung nào đó, do những chủ thể khác chủ động và chính thức tiến hành. Hơn nữa,
người bào chữa không phải là người được nhân danh quyền lực nhà nước và không được sử dụng
quyền lực nhà nước như những tiến hành tố tụng
Hiện nay, ở nước ta vẫn chưa có được một định nghĩa thống nhất về người bào chữa, nhưng
theo các quy định của pháp luật thì người bào chữa là người được bị can bị cáo hoặc người đại diện
hợp pháp của họ lựa chọn. Trong trường hợp pháp luật quy định bắt buộc phải có người bào chữa, nếu
bị can bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì cơ quan điều tra


viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho họ ( bào chữa chỉ định)
(Khoản 2 điều 57 BLTTHS). Khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, người bào chữa được thủ trưởng cơ
quan điều tra, viện trưởng Viện kiểm sát, tránh án Tòa án hoặc hội đồng xét xử cấp giấy chứng nhận
người bào chữa. Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều bị can, bị cáo trong cùng vụ án nếu
quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau. Một bị can, bị cáo có thể nhờ hai hay nhiều người bào
chữa cho mình. Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án hoặc là người thân thích của những người này
hoặc đã tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ
án thì không được bào chữa ở vụ án đó nữa. Theo Điều 58 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003, người bào
chữa được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp cần phải giữ bí mật điều tra đối
với tội đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm an ninh quốc gia thì người bào chữa được tham gia tố tụng từ
khi kết thúc điều tra. Đặc biệt trong các trường hợp bắt người khẩn cấp và bắt người phạm tội quả tang
hoặc đang bị truy nã thì người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ.
1
Bài tập học kỳ môn tố tụng hình sự
Như vậy, dựa trên các quy định của pháp luật ta có thể hiểu người bào chữa như sau: “Người
bào chữa là người được cơ quan tiến hành tố tụng chứng nhận, tham gia tố tụng với mục đích làm
sáng tỏ những tình tiết liên quan đến sự thật của vụ án nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về
mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.
2. Phân loại người bào chữa
Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 BLTTHS năm 2003 thì người bào chữa có thể là luật sư;
người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân.
- Luật sư: Là người đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật tham gia tố tụng theo
yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đó theo quy
định của pháp luật. Hoạt động bào chữa của Luật sư là hoạt động có tính chất chuyên nghiệp
(1)
, đây là
dội ngũ chính tham gia bào chữa trong TTHS. Hiện nay, Luật luật sư đang điều chỉnh các quan hệ
pháp luật cụ thể về luật sư, theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 thì luật sư phải đáp ứng được các yêu
cầu: “Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất

đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề
luật sư, có sức khoẻ bảo đảm”, Khi muốn hành nghề luật sư thì phải “có Chứng chỉ hành nghề luật sư
và gia nhập một Đoàn luật sư”.
- Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo: Người đại diện hợp pháp
cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần. Ngoài ra theo luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 còn có các chủ thể khác là đại diện hợp pháp như: bố nuôi, mẹ nuôi, người đỡ đầu,
anh, chị em ruột và những người khác theo quy định của pháp luật đối với những trường hợp người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần.
Người địa diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một chủ thể tư pháp có tư cách của
người bào chữa trong tố tụng hình sự.
- Bào chữa viên nhân dân: Bào chữa viên nhân dân có thể là người được Ủy ban mặt trận tổ
quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của mặt trận tổ quốc cử để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo là người của tổ chức mình. Về mặt pháp lý, bào chữa viên nhân dân và Người đại diện hợp
pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một chủ thể tư pháp có tư cách của người bào chữa trong
tố tụng hình sự. Nhưng trong thực tiễn tố tụng hình sự ở Việt Nam, việc xem xét thủ tục chứng nhận
tư cách người bào chữa, các nguyên tắc, phạm vi tham gia tố tụng lại chưa được hướng dẫn và quy
định chi tiết, dẫn đến các cơ quan tiến hành tố tụng các cấp gặp rất nhiều khó khăn trong việc đảm bảo
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ. Đồng thời, với chất lượng hành nghề của phần đông Bào
chữa viên nhân dân không cao, gặp rất nhiều cản ngại, vướng mắc do những hạn hẹp về kiến thức
pháp luật, lại không được đào tạo chuyên sâu về các kỹ năng hành nghề trong tranh tụng vụ án hình
sự, không được tập sự trong các tổ chức hành nghề luật sư chuyên nghiệp nên trông thực tiễn đây là
loại chủ thể rất ít khi tham gia bào chữa trong TTHS.
II. Địa vị pháp lí của người bào chữa theo pháp luật hiện hành.
1. Quyền của người bào chữa
Hiện nay, BLTTHS năm 2003 đã quy định quyền của người bảo chữa một cách khá chi tiết và
chặt chẽ so với các quy định của pháp luật trước đây. Điều này đã khiến cho quyền lợi của người bào
chữa được mở rộng và đảm bảo tốt hơn trong quá trình tố tụng hình sự. Khoản 2 điều 58 BLTTHS
2003 đã quy định một cách khá chi tiết các quyền mà người bào chữa khi tham gia tố tụng có được:
“a) Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì

được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản
về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình
bào chữa;
2
Bài tập học kỳ môn tố tụng hình sự
b)Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung
bị can;
c) Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ
luật này;
d) Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo,
người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác;
đ) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
e) Gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;
g) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết
thúc điều tra theo quy định của pháp luật;
h) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;
i) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
k) Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có
nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của Bộ luật này.”
Như vậy, Khi tham gia tố tụng hình sự người bào chữa có những quyền sau:
Thứ nhất, Người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lấy khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung
bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt
động điều tra khác và có quyền xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các
quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho
người bào chữa thực hiện đúng chức năng của mình là làm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo; góp phần đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử đúng
người, đúng tội. Việc người bào chữa được có quyền có mặt trong các hoạt động điều tra có ý nghĩa
vô cùng quan trọng. Khi có mặt người bào chữa, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sẽ ổn định về mặt
tâm lí hơn, đồng thời những người tiến hành các hoạt động điều tra thận trọng, tuân thủ pháp luật hơn.

Người bào chữa theo dõi được quá trình điều tra và tình hình chứng cứ điều đó có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc chuẩn bị lời bào chữa và tham gia tranh tụng của họ sau này tại phiên tòa. Người bào
chữa còn có quyền hỏi người bị tạm giữ, bị can khi điều tra viên đồng ý để làm sáng tỏ những tình tiết
có lợi cho người bị tạm giữ, bị can. Khi tham gia các hoạt động điều tra, xem các biên bản về hoạt
động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào
chữa, nếu phát hiện những vi phạm pháp luật, người bào chữa có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm
quyền.
Thứ hai, Người bào chữa có quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm
hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can. Cũng như quy định ở trên quy định quyền này của
người bào chữa nhằm tạo điều kiện cho người bào chữa có thể chủ động hơn trong việc có mặt khi lấy
lời khai của người bị tạm giữ, bị can...
Thứ ba, Theo điều 43 và điểm c khoản 2 Điều 58 BLTTHS thì người bào chữa có quyền đề
nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ theo Điều 42
BLTTHS về những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng, và nếu xét thấy
việc những người này tiến hành hoặc tham gia tố tụng có thể làm ảnh hưởng không tốt đến quyền và
lợi ích hợp pháp của người mà mình bào chữa.
Thứ tư, Người bào chữa có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa
từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá
nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công
tác. Muốn bào chữa tốt được cho thân chủ của mình người bào chữa không chỉ dựa vào những chứng
cứ, tài liệu do cơ quan điều tra thu thập được, làm như vậy sẽ bị ảnh hưởng của kết quả điều tra mà cơ
quan điều tra đã đưa ra hoặc kết luận. Vì vậy, người bào chữa phải có quyền tự mình đi thu thập tài
3
Bài tập học kỳ môn tố tụng hình sự
liệu, đồ vật, đây cũng có thể coi là quyền để phục vụ cho các quyền khác của người bào chữa, ví dụ
như quyền gặp bị can bị cáo, sau khi gặp và có mặt trong khi hỏi cung, người bào chữa có thể biết
thêm được những tình tiết mới hoặc bị can, bị cáo yêu cầu người bào chữa tìm giúp những nhân
chứng, vật chứng (tài liệu, đồ vật) mà có thể cung cấp những tình tiết có lợi cho bị can, bị cáo.
Thứ năm, Người bào chữa có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Người bào chữa có quyền
đưa ra tài liệu đồ vật yêu cầu theo hướng có lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Người bào chữa

