Tải bản đầy đủ (.doc) (38 trang)

chủ đề Quyền sở hữu trí tuệ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (453.92 KB, 38 trang )

Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

NĂM HỌC 2011 – 2012
GVHD: Trang:1
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
1. Giới thiệu về sở hữu trí tuệ
1.1. Một số khái niệm
Sở hữu trí tuệ được hiểu là việc sở hữu các tài sản trí tuệ - những kết quả
từ hoạt động tư duy, sáng tạo của con người. Đối tượng của loại sở hữu này là
các tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan
trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học công nghệ
của nhân loại.
Luật sở hữu trí tuệ là hệ thống pháp luật quy định về quyền tác giả, quyền
liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây
trồng và việc bảo hộ các quyền đó.
Quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền đối với tài sản vô hình là thành
quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của các chủ thể, được pháp luật quy
định bảo hộ.Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền sở hữu đối với sản phẩm
của hoạt động trí tuệ và tinh thần như tác phẩm văn học, nghệ thuật, tác phẩm
khoa học, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán
dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý và giống cây
trồng.
1.2. Phân loại sở hữu trí tuệ
Ở các nước, khái niệm bản quyền (copyright) hay sáng chế (patent) xuất
hiện từ thế kỷ 17 và thế kỷ 18. Không ai dùng danh từ "sở hữu trí tuệ" cho đến
khi xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1952 bởi giáo sư A. Bogsch, giám đốc Văn
phòng Quốc tế về Quản lý Sáng chế (BIRPI) đưa ra. Luật Việt Nam cũng như
luật của các nước khác trên thế giới không có định nghĩa trực tiếp như thế nào
là sở hữu trí tuệ, mà chỉ có định nghĩa gián tiếp thông qua phân loại sở hữu trí


tuệ thành quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây
trồng.
1.2.1. Quyền tác giả:
Quyền tác giả bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả và chủ
GVHD: Trang:2
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật.
Quyền tác giả còn được gọi là tác quyền hay bản quyền. Chúng ta thường thấy
các thí dụ về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc hay chương trình máy
tính (thí dụ trên báo chí có nói đến vụ tranh chấp về quyền tác giả của nhạc sỹ
Lê Vinh với công ty băng đĩa nhạc Dihavina). Đối với quyền tác giả, chủ sở
hữu quyền tác giả được độc quyền sử dụng và khai thác tác phẩm. Mọi hành vi
sao chép, trích dịch, công bố phổ biến nhằm mục đích kinh doanh mà không có
sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả đều bị coi là xâm phạm quyền tác giả
(chúng ta thường thấy các lời cảnh báo như vậy trên băng đĩa). Sao băng đĩa
lậu, sao chép phần mềm vi tính, in lậu sách giáo khoa bán ra thị trường, v.v.
cũng là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Trong một số trường hợp, pháp luật
cho phép chúng ta sao chép, trích đoạn một phần của tác phẩm (người ta gọi là
sử dụng hạn chế).
1.2.2.Quyền sở hữu công nghiệp:
Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm quyền đối với sáng chế, giải pháp
hữu ích,kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý (bao gồm cả tên gọi
xuất xứ hàng hoá), tên thương mại, bí mật kinh doanh, quyền chống hành vi
cạnh tranh không lành mạnh và các quyền sở hữu công nghiệp khác do pháp luật
quy định.Quyền sở hữu công nghiệp bảo hộ quyền sử dụng độc quyền vì mục
đích kinh tế và quyền định đoạt của các chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công
nghiệp.
Luật về sở hữu công nghiệp bảo hộ nội dung ý tưởng sáng tạo và uy tín
kinh doanh. Sở hữu công nghiệp không phải là một loại sở hữu có liên quan đến
tài sản hữu hình dùng trong công nghiệp mà là sở hữu đối với tài sản vô hình.

Đó là sáng chế, giải pháp hữu ích, v.v. Kể cả những đối tượng mà chúng ta có
thể tưởng là tài sản hữu hình như kiểu dáng công nghiệp hay nhãn hiệu hàng hoá
cũng không phải là tài sản hữu hình. Cái mà pháp luật hướng tới bảo vệ (khách
thể) trong quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu công nghiệp không phải là kiểu
dáng một chiếc xe hay một bộ quần áo, hay một dấu hiệu gắn trên hàng hoá, mà
là những đối tượng vô hình đứng đằng sau kiểu dáng hay nhãn hiệu, là thành
GVHD: Trang:3
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của chủ sở hữu đối tượng đó.
1.2.3.Quyền đối với giống cây trồng:
Giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực
vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể
nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp
của các kiểu gen quy định và phân biệt được với bất kỳ quần thể cây trồng nào
khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền được.Thí
dụ, sự kết hợp của giống lúa jasmin hạt dài của Ấn Độ (có mùi hương đặc biệt)
với giống lúa hạt vàng của Hoa Kỳ (có tính kháng bệnh và cho năng suất cao,
song có mùi khó chịu) có thể cho ra một giống lúa vừa có tính kháng bệnh và
cho năng suất cao, vừa có mùi hương dễ chịu. Quyền đối với giống cây trồng là
quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc
phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu. Đối tượng quyền đối với
giống cây trồng là giống cây trồng và vật liệu nhân giống. Cái mà pháp luật
hướng tới bảo vệ đối với giống cây trồng chính là tính mới, tính ổn định, đồng
nhất và khả năng phân biệt với các giống cây trồng khác. Quyền đối với giống
cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật
SHTT.
2.Bản quyền, bằng phát minh, nhãn hiệu, sự vi phạm quyền tác giả.
2.1.Bản quyền:
- Là một hình thức bảo hộ của luật pháp Hoa Kỳ (điều 17, Bộ luật Hoa Kỳ)

đối với tác giả của “các tác phẩm gốc của tác giả”, bao gồm tác phẩm văn học,
sân khấu, âm nhạc, nghệ thuật và các tác phẩm trí tuệ khác. Hình thức bảo hộ
được áp dụng với các tác phẩm đã được xuất bản cũng như chưa được xuất bản.
- Bản quyền phần mềm là quyền được phép sử dụng phần mềm đó một cách
hợp pháp. Việc sử dụng phần mềm không có bản quyền hợp pháp nào cũng
được xem như sao chép phần mềm trái phép vậy. Người vi phạm sẽ bị xử theo
luật xâm phạm quyền tác giả.
GVHD: Trang:4
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
- Vi phạm bản quyền là sao chép lại hay là lưu chuyền tác phẩm của người
khác mà không xin phép, trái phép hoặc không ghi rõ nguồn và tên tác giả chính
thức. Thậm chí trầm trọng là có thể công bố thêm hay gây hiểu lầm là các công
trình đó là của mình sáng tạo ra. Đây được xem là vi phạm quyền tác giả, sở hữu
trí tuệ.
2.2.Bằng phát minh:
Phát minh là từ để chỉ việc tìm ra những sự vật, hiện tượng, quy luật có
sẵn trong tự nhiên nhưng trước đó con người chưa biết tới.
Phát minh thể hiện những bước tiến của trí tuệ con người. Phát minh thường là
những môn khoa học cơ bản, mang tính lý thuyết, được ghi nhận công lao của
người tìm ra.
Tóm lại: Phát minh, hay khám phá, phát hiện là việc tìm ra những gì tồn tại
trong tự nhiên hoặc xã hội một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ
đó làm thay đổi cơ bản nhận thức con người.
- Bằng phát minh (patent) là một loại văn bản công nhận đặc quyền cuả một
chính quyền cấp cho người (nhóm ngườì, hay một tổ chức) đã đăng kí phát minh
cho phép người đó (họ) việc mua, bán sử dụng, cho thuê mướn, san sẻ, chuyển
nhượng, hay sản xuất một loại thiết bị, thiết kế,kiến trúc, hay một kiểu máy
trong một thời gian ấn định nhằm tưởng thưởng cho (những) người phát minh.
2.3. Nhãn hiệu:
2.3.1. Khái niệm:

