Tải bản đầy đủ (.docx) (103 trang)

Quản lý hoạt động tín dụng của Ngân hàng Hợp tác Chi nhánh Thanh Hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (434.53 KB, 103 trang )

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CĐKT Cân đối kế toán
CN Chi nhánh
DN Doanh nghiệp
HCNS Hành chính nhân sự
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHHTX Ngân hàng hợp tác xã
NQH Nợ quá hạn
KDDV Kinh doanh dịch vụ
KQHĐ Kết quả hoạt động
KQKD Kết quả kinh doanh
KSTD Kiểm soát tín dụng
QTD Quỹ tín dụng
QTDND Qũy tín dụng nhân dân
QTDTW Qũy tín dụng nhân Trung ương
TCTD Tổ chức tín dụng
TCKT Tổ chức kinh tế
TK Tiết kiệm
TSĐB Tài sản đảm bảo
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng:
Bảng 3.1: Tình hình huy động vốn giai đoạn 2011 – 2013
Bảng 3.2. Tình hình sử dụng vốn tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013
Bảng 3.3. Hoạt động KDDV khác tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013
Bảng 3.4. Tình hình dư nợ tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013
Bảng 3.5: Tình hình dư nợ theo đối tượng
Bảng 3.6. Tình hình doanh số cho vay tại chi nhánh
Bảng 3.7: Số lượt cho vay theo đối tượng tại chi nhánh
Bảng 3.8: Tình hình nợ quá hạn giai đoạn 2011 – 2013
Bảng 3.9. Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Biểu đồ:


Biểu đồ 3.1. Tình hình dư nợ có TSĐB tại chi nhánh
Biểu đồ 3.2. Doanh số cho vay theo đối tượng
Sơ đồ:
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức Ngân hàng Hợp tác – CN Thanh Hóa
LỜI NÓI ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, việc phát triển các
hình thức kinh tế hợp tác là một tất yếu khách quan, phù hợp với yêu cầu phát
triển của xã hội trong điều kiện nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào sản xuất
nông nghiệp và trình độ dân trí chưa cao. Trong quá trình đổi mới, khu vực
nông thôn nước ta có những chuyển biến mạnh mẽ theo hướng phát triển kinh
tế hàng hoá, bước đầu đã xuất hiện và hình thành một thị trường sản xuất, tiêu
thụ và dịch vụ đa dạng, phong phú. Do quá trình sản xuất, dịch vụ mở rộng,
lượng vốn chu chuyển trong Nông nghiệp - Nông thôn đòi hỏi ngày một lớn,
trong khi đó các Tổ chức tín dụng và các định chế tài chính khác hiện có ở
Nông thôn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn cho phát triển sản xuất, điều
đó ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong Nông
nghiệp.
Quỹ tín dụng nhân dân ra đời tại Việt Nam vào năm 1993, do các thành
viên tự nguyện thành lập và hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách
nhiệm. Hiện nay, mô hình Qũy tín dụng nhân dân đóng vai trò quan trọng
trong việc giúp các hộ gia đình mở rộng sản xuất, kinh doanh, phát triển các
ngành nghề, dịch vụ, giải quyết nhiều công ăn việc làm cho thành viên, góp
phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn. Theo đề án tái cơ cấu lại các tổ chức tín dụng đến nay, quỹ
tín dụng nhân dân Trung ương đã chuyển sang hoạt động theo mô hình ngân
hàng hợp tác xã và đổi tên thành Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam.
Cũng giống như các chi nhánh Ngân hàng Hợp tác khác, trong thời
gian qua, với vai trò là một đơn vị được huy động vốn, cho vay vốn và thực
hiện các dịch vụ ngân hàng khác theo giấy phép hoạt động, Ngân hàng Hợp


tác – Chi nhánh Thanh Hóa đã không ngừng phát huy vai trò là mô hình kinh
kế hoạt động đúng hướng, có hiệu quả, đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân,
tạo điều kiện thuận lợi cho bà con nông dân trong việc gửi tiền, vay vốn làm
ăn, xóa đói giảm nghèo vươn lên làm giàu, góp phần hạn chế và đẩy lùi tình
trạng cho vay nặng lãi trong nông thôn.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, với hiện tượng xuất hiện nhiều sai
phạm trầm trọng trong hoạt động tín dụng ở một số quỹ tín dụng cơ sở trên
địa bàn dẫn đến tỷ lệ nợ xấu đáng báo động, lượng tiền gửi đã quá hạn mà
không có khả năng thanh toán, gây bức xúc cho người gửi tiền – vay tiền, đã
cho thấy hoạt động quản lý tín dụng tại Ngân hàng Hợp Tác Thanh Hóa còn
tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro. Do đó việc nghiên cứu, theo dõi để từ đó có các
biện pháp quản trị, xử lý kịp thời là một vấn đề vô cùng cấp bách. Chính vị
vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động tín dụng của Ngân hàng
Hợp tác Chi nhánh Thanh Hóa” làm luân văn tốt nghiệp của mình.
1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
∗ Mục đích nghiên cứu của đề tài: Làm rõ thực trạng quản lý tín dụng và đề
xuất những biện pháp nhằm quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Hợp tác –
Chi nhánh Thanh Hóa
∗ Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tín dụng, quản lý tín dụng trong hoạt
động ngân hàng
- Giải thích thực trạng: Làm rõ những hạn chế, những mặt đạt được và những
vấn đề phát sinh trong công tác quản lý rủi ro tại Ngân hàng Hợp tác – Chi
nhánh Thanh Hóa
- Đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý hoạt
động tín dụng tại Ngân hàng Hợp tác – Chi nhánh Thanh Hóa
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

