Ch¬ng 1: Tæng quan nghiªn cøu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Để tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt của nền
kinh tế thị trường, đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất một mặt phải không ngừng cải
tiến các mặt hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm, mặt khác phải tích cực hạ thấp
được giá bán. Vì vậy, đối với các DNSX việc hạ giá thành sản phẩm là tiền đề để
nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước của DN. Đối với giá
thành sản phẩm tính chính xác của nó lại chịu ảnh hưởng của kết quả tập hợp chi
phí sản xuất. Đứng trước yêu cầu cấp bách đó, đòi hỏi mỗi DN không chỉ nổ lực
tăng thêm sản lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm, mà phải tăng cường công tác
quản lý giám đốc chặt chẽ các khoản chi phí chi ra trong quá trình sản xuất.
Đứng trên góc độ kế toán, việc giải quyết vấn đề này là phải tổ chức tốt công
tác kế toán CPSX. Như vậy, kế toán CPSX là nội dung vô cùng quan trọng trong tổ
chức công tác kế toán của DNSXCN. Kế toán CPSX cung cấp thông tin tổng hợp về
CPSX, giúp lãnh đạo DN phân tích tình hình thực hiện kế hoạch chi phí trong từng
thời kỳ. Từ đó tăng cường biện pháp kiểm tra, giám đốc nhằm quản lý chặt chẽ các
khoản chi phí bỏ ra một cách kịp thời. Ta có thể thấy rằng công tác kế toán CPSX
khoa học, chính xác là một yêu cầu thiết thực và có ý nghĩa rất quan trọng trong
công tác kế toán và trong công tác quản lý DN hiện nay.
Mặt khác, chế độ kế toán hiện hành còn nảy sinh nhiều vấn đề đòi hỏi cần phải
có sự hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Có vậy mới
phát huy được tốt nhất vai trò và chức năng của kế toán đối với doanh nghiệp.
Trên thực tế hiện nay kế toán CPSX còn gặp rất nhiều bất cập. Trước những
yêu cầu của nền kinh tế thị trường, kế toán không chỉ dừng lại ở việc ghi chép, phản
ánh, tổng hợp số liệu từ các chứng từ vào sổ sách kế toán mà còn phải phân tích,
đánh giá các số liệu, các báo cáo kế toán, thông qua đó để có những ý kiến đề xuất
giúp cho nhà quản trị có thể đưa ra được các quyết định, giải pháp thích hợp và
đúng đắn nhất cho sự phát triển của doanh nghiệp.
1
Qua kết quả khảo sát thực tế tại Công ty TNHH một thành viên thuốc lá Thanh
Hoá cho thấy kế toán CPSX nhìn chung được thực hiện một cách nề nếp, tuân thủ
chế độ kế toán hiện hành và phù hợp với đặc điểm của Công ty. Song đi sâu vào
từng vấn đề cụ thể của kế toán CPSX thì còn tồn tại nhiều bất cập, chưa phù hợp
với quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam và hướng dẫn của chế độ kế toán
hiện hành. Do đó cần được nghiên cứu, phân tích và từ đó đưa ra giải pháp hoàn
thiện.
1.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Qua tìm hiểu thực tế tại Công ty TNHH một thành viên thuốc lá Thanh Hoá,
cho thấy CPSX ở Công ty bao gồm nhiều yếu tố và phát sinh ở các phân xưởng SX.
Vậy, vấn đề đặt ra cho Công ty là làm thế nào để tập hợp đầy đủ các yếu tố CPSX
đó? Để minh bạch và chính xác CPSX thực tế phát sinh thì Công ty cần phải làm
gì? Làm thế nào để vừa tập hợp CPSX đúng theo từng yếu tố, vừa phù hợp và chính
xác theo từng phân xưởng để đáp ứng yêu cầu tính giá thành của DN? Trả lời cho
các câu hỏi trên chính là DN đang trả lời câu hỏi làm gì và làm như thế nào để hoàn
thiện kế toán CPSX trong DN.
Xuất phát từ những vấn đề về lý luận chung và kết hợp với tình hình thực tế
tại Công ty, tôi đã chọn đề tài: “Kế toán chi phí sản xuất thuốc lá tại Công ty
TNHH một thành viên thuốc lá Thanh Hoá – Thực trạng và giải pháp” làm luận
văn tốt nghiệp của mình.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Sau khi nghiên cứu về vấn đề này, trước hết sẽ giúp cho doanh nghiệp nhìn
nhận một cách đúng đắn và toàn diện hơn về thực trạng tổ chức công tác kế toán
CPSX của đơn vị mình, từ việc tập hợp các chi phí trong quá trình SX đến việc
cung cấp thông tin về CPSX cho các nhà lãnh đạo. Từ đó giúp các nhà lãnh đạo
quản lý chặt chẽ hơn nữa các khoản chi phí bỏ ra trong tất cả các khâu của quá trình
sản xuất và giảm thiểu được những tổn thất không đáng có trong quá trình SXKD.
Đây cũng là tiền đề để hạ giá thành sản phẩm nhằm tăng sức cạnh tranh trên thị
trường và tăng doanh lợi cho công ty. Mặt khác, sau khi nghiên cứu về kế toán
2
CPSX, DN sẽ nhìn nhận đánh giá một cách khách quan tổ chức công tác kế toán
CPSX ở đơn vị mình đã tốt hay chưa, còn tồn tại những vấn đề gì, ở khâu nào chưa
được thực hiện tốt. Từ đó giúp DN hoàn thiện việc tổ chức công tác kế toán CPSX
của đơn vị mình.
Tổ chức tốt công tác kế toán CPSX sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác
định nội dung, phạm vi chi phí cấu thành trong giá thành sản phẩm, lượng giá trị
các yếu tố chi phí đã chuyển dịch vào sản phẩm hoàn thành. Từ đó giúp các nhà
quản trị lập dự toán các khoản chi phí sao cho hợp lý vào kỳ kế toán tiếp theo.
Về phía các ban ngành có liên quan như Bộ tài chính, bộ chủ quản thì nghiên
cứu kế toán CPSX trong DNSX sẽ giúp cho ban ngành nhận định đánh giá một cách
tổng thể và toàn diện về nền kinh tế, từ đó đưa ra đường lối chính sách phù hợp.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng kế toán chi phí sản xuất và các giải
pháp nhằm hoàn thiện kế toán CPSX thuốc lá tại Công ty TNHH một thành viên
thuốc lá Thanh Hoá, có trụ sở tại: Tiểu khu 3 - Thị trấn Hà Trung – Thanh Hoá.
Số liệu nghiên cứu trong đề tài là số liệu năm 2008.
1.5. Kết cấu luận văn tốt nghiệp
Kết cấu luận văn tốt nghiệp gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất trong Doanh nghiệp SXCN
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng kế toán CPSX
thuốc lá tại Công ty TNHH một thành viên thuốc lá Thanh Hoá.
Chương 4: Các kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán CPSX thuốc lá tại
Công ty TNHH một thành viên thuốc lá Thanh Hoá
3
CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CPSX
TRONG DOANH NGHIỆP SX CÔNG NGHIỆP.
2.1. Một số định nghĩa, khái niệm và lý thuyết về kế toán chi phí sản xuất trong
DNSX công nghiệp.
