Tải bản đầy đủ (.doc) (59 trang)

giải pháp phát triển bền vững các Khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2011 - 2020

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (465 KB, 59 trang )

Chuyên đ tt nghip
MC LC
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
Chuyên đ tt nghip
DANH MC TỪ VIẾT TẮT
KCN : Khu công nghiệp
KCNTT : Khu công nghiệp tập trung
KCNC : Khu công nghệ cao
KCX : Khu chế xuất
KKT : Khu kinh tế
CCN : Cụm công nghiệp
BQL các KCN&CX : Ban quản lý các khu công nghiệp và chế xuất
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
Chuyên đ tt nghip
DANH MC BNG BIU
Bảng 2.1: giới thiệu chung về các khu công nghiệp Error: Reference source not
found
Bảng 2.2: diện tích và tỷ lệ lấp đầy các KCN Error: Reference source not found
Bảng 2.3 : Vốn đầu tư của các KCN Error: Reference source not found
Bảng 2.4: Tỷ lệ vốn đầu tư của doanh nghiệp trên 1 ha đất, trên 1 công nhân. .Error:
Reference source not found
Bảng 2.5: số dự án được điều chỉnh và nâng cấp năm 2009, 2010. . .Error: Reference
source not found
Bảng 2.6: kết quả sản xuất kinh doanh của các KCN Error: Reference source not
found
Bảng 2.7: GDP & GDP công nghiệp Hà Nội 32
Bảng 2.8: giá thuê lao động trung bình của các KCN Error: Reference source not
found
Bảng 2.9: thu nhập bình quân đầu người Hà Nội. .Error: Reference source not found
Bảng 2.10: cơ cấu kinh tế Hà Nội Error: Reference source not found
Bảng 2.11: số lao động ước tính trong các KCN Hà Nội tinh tới thời điểm 2010


Error: Reference source not found
Bảng 2.12: cơ cấu lao động Hà Nội Error: Reference source not found
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
Chuyên đ tt nghip
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thit của đ tài
Trong quá trình phát triển ngày càng hiện đại của nền kinh tế nước ta, công
nghiệp luôn chiếm một vị trí quan trọng, là một trong những ngành động lực chính
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, sự ra đời của các khu công nghiệp
(KCN) là xu thế tất yếu của nền kinh tế hiện đại đóng vai trò quan trọng thúc đẩy
phát triển kinh tế xã hội.
Sau hơn 15 năm triển khai xây dựng các KCN, trong cả nước đã hình thành
một mạng lưới các KCN với khoảng hơn 250 KCN tập trung trên cả nước. Các
KCN đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của các địa
phương, vùng và cả nước. Việc hình thành các KCN chính là một trong các giải
pháp quan trọng đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH ở nước ta, là địa điểm quan trọng
trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
tạo điều kiện lớn để tiếp thu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công
lại lao động phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng công
nghiệp góp phần phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền
kinh tế. Việc phát triển các khu công nghiệp cũng thúc đẩy việc hình thành các khu
đô thị mới, phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ tạo việc làm cho
người lao động, góp phần đào tạo phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ
tầng kỹ thuật kinh tế kỹ thuật, đảm bảo trật tự an toàn xã hội…
Qua hơn 15 năm xây dựng và phát triển, các KCN của Hà Nội đã chứng tỏ
được vai trò của KCN thủ đô, và đã đạt được những kết quả quan trọng trong sự
nghiệp phát triển kinh tế. Chỉ với diện tích hơn 921km
2
, nhưng Hà Nội đã xây dựng
được 8 KCN lớn với tổng diện tích 1235 ha, thu hút được nhiều các dự án có công

nghệ cao và quy mô của các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới như: Canon, Toto,
Daewoo- Hanel, Panasonic, Sumitomo Bakelite, Yamaha, …Riêng hai dự án của
Canon và Orion-hanel đã có tổng vốn đầu tư lên đến gần 500 triệu USD. Các KCN
ở Hà Nội ra đời góp phần hình thành các khu đô thị, tăng cường tiếp thu công nghệ
tiên tiến, giải quyết việc làm, đóng góp vào tăng thu ngân sách…góp phần không
nhỏ vào sự phát triển kinh tế của Hà Nội nói riêng và của cả nước nói chung.
Tuy nhiên, sự phát triển của các KCN ở nước ta nói chung và khu vực thủ đô
Hà Nội nói riêng chưa thực sự vững chắc, việc xây dựng cơ sở hạ tầng KCN chưa
đồng bộ, chưa gắn chặt với yêu cầu bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm, vai trò thúc
đẩy chuyển giao công nghệ còn yếu, liên kết kinh tế và hiệu quả kinh doanh của các
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
1
Chuyên đ tt nghip
doanh nghiệp trong KCN chưa cao, khả năng tạo việc làm, thu hút lao động vẫn còn
nhiều hạn chế. Hơn nữa, hướng tới 2020 nước ta phấn đấu cơ bản trở thành một
nước công nghiệp, vì thế vấn đề phát triển bền vững các KCN hiện tại tạo tiền đề cơ
sở vững chắc cho sự phát triển trong tương lai là một vấn đề đáng để quan tâm trên
cả nước cũng như khu vực thủ đô Hà Nội nói riêng. Vì vậy, tôi xin được nghiên cứu
đề tài: “giải pháp phát triển bền vững các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội
giai đoạn 2011 - 2020”.
2. Phạm vi, đi tượng và phương php nghiên cứu
• Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề: Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên
em chỉ xin nghiên cứu 5 KCN lớn tức các KCNTT bao gồm: KCN Nội Bài, KCN
Thăng Long, KCN Sài Đồng B, KCN Hà Nội – Đài Tư, KCN Nam Thăng Long.
• Đối tượng nghiên cứu là: hoạt động của các KCN
• Phương pháp nghiên cứu: phương pháp được sử dụng để nghiên cứu chuyên
đề là phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích số liệu và phương pháp
số sánh.
3. Kt cấu của chuyên đ
Chuyên đề gồm có 3 phần:

- Chương I: Cơ sở lý luận về phát triển bền vững các KCN
- Chương II: Thực trạng phát triển bền vững các KCN tại Hà Nội
- Chương III: Giải pháp thúc đẩy phát triển bền vững các KCN tại Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của TH.S Phí
Thị Hồng Linh, và sự giúp đỡ trong quá trình thực tập của Ban chỉ đạo điều phối
các vùng kinh tế trọng điểm, Viện chiến lược, Bộ Kế Hoạch và Đầu tư.
- Tôi xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG I:
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
2
Chuyên đ tt nghip
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIN BỀN VỮNG
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
I. Khái quát về khu công nghiệp
1. Khái niệm
Khu công nghiệp (KCN) theo nghĩa rộng có rất nhiều tên gọi, khái niệm và
loại hình khác nhau như khu công nghiệp tập trung, khu công nghiệp truyền thống,
khu chế xuất (KCX), khu thương mại tự do, đặc khu kinh tế, khu kinh tế mở…vì thế
cũng có nhiều khái niệm về khu công nghiệp khác nhau trên thế giới.
Theo chuyên gia của tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc
(UNIDO) định nghĩa về khu công nghiệp như sau:
- Khu công nghiệp là khu có hàng rào ngăn cách với bên ngoài, chịu sự quản
lý riêng, tập trung tất cả các doanh nghiệp hoạt động theo bất kỳ cơ chế nào (xuất
khẩu hảng hóa hoặc tiêu thụ nội địa) miễn là phù hợp với các quy định, quy hoạch
về vị trí và về ngành nghề.
- Khu chế xuất là khu có một hoặc nhiều doanh nghiệp đăng ký cơ chế chuyên
sản xuất hàng hóa xuất nhập khẩu và các dịch vụ cho sản xuất hàng hóa xuất nhập
khẩu, có ranh giới vị trí địa lý xác định và được ngăn cách với các khu vực nội thị.
Theo ông Peddle, một chuyên gia kinh tế của ngân hang thế giới (WB) lại
đưa ra một định nghĩa về khu công nghiệp như sau: khu công nghiệp là một khoảng