∗ Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Hợp tác –

Chi nhánh Thanh Hóa
∗ Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giới hạn việc nghiên cứu quản lý hoạt động tín
dụng tại Ngân hàng Hợp tác – Chi nhánh Thanh Hóa trong khoảng thời gian
năm 2011 – 2013
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và các số liệu thực tế tổng hợp được, tác giả sử dụng
các phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh để phân tích, đánh giá thực
trạng quản lý hoạt động tín dụng của Ngân hàng Hợp tác – Chi nhánh Thanh
Hóa , tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến các vấn đề trong quản lý hoạt động
tín dụng và đưa ra giải pháp nhằm hạn chế.
1.5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn được
kết cấu gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Hợp
tác – Chi nhánh Thanh hóa
Chương 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động tín
dụng tại Ngân hàng Hợp tác – Chi nhánh Thanh Hóa
CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tín dụng
1.1.1. Tổng quan về hoạt động tín dụng
1.1.1.1. Khái niệm tín dụng
Tín dụng là quan hệ vay mượn sử dụng vốn của lẫn nhau dựa trên
nguyên tắc hoàn trả và sự tin tưởng.
Sự phân công lao động xã hội và sự xuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu
sản xuất là cơ sở ra đời của tín dụng. Xét về mặt xã hội, sự xuất hiện chế độ
sở hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở hình thành sự phân hoá xã hội: của cải, tiền

tệ có xu hướng tập trung vào một nhóm người, trong lúc đó một nhóm người
khác có thu nhập thấp hoặc thu nhập không đáp ứng đủ cho nhu cầu tối thiểu
của cuộc sống, đặc biệt khi gặp những biến cố rủi ro bất thường xảy ra. Trong
điều kiện như vậy đòi hỏi sự ra đời của tín dụng để giải quyết mâu thuẫn nội
tại của xã hội, thực hiện việc điều hoà nhu cầu vốn tạm thời của cuộc sống.
Quan hệ tín dụng khác quan hệ mua bán. Trong quan hệ tín dụng chỉ sự
vận động của quyền sử dụng không có sự vận động của quyền sở hữu, còn
trong quan hệ mua bán có cả sự vận động của quyền sử dụng và quyền sở
hữu. Sự hoàn trả trong quan hệ mua bán chỉ xảy ra trong một số trường hợp
đặc biệt còn trong quan hệ tín dụng có sự hoàn trả cả vốn lẫn lãi. Trong quan
hệ mua bán giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị còn trong quan
hệ tín dụng tiền lãi không phải là giá trị của số tiền cho vay mà nó phản ánh
giá trị của một số vốn trong khoảng thời gian nhất định. Trong quan hệ tín
dụng phải có sự tin tưởng nếu không sẽ xảy ra rủi ro tín dụng.
1.1.1.2. Phân loại tín dụng
∗ Tín dụng thương mại

Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp dưới
hình thức mua bán chịu hàng hóa. Đây là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản
xuất - kinh doanh được thực hiện dưới hình thức mua bán, bán chịu hàng hóa.
Hành vi mua bán chịu hàng hóa được xem là hình thức tín dụng - người bán
chuyển giao cho người mua quyền sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian
nhất định, và khi đến thời hạn đã được thỏa thuận, người mua phải hoàn lại
vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ và cả phần lãi cho người bán chịu.
Cơ sở pháp lý xác định quan hệ nợ nần của tín dụng thương mại là giấy
nhận nợ, được gọi là kỳ phiếu thương mại hay gọi tắt là thương phiếu.
Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận yêu cầu thanh toán hoặc cam kết
thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất
định.
∗ Tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng với bên đi vay
(là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó Ngân hàng chuyển
giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả
thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi
cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Công cụ lưu thông của tín dụng ngân hàng là kỳ phiếu ngân hàng; là một
loại chứng từ có giá của ngân hàng hay là một giấy nhận nợ của ngân hàng
phát hành cho các pháp nhân và thể nhân, nó được lưu hành không thời hạn
trên thị trường. Kỳ phiếu ngân hàng do ngân hàng phát hành dựa trên quan hệ
tín dụng giữa ngân hàng với doanh nghiệp, cư dân và nhà nước. Nó được ra
đời trên hai cơ sở bảo đảm bằng vàng và tín dụng. Kỳ phiếu ngân hàng còn
được gọi là giấy bạc ngân hàng và trở thành tiền tệ.
∗ Tín dụng nhà nước
Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với doanh nghiệp,
các tổ chức kinh tế - xã hội và các cá nhân. Tín dụng nhà nước xuất hiện
nhằm thỏa mãn những nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước trong điều

kiện nguồn thu không đủ để đáp ứng; nó còn là công cụ để nhà nước hỗ trợ
cho các ngành kinh tế yếu kém, ngành mũi nhọn và khu vực kinh tế kém phát
triển, và là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý, điều hành vĩ mô.
∗ Tín dụng tiêu dùng
Tín dụng tiêu dùng là quan hệ tín dụng giữa các công ty tài chính và
người tiêu dùng thực hiện thông qua phương thức bán trả góp.
Đối tượng của tín dụng tiêu dùng là hàng hoá tiêudùng. Chủ thể của tín
dụng tiêu dùng là công ty tài chính và người tiêu dùng.
∗ Tín dụng thuê mua
Tín dụng thuê mua là quan hệ tín dụng giữa các công ty tài chính với
người sản xuất và kinh doanh thể hiện dưới hình thức cho thuê tài sản cố định.
Đối tượng của tín dụng thuê mua là tài sản cố định. Chủ thể của tín dụng
thuê mua là công ty tài chính và người sản xuất kinh doanh. Công ty tài

chính là một thể chế phi ngân hàng. Quan hệ tín dụng thuê mua thường diễn
ra: Cho thuê khai thác, vận hành, kỹ thuật; Cho thuê tài chính.
∗ Tín dụng quốc tế
Tín dụng quốc tế là quan hệ tín dụng mà phạm vi của nó vượt qua phạm
vi biên giới của một quốc gia.
Đối tượng của tín dụng quốc tế là hàng hoá xuất nhập khẩu. Chủ thể của
tín dụng quốc tế là các doanh nghiệp của các quốc gia khác nhau.
1.1.1.3. Vai trò của hoạt động tín dụng
Thứ nhất, đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất được liên
tục đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế. Việc phân phối vốn tín dụng
đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá
trình sản xuất được liên tục. Tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư.
Nó là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện đáp ứng nhu cầu
về vốn cho đầu tư phát triển. Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, tín dụng là