cũng có quyền đưa ra yêu cầu như triệu tập thêm nguời làm chứng, trưng cầu giám định nếu xét thấy
điều đó là cần thiết và có lợi cho người được bào chữa. Cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng
quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu của người bào chữa.
Thứ sáu, Người bào chữa có quyền gặp người bị tạm giữ, gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam.
Người bào chữa phải thường xuyên gặp gỡ, trao đổi tiếp xúc với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để có
thể nắm được đầy đủ các tình tiết của vụ án, các đặc điểm nhân thân và diễn biến tâm lí, tâm tư,
nguyện vọng của người được bào chữa. Trên cơ sở đó, người bào chữa mới thu thập được những tình
tiết gỡ tội, giảm nhẹ tội để bào chữa cho những người này. Qua gặp gỡ trao đổi, người bào chữa giải
thích những vấn đề về pháp luật và cũng có thể tác động đến người bị tạm giữ, bị can, bị cáo làm cho
họ có thái độ khai báo tốt hơn để có thể được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Thứ bảy, Sau khi kết thúc điều tra, người bào chữa có quyền đọc, ghi chép và sao chụp những
tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến người bào chữa. Qua việc đọc và ghi chép hồ sơ vụ án, người
bào chữa nắm được nội dung của vụ án, nắm được những chứng cứ buộc tội đối với người được bào
chữa, trên cơ sở đó người bào chữa chuẩn bị cho việc bào chữa, tham gia tranh tụng tại phiên tòa.
Qua việc đọc hồ sơ, tài liệu của vụ án, người bào chữa cũng có điều kiện để phát hiện những
sai lầm, thiếu sót, vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra trên cơ sở đó đưa ra những yêu cầu đối
với cơ quan có thẩm quyền.
Thứ tám, Người bào chữa có quyền tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Tại phiên tòa xét xử
vai trò của người được bào chữa thể hiện rõ nét nhất. Người bào chữa có quyền tranh luận dân chủ
trước tòa án ( Điều 19 BLTTHS 2003).
Như vậy, quyền tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa của người bào chữa được BLTTHS năm
2003 quy định rất chi tiết và rõ ràng. Người bào chữa có quyền hỏi bị cáo và những người khác về
những vấn đề của vụ án để có được có những câu trả lời theo hướng có lợi cho bị cáo. Khi tranh luận
người bào chữa phải phần tích, lập luận, đưa ra những lí lẽ để bảo vệ bị cáo và bác bỏ những lời buộc
tội bị cáo. Ngoài ra, khi tham gia phiên tòa, người bào chữa còn có quyền xem xét vật chứng, tài liệu
liên quan đến vụ án (Khoản 4 Điều 209 BLTTHS năm 2003).
Thứ chín, Người bào chữa có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Quyền này đảm bảo cho các hoạt động tố tụng được khách quan và
toàn diện. Về thời hạn cơ quan có thẩm quyền phải giải quyết các khiếu nại tại các điều 329, 330, 331,
332 của BLTTHS năm 2003, theo đó thì: Thời hạn giải quyết khiếu nại của cơ quan có thẩm quyền