đất tương đối rộng, chia nhiều lô và được xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó các xí
nghiệp dễ dàng lựa chọn địa điểm phát triển, thống nhất sử dụng hạ tầng và hưởng
những lợi thế vị trí liền kề nhau.
Theo định nghĩa của Michael E.Porter, giáo sư kinh tế Đại học Havard,
KCN là tập hợp các công ty cùng với các tổ chức tương tác qua lại trong một lĩnh
vực cụ thể. Xung quanh nhà sản xuất hình thành các nhà cung cấp chuyên môn hoá
các phụ kiện và dịch vụ cũng như cơ sở hạ tầng. KCN bao trùm lên cả các kênh
phân phối và khách hàng, và bên cạnh đó là những nhà sản xuất sản phẩm phụ trợ,
các công ty thuộc các ngành liên quan về kỹ thuật, công nghệ hoặc cùng sử dụng
một loại đầu vào. Các KCN còn hình thành cả các tổ chức chính phủ và phi chính
phủ như các trường đại học, các viện công nghệ, các trung tâm nghiên cứu, hiệp hội
thương mại cung cấp các dịch vụ đào tạo chuyên môn, giáo dục, thông tin, nghiên
cứu và hỗ trợ kỹ thuật.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
3
Chuyên đ tt nghip
Theo Nghị Định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm
2008 quy định về KCN, KCX và KKT thì khái niệm về KCN được hiểu như sau:
- Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các
dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo
điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ.
- Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện
dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác
định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công
nghiệp theo quy định của Chính phủ.
Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ
trường hợp quy định cụ thể.
Trong chuyên đề này, em chỉ xin đề cập tới khu công nghiệp theo nghĩa hẹp
hơn với định nghĩa như sau: khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công
nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới vị trí xác định,

được thành lập theo quy định của chính phủ (luật đầu tư được quốc hội thông qua
ngày 29/11/2005 và bắt đầu có hiệu lực từ 1/7/2006).
2. Đặc điểm của KCN
Mỗi KCN ra đời đều có những điểm đặc trưng, khác biệt riêng. Tuy nhiên,
các KCN đều có những đặc điểm chung, cơ bản sau đây:
- Là khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp, xí nghiệp công nghiệp trong một
khu vực có ranh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng như hệ thống cung cấp
điện, nước; chung hệ thống xử lý nước thải, khí thải và các loại chất thải khác;
chung giá thành sử dụng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ liên quan. Đầu ra của các
doanh nghiệp còn có thể gắn bó với nhau như sản phẩm của nhà máy này còn là linh
kiện phụ tùng cho sản phẩm của nhà máy kia, hoặc là nguyên liệu cho nhà máy
kia…Vì vậy, các xí nghiệp này tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, hạ giá thành của
sản phẩm, cũng chính là tiết kiệm được chi phí cho xã hội.
- Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng quy chế riêng và ưu đãi riêng
theo quy định của Chính phủ và cơ quan địa phương sở tại, có chính sách kinh tế
đặc thù, ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo môi trường đầu tư thuận lợi
hấp dẫn cho phép các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng những phạm vi đất đai nhất
định trong khu công nghiệp để thành lập các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế,
dịch vụ với những ưu đãi về thủ tục xin phép và thuê đất, miễn hoặc giảm thuế.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
4
Chuyên đ tt nghip
- Nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu là thu hút từ nước ngoài hay các
tổ chức, cá nhân trong nước. Ở các nước khác, Chính phủ thường bỏ vốn đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng nhưng ở Việt Nam thì nhà nước không có đủ vốn, vì thế việc
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN được kêu gọi đầu tư từ vốn trong và ngoài
nước.
- Sản phẩm của các nhà máy, doanh nghiệp trong KCN chủ yếu dành cho xuất
khẩu, hướng ra thị trường thế giới. Tuy nhiên, để tăng thu ngoại tệ bằng cách giảm
tối đa việc nhập khẩu các loại máy móc thiết bị và hàng hoá tiêu dùng, các nhà sản

xuất trong KCN cũng rất quan tâm đến việc sản xuất hàng hoá có chất lượng cao
nhằm thay thế hàng nhập khẩu.
- Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế thị
trường và diễn biến của thị trường quốc tế. Do đó, cơ chế quản lý kinh tế trong
KCN lấy điều tiết của thị trường làm chính.
- KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và nhiều
hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
dưới hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài, hợp đồng, hợp tác kinh doanh, doanh
nghiệp liên doanh và doanh nghiệp vốn 100% vốn trong nước.
- Hoạt động trong KCN sẽ là các tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và
ngoài nước tiến hành theo các điều kiện bình đẳng.
3. Phân loại KCN
Có nhiều cách phân loại KCN như sau:
- Phân loại KCN theo tính chất ngành nghề: gồm 4 loại
+ KCN chuyên ngành: được hình thành từ các xí nghiệp công nghiệp cùng một
ngành hoặc một số ít ngành công nghiệp khác nhau nhưng cùng sản xuất ra một số
loại sản phẩm, chủ yếu hình thành từ các ngành chủ đạo như hoá chất - hoá dầu,
điện tử - tin học, vật liệu xây dựng, chế tạo và lắp ráp cơ khí (gang thép Thái
Nguyên, hoá chất Việt trì, lọc dầu Dung Quất).
+ KCN đa ngành: gồm nhiều xí nghiệp thuộc nhiều ngành công nghiệp khác
nhau. KCN đa ngành cho phép thoả mãn được yêu cầu về lãnh thổ cho sản xuất
công nghiệp, song trong quy hoạch xây dựng cần lưu ý vấn đề môi trường nhằm
hạn chế tác động ảnh hưởng xấu giữa các xí nghiệp khác nhau, tiết kiệm đầu tư hạ
tầng.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
5
Chuyên đ tt nghip
+ KCN sinh thái: là mô hình mang tính cộng sinh công nghiệp. Các ngành
công nghiệp được lựa chọn sao cho các nhà máy có mối liên hệ với nhau, hỗ trợ và
tương tác với nhau tạo nên môi trường sạch và bền vững. Với mô hình này thì phế

liệu của nhà máy này có thể làm nguyên liệu cho nhà máy kia, hoặc sản phẩm của
nhà máy này sẽ là nguyên liệu, vật tư của nhà máy kia.
+ KCN hỗn hợp: là KCN có đầy đủ các yếu tố của KCN đa ngành, trong đó
chia ra các khu chuyên ngành, khu có yêu cầu công nghệ cao, có tổ chức dịch vụ
như vui chơi, giải trí, bệnh viện, trường học…đảm bảo đời sống của người lao động
trong KCN và dân nhập cư.
- Phân loại theo quy mô diện tích phân làm các loại KCN nhỏ, trung bình, lớn
và rất lớn. Theo tiêu chí này phụ thuộc quan điểm của từng nước về kích cỡ KCN,
chủ yếu để nhằm phân biệt xếp hạng KCN.
- Phân loại theo đặc điểm quản lý thì có các loại:
+ KCNTT: có thể là đa ngành, chuyên ngành, có quy mô diện tích khác nhau,
được hình thành với các điều kiện khác nhau.
+ KCX: khu chế xuất là khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các
dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu.
+ KCNC: là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các
đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao bao gồm nghiên cứu, triển
khai khoa học, công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan.
+ CCN: cụm công nghiệp là tên gọi chung cho các cụm công nghiệp - tiểu thủ
công nghiệp, thực chất là KCN tập trung nhưng có quy mô nhỏ do UBND cấp tỉnh
quyết định thành lập (hoặc phân cấp quyết định thành lập) theo quy hoạch phát triển
công nghiệp trên địa bàn để bố trí các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và ngành nghề truyền thống trong diện di dời khỏi nội thành, nội thị hoặc
các khu dân cư tập trung, và thu hút các dự án đầu tư mới với quy mô vừa và nhỏ.
4. Vai trò của KCN đối với phát triển kinh tế - xã hội
Việc hình thành các KCN là một yêu cầu tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã
hội, nó có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nhất là
đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì việc hình thành các KCN sẽ nhanh
chóng thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo
tiền đề đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Cụ thể như sau:
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A