một trong những nguồn vốn hình thành vốn lưu động và vốn cố định của
doanh nghiệp, vì vậy tín dụng đã góp phần động viên vật tư hàng hoá đi vào
sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật đẩy nhanh quá trình tái sản xuất
xã hội.
Thứ hai, thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.
Hoạt động của ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng, trên
cơ sở đó cho vay các đơn vị kinh tế. Mặt khác quá trình đầu tư tín dụng được
thực hiện một cách tập trung, chủ yếu là cho các xí nghiệp lớn, những xí
nghiệp kinh doanh hiệu quả.
Thứ ba, tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển
và ngành kinh tế mũi nhọn. Trong thời gian tập trung phát triển nông nghiệp
và ưu tiên cho xuất khẩu… Nhà nước tập trung tín dụng để tài trợ phát triển
các ngành đó, từ đó tạo điều kiện phát triển các ngành khác.
Thứ tư, góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế
của các doanh nghiệp. Đặc trưng cơ bản của vốn tín dụng là sự vận động trên

cơ sở hoàn trả và có lợi tức, nhờ vậy mà hoạt động của tín dụng đã kích thích
sử dụng vốn có hiệu quả. Bằng cách tác động như vậy, đòi hỏi các doanh
nghiệp khi sử dụng vốn tín dụng phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn, tạo điều kiện nâng
cao doanh lợi của doanh nghiệp.
Thứ năm, tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài.
Trong điều kiện kinh tế “mở”, tín dụng đã trở thành một trong những phương
tiện nối liền các nền kinh tế các nước với nhau.
1.1.2. Khái niệm quản lý hoạt động tín dụng

Muốn hoạt động tín dụng đạt hiệu quả tốt, phải có sự phối hợp chặt chẽ
giữa những con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức với nhau trên cơ sở
sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn lực hiện có của NHTM. Vì vậy, quản lý
hoạt động tín dụng luôn được các NHTM coi trọng hàng đầu trong công tác
quản lý của mình.
Quản lý hoạt động tín dụng là sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích
nhằm kiểm tra, đánh giá cũng như quản lý các hoạt động tín dụng của khách
hàng và ngân hàng. Quản lý hoạt động tín dụng cũng đánh giá mức độ tin cậy
và rủi ro của một phương án hoặc dự án mà khách hàng đã xuất trình nhằm
phục vụ cho việc đưa ra quyết định tín dụng.
Áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp sẽ có các tác dụng giúp NHTM
lựa chọn đối tượng đầu tư trên cơ sở đánh giá năng lực thực tế của khách
hàng; Xác định đúng vị thế của ngân hàng và khách hàng để lựa chọn phương
pháp quản lý phù hợp đảm bảo an toàn vốn đầu tư của các NHTM.
1.1.3. Nội dung của công tác quản lý hoạt động tín dụng
1.1.3.1. Nguyên tắc tín dụng
Nguyên tắc tín dụng là kim chỉ nam cho việc điều hành hoạt động tín
dụng, là chuẩn mực và thước đo để các cán bộ thừa hành thực thi nhiệm vụ
một cách tốt nhất. Thông thường nguyên tắc tín dụng phải đảm bảo nội dung
cơ bản là giải quyết hợp lý giữa lợi ích của Nhà nước, của khách hàng và của

ngân hàng. Đồng thời phảI hạn chế tới mức tối đa rủi ro tín dụng vì sự tồn tại
và phát triển của ngân hàng.
1.1.3.2. Tiêu chuẩn quản lý tín dụng
Để quản lý có hiệu quả chất lượng tín dụng, cần có các tiêu chuẩn quản
lý để làm thước đo đánh giá mức độ, chất lượng đạt được. Chất lượng tín

dụng là kết quả của công tác quản lý của ngân hàng đối với tình hình khách
hàng và hoạt động tín dụng của bản thân ngân hàng. Do vậy, tiêu chuẩn quản
lý tín dụng cần được xây dựng cụ thể đối với khách hàng và ngân hàng.
Đối với khách hàng tiêu chuẩn quản lý tập trung vào việc đánh giá khả
năng hoàn trả của khách hàng. Vì vậy quản lý tín dụng tập trung vào năm tiêu
chuẩn sau :
- Tư cách người vay: Người vay phải có tư cách tốt, có tư cách pháp nhân và
năng lực pháp lý, thể hiện tốt các nghĩa vụ theo pháp luật
- Khả năng sản xuất – kinh doanh: Người vay phải có tình hình sản xuất – kinh
doanh tốt, có khả năng phát triển, có khả năng chiếm lĩnh thị trường cao
- Vốn: Người vay phải có tình hình tài chính vững chắc và không ngừng được
phát triển
- Tài sản đảm bảo tiền vay: Tài sản này thể hiện ở mức độ an toàn của vốn tín
dụng. Vì vậy, cần phải chú ý tới giá trị hiện tại và tương lai cũng như khả năng
phát mại của tài sản thế chấp, cầm cố
- Môi trường kinh doanh của khách hàng (tình trạng chung của ngành bao gồm:
Doanh nghiệp đang hoạt động, điều kiện sản xuất, quan hệ với bạn hàng)
nhằm giảm thiểu rủi ro về các lĩnh vực kinh tế, rủi ro về địa lý và rủi ro khi tài
chính khác.
Đối với ngân hàng, tiêu chuẩn quản lý là: (1) Tình hình chấp hành các
điều luật và nguyên tắc tín dụng đã quy định; (2) Vòng quay vốn tín dụng; (3)
Kết quả kinh doanh; (4) Khả năng sẵn sàng thanh toán; (5) Mức đọ phân tán
rủi ro; (6) Nợ quá hạn; (7) Tình hình chấp hành hạn mức tín dụng đã quy
định.