cùng cấp là không quá 7 ngày, cơ quan có thẩm quyền cấp trên trực tiếp là không quá 15 ngày. Đối với
khiếu nại kiểu này thì về nguyên tắc phải xem xét giải quyết ngay. Trong trường hợp phải có thời gian
để xác minh thêm thì thời hạn giải quyết không được quá 3 ngày. Nếu không đồng ý với kết quả giải
quyết và tiếp tục khiếu nại thì thời hạn giải quyết lần cuối cùng là không quá 7 ngày.
Thứ mười, Người bào chữa còn có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo
là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b
khoản 2 Điều 57 của Bộ luật này. Đây là quyền độc lập của người bào chữa, người bào chữa kháng
cáo không phụ thuộc ý chí của bị cáo cũng như người đại diện hợp pháp của bị cáo. Kháng cáo của
người bào chữa phải theo hướng có lợi cho bị cáo.
2. Nghĩa vụ của người bào chữa
4
Bài tập học kỳ môn tố tụng hình sự
Tương ứng với những quyền mà người bào chữa có được theo quy định của BLTTHS năm
2003 thì theo khoản 3 Điều 58 BLTTHS năm 2003 thì người bào chữa có những nghĩa vụ sau:
Một là, Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can bị cáo.
Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thì
người bào chữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Việc giao nhận các
tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập biên bản theo quy
định tại Điều 95 của Bộ luật này.
Hai là, Giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của họ.
Ba là, Không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình đã đăm
nhận bào chữa, nếu không có lí do chính đáng.
Bốn là, Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người
khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật.
Năm là, Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
Sáu là, Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa;
không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích
của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan tổ chức và cá nhân.

Người bào chữa làm trái pháp luật thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị thu hồi giấy
chứng nhận bào chữa, xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây
thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
3. Ý nghĩa chế định địa vị pháp lí của người bào chữa trong pháp luật hiện hành.
* Ý nghĩa pháp lí.
Về mặt pháp lý việc quy định quyền và nghĩa vụ của người bào chữa có một ý nghĩa rất quan
trọng, với những biểu hiện cụ thể sau:
Thứ nhất, Sự tham gia tố tụng của người bào chữa có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bằng kinh nghiệm nghề nghiệp và sự hiểu biết của mình
người bào chữa tham gia vào quá trình giải quyết vụ án để giúp bảo vệ lợi ích hợp pháp của người bị
tạm giữ, bị can bị cáo. Qua đó sự tham gia của người bào chữa cũng góp phần vào việc xác định sự
thật của vụ án được đúng đắn, không để bị can, bị cáo bị buộc tội oan sai. Việc có mặt của người bào
chữa lúc này sẽ là cơ sở để bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của bị cáo.
Thứ hai, việc quy định quyền và nghĩa vụ của người bào chữa góp phần nâng cao hiệu quả
hoạt động của của quá trình tiến hành tố tụng. Đảm bảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng và các chủ
thể có thẩm quyền phải thực hiện đúng đắn các quy định của pháp luật. Với tư cách là người bảo vệ
lợi ích chính đáng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo người bào chữa tìm các chứng cứ, chứng minh
nhằm gỡ tội, giảm tội cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đó. Đồng thời, cũng giám sát việc thi hành
pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng và các chủ thể có quyền. Do đó các cơ quan và chủ thể này
phải cẩn thận trong các hoạt động thực thi pháp luật của mình.
Thứ ba, Việc quy định địa vị pháp lí của người bào chữa sẽ đảm bảo được tính công khai minh
bạch trong các quá trình của thủ tục tiến hành tố tụng. Dựa vào các quyền mà pháp luật trao cho người
bào chữa trong quá tình tố tụng từ khi khởi tố vụ án, hay trong các trường hợp bắt người cho đến khi
thi hành án...người bào chữa tham gia vào qua trình đó sẽ khiến cho các tình tiết vụ án được công khai
và minh bạch...
* Ý nghĩa chính trị xã hội.
Quy định địa vị pháp lí của người bào chữa trong tố tụng hình sự sẽ là cơ sở đảm bảo cho sự
công bằng xã hội chủ nghĩa.
5

×