2.1.1. Một số khái niệm, định nghĩa.
Bất kỳ một DNSX nào muốn tiến hành hoạt động SXKD nào đều phải bỏ ra
một lượng chi phí nhất định. Lượng chi phí này có thể là chi phí về các loại đối
tượng lao động, tư liệu lao động và lao động con người, các chi phí dịch vụ mua
ngoài và các chi phí bằng tiền khác. Để có thể biết được số chi phí mà DN đã chi ra
trong từng kỳ hoạt động là bao nhiêu nhằm tổng hợp tính toán các chỉ tiêu kinh tế
tổng hợp phục vụ yêu cầu quản lý, tất cả các khoản chi phí trên cuối cùng đều được
biểu hiện bằng thước đo tiền tệ.
Theo VAS 01( Mục 31) thì: Chi phí là tổng giá trị các lợi ích kinh tế trong kỳ kế
toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh
các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối
cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.
Theo Luật kế toán Việt Nam, Chi phí sản xuất được định nghĩa: Chi phí sản xuất là
biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá
mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động SXKD trong một thời kỳ nhất
định như tháng, quí, năm.
Như vậy, chi phí sản xuất thực chất là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối
tượng tính giá thành nhất định. Chi phí SX có phạm vi hẹp hơn chi phí của DN và
nằm trong chi phí của DN. Trong điều kiện giá cả thị trường thường xuyên biến
động thì việc đánh giá chính xác các chi phí SX không những là yếu tố khách quan
mà còn là vấn đề trọng yếu nhằm xác định đúng đắn CPSX phù hợp với giá cả thị
trường, tạo điều kiện cho DN bảo toàn và phát triển vốn.
4
2.1.2. Một số lý thuyết về kế toán chi phí sản xuất trong DNSX công nghiệp.
Chi phí sản xuất trong DNSXCN bao gồm nhiều
nội dung kinh tế, công dụng, địa điểm phát sinh khác nhau. Do đó để hạch
toán đúng đắn chi phí sản xuất cần xác định những phạm vi, giới hạn mà chi phí sản
xuất cần tập hợp và xác định đối tượng tập hợp CPSX.
Xác định đối tượng tập hợp chi phí là khâu đầu tiên, cần thiết cho công tác kế
toán tập hợp chi phí sản xuất. Doanh nghiệp chỉ có thể tổ chức tốt công tác kế toán
chi phí sản xuất nếu xác định đối tượng tập hợp chi phí phù hợp với đặc điểm sản
xuất, yêu cầu quản lý chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
Để xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí cần căn cứ vào đặc điểm tổ chức
sản xuất của doanh nghiệp, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, địa điểm phát
sinh chi phí, mục đích công dụng của chi phí, yêu cầu và trình độ quản lý của DN.
Từ những căn cứ nói trên, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất sản phẩm có thể là:
Từng phân xưởng, bộ phận, đội sản xuất hoặc toàn bộ doanh nghiệp, từng giai đoạn
công nghệ hoặc toàn bộ quy trình công nghệ, từng sản phẩm, đơn đặt hàng, từng
nhóm sản phẩm hoặc bộ phận, chi tiết sản phẩm.
Tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tượng quy định có tác dụng phục vụ tốt
cho việc quản lý sản xuất, hạch toán kinh phí nội bộ, tính giá thành kịp thời, chính
xác.
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất.
Trên cơ sở nội dung CPSX và đối tượng tập hợp CPSX, căn cứ vào đặc điểm
hoạt động SX, vào quy trình công nghệ SX,…mà kế toán DNSX có thể lựa chọn
phương pháp tập hợp CPSX theo phương pháp tập hợp CP trực tiếp hoặc phương
pháp tập hợp CP gián tiếp.
+ Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp: Phương pháp này được áp dụng khi chi phí
sản xuất có mối quan hệ trực tiếp với từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt.
Phương pháp này đòi hỏi phải tổ chức ghi chép ban đầu đúng theo đối tượng, trên
cơ sở đó kế toán tập hợp số liệu theo từng đối tượng liên quan và ghi trực tiếp vào
5
sổ kế toán theo đúng đối tượng. Phương pháp tập hợp trực tiếp đảm bảo việc hạch
toán chi phí sản xuất chính xác.
+ Phương pháp tập hợp chi phí gián tiếp(còn gọi là phương pháp phân bổ gián tiếp)
Là phương pháp áp dụng khi chi phí sản xuất có liên quan với nhiều đối tượng tập
hợp chi phí sản xuất mà không thể tổ chức việc ghi chép ban đầu riêng biệt theo
từng đối tượng được. Theo phương pháp này doanh nghiệp phải tổ chức ghi chép
ban đầu cho các chi phí sản xuất theo địa điểm phát sinh chi phí để kế toán tập hợp
chi phí. Sau đó phải chọn tiêu thức phân bổ để tính toán, phân bổ chi phí sản xuất
đã tập hợp cho các đối tượng có liên quan một cách hợp lý nhất và đơn giản nhất.
Quá trình phân bổ gồm 2 bước:
(+) Xác định hệ số phân bổ (H):
Tổng số chi phí cần phân bổ
Hệ số phân bổ =
Tổng số tiêu thức phân bổ
(+) Tính số chi phí phân bổ cho từng đối tượng :
Phương pháp kế toán CPSX:
Việc lựa chọn phương pháp kế toán CPSX trong DN phải luôn phù hợp với yêu
cầu quản lý hàng tồn kho của chính DN đó. Do vậy, để thực hiện kế toán CPSX
doanh nghiệp có thể áp dụng một trong hai phương pháp sau:
- Phương pháp kê khai thường xuyên( KKTX): theo dõi và phản ánh thường xuyên
liên tục có hệ thống tình hình các khoản chi phí chi ra cho hoạt động SX.
- Phương pháp kiểm kê định kỳ( KKĐK): là phương pháp hạch toán căn cứ vào kết
quả kiểm kê thực tế để phản ánh.
Chi phí SX là toàn bộ các khoản chi phí phát sinh tại các PX, tổ, đội, bộ phận
SX gắn liền với hoạt động SX chế tạo SP của DN. CPSX bao gồm nhiều loại, nhiều
thứ khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng
Chi phí phân bổ cho
Từng đối tượng
=
Tiêu thức phân bổ của
từng đối tượng
x Hệ số phân bổ chi phí
6
như phục vụ cho việc ra các quyết định, chi phí SX được phân thành 3 khoản mục
chi phí cơ bản sau:
- Chi phí NVLTT: bao gồm giá trị NVL chính, vật liệu phụ, nhiên liệu,… được xuất
dùng trực tiếp để SXSP.
- Chi phí NCTT: là các khoản chi phí phải trả cho công nhân trực tiếp SXSP như
tiền lương, các khoản phụ cấp, các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tiền
lương của công nhân trực tiếp SX.
- Chi phí SXC: là các khoản CPSX ngoại trừ chi phí NVLTT và chi phí NCTT. Chi
phí SXC bao gồm: chi phí nhân viên quản lý PX, chi phí CCDC phục vụ SX, chi
phí khấu hao TSCĐ dùng cho SX, chi phí dịch vụ phục vụ SX,…
2.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu về kế toán CPSX tại các doanh nghiệp
qua các công trình nghiên cứu từ những năm trước.