Nhãn hiệu là những dấu hiệu để phân biệt hàng hoá,dịch vụ của các cơ sở
sản xuất,kinh doanh khác nhau. nhãn hiệu có thể là từ ngữ,hình ảnh hoặc sự kết
hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.
2.3.2. Nhãn hiệu trong đời sống:
- Nhãn hiệu là một trong những đối tượng sở hữu công nghiệp phổ biến nhất
trong cuộc sống. Chúng ta có thể gặp rất nhiều nhãn hiệu: Vietnam Airlines, Bia
Sài Gòn, Kem đánh răng P/S, v.v. Nhãn hiệu thiết lập độc quyền sử dụng các
GVHD: Trang:5
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
dấu hiệu phân biệt sản phẩm, dịch vụ của chủ thể này với sản phẩm, dịch vụ của
chủ thể khác cùng loại. Nhãn hiệu có thể bao gồm từ ngữ, hình khối, màu sắc
hay là sự kết hợp của những yếu tố đó.Luật về bảo hộ nhãn hiệu ban đầu bắt
nguồn từ luật chống các hành vi cạnhtranh không lành mạnh, do các chủ thể
kinh doanh có uy tín than phiền sảnphẩm của mình bị giả mạo. Để tránh tình
trạng này, Anh Quốc là nước đầu tiên ban hành luật về bảo hộ độc quyền nhãn
hiệu. Nhãn hiệu đầu tiên được bảo hộ cho hãng bia BASS, với hình tam giác
màu cam (năm 1777).
- Mục đích ban đầu của việc sử dụng nhãn hiệu là để phân biệt sản phẩm, tuy
nhiên khi sản phẩm đã chiếm được thị trường, nhãn hiệu trở thành biểu tượng
của uy tín, chất lượng sản phẩm. Nhãn hiệu càng uy tín, càng dễ bị người khác
lợi dụng để sản xuất hàng giả, hàng nhái. Chính vì thế nảy sinh nhu cầu bảo hộ
nhãn hiệu có uy tín với phạm vi rộng hơn các nhãn hiệu thông thường - đó là
những nhãn hiệu nổi tiếng. Đối với những nhãn hiệu loại này, việc bảo hộ không
chỉ giới hạn ở những sản phẩm cùng loại, mà ở tất cả các loại hình sản phẩm
thông qua nhãn hiệu : uy tín, xuất xứ, chất lượng sản phẩm. Ở đây vai trò của
sức lao động sáng tạo (hay "trí tuệ") không rõ như quyền tác giả hay các đối
tượng sở hữu công nghiệp khác. Tuy vậy luật về nhãn hiệu vẫn là luật về quyền
sở hữu một tài sản vô hình. Việc bảo hộ nhãn hiệu phải thoả mãn lợi ích của bốn
chủ thể, đó là người tiêu dùng (không bị nhầm lẫn giữa hàng thật và hàng giả),
chủ sở hữu nhãn hiệu (bảo vệ uy tín sản phẩm), các nhà sản xuất khác (được

cạnh tranh bình đẳng) và Nhà nước (bảo đảm một hệ thống pháp luật công bằng
và hiệu quả).
2.3.3. Khả năng phân biệt của nhãn hiệu:
Theo Khoản 16 Điều 4 Luật SHTT, nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân
biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Xuất phát từ định
nghĩa nhãn hiệu, các dấu hiệu thể hiện trên nhãn hiệu phải thể hiện tính độc đáo
sao cho có thể phân biệt sản phẩm này với sản phẩm khác. "Độc đáo" ở đây thể
hiện ở hai yếu tố: "khác biệt" và "không thông dụng."
Theo Điều 74 Luật SHTT, một nhãn hiệu được coi là khác biệt với các dấu
GVHD: Trang:6
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
hiệu khác nếu:
- được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ
nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ; và
- không trùng hay "tương tự tới mức gây nhầm lẫn" với (i) một nhãn hiệu
đã đăng ký hay nộp đơn đăng ký bảo hộ hoặc có ngày ưu tiên sớm hơn, hoặc
đang được sử dụng rộng rãi, hay đã hết hiệu lực song không quá 5 năm, trừ
trường hợp bị đình chỉ do không sử dụng, (ii) một nhãn hiệu nổi tiếng, và (iii)
kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý hiện đang được bảo hộ
hay đã nộp đơn yêu cầu bảo hộ, hay một hình tượng được bảo hộ dưới dạng
quyền tác giả.
Ngoài khái niệm nhãn hiệu, còn có một số khái niệm về các nhãn hiệu
đặc thù, được qui định tại Điều 4 Luật SHTT như sau:
- Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của
các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của
tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.Thí dụ, nhãn hiệu
WOOLMARK là nhãn hiệu tập thể của các doanh nghiệp sản xuất len tại Anh
Quốc.
- Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ
chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để

chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất
hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ
chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn
hiệu. Thí dụ nhãn hiệu và logo HÀNG VIỆT NAM CHẤT LƯỢNG CAO của
Báo Sài Gòn Tiếp Thị là một loại nhãn hiệu chứng nhận.
- Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng
hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau
hoặc có liên quan với nhau. Thí dụ nhãn hiệu ACE, ACE-INA hay ACE LIFE là
những nhãn hiệu liên kết của cùng một công ty bảo hiểm ACE-INA.
- Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi
trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Thí dụ điển hình là nhãn hiệu P/S cho kem đánh
GVHD: Trang:7
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
răng P/S, hay nhãn hiệu G7 cho Cà phê G7. Xin lưu ý là có những nhãn hiệu rất
nổi tiếng trên thế giới, như bia BUDWEISER hay phó mát
CHEEDAR, nhưng lại không được biết đến nhiều ở Việt Nam, khi đó khả năng
được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng cũng sẽ bị giảm. Trước đây, Cục SHTT
đã công nhận nhãn hiệu BUDWEISER của công ty Anheuser-Busch (Hoa Kỳ) là
nhãn hiệu nổi tiếng trong khi ở Việt Nam các nhãn hiệu này chưa được biết đến
nhiều. Hiện nay, với qui định của Luật SHTT, việc công nhận nhãn hiệu nổi
tiếng sẽ trở nên đơn giản hơn.
2.3.4. Phạm vi độc quyền bảo hộ đối với nhãn hiệu:
Chủ sở hữu nhãn hiệu được độc quyền sử dụng và định đoạt đối với các
dấu hiệu được bảo hộ. Độc quyền được hiểu dưới hai nghĩa. Thứ nhất, chủ sở
hữu có quyền cho hay không cho người khác sử dụng nhãn hiệu của mình thông
qua một loại hợp đồng gọi là hợp đồng li-xăng. Thứ hai, khi có hành vi xâm
phạm độc quyền của mình (sử dụng mà không xin phép), chủ sở hữu nhãn hiệu
có thể tự mình yêu cầu hay thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc
người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt
hại.

a.Quyền sử dụng và phạm vi bảo hộ:
Chủ sở hữu nhãn hiệu được độc quyền sử dụng nhãn hiệu trên loại sản
phẩm mà mình đăng ký. Quyền sử dụng nói trên bao gồm: gắn nhãn được bảo
hộ lên sản phẩm hay dịch vụ của mình, tàng trữ, lưu thông, bán, nhập khẩu,
quảng cáo sản phẩm có nhãn hiệu được cấp văn bằng bảo hộ. Phạm vi bảo hộ
của nhãn hiệu được hiểu không chỉ bao gồm sản phẩm có nhãn hiệu giống nhãn
hiệu được mô tả trên văn bằng bảo hộ, mà cả các sản phẩm có nhãn hiệu "tương
tự tới mức gây nhầm lẫn." Đó là vì đối tượng bảo hộ của nhãn hiệu là khả năng
phân biệt của sản phẩm và nguồn gốc sản phẩm. Chính vì lý do đó, mà các dấu
hiệu nổi bật của nhãn hiệu phải được thể hiện rõ trong yêu cầu bảo hộ (đơn đăng
ký nhãn hiệu). Khi xảy ra tranh chấp, các cơ quan có thẩm quyền phần lớn các
nước đều tập trung vào vấn đề giải thích nội dung văn bằng bảo hộ để từ đó tìm
GVHD: Trang:8
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
ra phạm vi bảo hộ.
b.Quyền định đoạt:
Ngoài quyền sử dụng, chủ sở hữu nhãn hiệu được quyền chuyển giao
quyền sở hữu văn bằng bảo hộ hoặc quyền sử dụng của mình thông qua hợp
đồng li-xăng và được quyền để lại thừa kế nhãn hiệu. Để đảm bảo khả năng
phân biệt của nhãn hiệu, pháp luật quy định chỉ được để lại thừa kế nhãn hiệu
cho một chủ thể.
c.Nghĩa vụ của chủ sở hữu trí tuệ:
Chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa vụ phải sử dụng nhãn hiệu mà mình được
bảo hộ không được gián đoạn quá 5 năm. Trong trường hợp ngược lại, bất kỳ
người nào cũng có quyền yêu cầu Cục SHTT đình chỉ hiệu lực văn bằng bảo hộ
(xem Điều 28.2.c Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996). Điều này nhằm hạn chế
tình trạng một số chủ thể chỉ đăng ký nhãn hiệu mà không sử dụng chúng. Sau
đó
dùng văn bằng bảo hộ bán lại cho những người có nhu cầu sử dụng nhãn hiệu.
Việc quy định nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu được áp dụng ở hầu hết các nước,

nhằm tập trung vào mục tiêu tối hậu của việc bảo hộ nhãn hiệu: bảo hộ uy tín
sáng tạo của các chủ thể.
Ngoài ra, chủ sở hữu nhãn hiệu còn phải thực hiện các quyền của mình về
hình thức phải phù hợp với quy định của pháp luật, về mục đích và nội dung
không được trái pháp luật, đạo đức xã hội, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ thể khác (Điều 49 NĐ 63/CP). Khi nguyên tắc này bị phá vỡ, văn
bằng bảo hộ có thể bị đình chỉ hay hủy bỏ theo những căn cứ qui định tại Luật
SHTT.
2.4. Sự vi phạm quyền tác giả:
2.4.1. Khái niêm quyền tác giả:
Quyền tác giả hay tác quyền (tiếng Anh là copyright) là độc quyền của
một tác giả cho tác phẩm của người này. Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các
sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa (cũng còn được gọi là tác phẩm) thí dụ
như các bài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình
GVHD: Trang:9
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
chụp, phim và các chương trình truyền thanh. Quyền này bảo vệ các quyền lợi
cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm này.
2.4.2. Nội dung quyền tác giả:
Hiện nay, quyền tác giả được tập trung lại thành hai mảng lớn: quyền
nhân than (Điều 19 Luật SHTT) và quyền tài sản (Điều 20 Luật SHTT).
a.Quyền nhân thân:
Quyền nhân thân bao gồm quyền nhân thân không gắn với tài sản và
quyền nhân thân gắn với tài sản. Các quyền nhân thân không gắn với tài sản là
những quyền gắn liền với các giá trị nhân thân của tác giả và không thể chuyển
giao, bao gồm ba quyền: quyền được đặt tên tác phẩm, đứng tên tác phẩm và
bảo vệ sự toàn vẹn của nội dung tác phẩm. Nếu chúng ta ví tác phẩm là đứa con
tinh thần của tác giả, thì các quyền nhân thân này cũng tương tự quyền của cha
mẹ được đặt tên cho con, nhận con và bảo vệ chăm sóc con cái. Vì là quyền
nhân thân không được chuyển giao nên nó chỉ được dành cho tác giả (cho dù

đồng thời hay không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả). Các quyền này ảnh
hưởng trực tiếp đến uy tín và danh dự của tác giả, tồn tại một cách độc lập đối
với quyền tài sản, gắn liền với tác giả kể cả khi quyền sử dụng, định đoạt tác
phẩm đã được chuyển giao. Các quyền nhân thân không gắn với tài sản được
bảo hộ vô thời hạn, khác với những quyền khác được bảo hộ có thời hạn.
b.Quyền tài sản:
Theo luật Việt Nam, quyền tài sản bao gồm quyền sử dụng và quyền
được hưởng thù lao giải thưởng. Thông thường chủ sở hữu quyền tác giả được
hưởng quyền sử dụng, còn tác giả được hưởng thù lao, giải thưởng. Quyền sử
dụng bao gồm quyền công bố, phổ biến, trình diễn, sao chép, cải biên, chuyển
thể, ghi âm, ghi hình, phát thanh truyền hình, cho thuê tác phẩm. Quyền sử
dụng này gắn liền với quyền nhân thân gắn với tài sản (cho/không cho sử dụng
tác phẩm). Vì thế, mọi hành vi sử dụng tác phẩm (sao chép, dịch, chuyển thể,
v.v.) mà không xin phép chủ sở hữu quyền tác giả là xâm phạm quyền tác giả,
trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.4.3.Vi phạm quyền tác giả:
GVHD: Trang:10
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
1. Mạo danh tác giả.
2. Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả.
3. Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng
tác giả đó.
4. Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây
phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
5. Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác
giả, trừ trường hợp: Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học,
giảng dạy của cá nhân; Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục
đích nghiên cứu;
6. Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền
tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp:

Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;
7. Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không
trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật.
8. Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm
đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà
không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
9. Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
10. Cố ý huỷ bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền
tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.
11. Cố ý xoá, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong
tác phẩm.
GVHD: Trang:11
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
12. Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho
thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp
kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với
tác phẩm của mình.
13. Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo.
14. Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép
của chủ sở hữu quyền tác giả.
3.Một số hiệp định quốc tế và quyền SHTT:
3.1. Công ước Paris năm 1883 về Bảo hộ sở hữu công nghiệp: quy định
nguyên tắc đối xử quốc gia về quyền ưu tiên, theo đó doanh nghiệp có thể đăng
ký nhãn hiệu của mình ở các nước thành viên của công ước và được hưởng sự
bảo hộ đối với nhãn hiệu đó như công dân của nước sở tại mà không có sự phân
biệt đối xử (nguyên tắc đối xử quốc gia). Trong vòng 6 tháng kể từ ngày Đơn
đăng kí nhãn hiệu của doanh nghiệp được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam chấp
nhận hợp lệ, doanh nghiệp có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu của mình
tại bất cứ nước thành viên nào của công ước và các đơn nộp sau sẽ được coi như
nộp cùng ngày với ngày nộp đơn tại Cục Sở hữu trí tuệ (nguyên tắc quyền ưu

tiên). Điều đó giúp cho doanh nghiệp khi muốn bảo hộ nhãn hiệu của mình ở
một số nước không phải nộp đồng thời tất cả các đơn tại Việt Nam và các nước
khác mà có đến 6 tháng để quyết định xem nên nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn
hiệu của mình ở những nước nào và tiến hành nộp đơn ở nước được lựa chọn.
3.2. Công ước Bern năm 1886 về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật:
còn được gọi ngắn gọn là Công ước Berne (phát âm tiếng Việt: Công ước Bơn
hay Công ước Béc-nơ), được ký tại Bern (Thụy Sĩ) năm 1886, lần đầu tiên thiết
lập và bảo vệ quyền tác giả giữa các quốc gia có chủ quyền. Nó được hình thành
sau các nỗ lực vận động của Victor Hugo. Trước khi có công ước Bern, các quốc
gia thường từ chối quyền tác giả của các tác phẩm ngoại quốc. Ví dụ, một tác
GVHD: Trang:12
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
phẩm xuất bản ở một quốc gia được bảo vệ quyền tác giả tại đó, nhưng lại có thể
bị sao chép và xuất bản tự do không cần xin phép tại quốc gia khác.
Các quốc gia tuân thủ công ước Bern công nhận quyền tác giả của các tác phẩm
xuất bản tại các quốc gia khác cùng tuân thủ công ước này. Quyền tác giả, theo
công ước Berne là tự động: không cần phải đăng ký tác quyền, không cần phải
viết trong thông báo tác quyền. Ngoài ra, những quốc gia ký công ước Berne
không được đặt ra các thủ tục hành chính sách nhiễu các tác giả trong việc thụ
hưởng tác quyền. (Các quốc gia ký công ước Bern vẫn có quyền áp đặt các luật
lệ riêng cho các tác giả trong nước họ hoặc từ những nước không ký công ước
này).
Công ước Berne cho phép tác giả được hưởng tác quyền suốt đời cộng thêm tối
thiểu 50 năm sau đó. Tuy nhiên các quốc gia tuân thủ công ước được phép nâng
thời hạn hưởng tác quyền dài hơn, như Cộng đồng Châu Âu đã làm năm 1993.
Hoa Kỳ cũng gia hạn tác quyền, như trong Đạo luật Kéo dài Bản quyền Sonny
Bono năm 1998
3.3. Công ước Stockholm năm 1967 thành lập tổ chức SHIT thế giới
(WIPO):
3.4. Thỏa ước Madrid năm 1891 về đăng ký quốc tế về nhãn hiệu và Nghị

định thư liên quan đến thỏa ước năm 1989: Nghị định thư liên quan tới Hiệp
định Madrid về đăng ký các nhãn hiệu quốc tế - Nghị định thư Madrid - đã được
thông qua tại thủ đô Tây Ban Nha ngày 27/6/1989, và có hiệu lực ngày
1/12/1995. Nghị định thư này là một trong hai hiệp định tạo nên hệ thống đăng
ký nhãn hiệu quốc tế Madrid. Hiệp định đầu tiên - Hiệp định Madrid 1891 - đã
quy định đăng ký nhãn hiệu ở một số quốc gia thông qua việc đăng ký nhãn hiệu
quốc tế với WIPO tại Geneva.
Nghị định thư Madrid đã ra đời vì một số quốc gia gặp nhiều khó khăn trong quá
trình thực hiện Hiệp định Madrid. Điều đó được coi là cải thiện hệ thống đăng
ký nhãn hiệu quốc tế. Do đó, ngày càng nhiều chủ sở hữu nhãn hiệu đang sử
GVHD: Trang:13
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
dụng Nghị định thư Madrid mỗi năm để bảo hộ nhãn hiệu của họ ở nước ngoài.
Tính đến ngày 15/9/2005, đã có 66 quốc gia ký kết Nghị định thư Madrid.
Nghị định thư Madrid là một hiệp định về thủ tục lập hồ sơ chứ không phải là
hiệp định điều chỉnh về mặt nội dung. Nghị định thư giúp những người sở hữu
nhãn hiệu - các cá nhân và doanh nghiệp - bảo vệ được nhãn hiệu của họ một
cách hiệu quả cùng một lúc ở nhiều quốc gia thông qua việc lập hồ sơ xin cấp
bằng phát minh sáng chế tới một cơ quan duy nhất với một ngôn ngữ, một khoản
chi phí và một loại tiền tệ. Hơn nữa, không cần phải lập hồ sơ qua trung gian.
Đơn xin cấp bằng phát minh, sáng chế có thể được lập bằng tiếng Anh, tiếng
Pháp hoặc Tây Ban Nha.
Việc nộp hồ sơ đăng ký mang tính quốc tế cũng có hiệu quả tương tự như hồ sơ
đăng ký nhãn hiệu ở trong nước như đã được người nộp hồ sơ lựa chọn. Khi cơ
quan bảo hộ nhãn hiệu ở một quốc gia được lựa chọn đồng ý bảo hộ thì nhãn
hiệu đó sẽ được bảo hộ trong toàn hệ thống tương tự như cơ quan này đã đăng
ký.
Nghị định thư Madrid cũng đơn giản hóa việc quản lý nhãn hiệu bởi lẽ một thủ
tục đơn giản sẽ giúp Cục Quốc tế của WIPO cập nhật được những thay đổi sau
này về sở hữu, hoặc tên, hoặc địa chỉ của người sở hữu nhãn hiệu.

