Tải bản đầy đủ (.doc) (9 trang)

So sánh và bình luận nội dung quy định tại Điều 75 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) và Điều 78 Luật ban Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (124.82 KB, 9 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Nhà nước khi đưa ra những chính sách để thực hiện công việc quản lí xã
hội của mình cần phải đưa ra những quy định mang tính mệnh lệnh bắt buộc
dưới hình thức văn bản pháp luật. Vậy những quy định có tính bắt buộc này
có hiệu lực từ khi nào, đây là điểm cần bàn. Vì thời điểm có hiệu lực của văn
bản pháp luật cũng là thời điểm các chủ thể được luật điều chỉnh phải thực
hiện đúng quy định, chịu trách nhiệm pháp lí theo quy định. Bài tập nhóm của
nhóm 4 N.04 trình bày ý kiến về vấn đề “So sánh và bình luận nội dung quy
định tại Điều 75 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa
đổi, bổ sung năm 2002) và Điều 78 Luật ban Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật năm 2008”. Hai điều luật tại hai văn bản luật này quy định về thời
điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.
NỘI DUNG
Trước tiên để so sánh, chúng ta cần nắm được nội dung của hai điều luật
nói trên
Tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ
sung năm 2002), Điều 75 quy định như sau:
Điều 75. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật
1.Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội có hiệu lực kể từ ngày Chủ tịch nước kí lệnh công bố, trừ trường
hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác.
2.Văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước có hiệu lực kể từ ngày
đăng Công báo, trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác.
3.Văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ,
Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao và các văn bản pháp luật liên tịch có hiệu lực sau mười lăm ngày
kể từ ngày đăng Công báo hoặc có hiệu lực muộn hơn nếu được quy định tại
văn bản đó. Đối với văn bản quy phạm pháp luật cùa Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, thì văn
bản có thể quy định ngày có hiệu lực sớm hơn.


Tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, điều 78 quy
định như sau:
Điều 78. Thời điểm có hiệu lực và việc đăng Công báo văn bản quy phạm
pháp luật
1. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định
trong văn bản nhưng không sớm hơn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày công bố
hoặc ký ban hành.
Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật quy định các biện pháp thi hành
trong tình trạng khẩn cấp, văn bản được ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu
phòng, chống thiên tai, dịch bệnh thì có thể có hiệu lực kể từ ngày công bố
hoặc ký ban hành nhưng phải được đăng ngay trên Trang thông tin điện tử của
cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng;
đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi chung
là Công báo) chậm nhất sau hai ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký
ban hành.
2. Văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo; văn bản quy
phạm pháp luật không đăng Công báo thì không có hiệu lực thi hành, trừ
trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước và các trường hợp quy
định tại đoạn 2 khoản 1 Điều này.
Trong thời hạn chậm nhất là hai ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký
ban hành, cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gửi văn bản
đến cơ quan Công báo để đăng Công báo.
Cơ quan Công báo có trách nhiệm đăng toàn văn văn bản quy phạm pháp
luật trên Công báo chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được văn
bản.
Văn bản quy phạm pháp luật đăng trên Công báo là văn bản chính thức và
có giá trị như văn bản gốc.
Chính phủ quy định cụ thể về Công báo.
Hai điều luật tồn tại ở hai văn bản luật khác nhau, đều nhằm mục đích quy
định việc có hiệu lực của văn bản pháp luật. Những quy định nằm trong hai