Ta thấy rằng CPSX luôn là chỉ tiêu quan trọng và được quan tâm hàng đầu
trong các DNSX. Vì vậy, kế toán CPSX luôn được xác định là khâu trọng tâm của
tổ chức công tác kế toán tại các DNSX. Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán
CPSX, kế toán CPSX trong DNSXCN luôn là mảng để tài được nhiều người lựa
chọn để nghiên cứu.
Qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu năm trước viết về kế toán CPSX
trong DNSXCN, em thấy hầu hết các luận văn, chuyên đề của các khoá trước viết
về đề tài này đều tập trung nghiên cứu kỹ về thực trạng kế toán CPSX, cụ thể là nội
dung, phương pháp và trình tự kế toán tại đơn vị thực tập. Bên cạnh đó họ cũng chỉ
ra những hạn chế trong tổ chức công tác kế toán CPSX ở đơn vị thực tập, như công
tác tổ chức bộ máy kế toán; công tác tập hợp CPSX; công tác lập, lưu chuyển và
quản lý chứng từ,….từ đó làm căn cứ để đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán
CPSX
Song các luận văn, chuyên đề này đều chưa đề cập đến sự ảnh hưởng của nhân
tố môi trường đến kế toán CPSX trong DNSXCN như thế nào, việc tuân thủ chuẩn
mực kế toán và áp dụng chế độ kế toán hiện hành ra sao? Do đó trong quá trình thực
hiện nghiên cứu đề tài họ không có căn cứ để nhận xét, so sánh và đánh giá công tác
7
tổ chức kế toán CPSX ở đơn vị thực tập với các đơn vị khác và với xu hướng
chung.
Qua tìm hiểu luận văn tốt nghiệp của Nguyễn Thị Mai Phương – sinh viên Học
viện Tài Chính với đề tài: “ Hoàn thiện kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm
tại Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà”, em thấy luận văn này chỉ ra rất rõ cách thức
tiến hành kế toán CPSX ở Công ty bánh kẹo Hải Hà từ việc tập hợp chứng từ ra sao
đến việc vào sổ kế toán thế nào và còn có những dẫn chứng rất cụ thể. Đồng thời
cũng đưa ra những nhận xét về từng mảng của kế toán CPSX ở công ty và mức độ
tuân thủ chế độ kế toán hiện hành. Tuy nhiên, luận văn lại không đưa ra cơ sở của
những nhận xét trên như chế độ kế toán hiện hành ở Công ty,…? Do đó không có
căn cứ để đánh giá công tác tổ chức kế toán CPSX ở Công ty này có phù hợp với xu
thế chung hay không và có sự khác biệt gì so với các đơn vị khác.
Không riêng gì luận văn của Nguyễn Thị Mai Phương mà còn có nhiều luận
văn của các sinh viên ở các trường khác khi đi nghiên cứu về thực trạng kế toán
CPSX trong DNSXCN cũng rơi vào tình trạng tương tự như trên, như Luận văn tốt
nghiệp của Nguyễn Tuấn Ngọc – sinh viên trường ĐH quản lý và kinh doanh Hà
Nội, luận văn tốt nghiệp của Đinh Xuân Hợi – Sinh viên trường ĐH Công nghiệp
Hà Nội, luận văn tốt nghiệp của Phạm Thị Phượng – sinh viên trường ĐH quản lý
và kinh doanh Hà Nội và một số luận văn, chuyên đề khác.
Do vậy để khắc phục tình trạng trên, theo em khi nghiên cứu về kế toán CPSX
trong các DNSXCN ta không chỉ dừng lại ở việc mô tả có dẫn chứng quá trình thực
hiện kế toán CPSX ở DN, mà ta nên tìm hiểu nghiên cứu xem căn cứ vào đâu mà kế
toán DN có thể làm như vậy. Từ đó ta có thể nhận xét, đánh giá và so sánh công tác
kế toán CPSX ở DN với các DNSXCN khác và với xu thế chung như thế nào để có
những điều chỉnh cho phù hợp.
2.3. Nội dung kế toán CPSX trong các DNSXCN.
2.3.1. Kế toán CPSX qui định trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt
Nam( VAS).
- Theo quy định của VAS 01: Chuẩn mực chung
8
+ Chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp như giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp, chi phí lãi tiền vay và các chi phí liên quan đến hoạt dộng cho các bên khác
sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền Những chi phí này phát sinh dưới
dạng tiền và các khoản tuơng đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc, thiết bị.
+ Chi phí sản xuất được ghi nhận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi
các khoản chi phí này làm giảm bớt lợi ích kinh tế trong tương lai có liên quan đến
việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả và chi phí này phải được xác định một
cách đáng tin cậy.
+ Các chi phí sản xuất được ghi chép trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
phải tuân thủ theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí.
+ Một khoản CPSX được ghi nhận ngay vào báo báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh trong kỳ khi chi phí đó không đem lại lợi ích kinh tế trong các kỳ sau.
- Theo quy định của VAS 02: Hàng tồn kho
+ Chi phí chế biến hàng tồn kho bao gồm những chi phí có liên quan trực tiếp đến
sản phẩm sản xuất, như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí SXC cố định và chi phí
SXC biến đổi phát sinh trong quá trình chuyển hoá nguyên liệu, vật liệu thành thành
phẩm.
. Chi phí SXC cố định là những chi phí SX gián tiếp, thường không thay đổi theo số
lượng sảnphẩm SX, như chi phí khấu hao, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, nhà
xưởng,… và chi phí quản lý hành chính ở các phân xưởng SX.
. Chi phí SXC biến đổi là những CPSX gián tiếp, thường thay đổi trực tiếp hoặc gần
như trực tiếp thoe số lượng SPSX, như chi phí nguyên liệu, vật liệu gián tiếp, chi
phí nhân công gián tiếp.
+ Chi phí SXC cố định phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị SP được dựa
trên công suất bình thường của máy móc SX. Công suất bình thường là số lượng SP
đặt được ở mức trung bình trong các điều kiện SX bình thường.
. Trường hợp mức SP thực tế ra cao hơn công suất bình thường thì chi phí SXC cố
định được phân bổ cho mỗi đơn vị SP theo chi phí thực té phát sinh.
9
. Trường hợp mức SP thực tế SX ra thấp hơn công suất bình thường thì CP SXC cố
định chỉ được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị SP theo mức công suất
bình thường. Khoản chi phí SXC không phân bổ được ghi nhận là CPSX, kinh
doanh trong kỳ.
Chi phí SXC biến đổi được phân bổ hét vào CP chế biến cho mỗi đơn vị Sp theo chi
phí thực tế phát sinh.
+ Trường hợp một quy trình SX ra nhiều loại SP trong cùng một khoảng thời gian
mà CP chế biến của mỗi loại SP không được phản ánh một cách tách biệt, thì chi
phí chế biến được phân bổ cho các loại SP theo tiêu thức phù hợp và nhất quán giữa
các kỳ kế toán.
Trường hợp có sản phẩm phụ, thì giá trị SP phụ được tính theo giá trị thuần có thể
thực hiện được và giá trị này được trừ (-) khỏi chi phí chế biến đã tập hợp chung
cho SP chính.
- Theo quy định của VAS 16: Chi phí đi vay
+ Chi phí đi vay phải được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ khi
phát sinh, trừ khi được vốn hoá.