Quản lý hoạt động tín dụng theo các tiêu chuẩn trên giúp cho các cấp
lãnh đạo nhận định tương đối toàn diện tình hình hoạt động tín dụng của ngân
hàng trên các phương tiện chấp hành pháp luật, năng lực kinh doanh … Đây

là cơ sở để các cấp lãnh đạo ra quyết định phù hợp, không ngừng củng cố và
tăng cường sức mạnh của ngân hàng.
1.1.3.3. Quy trình quản lý tín dụng
Quy trình quản lý tín dụng bao gồm các hành động, phương pháp và
những công đoạn để biến những tập hợp đầu vào (nguồn vốn, tài sản, thông
tin,…) thành những đầu ra mong muốn (sản phẩm, dịch vụ, …).
Quy trình quản lý tín dụng bao gồm: hoạch định chính sách, chế độ, quy
định về cho vay, thu lợi, cơ cấu tổ chức thực hiện, phân tích nhận định tình
hình và đưa ra những kết luận có tính chất thuyết phục nhằm quản lý có hiệu
quả quy trình tín dụng.
∗ Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của ngân hàng thương mại do hội đồng quản trị hay
ban lãnh đạo của ngân hàng thương mại vạch ra. Đó là một hệ thống có liên
quan tới việc khuyếch trương hoặc hạn chế tín dụng để đạt mục tiêu đã hoạch
định, hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn trong kinh doanh tín dụng của ngân
hàng.
Nội dung chính sách tín dụng là xem xét cơ sở khoa học của việc hình
thành chính sách tín dụng, mục tiêu chiến lược, chiến thuật của hoạt động tín
dụng, các nội dung cụ thể của chính sách tín dụng để thực hiện mục tiêu đã đề ra
cũng như các biện pháp tổ chức điều hành công tác tín dụng.
∗ Quy định về cho vay vốn
Đây chính là cụ thể hoá của chính sách tín dụng. Vì vậy nội dung cụ thể,
rõ ràng và bao quát được các vấn đề sau: Thể thức cho vay; Giới hạn kỳ hạn
nợ; Tiêu chuẩn giá cả để tính toán cho vay; Tiêu chuẩn tài sản thế chấp; Tiêu

chuẩn pháp lý và điều kiện tài chính khách hàng cần có; Mức cho vay một

đơn thể và một nhóm; Thẩm quyền và thủ tục thanh lý, thu hồi nợ.
Tùy theo tình hình thực tế của từng ngân hàng mà quy định này có mức
độ khác nhau. Các quy định này phải được thể hiện bằng văn bản và được
dùng như một phương tiện nhằm xúc tiến kiểm tra sự tuân thủ những mục tiêu
quản lý.
∗ Cơ cấu tổ chức thực hiện
Để thực hiện mục tiêu đề ra, cần có một cơ cấu tổ chức hoạt động có
hiệu quả. Điều đó được thể hiện ở sự phân công trách nhiệm rõ ràng trong cơ
cấu lãnh đạo ở các cấp quản lý, đối với các cán bộ nhân viên cũng như sự
phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả giữa các cấp lãnh đạo và các bộ phận tham gia
trong quá trình quản lý tín dụng.
∗ Phân tích nhận định tình hình
Khả năng này tùy thuộc vào năng lực, kinh nghiệm và sự vô tư trong
phân tích những thông tin hiện có liên quan đến việc sử dụng vốn vay như các
thông tin về khách hàng xin vay vốn, tình hình kinh tế chính trị trong và ngoài
nước,… trong đó quan trọng nhất là đánh giá tình hình khách hàng. Chiều sâu
trong tiến trình đánh giá là dựa vào giá trị đích thực của các dữ kiện hơn là
định lượng chủ quan về khả năng trả nợ của khách hàng. Qua phân tích, tình
hình của người vay phải thể hiện được: tư chất – vốn – năng lực kinh doanh.
Để hiểu rõ hơn hiện trạng và xu thế phát triển của khách hàng thông qua báo
cáo của doanh nghiệp cũng như các nguồn thông tin thu nhận được, chúng ta
có thể phân tích sâu hơn về tình hình tài chính, khả năng thanh toán, Đây
chính là quá trình lượng định rủi ro tín dụng trước khi đi đến quyết định có
hay là không cho vay, như thế nào… Chính vì vậy, phân tích tình khách hàng

theo các tiêu thức nêu trên là cần thiết, góp phần thiết lập một hệ thống phòng
ngõa có hiệu quả trong quy trình quản lý tín dụng.
∗ Quyết định tín dụng
Thể hiện bằng kết luận của lãnh đạo các cấp về biện pháp xử lý đối với
các khoản cho vay, thu nợ cũng như xử lý các khoản nợ tồi. Quyết định chính

xác sẽ có ý nghĩa lớn trong việc giảm thiểu rủi ro mất vốn do không thu hồi
được nợ, đảm bảo an toàn trong kinh doanh.
Thực hiện quy trình quản lý tín dụng với chính sách đúng đắn, các quy
định rõ ràng, tổ chức quản lý có khoa học và sự phối hợp nhịp nhằng, có hiệu
quả giữa các bộ phận có liên quan tới chất lượng tín dụng trong mối quan hệ
hiệp tác, thống nhất giữa ban lãnh đạo ngân hàng với toàn thể nhân viên vì mục
tiêu chất lượng chắc chắn quản lý tín dụng sẽ thu được kết quả tốt.
1.1.3.4. Phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng là phân tích rủi ro có liên quan tới việc cho vay khách
hàng. Mục đích phân tích tín dụng là nhằm thiết lập hệ thống phòng ngõa rủi
ro tín dụng trước khi cho vay cũng như trong quá trình quản lý tiền vay.
Trong nền kinh tế thị trường, phân tích tín dụng giúp cho ngân hàng có thể
đánh giá đúng khách hàng cũng như tình trạng của các khoản tín dụng đã
cung cấp để đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp nhằm đảm bảo an toàn vốn
tín dụng.
Phân tích tín dụng bao gồm: (1) Đánh giá khái quát nhu cầu vay vốn của
khách hàng; (2) Đánh giá các nhân tố rủi ro tín dụng; (3) Phát hiện các dấu
hiệu rủi ro tín dụng.
1.1.3.5. Quản lý tài sản có – tài sản nợ