Trước khi nghị định thư được ban hành, các yêu cầu hành chính phức tạp đối với
việc chuyển giao tài sản bình thường của doanh nghiệp đã gây khó khăn cho
những người sở hữu thực hiện việc chuyển nhượng hợp pháp các nhãn hiệu của
họ trên thế giới. Nghị định thư đã cho phép người sở hữu đăng ký trên phạm vi
quốc tế chỉ bằng một hồ sơ duy nhất, trả tiền một lần trước khi chuyển nhượng
một nhãn hiệu ở tất cả mọi quốc gia tham gia ký kết. Việc gia hạn đăng ký cũng
chỉ có duy nhất một thủ tục đơn giản. Việc đăng ký trên phạm vi quốc tế có thời
hạn 10 năm và thời gian gia hạn mới là 10 năm.
Những người sở hữu nhãn hiệu có thể lựa chọn thêm một số quốc gia nữa nếu
họ quyết định tìm cách bảo hộ ở nhiều quốc gia thành viên hơn hoặc nếu có
thêm nhiều quốc gia mới gia nhập nghị định thư.
Nếu việc đăng ký cơ bản - hoặc việc đăng ký làm cơ sở cho đăng ký quốc tế - bị
GVHD: Trang:14
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
hủy vì bất kỳ lý do gì trong năm năm đầu tiên thì công ước Madrid sẽ tạo điều
kiện cho người đăng ký quốc tế chuyển việc đăng ký đó thành một loạt các hồ
sơ đăng ký ở các quốc gia tham gia ký kết như đã lựa chọn. Các đơn đăng ký
này sẽ giữ nguyên ngày ưu tiên như đã nêu trong hồ sơ đăng ký quốc tế ban đầu
ở mỗi nước. Người sở hữu cũng bảo lưu quyền ở mỗi quốc gia thành viên, ngay
cả khi không thực hiện được đăng ký quốc tế
3.5. Hiệp ước hợp tác quốc tế về bằng sáng chế (PCT) năm 1970: là một
thỏa thuận giữa các quốc gia ký kết hợp đồng cung cấp bảo vệ bằng sáng chế
quốc gia và quốc tế đối với sáng chế với việc giảm chi phí bản quyền cho việc
ứng dụng nhiều lần.
3.6. Công ước Rome năm 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà xuất bản,
ghi âm và tổ chức phát sóng: Theo Công ước ROME, người biểu diễn được bảo
hộ chương trình biểu diễn chống lại các hành vi không được sự đồng ý của họ.
Các hành vi này gồm phát sóng và truyền đạt tới công chúng chương trình biểu
diễn trực tiếp của họ.
Nhà sản xuất bản ghi âm được hưởng quyền cho phép hoặc cấm sao chép trực

tiếp hoặc sao chép gián tiếp các bản ghi âm của họ. Tổ chức phát sóng được
hưởng quyền cho phép hoặc cấm các hành vi tái phát sóng chương trình phát
sóng của họ
3.7. Công ước Brussel năm 1924 về bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương
trình được mã hóa
3.8. Công ước Geneva năm 1971 về bảo hộ nhà xuất bản, ghi âm chống
việc sao chép không được phép: Lo ngại trước tình trạng tràn lan và tăng nhanh
bản sao không được phép của các bản ghi âm và thiệt hại của tình trạng đó gây
ra đối với lợi ích của tác giả, người biểu diễn, và nhà sản xuất bản ghi âm;
Nhận thấy rằng việc bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống các hành vi trên còn
đem lại lợi ích cho những người biểu diễn có tiết mục biểu diễn, và những tác
giả có tác phẩm, được ghi trong bản ghi âm đó;
GVHD: Trang:15
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
Công nhận giá trị công việc đạt được trong lĩnh vực này của Tổ chức giáo dục,
khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc và Tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới;
Mong muốn không ảnh hưởng theo bất kỳ cách thức nào tới các thỏa thuận quốc
tế đang có hiệu lực và đặc biệt là không gây cản trở bằng bất kỳ cách thức nào
đến việc chấp nhận rộng rãi hơn nữa Công ước Rome ngày 26/10/1961 quy định
về việc bảo hộ người biểu diễn và các tổ chức phát thanh truyền hình cũng như
nhà sản xuất bản ghi âm
Điều 1:
Trong Công ước này:
(a). "Bản ghi âm" là bất kỳ bản định hình các âm thanh biểu diễn hoặc các âm
thanh khác dành riêng cho cơ quan thính giác;
(b). "Nhà sản xuất bản ghi âm" là người, hoặc pháp nhân định hình lần đầu các
âm thanh của buổi biểu diễn hoặc các âm thanh khác;
(c). "Bản sao" là vật hàm chứa các âm thanh được sao chép trực tiếp hoặc gián
tiếp từ bản ghi âm và nó biểu hiện toàn bộ hoặc phần chủ yếu của các âm thanh
được định hình trong bản ghi âm đó;

(d). "Phân phối tới công chúng" có nghĩa là bất kỳ hành vi nào mà thông qua đó
các bản sao của bản ghi âm được đưa ra chào bán trực tiếp hoặc gián tiếp cho
rộng rãi công chúng hoặc bất kỳ bộ phận công chúng nào.
Điều 2
Mỗi quốc gia ký kết sẽ bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm là công dân của các quốc
gia ký kết khác chống lại việc làm bản sao mà không được sự đồng ý của nhà
sản xuất bản ghi âm đó và chống lại việc nhập khẩu các bản sao đó, với điều
kiện là việc làm bản sao hoặc nhập khẩu đó là nhằm mục đích phân phối tới
công chúng, và chống lại việc phân phối các bản sao đó tới công chúng.
GVHD: Trang:16
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
Điều 3
Phương thức thi hành Công ước này là vấn đề của pháp luật quốc gia của mỗi
quốc gia ký kết và gồm một hoặc nhiều phương thức sau: bảo hộ thông qua việc
cho hưởng quyền tác giả hoặc quyền cụ thể khác; bảo hộ thông qua luật về cạnh
tranh bất chính; bảo hộ thông qua các chế tài hình sự.
Điều 4
Thời hạn bảo hộ sẽ tùy thuộc vào pháp luật quốc gia của mỗi quốc gia ký kết.
Tuy nhiên, nếu luật pháp quốc gia quy định một thời hạn cụ thể cho sự bảo hộ
này, thì thời hạn đó sẽ không ít hơn hai mươi năm kể từ khi kết thúc của năm mà
các âm thanh thể hiện trong bản ghi âm được ghi lần đầu hoặc của năm mà bản
ghi âm được công bố lần đầu.
Điều 5
Nếu, một quốc gia ký kết, theo pháp luật quốc gia của mình, yêu cầu tuân thủ
các thủ tục hình thức với tư cách là điều kiện cho việc bảo hộ nhà sản xuất bản
ghi âm, các thủ tục hình thức này được coi là đã hoàn tất nếu tất cả các bản sao
được phép của bản ghi âm được phân phối tới công chúng hoặc bao gói của
chúng mang dấu hiệu có biểu tượng (P), cùng với năm công bố lần đầu, được
trình bày theo cách thức nhằm tạo ra một dấu hiệu hợp lý chỉ rõ về yêu cầu bảo
hộ; và nếu các bản sao hoặc bao gói của chúng không chỉ rõ nhà sản xuất, người