+ Chi phí liên quan trực tiếp đến việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất sản phẩm dở
dang được tính vào giá trị của tài sản đó (được vốn hoá ) khi doanh nghiệp chắc
chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai do sử dụng tài sản đó và chi phí đi vay
có thể xác định một cách đáng tin cậy.
2.3.2. Kế toán CPSX theo chế độ kế toán hiện hành( Theo QĐ15/2006 – BTC)
2.3.2.1. Kế toán chi phí NVLTT
Chứng từ kế toán: Phiếu xuất kho, hợp đồng mua hàng, hoá đơn GTGT,
bảng kê mua hàng, …
Tài khoản kế toán: Để kế toán chi phí NVLTT, kế toán sử dụng TK 621 “
Chi phí NVLTT”.
Kết cấu tài khoản 621 như sau:
+ Bên nợ: Trị giá vốn nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho SX, chế tạo SP
hoặc thực hiện lao vụ dịch vụ trong kỳ.
10
+ Bên có:
- Trị giá vốn nguyên liệu, vật liệu sử dụng không hết nhập lại kho.
- Trị giá của phế liệu thu hồi.
- Kết chuyển CPNVLTT để tính giá thành sản phẩm.
TK 621 cuối kỳ không có số dư. TK 621 có thể mở cho từng đối tượng tập hợp
CPSX để phục vụ cho việc tính giá thành cho từng đối tượng tính giá thành.
+ Kế toán CPNVLTT theo phương pháp KKTX:
Khi xuất kho nguyên liệu, vật liệu dùng trực tiếp cho SX chế tạo sản phẩm,
căn cứ vào phiếu xuất kho kế toán ghi tăng chi phí NVLTT chi tiết theo từng đối
tượng tập hợp CPSX. Đồng thời cũng căn cứ vào phiếu xuất kho, kế toán ghi giảm
nguyên liệu, vật liệu trong kho, chi tiết cho từng loại nguyên liệu, vật liệu.
Trong trường hợp NVL mua về sử dụng ngay cho SX chế tạo sản phẩm, căn
cứ vào các chứng từ như hoá đơn GTGT, phiếu chi, giấy báo nợ của NH, bảng kê
thanh toán tạm ứng,… kế toán ghi tăng chi phí NVLTT chi tiết theo từng đối tượng
tập hợp CPSX và nếu DN tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, thì căn cứ
vào hoá đơn GTGT, kế toán thuế kê khai phần thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
theo bút toán Nợ TK 133. Đồng thời cũng căn cứ vào chứng từ hoá đơn GTGT,
phiếu chi, giấy báo nợ, bảng kê thanh toán tạm ứng,…kế toán ghi giảm tiền mặt tại
quỹ, hoặc ghi giảm TGNH, hoặc ghi giảm khoản tạm ứng của nhân viên nếu DN
thanh toán tiền mua hàng theo phương thức trả ngay. Còn nếu DN nhận nợ khách
hàng thì căn cứ vào hoá đơn GTGT hoặc hợp đồng mua hàng kế toán ghi tăng
khoản phải trả người bán.
Trường hợp cuối kỳ kiểm kê nếu thấy có NVL sử dụng không hết nhập lại kho
hoặc phế liệu thu hồi thì căn cứ vào phiếu nhập kho kế toán ghi tăng nguyên liệu,
vật liệu trong kho. Đồng thời cũng căn cứ vào chứng từ trên, kế toán ghi giảm chi
phí NVLTT chi tiết theo từng đối tượng tập hợp CPSX.
Cuối kỳ kế toán tập hợp toàn bộ CP NVLTT nếu thấy mức CP NVLTT chi ra
vượt trên mức bình thường, thì kế toán thực hiện kết chuyển phần chênh lệch này
bằng cách ghi tăng giá vốn hàng bán, đồng thời ghi giảm CP NVLTT.
11
Cuối kỳ xác định chi phí NVLTT sử dụng cho từng đối tượng tập hợp chi phí,
kế toán ghi tăng chi phí SXKD dở dang, đồng thời ghi giảm chi phí NVLTT chi tiết
theo từng đối tượng tập hợp CPSX.
+ Kế toán NVLTT theo phương pháp KKĐK:
Theo phương pháp này thì cuối kỳ, căn cứ vào biên bản kiểm kê vật tư, kế
toán xác định trị giá NVL xuất dùng trong tháng và thực hiện bút toán ghi tăng CP
NVLTT chi tiết cho từng đối tượng tập hợp CPSX, đồng thời ghi giảm mua hàng
nguyên liệu, vật liệu. Cũng tại thời điểm này, kế toán thực hiện kết chuyển toàn bộ
CP NVLTT để tính giá thành SX bằng bút toán ghi tăng giá thành SX, đồng thời ghi
giảm CPNVLTT chi tiết cho từng đối tượng tập hơp cpsx.
2.3.2.2. Kế toán chi phí NCTT
Chứng từ kế toán: Phiếu chi, Hợp đồng giao khoán, Phiếu xác nhận sản phẩm
hoặc công việc hoàn thành, Giấy đề nghị tạm ứng, Giấy thanh toán tiền tạm ứng ,
bảng chấm công, Bảng thanh toán tiền lương, BHXH,….
Tài khoản kế toán:
Để kế toán CPNCTT, kế toán sử dụng TK 622 “ Chi phí nhân công trực tiếp”.
Kết cấu tài khoản 622:
+ Bên Nợ: Chi phí nhân công trực tiếp trong kỳ
+ Bên Có: kết chuyển CPNCTT để tính giá thành sản phẩm.
TK 622 cuối kỳ không có số dư và cũng có thể được mở chi tiết cho từng đối tượng
tập hợp chi phí SX.
Hàng tháng căn cứ vào bảng phân bổ tiền lương và BHXH, kế toán ghi tăng chi
phí NCTT, đồng thời ghi tăng các khoản phải trả : phải trả CNV, phải trả phải nộp
khác về BHXH, BHYT, KPCĐ.
Đối với DN thực hiện trích trước tiền lương nghỉ phép CNSX, khi trích tước tiền
lương nghỉ phép CNSX, căn cứ vào kế hoạch trích trước tiền lương CNSX kế toán
ghi tăng chi phí NCTT đồng thời ghi tăng chi phí phải trả. Khi công nhân trực tiếp
sản xuất nghỉ phép, kế toán ghi giảm chi phí phải trả, đồng thời ghi tăng khoản phải
trả CNV.
12
Đến cuối kỳ, tính toán, phân bổ và kết chuyển chi phí NCTT cho các đối tượng
tập hợp chi phí. Nếu DN áp dụng phương pháp KKTX thì kế toán ghi tăng chi phí
SXKD dở dang, đồng thời ghi giảm CP NCTT chi tiết cho từng đối tượng tập hợp
CPSX. Còn nếu DN áp dụng phương pháp KKĐK thì kế toán ghi tăng giá thành
SX, đồng thời ghi giảm chi phí NCTT chi tiết cho từng đối tượng tập hợp CPSX.
2.3.2.3. Kế toán Chi phí SXC
Chi phí SXC là những khoản chi phí liên quan đến quá trình SXSP phát sinh ở các
phân xưởng, bộ phận SX, tổ đội SX. Chi phí SXC bao gồm: chi phí nhân viên phân
xưởng, chi phí vật liệu, chi phí dụng cụ SX, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ
mua ngoài, chi phí bằng tiền khác.