Quản lý tài sản có – tài sản nợ là một tiến trình để đưa ra quyết định kinh
doanh và các biện pháp phòng ngõa rủi ro trong hoạt động tín dụng trên cơ sở
xác định đúng vị thế của ngân hàng trên các mặt : (1) Khả năng sinh lợi; (2)
Khả năng thanh toán; (3) Rủi ro; (4) Tính linh hoạt; (5) Các yêu cầu theo quy
định.
1.1.3.6. Quản lý rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng có thể xảy ra khi một khách hàng không đáp
ứng được nghĩa vụ trả nợ theo những điều khoản đã thỏa thuận và là rủi ro
chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong thực tế rủi ro tín
dụng do nhiều nguyên nhân và biểu hiện dưới các dạng khác nhau, nhưng

nhìn chung dưới hai dạng chính: Do khách hàng không trả được nợ; Do
NHTM không thực hiện đúng các giới hạn an toàn trong hoạt động tín dụng,
do biến động lãi suất.
Rủi ro tín dụng có mối quan hệ chặt chẽ với hiệu quả tín dụng và tỉ lệ
nghịch với hiệu quả tín dụng, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình chu
chuyển của vốn tín dụng, những vấn đề an toàn trong kinh doanh và từ đó ảnh
hưởng tới khả năng đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng. Để có hiệu quả
tín dụng cần phải quản lý rủi ro tín dụng.
Quản lý rủi ro tín dụng được thực hiện trên cơ sở chính sách, thể lệ cho
vay và chế độ thông tin quản lý theo các tiêu chuẩn quản lý tín dụng. Căn cứ
vào quá trình chu chuyển vốn tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng gồm có bốn
giai đoạn:
Giai đoạn 1 – Quá trình thẩm định: Đây là giai đoạn khởi đầu nhưng có
ý nghĩa quan trọng đối với việc đảm bảo an toàn của vốn vay, mức độ an toàn
của giai đoạn này phụ thuộc nhiều vào việc xem xét, lập hồ sơ vay vốn, đánh
giá tài sản thế chấp, tình trạng khách hàng để đánh giá khả năng hoàn trả của

khách hàng và quyết định cho vay. Việc thẩm định thường tập trung vào khả
năng tài chính của khách hàng. Đối với khoản vay có tài sản thế chấp, việc
thẩm định cần chú trọng việc đánh giá tài sản, xác định mức độ hoàn hảo của
tài sản thế chấp cũng như mức đọ rủi ro của loại tàI sản này và tình thế hiện
tại của người đem thế chấp.
Giai đoạn 2 – Giám sát khách hàng vay, theo dõi rủi ro có thể xảy ra đối
với các khoản tiền vay: Mục tiêu giám sát khách hàng vay là phân loại nợ để
xếp loại rủi ro tín dụng. Yêu cầu của giai đoạn này là cán bộ tín dụng phải
theo dõi, giám sát kịp thời những khoản nợ có vấn đề, những khoản nợ có
nhiều khả năng không thu hồi được là biện pháp hữu hiệu để đảm bảo an toàn
vốn cho vay.
Hình thức giám sát khách hàng vay: kiểm tra định kỳ theo báo cáo quyết
toán tài chính của doanh nghiệp, kiểm tra thường xuyên, đột xuất tại cơ sở của

khách hàng về tình hình sản xuất – kinh doanh, tài sản thế chấp của khách
hàng… và các hình thức khác. Công tác giám sát muốn có hiệu quả, việc theo
dõi nợ của khách hàng phải được tiến hành một cách thống nhất và có hệ
thống theo nội dung đã được quy định trong chế độ thể lệ cho vay, kết quả
kiểm tra phải được thông báo kịp thời cho các cấp lãnh đạo liên quan để có
biện pháp xử lý kịp thời theo đúng chức năng, nhiệm vụ đã được phân công.
Để kết quả kiểm tra phản ánh đúng thực tại khách quan, ngoài công tác kiểm
tra do cán bộ tín dụng tiến hành, cần có một tổ chức giám sát nợ trong nội bộ.
Giai đoạn 3 – Thu hồi nợ: Đây là điều kiện đảm bảo an toàn cho hoạt
động của NHTM. Việc thu hồi nợ có thể diễn ra theo đúng các kỳ hạn nợ đã
quy định, cũng có thể trước hạn nếu các khoản nợ phát hiện thấy có vấn đề,
nhiều khả năng đưa đến tổn thất, gây mất vốn cho ngân hàng. Các ngân hàng
cần theo dõi, kiểm tra thường xuyên để xử lý có hiệu quả các khoản nợ khi

phát hiện thấy có vấn đề. Để làm được điều này cần thiết phải bổ sung, hoàn
chỉnh hệ thống thông tin quản lý nợ từ trung ương đến các tổ chức tín dụng,
tình trạng các khoản nợ phải thể hiện rõ mức độ rủi ro thông quan các chỉ
tiêu; những khoản nợ đến hạn; nợ quá hạn cả gốc và lãi; nợ quá hạn theo thời
gian quá hạn và mức đọ rủi ro của nợ quá hạn…
Về nguyên tắc, khi đáo nợ, gia hạn nợ người vay phải chứng minh được
khả năng trả nợ bằng những nguồn tiền trả nợ cụ thể. Khi khả năng của người
vay suy giảm, ngân hàng phải tăng cường và cải thiện khả năng thu nợ của
mình. Những khoản nợ khó khăn không phát hiện kịp thời do sơ suất phải
được giám sát, xử lý theo những chính sách thủ tục quy định. Nếu khả năng
thu nợ vẫn còn, ngân hàng cơ cấu lại khoản nợ, tăng cường tài sản thế chấp để
đảm bảo cho khoản vay. Nếu khó khăn không thể đảo ngược thì ngân hàng
phải có hành động rõ ràng để thu hồi nợ gốc và lãi, gồm cả giải pháp kỹ thuật,
phát mại tài sản, thu hồi lại tài sản. Ở giai đoạn này, ngân hàng phải chuyển
nợ quá hạn, xếp loại nợ, lập quỹ dự phòng để phản ánh giá trị có thể thu hồi.
Giai đoạn 4 – Lượng định rủi ro trong quá trình cho vay: Công tác này