thừa kế hợp pháp hoặc người được cấp li-xăng độc quyền (bằng việc đưa tên,
nhãn hiệu hàng hóa hoặc các chỉ dẫn phù hợp khác), dấu hiệu cũng có thể gồm
tên của nhà sản xuất, người thừa kế hợp pháp hoặc người được cấp li-xăng độc
quyền.
Điều 6
Bất kỳ quốc gia ký kết nào dành sự bảo hộ thông qua phương thức quyền tác giả
hoặc quyền cụ thể khác, hoặc sự bảo hộ thông qua phương thức các chế tài hình
GVHD: Trang:17
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
sự, đều có thể quy định trong pháp luật quốc gia của quốc gia mình, liên quan
tới việc bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm, về các loại hạn chế tương tự như đã
quy định đối với việc bảo hộ các tác giả của các tác phẩm văn học và nghệ thuật.
Tuy nhiên, không cho phép bất kỳ một li-xăng cưỡng bức trừ khi đáp ứng tất cả
các điều kiện sau đây:
(a). Việc sao chép chỉ dành cho việc sử dụng nhằm mục đích giảng dạy và
nghiên cứu khoa học;
(b). Li-xăng chỉ có hiệu lực đối với việc sao chép trong phạm vi lãnh thổ quốc
gia ký kết có cơ quan có thẩm quyền đã cấp li-xăng đó và không mở rộng áp
dụng đối với việc xuất khẩu các bản sao;
(c). Việc sao chép thực hiện theo li-xăng là cơ sở của khoản thù lao thỏa đáng do
cơ quan có thẩm quyền nói trên ấn định có tính tới, ngoài các vấn đề khác, số
lượng bản sao sẽ được tạo ra;
Điều 7
(1). Không được giải thích Công ước này bằng bất kỳ cách thức nào để hạn chế
hoặc ảnh hưởng tới sự bảo hộ khác được bảo đảm đối với tác giả, người biểu
diễn, nhà sản xuất bản ghi âm hoặc tổ chức phát sóng theo bất kỳ pháp luật quốc
gia hoặc thỏa thuận quốc tế nào.
(2). Pháp luật quốc gia của mỗi quốc gia ký kết có thể quy định phạm vi, nếu có,
mà trong đó những người biểu diễn có các tiết mục biểu diễn đã được ghi trong
bản ghi âm phải được quyền hưởng sự bảo hộ và các điều kiện cho việc hưởng

sự bảo hộ đó.
(3). Không một quốc gia ký kết nào bị bắt buộc áp dụng các quy định của Công
ước này đối với bất kỳ bản ghi âm nào được ghi trước khi Công ước này có hiệu
lực đối với quốc gia đó.
GVHD: Trang:18
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
(4). Bất kỳ quốc gia ký kết nào mà vào ngày 29/10/1971, chỉ dành sự bảo hộ đối
với nhà sản xuất bản ghi âm trên cơ sở nơi ghi âm lần đầu, có thể thông qua một
thông báo nộp tới Tổng thư ký của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới,tuyên bố là
quốc gia đó áp dụng tiêu chuẩn nơi ghi âm lần đầu này thay vì áp dụng tiêu
chuẩn quốc tịch của nhà sản xuất bản ghi âm.
Điều 8
(1). Vụ quốc tế của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới họp và công bố thông tin về
việc bảo hộ bản ghi âm. Mỗi quốc gia ký kết gửi trực tiếp tới Vụ quốc tế tất cả
các luật và các văn bản mới chính thức về vấn đề này.
(2). Vụ quốc tế, theo yêu cầu, cung cấp thông tin cho bất kỳ quốc gia ký kết nào
về các vấn đề liên quan tới Công ước này, và tổ chức nghiên cứu và cung cấp
các dịch vụ nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho sự bảo hộ được quy định
trong Công ước này.
(3). Vụ quốc tế thực hiện các chức năng nêu tại Khoản (1) và (2) trên với sự hợp
tác với Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hiệp quốc và Tổ chức Lao
động quốc tế về các vấn đề thuộc phạm vi thẩm quyền của các tổ chức đó.
Điều 9
(1). Công ước này được nộp cho Tổng thư ký của Liên hiệp quốc. Công ước này
được để ngỏ cho việc ký kết tới ngày 30/04/1972 của bất kỳ quốc gia nào là
thành viên của Liên hiệp quốc hoặc các cơ quan chuyên môn có quan hệ với
Liên hiệp quốc, hoặc Cơ quan năng lượng quốc tế hoặc là một bên ký kết của
Quy chế về Tòa án quốc tế.
(2). Công ước này phải được sự phê chuẩn hoặc chấp thuận của các quốc gia ký
kết. Công ước sẽ mở rộng cho việc gia nhập của bất kỳ quốc gia nào nêu tại

Khoản (1) của Điều này.
GVHD: Trang:19
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
(3). Các văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc gia nhập được nộp cho Tổng thư
ký của Liên hiệp quốc.
(4). Được hiểu là vào thời điểm một quốc gia bị ràng buộc bởi Công ước này thì
Quốc gia đó, theo pháp luật quốc gia của mình, phải làm cho các quy định của
Công ước này có hiệu lực.
Điều 10
Không cho phép bất cứ bảo lưu nào đối với Công ước này.
Điều 11
(1). Công ước này có hiệu lực ba tháng sau khi nộp văn kiện thứ 5 về việc phê
chuẩn, chấp thuận hoặc gia nhập.
(2). Đối với mỗi quốc gia phê chuẩn, chấp thuận hoặc gia nhập Công ước này
sau ngày nộp văn kiện thứ 5 về việc phê chuẩn, chấp thuận hoặc gia nhập, Công
ước này sẽ có hiệu lực 3 tháng sau ngày Tổng giám đốc của Tổ chức sở hữu trí
tuệ thế giới thông báo tới các quốc gia, về việc nộp các văn kiện của nước đó,
theo quy định tại Khoản 4 Điều 13.
(3). Bất kỳ quốc gia nào, vào thời điểm phê chuẩn, chấp thuận hoặc gia nhập
hoặc vào bất kỳ thời điểm nào sau đó, đều có thể tuyên bố bằng thông báo gửi
tới Tổng thư ký của Liên hiệp quốc rằng Công ước này được áp dụng đối với tất
cả hoặc bất kỳ một vùng lãnh thổ nào mà hoạt động ngoại giao của vùng đó do
quốc gia này chịu trách nhiệm. Thông báo này có hiệu lực 3 tháng sau ngày mà
thông báo được nhận.
(4). Tuy nhiên, không được hiểu Khoản trên theo bất kỳ cách thức nào là nó ngụ
ý về sự thừa nhận hoặc chấp nhận ngầm của một quốc gia ký kết về tình trạng
thực tế liên quan đến một vùng lãnh thổ mà Công ước này được áp dụng theo
thông báo của một quốc gia ký kết khác theo Khoản trên.
GVHD: Trang:20
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ

Điều 12
(1). Bất kỳ quốc gia ký kết nào đều có thể rút khỏi Công ước này, trên danh
nghĩa của chính quốc gia mình hoặc trên danh nghĩa của các vùng lãnh thổ nêu
tại Điều 11 Khoản (3), thông qua một thông báo bằng văn bản gửi tới Tổng thư
ký của Liên hiệp quốc.
(2). Việc rút khỏi Công ước có hiệu lực sau 12 tháng, kể từ ngày Tổng thư ký
Liên hiệp quốc nhận được thông báo.
Điều 13
(1). Công ước này được ký trên đơn bản bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga,
và tiếng Tây Ban Nha, 4 bản này có giá trị ngang nhau.
(2). Văn bản chính thức của Công ước cũng được Tổng giám đốc của Tổ chức
sở hữu trí tuệ thế giới soạn, sau khi tham khảo ý kiến của các nước hữu quan,
bằng ngôn ngữ Ả Rập, Đan Mạch, Đức, Ý, Bồ Đào Nha.
(3). Tổng thư ký của Liên hiệp quốc sẽ thông báo tới Tổng giám đốc của Tổ
chức sở hữu trí tuệ thế giới, Tổng giám đốc của Tổ chức văn hóa khoa học và
giáo dục Liên hiệp quốc và Tổng giám đốc của Tổ chức lao động quốc tế về:
(a). Việc ký kết Công ước;
(b). Việc nộp các văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc gia nhập;
(c). Ngày có hiệu lực của Công ước;
(d). Bất kỳ tuyên bố nào được gửi theo Khoản (3) Điều 11;
(e). Việc nhận các thông báo về việc rút khỏi Công ước.
(4). Tổng giám đốc của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới sẽ thông báo cho quốc
gia nêu tại Khoản (1) Điều 9, về việc nhận được thông báo theo Khoản trên và
về bất kỳ tuyên bố nào được đưa ra theo Khoản (4) Điều 7. Tổng giám đốc của
Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới cũng thông báo cho Tổng giám đốc của Tổ chức
GVHD: Trang:21
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hiệp quốc và Tổng giám đốc của Tổ chức
lao động quốc tế về các tuyên bố đó.
(5). Tổng thư ký của Liên hiệp quốc chuyển hai bản sao có xác nhận của Công

ước tới các quốc gia nêu tại Khoản (1) Điều 9.
3.9. Hiệp ước Washington năm 1989 về sở hữu trí tuệ đối với mạch tích
hợp: mạch tích hợp "có nghĩa là một sản phẩm, dưới dạng thành phẩm hoặc bán
thành phẩm, trong đó các phần tử- với ít nhất một phần tử tích cực - và một số
hoặc tất cả các mối nối
10. Công ước UPOV năm 1961 về bảo hộ giống cây trồng mới.
Công ước quốc tế về bảo hộ các giống cây mới (UPOV) đã thiết lập một hệ
thống tài sản trí tuệ đã được quốc tế công nhận nhằm bảo vệ các giống cây mới.
Công ước UPOV khuyến khích và dành phần thưởng cho những người nhân
giống cây mới một cách khéo léo và sáng tạo. Bất cứ ai đưa ra giống cây mới có
thể kháng bệnh, kháng hạn, kháng rét hoặc đơn giản đẹp hơn về mặt thẩm mỹ
cũng đều là một nhà phát minh tương tự như ai đó đã cải thiện máy móc của xe
hơi hoặc tìm ra loại thuốc mới. Sự khác biệt duy nhất là những người nhân
giống cây làm việc với những sinh thể chứ không phải các chất vô tri vô giác.
Quá trình tạo ra một loại cây mới thường rất lâu và tốn kém. Tuy nhiên, việc tái
tạo lại một giống cây đã có lại có thể nhanh và tương đối dễ dàng. Do đó, hệ
thống bảo hộ tài sản trí tuệ hữu hiệu cần phải khuyến khích cho những đổi mới,
sáng tạo bằng cách cho phép các nhà đầu tư hoàn vốn đầu tư và đồng thời truyền
bá những kiến thức về phát minh đó cho những người khác để họ có thể hoàn
thiện tốt hơn. Hệ thống UPOV đề ra ba nguyên tắc pháp lý cơ bản về bảo hộ
nhằm khuyến khích những người nhân giống tăng cường óc sáng tạo của họ
bằng cách trao cho họ độc quyền sở hữu phát minh về loại cây của họ trong khi
vẫn khuyến khích tìm ra các loài cây mới.
Trong khuôn khổ hệ thống UPOV thiết lập năm 1991 – một trong những hiệp
định được ký kết gần đây nhất – những đặc quyền dành cho nhà phát minh
(thường được gọi là “quyền của nhà gây giống ”) đòi hỏi một bên khác ngoài
GVHD: Trang:22
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
chủ sở hữu các đặc quyền đó được ủy quyền:
* tạo ra hoặc tái tạo một sản phẩm đã được bảo hộ;