Chứng từ kế toán: phiếu xuất kho, bảng thanh toán lương, hoá dơn GTGT,
thẻ khấu hao TSCĐ, phiếu chi, giấy báo nợ của ngân hàng,…
Tài khoản kế toán:
Để kế toán tập hợp và phân bổ CPSXC, kế toán sử dụng TK 627 “ Chi phí SXC”.
Kết cấu TK 627:
+ Bên Nợ: Tập hợp chi phí SXC phát sinh trong kỳ.
+ Bên Có:
- Các khoản ghi giảm chi phí SXC
- Chi phí SXC được phân bổ, kết chuyển vào chi phí chế biến cho các đối tượng
chịu chi phí.
- Chi phí SXC không được phân bổ, kết chuyển vào chi phí SXKD trong kỳ.
TK 627 cuối kỳ không có số dư.
Hàng tháng căn cứ vào bảng tính lương và BHXH phải trả cho nhân viên phân
xưởng, kế toán ghi tăng chi phí SXC, đồng thời ghi tăng các khoản chi phí phải trả:
phải trả CNV, phải trả phải nộp khác về BHXH, BHYT, KPCĐ
Căn cứ vào phiếu xuất kho NVL, CCDC, tập hợp CP nguyên liệu, vật liệu, CCDC
dùng chung cho toàn phân xưởng, kế toán ghi tăng chi phí SXC, đồng thời ghi giảm
NVL, CCDC trong kho. Nếu CCDC xuất dùng có giá trị lớn phải phân bổ dần vào
13
CP, thì khi phân bổ giá trị CCDC vào CPSXC hàng tháng, kế toán ghi tăng CPSXC,
đồng thời ghi giảm các khoản chi phí trả trước: ngắn hạn và dài hạn.
Căn cứ vào thẻ chi tiết khấu hao TSCĐ, tập hợp chi phí khấu hao TSCĐ, kế
toán ghi tăng CP SXC, đồng thời ghi tăng hao mòn TSCĐ.
Căn cứ vào các chứng từ: hoá đơn GTGT, phiếu chi, giấy báo nợ của NH,
bảng kê thanh toán tạm ứng,…Tập hợp chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền
khác, kế toán ghi tăng chi phí SXC và nếu DN tính thuế GTGT theo phương pháp
khấu trừ, thì căn cứ vào hoá đơn GTGT, kế toán thuế kê khai phần thuế GTGT đầu
vào được khấu trừ theo bút toán Nợ TK 133. Đồng thời cũng căn cứ vào chứng từ
hoá đơn GTGT, phiếu chi, giấy báo nợ, bảng kê thanh toán tạm ứng,…kế toán ghi
giảm tiền mặt tại quỹ, hoặc ghi giảm TGNH, hoặc ghi giảm khoản tạm ứng của
nhân viên nếu DN thanh toán tiền mua hàng theo phương thức trả ngay. Còn nếu
DN nhận nợ khách hàng thì căn cứ vào hoá đơn GTGT hoặc hợp đồng mua hàng kế
toán ghi tăng khoản phải trả người bán.
Cuối kỳ, tính phân bổ và kết chuyển CP SXC cho các đối tượng tập hợp chi
phí. Nếu DN áp dụng phương pháp KKTX thì kế toán ghi tăng chi phí SXKD dở
dang, đồng thời ghi giảm CP SXC. Còn nếu DN áp dụng phương pháp KKĐK thì
kế toán ghi tăng giá thành SX, đồng thời ghi giảm chi phí SXC.
2.3.2.4. Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất.
Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong quá trình SX, chế tạo sản phẩm cuối
kỳ được tập hợp theo 3 khoản mục: Chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC,
để kết chuyển sang tài khoản tổng hợp chi phí SX và tính giá thành sản phẩm theo
từng đối tượng kế toán tập hợp CPSX.
Để tổng hợp CPSX toàn DN, tuỳ thuộc vào việc DN áp dụng kế toán CPSX
theo phương pháp kê khai thường xuyên hay kiểm kê định kỳ mà sử dụng tài khoản
khác nhau.
Trường hợp kế toán tổng hợp CPSX theo phương pháp KKTX:
14
+ Tài khoản kế toán: TK 154 “ Chi phí SXKDD”. Tài khoản này được áp dụng để
tập hợp CPSX và cung cấp số liệu để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, gia công chế
biến vật liệu ở các DNSX thuộc các ngành kinh tế và các DN kinh doanh dịch vụ.
Kết cấu TK 154:
- Bên Nợ:
. Kết chuyển các chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC
. Kết chuyển chi phí của sản phẩm dở dang cuối kỳ( đối với DN kế toán
HTK theo phương pháp KKĐK).
- Bên Có: . Các khoản giảm giá
. Giá thành sản xuất của sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành trong kỳ.
. Kết chuyển chi phí SX dở dang đầu kỳ(đối với DN áp dụng kế toán
HTK theo phương pháp KKĐK).
- Số dư bên Nợ: phản ánh chi phí của sản phẩm, lao vụ còn dở dang ở cuối kỳ.
TK 154 được mở chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí.
Cuối kỳ kết chuyển CP NVLTT, CP NCTT, CP SXC thực tế phát sinh trong kỳ
theo từng đối tượng tập hợp chi phí, kế toán ghi tăng chi phí SXKD dở dang, đồng
thời ghi giảm các khoản chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC, chi tiết cho
từng đối tượng tập hợp CPSX.
Nhập kho vật liệu tự chế gia công, giá trị phế liệu thu hồi, các khoản bồi thường
phải thu, kế toán ghi tăng nguyên vật liệu, tăng các khoản phải thu khác, đồng thời
ghi giảm chi phí SXKD dở dang.
Giá thành sản phẩm hoàn thành nhập kho, gửi bán hoặc bán ngay, kế toán ghi
tăng thành phẩm, tăng hàng gửi bán hay tăng giá vốn hàng bán, đồng thời ghi giảm
chi phí SXKD dở dang.
Trường hợp kế toán tổng hợp CPSX theo phương pháp KKĐK:
Kế toán CPSX theo phương pháp KKĐK được áp dụng trong các DN có qui mô
vừa và nhỏ, chỉ tiến hành một loại hoạt động.
+ Tài khoản kế toán: Để tiến hành kế toán tập hợp CPSX theo phương pháp
KKĐK, kế toán sử dụng TK 631 “ Giá thành sản xuất”.
15
Kết cấu tài khoản :
- Bên Nợ:
. Kết chuyển CPSXKD dở dang đầu kỳ từ TK 154 sang
. Kết chuyển CPSX trực tiếp phát sinh trong kỳ(đã tập hợp ở các TK 621, 622, 627).
- Bên Có:
. CPSX của công việc còn dở dang cuối kỳ kết chuyển sang TK 154
. Giá thành SXSP, lao vụ, dịch vụ hoàn thành trong kỳ.
TK 631 cuối kỳ không có số dư. Tài khoản này được mở theo đối tượng tập hợp
CPSX.