phải được tiến hành ngay từ giai đoạn thẩm định đơn vay cho tới khi thu hồi
được nợ và được tiến hành bằng các biện pháp nêu trên. Ngoài ra cón sử dụng
phương pháp phân tích đặc thù ngành sản xuất của khách hàng, môi trường
kinh tế …
Lượng định rủi ro trong quá trình vay nhằm giúp các tổ chức tín dông
dự đoán rủi ro ngay từ khi thẩm định đơn xin vay, cân nhắc hiệu quả của vốn
đầu tư trước khi quyết định cho vay. Mức độ chính xác của việc định lượng rủi ro
đối với các khoản nợ là căn cứ để đánh giá chất lượng tín dụng và là cơ sở cho
việc trích lập, đánh giá tình hình sử dụng quỹ dự phòng của NHTM. Chất lượng

tín dụng và là cơ sở cho việc trích lập, đánh giá tình hình sử dụng quỹ dự
phòng của các NHTM.
1.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động quản lý tín dụng
1.1.4.1. Các chỉ tiêu định tính
Trước hết, chất lượng tín dụng của TCTD phụ thuộc vào uy tín của
TCTD đó. Nếu một TCTD có uy tín thì sẽ có khả năng thu hút được nhiều
khách hàng hơn. Chất lượng tín dụng còn thể hiện ở khả năng đáp ứng tốt các
nhu cầu của khách hàng, làm hài lòng khách hàng bằng việc rút ngắn quy
trình, thủ tục cho vay, đảm bảo cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời và an
toàn.
Thứ hai, để có chất lượng tín dụng tốt thì phải đảm bảo sự tồn tại và phát
triển của TCTD. Nói cánh khác hoạt động tín dụng phải mang lại cho TCTD
thu nhập đủ trang trải các chi phí liên quan và có lãi, hạn chế thấp nhất nguy
cơ rủi ro. Một khoản tín dụng có thể coi là hiệu quả khi các nguyên tắc cho
vay được tuân thủ triệt để: sử dụng vốn vay đúng mục đích có hiệu quả kinh
tế cao, hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn. Việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc
tín dụng vừa là điều kiện cần vừa là những biểu hiện cho thấy chất lượng tín
dụng tốt. Sử dụng vốn vay đúng mục đích là một trong những điều kiện đảm
bảo sự tồn tại và phát triển của TCTD.
Thứ ba, hoạt động tín dụng phải đóng góp vào sự tăng trưởng và phát

triển của kinh tế- xã hội của vùng, địa phương và đất nước.
1.1.4.2. Các chỉ tiêu định lượng
∗ Quy mô kết cấu nguồn vốn huy động
Quy mô kết cấu nguồn vốn huy động là số lượng vốn mà TCTD huy
động được tại thời điểm xem xét đánh giá. Kết cấu nguồn vốn huy động là tỷ
trọng vốn huy động chia theo thời gian, lãi suất, đơn vị tiền tệ…trong tổng

nguồn vốn huy động. Việc tập trung nguồn vốn lớn, kết cấu hợp lý về thời
hạn, lãi suất, đơn vị tiền tệ sẽ đảm bảo cho mỗi TCTD có khả năng tự chủ về
vốn, lãi suất, có khả năng mở rộng đầu tư tín dụng để nâng cao năng lực cạnh
tranh của mình. Chính vì vậy, đây là chỉ tiêu gián tiếp đánh giá chất lượng tín
dụng.
∗ Doanh số cho vay
Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà
TCTD đã phát ra cho vay trong một khoảng thời gian nào đó, không kể món
cho vay đó đã thu hồi hay chưa. Doanh số cho vay thường được xác định theo
tháng, quý, năm.
Doanh số cho vay là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tất cả số tiền TCTD cho
khách hàng vay trong một thời gian nhất định thường là một năm. Bên cạnh
đó, thấy được khả năng hoạt động cho vay qua các năm, do đó có thể thấy
được khả năng mở rộng cho vay. Thêm vào đó nếu biết được doanh số cho
vay của nhiều thời kỳ cũng thấy được phần nào xu hướng hoạt động cho vay.
∗ Doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ là toàn bộ các món nợ mà TCTD đã thu về từ khoản
cho vay của TCTD kể cả của kỳ hiện tại và kỳ trước đó. Qua chỉ tiêu này ta
có thể thấy đượccacs khoản nợ mới phát sinh và các khoản nợ của thời kỳ
trước. Từ đó cũng cho ta thấy được khả năng thu nợ ở kỳ tiếp theo. Đồng thời
cho biết TCTD làm ăn có hiệu quả hay không, các khoản vay có an toàn hay
không, các cá nhân hay hộ gia đình có sử dụng vốn hiệu quả và đúng mục
đích các khoản vay hay không?