6
Chuyên đ tt nghip
4.1. KCN góp phần quan trọng thu hút vn đầu tư
KCN là một trong những kênh quan trọng chủ yếu nhằm thu hút vốn đầu tư
từ nước ngoài của nước ta. Với các lợi thế của mình như: cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh,
đồng bộ, hiện đại, môi trường đầu tư thuận lợi, chính sách ưu đãi,… giúp cho các
nước có KCN có thể thu hút vốn đầu tư từ ngoài nước, tiếp cận vốn đầu tư và công
nghệ tiên tiến cũng như phong cách quản lý hiện đại của các nước phát triển. Việc
phát triển các KCN cũng phù hợp với chiến lược của các công ty xuyên quốc gia
trong việc mở rộng phạm vi hoạt động trên cơ sở tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận,
tranh thủ thuế quan ưu đãi từ phía nước chủ nhà, khai thác thị trường rộng lớn ở các
nước đang phát triển. Chính vì thế mà nguồn vốn đầu tư vào các địa bàn này không
ngừng tăng lên. Theo thống kê của Ngân hàng thế giới thì các dự án thực hiện trong
KCN hầu hết do các nhà đầu tư nước ngoài hoặc do liên doanh với nước ngoài thực
hiện. Do vậy KCN đã đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Ví dụ, ở Malaysia và Đài Loan trong những năm đầu phát triển, KCN
đã thu hút khoảng 60% số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Cùng với việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, với thuận lợi về vị trí và
ưu đãi về chính sách, cơ chế thì KCN còn thu hút được các nhà đầu tư trong nước.
Đây là nguồn vốn tiềm tàng rất lớn trong nhân dân chưa được khai thác và sử dụng
xứng đáng. KCN sẽ tạo môi trường và cơ hội phát huy năng lực về vốn cũng như
sản xuất kinh doanh trong cùng một điều kiện ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước
ngoài, các doanh nghiệp trong nước sẽ liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp
nước ngoài. Từ đó, tạo cơ hội để các doanh nghiệp trong nước có điều kiện tiếp thu
kinh nghiệm quản lý, trình độ điều hành sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật và công
nghệ hiện đại của nước ngoài , bồi dưỡng nhân tài, thử các phương án cải cách để
tiến dần đến trình độ thế giới.
Như vậy phát triển các KCN là một kênh quan trọng trong việc thu hút vốn
đầu tư trong và ngoài nước làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.
4.2. KCN tạo ra công ăn vic làm cho người lao động, tăng thu nhập cho người

lao động
Xây dựng và phát triển các KCN để tạo nhiều hơn việc làm là một trong
những mục tiêu của các nước đang phát triển. Ở nước ta các KCN đã giải quyết, tạo
ra việc làm cho lao động địa phương, là một trong những giải pháp giải quyết vấn
đề thất nghiệp và nâng cao thu nhập cho lao động ở địa phương nói riêng và cả
nước nói chung, đồng thời tạo điều kiện cho lực lượng lao động nước ta tham gia
một cách tốt nhất vào sự phân công lại lực lượng lao động xã hội.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
7
Chuyên đ tt nghip
Khu công nghiệp là trọng điểm kinh tế địa phương, đóng góp lớn vào thu
ngân sách nhà nước tại địa phương và mở ra nhiều ngành nghề mới tạo công ăn việc
là cho người lao động. Các khu công nghiệp được xây dựng được xây dựng sẽ kéo
theo hình thành nên các khu dân cư, các khu đô thị mới kéo theo các dịch vụ đời
sống như chợ, siêu thị, các dịch vụ vận tải, bưu điện,… đáp ứng nhu cầu sản xuất và
tiêu dùng nên cũng tạo ra cơ hội, việc làm cho người lao động.
Khu công nghiệp phát triển sẽ tạo điều kiện dẫn dắt theo các ngành công
nghiệp phụ trợ, các dịch vụ cần thiết từ dịch vụ công nghiệp như tài chính, ngân
hàng, cung cấp nguyên vật liệu, cung cấp dịch vụ cho người lao động trong khu
công nghiệp… phát triển. Như vậy, ta thấy hình thành các khu công nghiệp không
chỉ tạo việc làm cho riêng các lao động trong khu công nghiệp mà còn tạo ra cơ hội
việc làm cho rất nhiều doanh ngiệp khác, người lao động khác hoạt động ngoài khu
công nghiệp.
4.3. KCN góp phần nâng cao năng lực công ngh quc gia và nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực trong nưc
Việc phát triển các KCN là một trong những giải pháp nâng cao năng lực
công nghệ quốc gia, giúp nước ta rút ngắn khoảng cách về công nghệ với các nước
phát triển và tận dụng lợi thế của nước đi sau để rút ngắn khoảng cách với các nước
trên thế giới. các KCN thu hút được sự đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài,
người nước ngoài sẽ đưa vào KCN những thiết bị kỹ thuật tiên tiến, quy trình công

nghệ hiện đại để sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế
có đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Ngoài ra, các KCN thường được quy hoạch
theo một mô hình tập hợp các doanh nghiệp cùng ngành do vậy, các doanh nghiệp
dễ dàng hợp tác, liên kết với nhau trong việc nhập khẩu, tiếp nhận những công nghệ
tiên tiến, hiện đại trên thế giới, tận dụng, rút ngắn được khoảng cách về khoa học kỹ
thuật với các nước đi trước. Việc các được những lợi thế của nước đi sau doanh
nghiệp liên kết hợp tác với nhau sẽ tiết kiệm được chi phí trong lĩnh vực nghiên cứu
và phát triển (R&D) và quyền sở hữu trí tuệ.
Mặt khác, xuất phát từ các trang thiết bị hịên đại, công nghệ kỹ thuật tiên
tiến thì các cán bộ quản lý, các công nhân kỹ thuật và viên chức làm việc tại các
KCN sẽ được đào tạo lại, đào tạo bổ sung cho thích hợp và trực tiếp tiếp thu tác
phong công nghiệp, kinh nghiệm quản lý, phương pháp kiểm tra chất lượng hiện đại
thích ứng với cơ chế thị trường và đạt hiệu quả cao. Từ đó, sẽ làm cho chất lượng
lao động tăng lên để đáp ứng với môi trường làm việc mới.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
8
Chuyên đ tt nghip
4.4. KCN góp phần quan trọng thúc đẩy chuy!n dịch cơ cấu kinh t
Các KCN là đầu tầu tăng trưởng, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển,
là điều kiện dẫn dắt các ngành công nghiệp phụ trợ, các dịch vụ như tài chính, ngân
hàng, dịch vụ thương mại, lao động, tư vấn, lao động… Đồng thời, KCN phát triển
sẽ đẩy nhanh tốc độ và kim ngạch xuất khẩu…Do đó KCN góp phần quan trọng
làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch
vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế.
Các khu công nghiệp phát triển làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa
trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế, đẩy mạnh tốc độ, kim ngạnh xuất
nhập khẩu, các khu công nghiệp là một trong những đầu tàu xuất khẩu hàng hóa và
sản phẩm trong nước ra thị trường thế giới, làm tăng cán cân thương mại, tăng
nguồn thu ngoại tệ cho doanh ngiệp, từ đó các doanh ngiệp có vốn để tái mở rộng
sản xuất kinh doanh, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, làm ăn có hiệu quả hơn…