Căn cứ vào biên bản kiểm kê SP dở dang, kế toán thực hiện kết chuyển
CPSXKD dở dang đầu kỳ theo bút toán ghi tăng giá thành sản xuất, đồng thời ghi
giảm chi phí SXKD dở dang.
Cuối kỳ kết chuyển các khoản chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC
thực tế phát sinh trong kỳ cho từng đối tượng tập hợp chi phí, kế toán ghi tăng giá
thành sản xuất, đồng thời ghi giảm các khoản chi phí NVLTT, CP NCTT, CP SXC.
Căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế xác định giá trị SXKD dở dang cuối kỳ, kế
toán ghi tăng chi phí SXKD dở dang, đồng thời ghi giảm giá thành sản xuất.
Căn cứ vào biên bản kiểm kê, phiếu nhập kho vật liệu tự chế gia công, giá trị
phế liệu thu hồi, kế toán ghi tăng nguyên liệu, vật liệu trong kho hoặc ghi tăng các
khoản phải thu khác, đồng thời ghi giảm giá thành sản xuất.
Căn cứ vào phiếu nhập kho thành phẩm, hoá đơn GTGT, hợp đồng đại lý,…kế
toán ghi tăng thành phẩm, tăng hàng gửi bán, tăng GVHB, đồng thời ghi giảm giá
thành sản xuất.
2.3.2.5. Sổ kế toán.
+ Theo hình thức kế toán Nhật ký chung: gồm có các loại sổ kế toán sau:
- Sổ Nhật ký chung, Sổ Nhật ký chi tiền;
- Sổ Cái các TK 621, TK 622, TK627, TK 154 ( TK 631)
- Các sổ kế toán chi tiết: Sổ chi tiết tập hợp CP NVLTT, Sổ chi tiết tập hợp
CPNCTT, Sổ chi tiết tập hợp CPSXC
16
+ Theo hình thức kế toán Nhật ký – Chứng từ: gồm có các loại sổ kế toán sau:
- Nhật ký chứng từ số 7, 1, 2, 5, 8, 10
- Bảng kê số 4, 6
- Sổ Cái TK 621, TK 622, TK 627, TK154 ( TK631)
- Sổ kế toán chi tiết.
+ Theo hình thức chứng từ ghi sổ: gồm có các loại sổ kế toán sau:
- Chứng từ ghi sổ
- Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
- Sổ cái TK 621, TK 622, TK 627, TK 154 (TK631)
- Sổ kế toán chi tiết.
+ Theo hình thức Nhật ký - Sổ cái:
- Nhật ký - Sổ cái
- Các sổ kế toán chi tiết
17
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ PHÂN
TÍCH THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CPSX THUỐC LÁ TẠI CÔNG TY
TNHH MỘT THÀNH VIÊN THUỐC LÁ THANH HOÁ.
3.1. Phương pháp hệ nghiên cứu về kế toán CPSX tại các DNSX
Để thu thập dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, em đã sử dụng kết hợp
các phương pháp khác nhau như: phương pháp điều tra phỏng vấn, phương pháp
nghiên cứu tài liệu, phương pháp tổng hợp số liệu
Phương pháp điều tra phỏng vấn:
Phương pháp này sử dụng phiếu điều tra phỏng vấn để tiến hành thu thập thông
tin từ các đối tượng khác nhau trong phạm vi rộng.
Do phạm vi của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về thực trạng công tác kế toán CPSX
thuốc lá, nên việc chọn mẫu phiếu điều tra phỏng vấn chỉ giới hạn ở một số phòng
ban của Công ty như Ban giám đốc, phòng kế toán, phân xưởng SX.
Quá trình điều tra phỏng vấn được tiến hành qua các bước sau:
+ Bước1: Xác định nguồn thông tin cần thu thập và đối tượng cần điều tra phỏng
vấn.
- Nguồn thông tin cần thu thập là các thông tin liên quan đến nghiệp vụ kế toán
CPSX thuốc lá tại Công ty TNHH một thành viên thuốc lá Thanh Hoá.
- Đối tượng cần điều tra phỏng vấn: Ban lãnh đạo, phòng Tài chính – Kế toán và bộ
phận phân xưởng của Công ty TNHH một thành viên thuốc lá Thanh Hoá.
+ Bước 2: Thiết lập phiếu điều tra phỏng vấn ( Mẫu phiếu - Phụ lục)
Nội dung các câu hỏi trong phiếu điều tra phỏng vấn liên quan đến công tác kế toán
nói chung và công tác kế toán CPSX nói riêng tại Công ty. Cụ thể, đó lá việc áp
dụng chính sách kế toán tại công ty, việc vận dụng hệ thống chuẩn mực kế toán Việt
Nam tại công ty, việc tuân thủ chế độ kế toán tại công ty,.…
+ Bước 3: Phát phiếu điều tra phỏng vấn cho các đối tượng cần điều tra phỏng vấn,
gồm: phó giám đốc công ty, kế toán trưởng và các nhân viên trong phòng kế toán,
quản đốc PX.
+ Bước 4: Thu thập lại các phiếu điều tra phỏng vấn đã phát
18
Sau đó dùng phương pháp thống kê đơn giản để xử lý thông tin.
Sử dụng phương pháp phiếu điều tra phỏng vấn đảm bảo độ chính xác và tin cậy
cao vì thông tin thu thập được do ban lãnh đạo và chính nhân viên trong phòng kế
toán, bộ phận SX cung cấp.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: là phương pháp thu thập thông tin bằng
các nguồn tài liệu có sẵn. Có 2 nguồn tài liệu chính, đó là nguồn tài liệu do phòng
Tài chính – Kế toán của Công ty cung cấp và nguồn tài liệu thu thập từ bên ngoài
như các văn bản, thông tư, chuẩn mực,…
Mục đích của việc nghiên cứu tài liệu là để thu thập các thông tin phục vụ cho việc
nghiên cứu đề tài. Bao gồm:
+ Thông tin về chung về công ty
+ Thông tin về công tác kế toán nói chung và công tác kế toán CPSX thuốc
lá nói riêng tại công ty.
Sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu tiết kiệm được thời gian và chi phí.
Phương pháp tổng hợp số liệu:
Để tổng hợp số liệu cần thiết trước tiên tiến hành thu thập thông tin về các khoản
CP liên quan đến quá trình SX thuốc lá tại công ty. Sau đó, tiến hành thu thập các
chứng từ, sổ kế toán liên quan đến nghiệp vụ kế toán CPSX thuốc lá tại công ty
gồm: phiếu xuất kho, bảng thanh toán lương, sổ chi tiết tập hợp chi phí,…
Cuối cùng là tính toán và tổng hợp số liệu nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu
đề tài.
3.2. Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến kế
toán chi phí sản xuất trong các DNSXCN
3.2.1. Đánh giá tổng quan về kế toán CPSX trong DNSXCN.