* sử dụng sản phẩm đó để nhân rộng, và
* bán hoặc tiếp thị, xuất khẩu, nhập khẩu hoặc dự trữ sản phẩm đã được bảo hộ.
Để hưởng độc quyền, người gây giống phải phát minh ra một loại cây mới hoàn
toàn mới, đặc thù, thống nhất và ổn định. Tuy nhiên, theo Công ước UPOV, một
người nhân giống cây nhìn chung không cần có ủy quyền từ những người nhân
giống cây khác khi sử dụng các giống cây đã được bảo hộ để tiến hành các hoạt
động không vì mục đích thương mại hoặc thí nghiệm nhằm tìm ra các loại cây
mới. Công ước UPOV cũng cho phép mỗi quốc gia thành viên hạn chế độc
quyền của người nhân giống đối với bất kỳ một loại cây nào có thể cho phép
người nông dân sử dụng một phần thu hoạch của họ để trồng trên mảnh đất của
họ sau này. Tuy nhiên, những hạn chế như vậy cần phải nằm trong giới hạn cho
phép và cần phải bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của người nhân giống.
Các quốc gia thành viên tổ chức hội nghị của Hội đồng chấp hành – cơ quan
thường trực của công ước - hai năm một lần. Các cơ quan khác của UPOV bao
gồm Ủy ban Hiệp thương, Ủy ban Hành chính và Pháp luật, Ủy ban Kỹ thuật,
gồm nhiều nhóm làm việc kỹ thuật (TWP) trong các lĩnh vực khác nhau của
ngành nông nghiệp. TWP họp định kỳ để chia sẻ và thảo luận những nhận xét và
tiến bộ đạt được trong các lĩnh vực của nông nghiệp. Điều này giúp họ chuẩn
hóa các tiêu chuẩn kiểm tra ở các quốc gia thành viên. Các cuộc họp của TWP
đem lại lợi ích cho những người nhân giống vì các tiêu chuẩn càng thống nhất
thì càng tăng cường tính nhất quán trong quá trình lập hồ sơ đăng ký ở nhiều
quốc gia khác nhau.
Tính đến ngày 29/6/2005, đã có 59 quốc gia tham gia Công ước UPOV. Dự kiến
trong vài năm tới sẽ có thêm nhiều quốc gia tham gia ký kết UPOV
3.10. Hiệp định Việt Nam – Hoa Kì năm 1997 về thiết lập quan hệ quyền
tác giả.
Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hợp chủng quốc
Hoa Kỳ, sau đây gọi là các Bên ký kết
GVHD: Trang:23
Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ

Với mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ giữa các Bên;
Thừa nhận các lợi ích mà cả hai quốc gia có được từ sự bảo hộ lẫn nhau về
quyền tác giả
3.11. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kì (BTA) năm 2000: Ngày 13
tháng 7 năm 2000, Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký kết Hiệp định Thương mại song
phương (BTA), đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình bình thường hoá
quan hệ hai nước, thúc đẩy quan hệ thương mại nói riêng giữa Việt Nam và Hoa
Kỳ. Đây là một hiệp định thương mại toàn diện nhất mà Việt Nam đã ký kết từ
trước đến nay, bao gồm hầu như tất cả các nguyên tắc, cam kết và nghĩa vụ
trong quan hệ hàng hoá, sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ, đầu tư, tạo thuận lợi
cho kinh doanh và tính minh bạch công khai.
Hiệp định với lộ trình và kế hoạch thực hiện chi tiết, đã làm cho các thể
chế/chính sách trong nước của Việt Nam từng bước hội nhập vào hệ thống
chuẩn mực, quy tắc quốc tế và do đó đã đặt một nền tảng thuận lợi cho quá trình
đàm phán gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam hiện nay.
Hiệp định bắt đầu có hiệu lực từ ngày 10/12/2001. Hơn 3 năm nhìn lại, có
những nội dung, vấn đề còn cần được rút kinh nghiệm trong cam kết, thực hiện,
nhưng đánh giá lớn nhất mà không ai có thể phủ nhận là tác động tích cực của
Hiệp định lên kim ngạch thương mại của hai nước. Các công ty Việt Nam và
Hoa Kỳ đã thu được lợi ích từ hoạt động kinh doanh chung tăng lên. Hiện nay,
Hoa Kỳ đã trở thành thị trường xuất khẩu số một của Việt Nam, với kim ngạch
song phương từ 1,4 tỷ USD năm 2001 lên gần 6 tỷ USD năm 2004. Đầu tư của
Hoa Kỳ tại Việt Nam hiện khoảng 1,3 tỷ USD (vốn đăng ký). Các doanh nghiệp
Việt Nam với việc tham gia cạnh tranh trên thị trường Hoa Kỳ, đã thu được
nhiều kinh nghiệm, cả tích cực lẫn tiêu cực, nhưng điều là những bài học quý.
Nhìn từ góc độ của cơ quan quản lý điều hành và xây dựng chính sách của Nhà
nước, với Bộ Tài chính, nhiều cam kết đã được thực hiện đúng thời hạn, cũng có
những nội dung đang khó khăn trong việc thực hiện, nhưng có thể rút ra một số
GVHD: Trang:24

Trường Đại Học Thủ Dầu Một Chủ đề 3: Quyền sở hữu trí tuệ
vấn đề nổi bật, có ý nghĩa và có tác động lớn trong phạm vi quản lý của ngành
cũng như khu vực doanh nghiệp.
Trước tiên, đó là mục tiêu cần được hướng tới của hệ thống luật pháp về tính rõ
ràng, cụ thể: thể hiện văn bản quy định, trong cách xây dựng, cách thi hành của
các cơ quan thực hiện. Trong phạm vi của Bộ Tài chính, nội dung này liên quan
đến nhiều lĩnh vực thuế nói chung, thuế nhập khẩu nói riêng. Doanh nghiệp
thường phản ánh về việc thiếu thông tin rõ ràng về các mức thuế, về xác định giá
tính thuế, về sự thay đổi thường xuyên các mức thuế suất áp dụng, sự không rõ
ràng trong việc xác định mã… gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc dự
đoán trước được các chi phí. Với việc thực hiện BTA, vấn đề này bắt đầu được
cải thiện. Biểu thuế được công bố chính thức bằng các hình thức khác nhau, các
văn bản liên quan được công bố rộng rãi và kịp thời. Công tác tham khảo ý kiến
của các doanh nghiệp trong quá trình xây dựng chính sách mới được đẩy mạnh
đáng kể.
Đi vào từng lĩnh vực cụ thể, việc thực hiện các cam kết trong BTA đối với nội
dung xác định trị giá hải quan là một trong những thách thức lớn dành cho
ngành tài chính, từ gốc độ xây dựng các chính sách, cũng như góc độ thực thi
của cơ quan hải quan. Triển khai thực hiện cam kết trong BTA, đã dẫn đến sự
thay đổi toàn diện về các chính sách cũng như tổ chức, để chuyển hệ thống xác
định trị giá tính thuế ít nhiều mang tính chất áp đặt trước đây sang hệ thống hoàn
mới (căn cứ chủ yếu trên trị giá giao dịch), đảm bảo tuân thủ hoàn toàn các quy
định của Hiệp định về giá trị của WTO. Quá trình triển khai trên thực tế đối với
nội dung này cho đến nay vẫn đang đòi hỏi sự cố gắng và là thách thức đối với
cơ quan hải quan.
Việc thực hiện BTA cũng dẫn đến những thay đổi đáng kể trong lĩnh vực dịch
vụ bảo hiểm. Hiệp định đã quy định lộ trình cụ thể về mở cửa thị trường bảo
hiểm trong nước cho các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm Hoa Kỳ. Với sự tham
gia của các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm Hoa Kỳ và các nước phát triển khác,
lĩnh vực bảo hiểm (từ khía cạnh thị trường và khía cạnh quản lý nhà nước) đã trở

thành một trong những lĩnh vực thể hiện rõ sự cọ xát với các yêu cầu về hội
GVHD: Trang:25

×