∗ Dư nợ và kết cấu dư nợ

Dư nợ là tổng số dư nợ qua các hình thức cấp tín dụng mà khách hàng
còn nợ lại ngân hàng tại một thời điểm. Kết cấu dư nợ là tổng số nợ được
phân chia theo tỷ lệ các hình thức cấp tín dụng, theo thời hạn cho vay, theo
đơn vị tiền tệ, theo ngành hoặc theo thành phần kinh tế…Chỉ tiêu này phản
ánh quy mô tín dụng của TCTD cho nền kinh tế theo số dư mà tại một thời
điểm. So sánh dư nợ với thị phần tín dụng của TCTD cho ta biết dư nợ của
TCTD là cao hay thấp. Trên thực tế, thị phần tín dụng của một TCTD thường
phản ánh số lượng khách hàng trung thành, uy tín của TCTD, sự tác động của
TCTD đối với địa phương và nền kinh tế… Do đó, nếu thị phần tín dụng của
TCTD cao thì tương xứng với nó phải là dư nợ lớn.
∗ Tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn
hảo khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho
TCTD đúng hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa tổng dư nợ quá hạn trong tổng
dư nợ của TCTD ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý,
cuối năm.
Nợ quá hạn là chỉ tiêu định lượng cơ bản và quan trọng nhất để xem xét,
đánh giá chất lượng tín dụng của một TCTD. Xét về mặt bản chất, tín dụng là
sự hoàn trả, do đó tính an toàn là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất
lượng tín dụng. Khi một khoản vay không được trả đúng hạn như đã cam kết,
mà không có lý do chính đáng thì nó sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất
cao hơn lãi suất bình thường. Trên thực tế, phần lớn các khoản nợ quá hạn là
các khoản nợ có vấn đề có khả năng mất vốn. Như vậy, tỷ lệ nợ quá hạn càng
cao thì ngân hàng thương mại càng gặp khó khăn trong kinh doanh vì sẽ có

nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm lợi nhuận, tức là tỷ lệ nợ
quá hạn càng cao, chất lượng tín dụng càng thấp. Do vậy, trong hoạt động tín

dụng các TCTD cần cố gắng để ngăn chặn NQH xảy ra.
∗ Tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD
Dự phòng rủi ro tín dụng là khoản tiền đã trích lập để dự phòng cho
những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng hoặc đối tác của ngân hàng
thương mại không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Tỷ lệ này càng cao chứng
tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng không tốt và rủi ro mà ngân hàng có thể
gặp phải càng cao.
1.1.5. Nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng có hiệu quả có ý nghĩa rất lớn đối với sự tồn tại và
phát triển của các Ngân hàng Thương mại và của toàn xã hội. Để quản lý hoạt
động tín dụng đòi hỏi phải hiểu rõ tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới
quản lý hoạt động tín dụng.
1.1.5.1. Nhân tố chủ quan
Chính sách tín dụng: Đối với mỗi NH, tín dụng luôn là hoạt động chiếm
tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu tài sản và cơ cấu thu nhập, nhưng cũng đồng
thời là hoạt động phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất. Bởi vậy để đảm bảo
mục tiêu nâng cao hiệu quả, kiểm soát rủi ro, phát triển bền vững, đáp ứng các
tiêu chuẩn pháp lí, nhất thiết phải xây dựng 1 chính sách tín dụng nhất quán
và hợp lí, phù hợp với đặc điểm nội tại và tính đặc thù của hệ thống, phát huy
được các thế mạnh, khắc phục hạn chế được các điểm yếu nhằm mục tiêu an
toàn và sinh lời. Một chính sách tín dụng phù hợp phải kết hợp hài hòa lợi ích
của người gửi tiền, người vay tiền với mục tiêu của ngân hàng sẽ giúp cho
hoạt động tín dụng của ngân hàng giảm thiểu được rủi ro, nâng cao chất lượng

và do đó hiệu quả của các món cho vay được nâng cao, ngược lại một chính
sách tín dụng thiếu chính xác và không hợp lý có thể đẩy ngân hàng vào tình
trạng thua lỗ hay nặng hơn là phá sản.
Khả năng thẩm định tín dụng: Thẩm định là việc đánh giá, thẩm tra, dự
đoán về độ chính xác, an toàn và hiệu quả của một hợp đồng tín dụng. Kết
quả của quá trình thẩm định sẽ dùng để quyết định xem có thực hiện món vay

hay không. Quá trình thẩm định không chỉ đòi hỏi việc tuân thủ nghiêm ngặt
về hồ sơ và an toàn thông tin mà còn yêu cầu trình độ chuyên môn và sự phán
đoán linh hoạt của cán bộ. Đối với tín dụng, khâu thẩm định cũng đòi hỏi phải
nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, đồng thời phải đảm
bảo chính xác và an toàn cho món vay.
Giám sát tín dụng: Do hoạt động kinh doanh luôn tiềm ẩn rất nhiềm rủi
ro mà bản thân doanh nghiệp và ngân hàng không thể lường trước được.
Chính vì thế công tác giám sát khoản tín dụng có vai trò quan trọng giúp ngân
hàng khắc phục yếu tố này. Hoạt động giám sát thường tập trung vào việc
khách hàng có tuân thủ đúng mục đích vay vốn không, tình hình hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình tài sản, quá trình trả nợ ngân hàng.
Nếu ngân hàng thực hiện tốt công tác này sẽ giúp phát hiện kịp thời những sai
phạm của khách hàng để có thể đưa ra biện pháp giúp hoạt động sản xuất của
doanh nghiệp đạt hiệu quả cao nhất, góp phần nâng cao hiệu quả khoản vay.
Chất lượng cán bộ tín dụng: Trong hoạt động tín dụng, cán bộ tín dụng
là người có vai trò quyết định đến tính chính xác của các quyết định tín dụng
vì họ là người trực tiếp nắm rõ khách hàng nhất. Vì thế cán bộ tín dụng sẽ có
ảnh hưởng đến chất lượng của khoản vay và do vậy ảnh hưởng đến hiệu quả
tín dụng. Đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng là điều kiện tiên quyết để
đảm bảo hoạt động tín dụng đạt hiệu quả cao. Mặt khác, khách hàng của ngân

hàng ngày càng phong phú, hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó,
cán bộ tín dụng cũng phải có trình độ, hiểu biết nhiều lĩnh vực để có thể đánh
giá được khách hàng và phương án kinh doanh.
Thông tin tín dụng: Vấn đề thông tin là một vấn đề nhạy cảm và có tính
quyết định đến thành công hay thất bại của công việc kinh doanh. Trong quá
trình hoạt động của mình, ngân hàng không thể có được tất cả những thông
tin cần thiết: về khách hàng, quan hệ tín dụng của khách hàng với những tổ
chức tín dụng khác, tài sản đảm bảo, những mối quan hệ khác của khách
hàng, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng… Mọi thông tin đều có