Ta thấy rằng công tác kế toán CPSX ngày càng giữ vai trò quan trọng trong
công tác kế toán ở các DNSXCN. Nó luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà
quản trị DN. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán CPSX, đã có rất
nhiều tài liệu nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này như luận văn, chuyên đề tốt
nghiệp, các bài báo, tạp chí,…
19
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu năm trước viết về vấn đề này, nhìn
chung kế toán CPSX trong các DNSXCN hiện nay đã đáp ứng được những yêu cầu
cơ bản của tổ chức công tác kế toán như đảm bảo tính đồng nhất về mặt phạm vi, số
liệu kế toán trung thực, quá trình hạch toán đã hạn chế tối đa việc ghi chép trùng
lặp. Tuy nhiên, vấn đề còn tồn tại ở phần lớn các DNSXCN hiện nay là chưa hoàn
toàn tuân thủ chế độ kế toán hiện hành trong quá trình thực hiện kế toán CPSX ở
DN. Tuy rằng, công tác kế toán CPSX đã được qui định trong hệ thống chuẩn mực
kế toán Việt Nam. Nhưng đến thời điểm hiện tại thì vẫn chưa có một chuẩn mực
riêng nào qui định về vấn đề này. Song đã có nhiều chuẩn mực đề cập đến nó như:
Chuẩn mực kế toán số 01( Chuẩn mực chung), chuẩn mực số 02( Đề cập đến việc
ghi nhận chi phí chế biến), chuẩn mực số 16 (đề cập đến điều kiện ghi nhận chi phí
đi vay vào CPSX). Ngoài ra, còn có rất nhiều các quyết định, thông tư hướng dẫn
việc thực hiện công tác kế toán CPSX trong DNSX.
Qua đó ta thấy rằng công tác kế toán CPSX luôn là mối quan tâm không chỉ
của các DNSX mà của rất nhiều các cá nhân, tập thể khác. Việc xem xét nó ở mức
độ nào phụ thuộc vào mục đích của chính bản thân họ.
3.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán CPSX trong DNSX
3.2.2.1. Nhân tố vĩ mô.
Để thống nhất quản lý và tạo khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực kế toán, Bộ tài
chính đã ban hành và công bố 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam và hàng loạt các
thông tư hướng dẫn kế toán thực hiện các chuẩn mực đó. Chuẩn mực kế toán là một
hành lang pháp lý qui định DN thực hiện công tác kế toán của mình đúng luật. Có
thể thấy rằng chuẩn mực kế toán Việt Nam là một nhân tố môi trường bên ngoài
nhưng có tác động trực tiếp đến công tác kế toán nói chung và công tác kế toán
CPSX nói riêng của các DNSX.
Chế độ kế toán cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác kế toán
nói chung và công tác kế toán CPSX nói riêng của DN. Chế độ kế toán ban hành
giúp DN thực hiện công tác kế toán một cách đồng bộ từ sử dụng chứng từ, tài
20
khoản kế toán, sổ kế toán đến các báo cáo tài chính sao cho khoa học và hợp lý
nhất.
Bên cạnh đó, trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ cũng là
yếu tố ảnh hưởng đến công tác kế toán của DN. Phần mềm kế toán chính là minh
chứng rõ ràng nhất. Việc sử dụng phần mềm kế toán đã giúp cho công việc kế toán
của DN được thực hiện một cách nhanh chóng, khoa học và chính xác hơn. Điều
này là rất quan trọng đối với việc quản lý chi phí và từ đó giúp các nhà quản trị đưa
ra các quyết định phù hợp.
Đối với công tác kế toán CPSX có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng nằm bên ngoài
bản thân mỗi DN mà DN không thể cải tạo hay kiểm soát nó được, mà chỉ có thể
thích nghi. Nhóm nhân tố này ảnh hưởng rộng rãi đến hầu hết các DN. Những thuận
lợi và khó khăn DN nhận được hoặc gánh chịu thì đối thủ cạnh tranh cũng vậy. Vì
thế DN phải biết khai thác triệt để các thời cơ, cơ hội mà mình nhận được.
3.2.2.2. Nhân tố vi mô
Đây là nhóm nhân tố tồn tại bên trong mỗi DN, nó ảnh hưởng rất nhiều đến
công tác kế toán nói chung và công tác kế toán CPSX nói riêng của DN.
Trong công tác quản lý DN, chỉ tiêu CPSX luôn được các nhà quản lý DN
quan tâm hàng đầu vì nó là chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động SXKD của DN.
Thông qua nó nhà quản lý DN có thể nắm bắt được tình hình thực tế của từng hoạt
động SXKD của DN, để từ đó đưa ra các quyết định thích hợp.
Để có những đánh giá cụ thể và chính xác về CPSX trong DN thì DN phải
luôn nắm rõ tình hình thực tế về công tác kế toán CPSX tại đơn vị mình như thế
nào, có những nhân tố nào ảnh hưởng đến nó và từ đó đánh giá mức độ ảnh hưởng
của từng nhân tố đến kế toán CPSX. Các nhân tố thường có mức tác động mạnh đến
kế toán CPSX tại DN như: Bộ máy kế toán của DN, nguồn nhân lực làm kế toán,
hình thức kế toán tại đơn vị, trình độ tổ chức quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật, …
Bộ máy kế toán của DN là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác kế toán
CPSX.
21
Ta thấy rằng thông tin của kế toán CPSX là rất cần thiết cho nhà quản trị đề ra
các chiến lược và quyết định kinh doanh. Do đó nếu thông tin sai lệch sẽ dẫn đến
các quyết định của nhà quản trị không phù hợp, DN có thể dơi vào tình trạng khó
khăn. Do vậy, một bộ máy kế toán mạnh, số liệu kế toán rõ ràng, phân tích thấu đáo
sẽ giúp cho người điều hành đưa ra các quyết định kinh doanh đạt hiệu quả. Mặt
khác sổ sách rõ ràng thì việc quyết toán thuế với cơ quan chức năng sẽ nhanh chóng
và tiết kiệm được cả thời gian và chi phí, tạo điều kiện tốt cho hoạt động SXKD.
Nguồn nhân lực làm kế toán cũng là nhân tố ảnh hưởng đến công tác kế toán
CPSX của DN. Nhân lực làm kế toán có trình độ, có năng lực tốt, khả năng thích
ứng nhanh,…sẽ giúp cho công việc kế toán được giải quyết một cách mau lẹ và
chính xác. Mặt khác, việc bố trí nhân viên kế toán phù hợp với yêu cầu công việc và
khả năng chuyên môn cũng sẽ tạo thuận lợi rất nhiều cho chính bản thân người làm
kế toán và cho chính cả DN.
Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào bản thân mỗi DN mà có các nhân tố ảnh hưởng khác
nhau liên quan đến công tác kế toán CPSX của từng DNSX.
3.3. Kết quả điều tra và kết quả tổng hợp đánh giá của các chuyên gia về kế
toán CPSX thuốc lá trong Công ty TNHH một thành viên thuốc lá Thanh Hoá.
Quá trình điều tra phỏng vấn, thu thập số liệu được tiến hành từ ngày
23/02/2009 đến ngày 13/03/2009 tại các bộ phận ban lãnh đạo, phòng kế toán và bộ
phận phân xưởng SX của Công ty TNHH một thành viên thuốc lá Thanh Hoá. Tổng
số phiếu phát ra là 8 phiếu, kết quả thu về được 7 phiếu đã điền đầy đủ thông tin với
tỷ lệ phản hồi là 87,5%. Đồng thời, em thu thập được các chứng từ kế toán liên
quan đến nghiệp vụ kế toán CPSX thuốc lá của tháng 11 năm 2008 và các sổ kế
toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết liên quan đến kế toán CPSX thuốc lá của tháng 11
năm 2008.