Nhờ đó mà giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng cao, ngày càng trở thành
dộng lực chính thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, làm cho cơ cấu kinh tế chuyển
dịch ngày càng hợp lý và hiệu quả hơn để tiến tới đưa nước ta trở thành một nước
công nghiệp hiện đại.
4.5. KCN là giải php hưng ti pht tri!n bn vững
Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp góp phần quan trọng và tăng trưởng
kinh tế, đó là tiền đề cơ bản để thực hiện công bằng xã hội. Ngoài ra, xây dựng các
khu công nghiệp đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề một cách đồng bộ như: quy
hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng trong và ngoài khu công nghiệp, sử dụng đất đai có
hiệu quả, đào tạo và tuyển dụng lao động, bảo vệ môi trường, an ninh trật tự, cung
cấp các dịch vụ, tổ chức đời sống văn hoá, giáo dục, tác động đô thị hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp nông thôn…giải quyết tốt các mối quan hệ trên chính là tạo sự
phát triển bền vững.
4.6. KCN là cầu ni nn kinh t trong nưc hội nhập vi nn kinh t quc t
Khu công nghiệp được coi là nơi thử nghiệm các chính sách kinh tế mới tốt
nhất đặc biệt là các chính sách kinh tế đối ngoại, và là tiên phong cho sự phát triển
và hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Việc hình thành và phát triển các khu công nghiệp có tác dụng làm thúc đẩy
phát triển kinh tế trong nước, thu hút đầu tư từ nước ngoài thúc đẩy quá trình hội
nhập giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Ngoài ra, khu công nghiệp còn là
nơi sản xuất hàng hóa xuất khẩu hướng ra thị trường thế giới, là cửa ngõ khai thông
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
9
Chuyên đ tt nghip
nền kinh tế trong nước với bên ngoài, góp phần quan trọng đẩy mạnh quá trình tham
gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, hội nhập với nền kinh tế thế giới của
nước ta.
II. Cơ sở lý luận về phát triển bền vững các KCN ở Hà Nội
1. Khái niệm chung
1.1. Quan nim v pht tri!n bn vững

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về phát triển bền vững, mỗi khái niệm
được đưa ra đều có những điểm hợp lý riêng và nó ngày càng được hoàn thiện theo
thời gian:
Năm 1987, vấn đề về phát triển bền vững được Ngân hàng thế giới (WB)
đề cập lần đầu tiên, theo đó thì “ Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các
nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế
hệ tương lai”.
Ngày nay, quan điểm về phát triển bền vững được đề cập đầy đủ hơn, ngoài
vấn đề môi trường, phát triển bền vững còn xét cả về khía cạnh kinh tế và xã hội.
Tại Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesbug-
Cộng hòa Nam Phi năm 2002 đã xác định “Phát triển bền vững là quá trình phát
triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: tăng
trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường”. Tiêu chí để đánh
giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và
công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên,
bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống.
Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề phát triển bền vững được
thể hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đến năm 2010, đó
là “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện
tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, gắn sự phát triển kinh tế với giữ
vững ổn định chính trị-xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng”.
1.2. Khi nim v pht tri!n bn vững cc KCN
Trên cơ sở khái niệm phát triển bền vững nói chung, khái niệm về phát triển
bền vững các KCN ta có thể hiểu như sau:
Phát triển bền vững các KCN là sự phát triển đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn
định, có hiệu quả ngày càng cao trong bản thân các KCN (các doanh nghiệp hoạt
động có hiệu quả, tạo ra nhiều giá trị sản xuất công nghiệp, tạo việc làm cho người
lao động, tăng thu ngân sách địa phương…), đồng thời gắn liền với việc bảo vệ và
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
10

Chuyên đ tt nghip
giữ vững môi trường sinh thái trong khu vực có KCN cũng như toàn lãnh thổ vùng,
quốc gia.
Như vậy để phát triển bền vững các KCN cần đảm bảo 2 yếu tố: bền vững nội
tại các KCN và bền vững bên ngoài các KCN:
- Bền vững nội tại: Bản thân các KCN phải được đặt ở những vị trí thích hợp,
có tính chiến lược lâu dài, hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại đồng bộ, đặc biệt phải
có khu xử lý nước thải trung tâm, tình hình thu hút đầu tư khả quan, các doanh
nghiệp trong khu công nghiệp hoạt động có hiệu quả, đóng góp cho ngân sách địa
phương, tạo việc làm cho người lao động… mới đáp ứng được bước đầu các yêu
cầu của sựu phát triển bền vững.
- Bền vững bên ngoài: Bên cạnh bền vững nội tại, việc xây dựng hình thành
các khu công nghiệp cần chú ý bảo vê, giữ vững môi trường sinh thái khu vực ngoài
hàng rào các khu công nghiệp. Song song với vấn đề môi trường là sự đấu nối, kết
hợp hài hòa hệ thống hạ tầng kĩ thuật – xã hội trong và ngoài khu công nghiệp như
giao thông, bưu chính viễn thông, nhà hàng, khách sạn, nhà ở công nhân, bệnh viện,
trường học,…Một khu công nghiệp xây dựng phát triển đạt các chỉ tiêu trên mới
thực sự phát triển bền vững, có hiệu quả hiện tại, lâu dài và không ảnh hưởng xấu
đến thế hệ tương lai.
2. Các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững các KCN
2.1. Các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững nội tại
2.1.1. Vị trí địa lý của khu công nghiệp
Lợi thế về bố trí địa lý của KCN là tiền đề giúp cho các doanh nghiệp đạt
được hiệu quả kinh tế theo vị trí. Các điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng kỹ thuật,
gần các trục đường giao thông, bến cảng, nhà ga, sân bay, sự hấp dẫn về thị trường
các yếu tố đầu vào (nguyên vật liệu, nguồn nhân lực) và thị trường tiêu thụ sản
phẩm, có ảnh hưởng quan trọng đến sự lựa chọn đầu tư của các doanh nghiệp
2.1.2. Chất lượng quy hoạch KCN
Tiêu chí này nhằm đảm bảo tính chất bền vững ngay từ giai đoạn đầu của quá
trình qui hoạch, sử dụng và phát triển KCN. Nó thể hiện ở tính hợp lý, đồng bộ,

khoa học, thực tiễn và hiệu quả trong qui hoạch các yếu tố chủ đạo của KCN như
xác định các lĩnh vực và ngành thu hút đầu tư, đất đai, các khu chức năng, cơ sở hạ
tầng kỹ thuật, điện, nước, thông tin, viễn thông, dịch vụ, nhằm đạt được các mục
tiêu kinh tế, bảo vệ và cải thiện môi trường, và thu hút lao động.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
11
Chuyên đ tt nghip
2.1.3. Diện tích và tỷ lệ lấp đầy các KCN
Tiêu chí này được xem xét căn cứ vào mục tiêu qui hoạch và điều kiện hoạt
động của KCN (vị trí địa lý, yêu cầu của các ngành công nghiệp, khả năng phát
triển và các điều kiện về giao thông vận tải, nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu
thụ (nội địa, xuất khẩu)). Mức độ sử dụng đất KCN đo bằng tỉ lệ diện tích KCN đã
cho các doanh nghiệp thuê so với tổng diện tích KCN.
2.1.4. Tổng số vốn đăng ký, vốn đầu tư thực hiện
Tổng số vốn đăng ký và tỉ lệ vốn đầu tư thực hiện trong tổng số vốn đăng ký
của các doanh nghiệp FDI và trong nước vào KCN, vốn đầu tư bình quân của một
dự án và vốn đầu tư bình quân trên một ha đất.
2.1.5. Kết quả và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN
Các chỉ tiêu cụ thể: tổng doanh thu, tổng giá trị gia tăng, tỷ lệ giá trị gia tăng
so với tổng doanh thu; kim ngạch xuất khẩu và tỉ trọng trong tổng kim ngạch xuất
khẩu cả nước; thu nhập bình quân tính trên 1 đơn vị lao động, trên 1 ha.
2.1.6. Trình độ công nghệ và ứng dụng công nghệ của các doanh nghiệp trong
KCN
- Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp trong nước
trong KCN.
- Trình độ công nghệ của từng ngành, nhóm ngành mà các doanh nghiệp FDI
trong KCN tham gia hoạt động (lạc hậu, trung bình, tiên tiến).
- Kỹ năng, năng lực sử dụng công nghệ của các doanh nghiệp trong KCN
- Xuất xứ của công nghệ (năm và nước sản xuất).
2.1.7. Liên kết kinh tế