điều này có những nét chung. Cụ thể:
- Văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực sau một khoảng thời gian luật
định kể từ ngày kí
- Việc đăng Công báo là cần thiết để đảm bảo tính có hiệu lực của văn bản
quy phạm pháp luật
Tức là tinh thần của hai điều luật này đều quy định VBQPPL khi đã được
kí ban bành và đáp ứng một số yêu cầu khác (sau 15/45 ngày kể từ ngày kí
ban hành, đăng Công báo…) thì sẽ có hiệu lực. Việc đăng Công báo đều
nhằm mục đích công khai minh bạch đối với VBQPPL (trừ trường hợp là bí
mật nhà nước)
Dựa trên nội dung chính là quy định những vấn đề về ngày có hiệu lực và
đăng Công báo, điều 75 và điều 78 có những điểm khác biệt sẽ được làm rõ
dưới đây.
1. Về thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật
Luật 1996 quy định cụ thể đối với từng đối tượng, còn Luật 2008 quy định
chung cho mọi đối tượng trừ một số trường hợp đặc biệt. Một điểm khác biệt
lớn là về thời điểm có hiệu lực của văn bản QPPL sau khi văn bản đã được kí
thông qua.
Luật 1996 quy định mốc 15 ngày phổ biến đối với các văn bản. Đây là
điểm thay đổi trong Luật 2008. Sở dĩ như vậy vì dựa trên cơ sở thực tế ban
hành văn bản, để các cơ quan hữu quan có thể thực hiện cần một khoảng thời
gian nhất định. Thời gian đó dùng để ban hành những văn bản hướng dẫn
xuống các cơ quan, đơn vị trực tiếp thực hiện những quy định đó. 15 ngày là
khoảng thời gian quá ngắn, nhất là đối với các quy định về những vấn đề phức
tạp (thuế, lương,…). Khi luật mới 2008 được ban hành, con số 15 ngày được
nâng lên thành 45 ngày. Điều này phù hợp với thực trạng các quan hệ xã hội
ngày một đa dạng, cần có pháp luật để điều chỉnh, như vậy số lượng các văn
bản tăng lên, đi kèm với nó thời gian để các cơ quan hữu quan tiến hành đưa
luật vào thực tế đời sống phải dài hơn. Thêm nữa, khi trình độ dân trí ngày
càng tăng, nhu cầu hiểu biết và cập nhật pháp luật cũng tăng cao, khoảng thời

gian “giáp hạt” giữa luật cũ và luật mới dài hơn cũng nhằm mục đích những
nội dung và quy định mới của luật được đi sâu hơn vào đời sống nhân dân.
Một sơ sở nữa cho việc quy định mốc thời gian 45 ngày là để phù hợp với quy
định tại Hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kì mà Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã tham gia kí kết.
Một điểm đáng chú ý nữa trong quy định của hai điều luật này là về thời
điểm có hiệu lực của văn bản trong tình trạng khẩn cấp. Luật 1996 quy luật
năm định thời điểm có hiệu lực của văn bản được ban hành trong tình trạng
khẩn cấp không rõ ràng như trong luật 2008. Nếu như luật 1996 quy định
chung chung “Đối với văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng
chính phủ quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, thì văn
bản có thể quy định ngày có hiệu lực sớm hơn.”, nhưng luật lại không quy
định “sớm hơn” được hiểu như thế nào, điều này gây khó khăn cho các cơ
quan chịu trách nhiệm thi hành. Trong khi đó, luật 2008 quy định khá cụ thể
còn có trích ra những ví dụ để cơ quan áp dụng nhanh chóng, kịp thời, không
lúng túng: “Trường hợp văn bản QPPL quy định các biện pháp thi hành trong
tình trạng khẩn cấp, văn bản được ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu
phòng, chống thiên tai, dịch bệnh thì có thể có hiệu lực kể từ ngày công bố
hoặc ký ban hành nhưng phải được đăng ngay trên Trang thông tin điện tử của
cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng;
đăng Công báo chậm nhất sau hai ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký
ban hành.”
Việc luật 2008 quy định văn bản trong tình trạng khẩn cấp có thể có hiệu
lực ngay kể từ ngày kí, đây vừa là một quy định rõ ràng, vừa gián tiếp đặt
trách nhiệm cho các cơ quan hữu quan để triển khai thi hành hiệu quả. Điều
này khắc phục được hạn chế của luật 1996 là quy định chung chung khiến
việc luật được thực thi khó hơn, các cơ quan dễ đẩy trách nhiệm cho nhau.
Trên thực tế, những công việc cần giải quyết ngay, những văn bản có hiệu lực
ngay là những công việc khó khăn và gấp gáp nên sẽ dễ xảy ra trường hợp các
cơ quan không thực hiện hoặc thực hiện chậm công việc cần phải làm.

2. Về việc đăng Công báo
Luật 1996 không quy định cụ thể về việc bắt buộc phải đăng Công báo,
nhưng luật 2008 quy định rất chi tiết. Theo đó:
+ Văn bản QPPL phải được đăng Công báo;
+ Văn bản QPPL không đăng Công báo thì không có hiệu lực thi hành, trừ
trường hợp văn bản có nội dung bí mật nhà nước và các trường hợp ban hành

×