Qua kết quả điều tra phỏng vấn tại Công ty cho thấy, tổ chức công tác kế toán
nói chung và kế toán CPSX nói riêng ở Công ty được đánh giá là thực hiện tương
đối tốt và phù hợp với tình hình thực tế tại DN. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện
vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần phải khắc phục.
22
Qua điều tra phỏng vấn 3 bộ phận liên quan nhiều nhất đến kế toán CPSX là
ban lãnh đạo, phòng kế toán và bộ phận PX, ở mỗi bộ phận có chức năng nhiệm vụ
khác nhau nên cách nhìn nhận, đánh giá về CPSX ở DN cũng khác nhau. Tuy nhiên
cả ba bộ phận đều có một đánh giá chung về tổ chức công tác kế toán CPSX ở Công
ty được thực hiện tương đối tốt và phù hợp với tình hình thực tế tại DN. Song trong
quá trình thực hiện kế toán CPSX vẫn còn tồn tại một vài hạn chế cần phải khắc
phục, cụ thể là việc cung cấp thông tin về CPSX cho ban lãnh đạo còn chậm trễ,
chưa kịp thời, công tác quản lý NVL xuất dùng cho SX còn chưa chặt chẽ, khoản
mục CP SXC được tập hợp chưa hợp lý và khoa học, …Tất cả những nhận định trên
đều được thể hiện rõ ở bảng tổng hợp điều tra khảo sát các bộ phận liên quan của
Công ty ( Phụ lục).
3.4. Thực trạng kế toán CPSX thuốc lá tại Công ty TNHH một thành viên
thuốc lá Thanh Hoá.
3.4.1. Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Công ty
3.4.1.1. Khái quát chung về Công ty.
Công ty TNHH một thành viên thuốc lá Thanh Hoá trực thuộc Tổng Công ty thuốc
lá Việt Nam, là một trong những Tổng công ty mạnh của chính phủ. Công ty có
nhiệm vụ sản xuất các loại thuốc lá bao phục vụ cho tiêu dùng trong xã hội, đảm
bảo công ăn việc làm tại chỗ cho hàng ngàn lao động ở Thanh Hoá, mỗi năm nộp
ngân sách nhà nước hàng trăm tỷ đồng góp phần xây dựng đất nước ngày càng
vững mạnh.
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty TNHH một thành viên thuốc lá
Thanh Hoá. ( Phụ lục 01)
Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong Công ty.
+ Giám đốc: là người đứng đầu bộ máy quản lý, chịu trách nhiệm toàn bộ các hoạt
động SXKD, tổ chức bộ máy, đầu tư và phát triển của Công ty.
+ Phó giám đốc: là người trợ giúp cho giám đốc và được trực tiếp giải quyết phần
việc được giám đốc uỷ quyền, phụ trách công tác khoa học kỹ thuật, thiết bị công
nghệ SX thuốc lá, an toàn lao động và môi trường.
23
+ Phòng kế hoạch: chịu trách nhiệm lập các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn. Tham
mưu cho giám đốc về lĩnh vực kinh tế, công tác kế hoạch,… Điều hành tiến độ SX
theo kế hoạch đặt ra.
+ Phòng Tài chính kế toán: có nhiệm vụ tổ chức hạch toán kế toán về tất cả các
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty theo đúng các chuẩn mực kế toán cũng
như các văn bản hướng dẫn của Nhà nước; lập kế hoạch sử dụng các nguồn lực về
vốn như: tiền, vật tư, tài sản. Giúp Giám đốc quản lý, thanh tra, giám sát các nguồn
vốn, đảm bảo đúng quy định của Nhà nước về quản lý tài chính; tổng hợp báo các
kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty; tham mưu cho Ban lãnh đạo những
phương pháp điều hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
+ Phòng thị trường: nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm. Hoạch định các chiến
lược phát triển SP. Tổ chức xây dựng thị trường, ổn định thị phần hiện có và phát
triển thị trường mới, Thu thập, phân tích thông tin, xây dựng các chính sách và chế
độ về tiêu thụ SP.
+ Phòng tiêu thụ: Tổ chức các kênh phân phối tiêu thụ SP thông qua hệ thống đại
lý, bán thẳng, bán lẻ,…Cung cấp, cập nhập thông tin cần thiết ở các thị trường cho
Cty.
+ Phòng tổ chức: tổ chức nhân sự, theo dõi lao động và tham mưu cho giám đốc về
việc tuyển dụng lao động, đào tạo, bố trí sắp xếp lao động
+ Phòng kỹ thuật công nghệ: chịu trách nhiệm về quy trình công nghệ SX thuốc lá.
+ Phòng hành chính: Tiếp nhận sao lưu hồ sơ, công văn, đón tiếp khách, phục vụ
hội họp.
+ Phân xưởng Lá sợi: có nhiệm vụ phối chế nguyên liệu, lên mem, chế biến lá
nguyên liệu thành sợi thuốc lá.
+ Phân xưởng Bao mềm: SX cuốn điếu đóng bao mềm hoàn chỉnh thành SP nhập
kho.
+ Phân xưởng Bao cứng: chuyên SX cuốn điếu đóng bao các loại SP bao cứng
hoàn chỉnh thành SP nhập kho như: Vinataba, Mild Seven, Caravan, Blueriver, …
24
+ Phân xưởng phụ liệu: SX cây đầu lọc, in các nhãn bao phục vụ cho SX thuốc lá,
in các mẫu tài liệu cho quản lý,…
+ Phân xưởng cơ khí: chế tạo các phụ tùng cho việc sửa chữa thiết bị, tham gia sửa
chữa lớn các thiết bị máy móc, lắp đặt các thiết bị,… Đồng thời cung cấp nguồn
năng lượng cho SX chính như: hơi, khí nén, nước,…
Quy trình công nghệ sản xuất thuốc lá ở Công ty TNHH một thành viên
thuốc lá Thanh Hoá như sau:
Sơ đồ công nghệ chế biến lá sợi ( Phụ lục 02)
Nguyên liệu lá thuốc lá sau khi thu mua về đưa vào bảo quản và phân cấp thành cấp
loại theo chất lượng từng loại, lên men và đưa vào chế biến trên dây chuyền thiết bị
chế biến lá sợi của hãng LEGG Vương Quốc Anh.
Sợi thuốc sau khi được SX nhập kho sợi và ủ hương với một thời gian để cho đồng
đều thuỷ phần và đồng đều hương sẽ được đưa vào cuốn điếu – đóng bao.
3.4.1.2. Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty.
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty ( Phụ lục 03)
Chức năng, nhiệm vụ của từng phần hành kế toán:
- Kế toán trưởng: là người trực tiếp quản lý và chỉ đạo chung mọi hoạt động của
phòng, hàng quí có nhiệm vụ lập báo cáo kế toán.
- Phó phòng kế toán: làm kế toán tổng hợp, tính giá thành sản phẩm, hàng quí có
nhiệm vụ lập báo cáo kế toán.
- Kế toán tiền mặt: làm thu – chi tiền mặt và thanh toán các khoản liên quan.
25
Thu mua
nguyên liệu
Bảo quản
nguyên liệu
Phân cấp lên
men
Chế biến sợi
Cuốn điếu
đóng bao
Thành phẩm
bao thuốc