- Tỉ lệ doanh thu của các ngành công nghiệp chủ yếu có liên quan, mặt hàng
chuyên môn hóa trong tổng doanh thu của KCN.
- Về mức độ liên kết kinh tế: tỉ lệ số doanh nghiệp có liên kết kinh tế với nhau
trong KCN và tỉ lệ số doanh nghiệp có liên kết với bên ngoài trong tổng số doanh
nghiệp KCN.
2.2. Các chỉ tiêu đánh giá tác động lan tỏa của KCN
2.2.1. Tác động lan tỏa về mặt kinh tế
- Tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, địa
phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đóng góp vào ngân sách địa
phương
- Thu nhập bình quân đầu người tính cho toàn khu vực hoặc địa phương, so
với mức chung của cả nước
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương có KCN: tỉ trọng về doanh thu,
giá trị gia tăng, vốn sản xuất, lao động tính theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
12
Chuyên đ tt nghip
2.2.2. Tác động lan tỏa về mặt xã hội
Chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng xã hội của KCN được tập trung vào các chỉ tiêu
về khả năng giải quyết việc làm của KCN cho lao động địa phương:
- Sử dụng lao động địa phương: quy mô và tỷ lệ lao động địa phương so với
tổng số lao động làm việc trong KCN.
- Số người tham gia cung cấp dịch vụ cho KCN trong tổng số lao động địa
phương.
- Ảnh hưởng của KCN đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động của địa phương.
2.2.3. Tác động lan tỏa về mặt môi trường
- Mức độ khai thác hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên.
- Mức độ giải quyết vấn đề ô nhiễm KCN (hệ thống xử lý chất thải tập trung),
đặc biệt các KCN gần khu dân cư.
- Mức độ ứng dụng công nghệ sạch và công nghệ ít gây ô nhiễm môi trường

- Có Báo cáo môi trường của các doanh nghiệp trong KCN.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển bền vững các KCN
2.3.1. Vị trí địa lý
Vị trí địa lý hết sức quan trọng trong quá trình thu hút sự phát triển của các
KCN. Trong các yếu tố quyết định sự thành công của KCN, thì có 2 yếu tố thuộc về
yếu tố địa lý và điều kiện tự nhiên là:
+ Gần các tuyến giao thông đường bộ, hàng không, bến cảng và các điều kiện
thuận lợi khác.
+ Nguồn nước công nghiệp được cung cấp đầy đủ.
KCN phải được xây dựng ở vị trí địa lý thuận lợi, đảm bảo cho giao lưu hàng
hoá giữa KCN với thị trường quốc tế và các vùng còn lại trong nước. Đây là một
trong những điều kiện cần thiết đối với sự thành công và sự phát triển bền vững của
các KCN để đảm bảo cho vận chuyển hàng hoá và nguyên liệu ra vào các KCN
được nhanh chóng và thuận tiện nhất nhằm giảm chi phí lưu thông và tăng khả năng
cạnh tranh của hàng hoá sản xuất ra. Các KCN cần được xây dựng ở gần các khu
vực đô thị, gần các trung tâm văn hoá-xã hội, có hệ thống giao thông thuận lợi.
Ngoài ra, về khí hậu, thời tiết, nhiệt độ, sông, hồ cũng cần phải lưu ý để tránh
gây khó khăn cho quá trình xây dựng và hoạt động sau này.
2.3.2. Quy mô KCN, quy mô vốn đầu tư
Quy mô đất xây dựng KCN cũng có vai trò quan trọng trong việc phát triển
các KCN, vì quy mô lớn sẽ tạo nên một khu vực công nghiệp rộng lớn, tiềm năng
phát triển lớn hơn. Cơ hội liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp trong KCN sẽ cho
hiệu quả thúc đẩy phát triển của các doanh nghiệp.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
13
Chuyên đ tt nghip
Cũng như quy mô về diện tích, quy mô vốn đầu tư cũng đóng vai trò quan
trọng trong việc phát triển các KCN, muốn các KCN phát triển bền vững thì phải có
đủ được nguồn vốn.
Thứ nhất, có vốn để xây dựng các KCN, để xây dựng cơ sở hạ tầng cho KCN,

muốn xây dựng được một cơ sở hạ tầng hiện đại và vững chắc thì phải có được
nguồn vốn lớn. Do đó, khi huy động nguồn vốn phát triển các KCN cần huy động
được cả nguồn vốn trong nước và nước ngoài.
Thứ hai, là khả năng vốn đầu tư vào các dự án đầu tư trong KCN. Khả năng
vốn đầu tư lớn thể hiện quy mô của dự án, hứa hẹn sự đóng góp của dự án lớn, chi
phí cho máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến cũng như chi phí cho nguyên
vật liệu và nhân công là cơ sở để doanh nghiệp phát triển bền vững. Là nhân tố quan
trọng góp phần phát triển các KCN bền vững về kinh tế.
2.3.3. Cơ sở hạ tầng kinh tế vùng
Về các điều kinh tế, các KCN phải nằm trong khu vực có chính sách ưu
tiên của nhà nước, đặc biệt là trong các khu vực làm đòn bẩy phát triển kinh tế của
cả nước. Những khu vực này có thể được Nhà nước hỗ trợ trong quá trình xây dựng
cơ sở hạ tầng, các công trình phục vụ chung nhưng có lợi cho cả KCN như: nâng
cấp sân bay, cải tạo và nâng cấp đường bộ, đường sắt, mở rộng các cảng biển…và
được các Bộ, các ngành tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ trong việc xây dựng các
công trình cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc…
Đối với các nhà đầu tư, vấn đề cũng rất được quan tâm là nguồn nguyên liệu
có sẵn ở địa phương có đủ cung cấp thường xuyên cho các doanh nghiệp , địa chất
khu vực công nghiệp phải đảm bảo khả năng để xây dựng các xí nghiệp, các công
trình phục vụ sản xuất công nghiệp.
2.3.4. Cơ sở hạ tầng KCN
Cơ sở hạ tầng là điều kiện quan trọng cho sự phát triển bền vững về kinh tế
của các KCN. Vì một cơ sở hạ tầng hiện đại và đồng bộ sẽ là nền tảng vững chắc
cho sự phát triển kinh tế của các doanh nghiệp. Cơ sở hạ tầng KCN bao gồm cơ sở
hạ tầng bên trong và bên ngoài KCN.
Với hệ thống đường xá rộng và hiện đại sẽ thuận tiện cho các phương tiện
vận tải vận chuyển sản phẩm hàng hóa. Hệ thống đèn đường chiếu sáng, nguồn
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
14
Chuyên đ tt nghip