ảnh hưởng đến quyết định của cán bộ tín dụng trong quá trình thẩm định tín
dụng. Việc thiếu thông tin tạo ra những rủi ro lớn cho ngân hàng, tạo ra rủi ro
lựa chọn đối nghịch. Do đó, ngân hàng nào càng nắm được nhiều thông tin
chính xác sẽ càng có lợi thế trong cạnh tranh.
Công tác tổ chức quản lý: Tổ chức và quản lý là khâu quan trọng trong
mọi hoạt động nói chung. Với hoạt động của ngân hàng, tổ chức và quản lý có
vai trò quyết định đến tính chuyên nghiệp và hiệu quả của hoạt động tín dụng.
Công tác tổ chức và quản lý nếu được phối hợp thực hiện chặt chẽ sẽ góp
phần làm giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng nói
riêng và hoạt động kinh doanh của NHTM nói chung.
Công tác kiểm soát nội bộ: Đây là công tác mà các ngân hàng phải luôn
tiến hành thường xuyên nhằm duy trì hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân
hàng phù hợp với các mục tiêu, chính sách của ngân hàng và các quy định của
Nhà nước đã đặt ra. Có như thế hoạt động tín dụng mới đảm bảo thực hiện
đúng quy trình yêu cầu nhằm nâng cao hiệu quả của khoản tín dụng.
Năng lực công nghệ: Trong hoạt động tín dụng, công nghệ thông tin
không chỉ giúp ngân hàng quản lý một cơ sở dữ liệu khách hàng to lớn với

đầy đủ các chi tiết như tư cách pháp nhân, lịch sử hoạt động tại ngân hàng,
hạn mức tín dụng tại ngân hàng và tại các ngân hàng khác cho đến các thông
tin chi tiết khác. Các thông tin này được các phần mềm chuyên dụng quản lý
một cách hệ thống, khoa học giúp cho các cán bộ tín dụng, hay lãnh đạo ngân
hàng có thể truy xuất thông tin một cách dễ dàng và nhanh chóng. Nhờ có
phần mềm hiện đại mà có thể tính toán chính xác, khách quan các chỉ tiêu tài
chính, từ đó cán bộ tín dụng có thể đánh giá đúng tình hình tài chính của
khách hàng và đưa ra quyết định tín dụng chính xác, nhanh chóng. Công nghệ
hiện đại còn giúp rút ngắn thời gian giao dịch, đơn giản hóa các thủ tục, mang
lại nhiều thuận tiện hơn cho khách hàng, qua đó thu hút thêm nhiều khách
hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng.
1.1.5.2. Nhân tố khách quan

∗ Nhân tố khách hàng
Đạo đức của người vay vốn là yếu tố quyết định đến hành vi trả nợ của
khách hàng trong tương lai. Đạo đức của người vay được xác định trên cơ sở
năng lực pháp lý và độ tín nhiệm. Khách hàng phải có năng lực pháp lý để
bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng trong quan hệ vay vốn. Mức tín
nhiệm của khách hàng liên quan đến sự sẵn lòng và thiện chí thực hiện đúng
hợp đồng. Cả hai yếu tố này các ngân hàng phải đặc biệt quan tâm khi tiến
hành cho vay vì nó trực tiếp quyết định tới hiệu quả món vay và ảnh hưởng
đến rủi ro của ngân hàng.
∗ Môi trường kinh tế
Mọi hoạt động của cả doanh nghiệp và ngân hàng không thể tách rời
những biến động chung của thị trường. Bất cứ biến động nào của nền kinh tế
vĩ mô đều có thể có tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng và doanh
nghiệp. Hoạt động của các ngân hàng được coi là chiếc cầu nối giữa các lĩnh

vực khác nhau của nền kinh tế. Vì vậy sự ổn định hay bất ổn, sự tăng trưởng
nhanh hay chậm của nền kinh tế sẽ tác động mạnh mẽ tới hoạt động của các
ngân hàng, đặc biệt là hoạt động cho vay nói chung và cho vay ngắn hạn nói
riêng.
Các chính sách của Nhà nước: Các chính sách của Nhà nước như
khuyến khích đầu tư trong nước, thu hút đầu tư nước ngoài nếu thực hiện hiệu
quả sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần giảm thất nghiệp, tăng thu nhập
cho người lao động. Thêm vào đó các chính sách thuế thu nhập, chính sách ưu
đãi với các hộ nghèo vay vốn, cho vay tín chấp với hộ nông dân, chương trình
phát triển kinh tế vùng sâu vùng xa… sẽ góp phần thúc đẩy nhu cầu vay vốn.
Môi trường pháp lý: Hoạt động cho vay của ngân hàng cũng phải tuân
theo các quy định của nhà nước, luật dân sự, luật các tổ chức cho vay và các
quy định khác của pháp luật. Những quy định pháp luật không rõ ràng, không
đồng bộ, kịp thời và có nhiều kẽ hở sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong các
hoạt động cho vay nói chung và hoạt động cho vay ngắn hạn nói riêng, tạo ra

các khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp.
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng là một đề tài thu hút rất
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đã được đề cập trong rất nhiều tài liệu từ
các tạp chí nghiên cứu khoa học, các bài báo, nghiên cứu hay các luận văn,
luận án…Trong thời gian gần đây, với sự chuyển đổi từ mô hình Qũy Tín
dụng Nhân dân Trung ương thành Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam đã gây
được sự chú ý của nhiều tác giả, cụ thể:
- Nghiên cứu khoa học lưu trữ tại Trung tâm Thông tin – thư viện, Văn phòng
Quốc hội cũng đề cập đến “Vai trò của hệ thống Qũy tín dụng nhân dân
trong việc thúc đẩy kinh tế nông nghiệp – nông thôn” trong đó nhấn mạnh tới


×