cung cấp điện cho hoạt động sản xuất phải đầy đủ, hệ thống cung cấp nước đầy đủ
và hiện đại, bền vững để các doanh nghiệp sản xuất ổn định và năng suất cao. Hệ
thống cống thóat nước phải được quy hoạch đồng bộ có tính toán lâu dài. Các trạm
xử lý nước thải, xử lý rác thải phải được xây dựng nhằm giải quyết các loại chất thải
của các doanh nghiệp sản xuất, đảm bảo môi trường không bị ô nhiễm. Tất cả phải
được xây dựng từ khi quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng. Do đó, cơ sở hạ tầng của
KCN cần phải được quy hoạch và xây dựng hết sức vững chắc ngay từ lúc khởi
công xây dựng KCN, vì sau khi xây dựng cơ sở hạ tầng, các doanh nghiệp vào sản
xuất thì việc nâng cấp cơ sở hạ tầng là rất khó khăn và tốn kém.
2.3.5. Chất lượng nguồn nhân lực
Nguồn lao động phải không những phải đủ về số lượng mà còn phải có chất
lượng tay nghề cao. Nguồn nhân lực có chất lượng là nền tảng cho sự phát triển bền
vững của các doanh nghiệp của KCN.
Theo kinh nghiệm của Đài Loan, là nước được coi là nơi tổ chức KCN thành
công nhất trên thế giới, thì trong 10 yếu tố quyết định sự thành bại của KCN, các
chuyên gia Đài Loan cho rằng yếu tố số một là phải có đội ngũ lao động có tay nghề
đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư.
2.3.6. Các chính sách vĩ mô của nhà nước
Môi trường cơ chế chính sách đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công
hay thất bại của việc phát triển KCN. Vì nếu cơ chế thông thoáng, không gây qua
nhiều trở ngại cho các nhà đầu tư, đồng thời có các chính sách ưu đãi thì sẽ hấp dẫn
được các nhà đầu tư do họ sẽ giảm được chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận kinh
doanh.
Do đó, chính sách đầu tư có mối liên hệ chặt chẽ với việc thu hút đầu tư vào
KCN. Các chính sách ưu đãi như: miễn giảm thuế công ty, thuế xuất nhập khẩu,
thuế lợi tức; không hạn chế việc chuỷển vốn lợi nhuận của các nhà đầu tư ra nước
ngoài; xác định rõ quyền sử dụng đất của các nhà đầu tư,…sẽ hấp dẫn các nhà đầu
tư. Đồng thời phải có quy chế hoạt động của KCN rõ ràng, cụ thể và ổn định. Có
như vậy, các nhà đầu tư mới an tâm đầu tư vào KCN và nước chủ nhà mới có thể
quản lý tốt được hoạt động của cac doanh nghiệp trong KCN.

Ngoài ra, chính sách kinh tế vĩ mô cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sự
thành công của KCN. Đó là các chính sách về đầu tư, thương mại, lao động, ngoại
hối và các chính sách khác.
2.3.7. Các yếu tố khác
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
15
Chuyên đ tt nghip
Ngoài các yếu tố ảnh hưởng chính đã nêu trên thì còn rất nhiều các nhân tố
ảnh hưởng không ít thì nhiều tới quá trình phát triển bền vững của các KCN như:
môi trường chính trị pháp luật, năng lực của các ngành công nghiệp phụ trợ, khả
năng của thị trường trong nước, công tác tổ chức điều hành quản lý các KCN …
2.4. Sự cần thiết phát triển bền vững các KCN ở Hà Nội
Trong thời gian qua, thực tế phát triển các KCN ở Hà Nội cũng như trên cả
nước đã cho thấy KCN ngày càng có một vai trò quan trọng đối với sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
…Tuy nhiên, nếu thiếu tỉnh táo thận trọng thì trong quá trình phát triển các KCN sẽ
dần tích tụ các nhân tố phát triển thiếu bền vững. Nguy cơ này xuất hiện và gắn liền
với tình trạng gia tăng bột phát “phong trào hóa” lập và quy hoạch dự án xây dựng
KCN mà nhiều khi mới dừng lại ở mức ý tưởng và mong muốn, thiếu các căn cứ
thực tiễn, thiếu vốn đầu tư và bất chấp yêu cầu về hiệu quả kinh tế xã hội tổng hợp,
thậm chí còn bị chi phối bởi các lợi ích cục bộ, địa phương hoặc cơ hội chủ nghĩa,
tham nhũng, …vì thế nên việc lựa chọn địa điểm quy hoạch KCN còn chưa hợp lý:
sử dụng những diện tích đất màu mỡ, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, những
phần có diện tích cà vị trí đẹp thuận lợi cho phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ,
…để xây dựng KCN. Kết quả là sự hình thành các KCN không có hiệu quả cao và
thiếu tính bền vững. mặt khác do xây dựng theo tính phong trào nên còn dẫn tới các
hiện tượng lộn xộn, mất trật tự trong KCN do phát triển tràn lan nên không tính toán
cơ cấu đầu tư hợp lý, không quy hoạch chi tiết các ngành nghề thu hút đầu tư,
buông lỏng, quán lý không chặt chẽ,…Ngoài ra, biểu hiện của sự thiếu bền vững
còn thể hiện ở tình trạng thiếu cân đối hoặc trống vắng các loại hình KCN có triển

vọng, nhất là thiếu các KCN công nghệ cao, thiếu các KCN chuyên ngành và cả các
KCN tổng hợp quy mô lớn theo mô hình liên kết đồng bộ giữa công nghiệp – dịch
vụ - đô thị. Đặc biệt là thiếu sự gắn bó hợp tác và liên kết kinh tế giữa các doanh
nghiệp trong một KCN và giữa các KCN với nhau và giữa các KCN với các CNN
vừa và nhỏ, cũng như với các khu kinh tế đặc biệt trên phạm vi địa phương và cả
nước. Các yếu tố thiếu bền vững trong phát triển các KCN còn dược thể hiện ở tình
trạng ô nhiễm môi trường các KCN và khu vực lân cận ngày càng gia tăng trong sự
chậm trễ thờ ơ, thiếu trách nhiệm của các doanh nghiệp và KCN. Điều đó chứng tỏ
phát triển các KCN luôn có tính hai mặt song có thể khẳng định rằng phát triển các
KCN luôn là sự lựa chọn đúng đắn, hiệu quả và tất yếu trong quá trình công nghiệp
hóa – hiện đại hóa đất nước. Vấn đề là ở chổ cần tìm ra, bổ sung và chủ động thực
hiện các giải pháp cần thiết, đồng bộ, hiệu quả để phát triển các KCN theo hướng
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
16
Chuyên đ tt nghip
bền vững nhằm phát huy tối đa các tác dụng tích cực, đồng thời hạn chế, trung hòa,
giảm thiểu các tác động trái chiều của quá trình này.
Trải qua hơn 15 năm hình thành và phát triển tới nay, các KCN ở Việt Nam
nói chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng đã có rất nhiều đóng góp tích cực cho sự
nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phát triển kinh tế xã hội đất nước. tuy nhiên
bên cạnh những thành quả to lớn đó thì Hà Nội cũng đã phải trả giá cho những mặt
trái của sự hình thành các KCN như: tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải của
các KCN, tình trạng công nhân làm việc trong các KCN không có nhà ở gây ra sự,
lộn xộn và phát sinh các tệ nạn xã hội gây mất trật tự an ninh Chính vì vậy, để
tránh những hậu quả không tốt về sau, Hà Nội cần rút ra những kinh nghiêm cho
mình để tìm được phương án thành công về phát triển KCN nhằm đảm bảo tính bền
vững, ổn đinh tăng trưởng kinh tế, chuển biến kinh tế xã hội theo hướng tích cực và
bảo vệ môi trường sinh thái.
2.5. Kinh nghim pht tri!n cc khu công nghip của một s nưc trên th gii
2.5.1. Kinh nghiệm Nhật Bản

Nhật Bản là một nước rất thành công về phát triển kinh tế xã hội trong
những năm 70 của thế kỷ 20, người ta coi Nhật Bản như một câu chuyện thần kỳ.
Với những chiến lược, những chính sách công nghiệp hóa đã đạt được nhiều thành
tựu đáng khâm phục. Trong suốt thời kỳ tăng trưởng của nên kinh tế Nhật Bản, các
KCN đã đóng góp một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và phát triển các
ngành sản xuất công nghiệp và đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng miền
trên cả nước.
Quá trình phát triển các KCN của Nhật Bản diễn ra sau kết thúc Chiến tranh
thế giới thứ II, đặc biệt sau khi Luật phát triển của các thành phố công nghiệp mới
được hình thành năm 1962. Thời kỳ này, nhiều cơ sở công nghiệp quy mô lớn dưới
hình thức các KCN được thành lập tại nhiểu thành phố trên cả nước. Các ngành
công nghiệp nặng như luyện kim, hóa dầu … đã hình thành dọc theo các vùng ven
biển và trở thành những khu vực phát triển công nghiệp dẫn dầu trong quá trình
tăng trưởng kinh tế. Việc phân bố các cơ sở công nghiệp thiếu cân đối và tốc độ
phát triển cao các ngành công nghiệp nặng, hóa chất đã gây ra tình trạng ô nhiễm
môi trường trầm trọng đặc biệt là môi trường nước và không khí tại các KCN. Vì
vậy, cuối những năm của thập niên 60, đầu thập niên 70, Chính phủ Nhật Bản bắt
đầu tổ chức lại các KCN có quy mô lớn tại các khu vực xa xôi như Hokaido và Nam
Kyushu. Việc đặt các KCN tại những vùng này không những ngăn chặn được ô
nhiễm môi trường mà còn tạo điều kiện phát triển công nghiệp tàị khu vực này.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
17
Chuyên đ tt nghip
Đồng thời Chính phủ Nhật Bản khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp như
điện tử cơ khí, lắp ráp và sản xuất phụ tùng ô tô. Việc hình thành các KCN ở các
vùng xa xôi trong nước là một biện pháp phát triển công nghiệp khu vực cũng như
trên cả nước.
Trong thập niên 80, các ngành công nghiệp công nghệ cao được đẩy mạnh
phát triển tại các vùng nông thôn dưới hình thức phát triển các thành phố công
nghiệp và được thể chế hóa trong Luật gia tăng phát triển vùng hay còn gọi là Luật

Technopolis với mục đích thành lập các KCN công nghệ cao. Hơn 20 thành phố
công nghệ đã được Chính phủ cho phép thành lập và cạnh tranh lẫn nhau, và chỉ
trong thời gian từ năm 1984 đến 1987, tổng số các xi nghiệp tại 14 thành phố
Techopolis đã tăng lên gấp đôi.
Các KCN Nhật Bản chia thành 4 loại theo vị trí và mục đích khác nhau như sau:
- KCN ven biển: các KCN này có diện tích lớn hơn 1000 ha, tập trung sản xuất
hóa chất và các ngành công nghiệp nặng
- KCN nội địa: các KCN này được thiết lập dọc theo các xa lộ để thuận tiện
cho việc chuyên trở hang hóa, giao thông, có diện tích trung bình khoảng 100 ha.
Nó tập trung công nghiệp lắp ráp chế tạo ô tô, thiết bị điện, cơ khí…
- Khu nghiên cứu: các khu này được thiết lập trong những khu vực có đầu mối
giao thông thuận tiện, gồm các trung tâm nghiên cứu và phát triển, diện tích trung
bình khoản 300 ha.
- Thành phố công nghiệp (Technopolis): có diện tích tương đương với các
KCN nội địa, được thiết lập tại các khu vực riêng biệt và tập trung các ngành công
nghiệp công nghệ cao như chế tọa bán dẫn, công nghệ sinh học… Tiêu chí để lựa
chọn địa điểm xây dựng các KCN công nghệ cao (Technopolis) của Nhật là: khu
vực hiện tập trung không quá đông các cơ sở công nghiệp, nằm gần các thành phố
được coi là trung tâm của hoạt động công nghiệp, nằm gần các trường đào tạo đại
học và các ngành phát triển công nghệ cao, trong hiện tại tập trung nhiều cơ sở kinh
doanh thương mại và gân các đầu mối giao thông, xa lộ.
Về chính sách hỗ trợ phát triển của Nhật: Nhật Bản rất chú trọng tới việc phát
triển cơ sở hạ tầng, nếu như năm 1955 tổng vốn đầu tư Nhà nước cho phát triển cơ
sở hạ tầng công nghiệp là 80 tỉ Yên, chiếm 0,9% GDP, thì tới năm 1970, con số này
là 1870 tỉ Yên, chiếm 2,5% GDP. Chính phủ cũng áp dụng một số biện pháp
khuyên khích, hỗ trợ các xí nghiệp theo các Luật về phát triển công nghiệp vùng và
các qui định của chính quyền địa phương như:
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
18
Chuyên đ tt nghip

- Hỗ trợ thuế (miễn giảm thuế) áp dụng mức khấu hao đặc biệt, hỗ trợ vốn
kinh doanh từ Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương, tạo điều kiện cho
vay ưu đãi của các tổ chức Chính phủ…Các biện pháp về thuế được áp dụng khác
nhau cho từng xí nghiệp trong các KCN theo Luật về phát triển vùng liên quan.
- Một số biện pháp được áp dụng cho các vùng chỉ định như: miễn giảm thuế
doanh nghiệp và thuế tài sản cố định trong vòng 3 năm, miễn thuế mua bất động
sản, áp dụng chế độ thuế đặc biệt về sở hữu đất đai và khấu hao đặc biệt (16% các
thiết bị sản xuất, 8% cho các công trình xây dựng và các cơ sở phụ thuộc). Những
thiết bị công trinh nằm trong Technopolis đều hưởng mức khấu hao đặc biệt (30%
cho thiết bị và 15% cho công trình).
2.5.2. Kinh nghiệm của Thái Lan:
Ở Thái Lan có 2 loại hình KCN:
- KCN tập trung: trong đó tập trung các xí nghiệp sản xuất công nghiệp, các xí
nghiệp này sản xuất hàng hóa để tiêu thụ trong nước và thường là các xí nghiệp
công nghiệp nặng và không sản xuất hàng xuất khẩu.
- KCN hỗn hợp: là loại KCN chia ra làm 2 khu vực: KCN tổng hợp gồm các xí
nghiệp sản xuất chủ yếu hàng hóa tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ( với tỉ trọng
xuất khẩu < 40% tổng sản phẩm sản xuất được); và các khu chế xuất hàng hóa xuất
khẩu gồm các nhà máy sản xuất phải đạt ít nhất 40% hàng hóa xuất khẩu.
Các KCN Thái Lan được xây dựng trên cơ sở phân loại theo từng nhóm ngành
công nghiệp và căn cứ vào nguồn lực có sẵn tại địa phương cũng như vị trí địa lý
của những nơi thành lập KCN đó. Diện tích các KCN từ 70 đến 1000 ha, phổ biến
nhất từ 150 đến 250 ha, chỉ có khoảng 25% số KCN có diện tích lớn hơn 500 ha.
Việc quản lý các KCN có thẩm quyền Nhà nước và được giao cho một cơ
quan là Ban quản lý các KCN Thái Lan. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong các
KCN này dựa trên cơ sở vôn đầu tư Nhà nước hoặc liên doanh giữa Nhà nước với
tư nhân. Theo Luật về KCN tư nhân thì tư nhân được phép thầu đầu tư và kinh
doanh cơ sở hạ tầng nhưng việc quản lý do Nhà nước quản lý thống nhất thông qua
Ban quản lý các KCN Thái Lan. Cơ quan này vừa thuộc Bộ công nghiệp, vừa là cơ
quan quản lý Nhà nước được ủy quyền cấp các loại giấy phép cho nhà đầu tư xây

dựng cơ sở hạ tầng. Tư nhân có thể đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng cách liên
doanh với Ban quản lý KCN Thái Lan hoặc đầu tư 100% vốn.
Về chính sách ưu đãi, Thái Lan đã dành cho các nhà đầu tư vào các KCN các
ưu đãi khá rộng rãi: đầu tư vào các KCN, khu chế xuất được miễn trừ thuế xuât
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
19
Chuyên đ tt nghip
nhập khẩu hàng hóa; đặc biệt là cho phép các nhầ đầu tư nước ngoài được quyền sở
hữu đất trong KCN (trong khi Malaysia bán đất có thời hạn 99 năm, Indonesia cho
thuê đất tối đa là 60 năm, Trung Quốc cho quyền sử dụng đất tối đa là 50 năm
nhưng được quyền chuyển nhượng thế chấp).
Thuế nhập khẩu được áp dụng trong các KCN Thái Lan:
- Đối với hàng hóa nhập khẩu là máy móc thiết bị phụ tùng: các doanh nghiệp
trong KCN tổng hợp được giảm 50% thuế nhập khẩu áp dụng cho cả vùng I và vùng
II, các doanh nghiệp ở vùng III được miễn thuế nhập khẩu các loại thiết bị trên.
Việc miễn thuế này được áp dụng đối với các xí nghiệp sản xuất trong các khu chế
xuất cả 3 vùng.
- Đối với hàng hóa nhập khẩu là nguyên liệu: các doanh nghiệp trong các
KCN tổng hợp được miễn thuế nhập khẩu 1 năm đối với nguyên vật liệu nếu xuất
khẩu ít nhất 30% sản phẩm sản xuất được. Ưu đãi này cũng được áp dụng chung
cho tất cả các doanh nghiệp trong KCN đóng ở vùng I và II, các doanh nghiệp ở
vùng III sẽ được miễn thuế nhập khẩu nguyên vật liệu trong vòng 5 năm nếu xuất
khẩu ít nhất 30% sản phẩm sản xuất và chỉ phải trả 25% thuế khập khẩu với các
nguyên liệu sản xuất ra hàng hóa tiêu dùng nội địa
Với những chính sách trên Thái Lan đã hình thành một mạng lưới các KCN phát
triển tương đối thành công và đáng để các nước trong khu vực học tập.
2.5.3. Bài học kinh nghiệm
Qua bài học phát triển các KCN ở hai nước Nhật Bản và Thái Lan trên đây ta
có thể rút ra một số bài học cơ bản cho sự phát triển các KCN ở nước ta hiện nay
như sau:

Thứ nhất, việc quy hoạch các KCN phải phù hợp với quy hoạch phát triển
công nghiệp, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, từ đó phân công phối hợp chặt chẽ
trong việc đầu tư phát triển các KCN của các bên liên quan như: nhà nước, nhà đầu
tư, lao đông,…Các KCN cần được xây dựng đồng bộ với các khu thương mại, đô
thị, dịch vụ,… theo mô hình tổ hợp liên hoàn trong đó phát triển KCN là trọng tâm
còn các vệ tinh khác như về thương mại. dịch vụ, khu đô thị mới,…là hết sức quan
trọng, có vai trò tác nhân thúc đẩy và đảm bảo sự phát triển bền vững tại các KCN.
Thứ hai, cần lựa chọn cơ cấu đầu tư vào các khu công nghiệp một cách hợp
lý và hiệu quả, theo hướng khuyến khích phát triển thu hút các dự án đầu tư các
ngành có hàm lượng công nghệ, khoa học kỹ thuật cao, có tốc độ phát triển cao,sức
lan tỏa mạnh.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
20
Chuyên đ tt nghip
Thứ ba, công tác giải phóng mặt bằng để xây dựng các KCN cần phải được
sự chỉ đạo thống nhất kịp thời của các cấp chính quyền thành phố, đồng thời phải
đảm bảo thực hiệ đúng các chính sách về đất đai và quyền lợi cảu người dân bị thu
hồi đất; cần chủ động đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội phục vụ cho
việc phát triển các KCN để thu hút vốn đầu tư, chủ động thực hiện các chương trình
xúc tiến đầu tư thích hợp, phối hợp nhịp nhàng với các đơn vị chủ đầu tư nhằm tăng
cường cúc tiến đầu tư trong và ngoài nước.
Thứ tư, là cần phải có những chính sách, những biện pháp khuyến khích đầu tư
phát triển các KCN như miễn giảm thuế, hoàn thiện công tác quản lý, đơn giản thủ
tục hành chính,…
Thứ năm, cần phải thực hiện tốt công tác quy hoạch hơn nữa, nên xây dựng
các KCN mới va di dời các KCN cũ cách xa trung tâm thành phố, tránh tình trạng ô
nhiễm môi trường. phát triển các KCN cũng phải chú ý đi đôi với công tác bảo vệ
môi trường sinh thái để phát triển bền vững các KCN, phải kiên quyết xử lý triệt để
các doanh nghiệp vi phạm cam kết bảo vệ môi trường.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A

21
Chuyên đ tt nghip
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG PHÁT TRIN BỀN VỮNG CÁC KHU
CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
1. Tổng quan về các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội
Từ khi KCN đầu tiên của Hà Nội được quyết định thành lập (KCN Nội Bài)
năm 1994, đến nay trên địa bàn thành phố Hà Nội đã có 8 KCN. Sau hơn 15 năm đi
vào hoạt động, các KCN đã đóng vai trò quan trong vào sự phát triển của Thủ đô Hà
Nội. 8 KCN của Hà Nội có tổng diện tích tự nhiên là 1325ha, phân bố ở phía đông
Hà Nội, dọc theo quốc lộ 5 có KCN Sài Đồng B và KCN Hà Nội –Đài Tư; và phía
Tây Bắc Hà Nội, dọc theo con đường cao tốc Thăng Long- Nội Bài có KCN Nam
Thăng Long, Thăng Long, Nội Bài và mới nhất là Hà Nội vừa xây dựng được thêm
3 KCN mới là: KCN Thạch Thất – Quốc Oai, KCN Phú Nghĩa, KCN Quang Minh.
Như đã nêu ở trên, vì thời gian và năng lực có hạn nên tôi chỉ xin nghiên cứu chính
5 KCN ra đời trước đã nêu ở trên. Ta có bảng giới thiệu chung về các KCN như sau:
Bảng 2.1: giới thiệu chung về các khu công nghiệp
KCN Nội
Bài
KCN Sài
Đồng B
KCN Nam
Thăng
Long
KCN Hà
Nội – Đài

KCN
Thăng
Long

Chủ đầu

Liên doanh
giữa tổng
công ty
phát triển
hạ tầng đô
thị và tập
đoàn
Renong
Malaysia.
Tỷ lệ góp
vốn là bên
Việt Nam
30%, phía
Malaysia
Công ty
điện tử Hà
Nội( Hanel)
, là doanh
nghiệp nhà
nước trực
thuộc
UBND
thành phố

Nội(100%
vốn đầu tư
trong nước)
Công ty

TNHH
phát triển
hạ tầng –
Hiệp hội
công
thương
Việt
Nam(100%
vốn trong
nước)
Liên doanh
giữa bên Việt
Nam(công ty
TNHH Nam
Hòa và công
ty TNHH đầu
tư và phát
triển hạ tầng
Nam Đức) và
bên nước
ngoài(công ty
cổ phần hữu
hạn phát triển
Hà Nội – Đài

Công ty
liên doanh
giữa cơ khí
Đông Anh
và Summit

Global
Manageme
nt II B.V
Hà Lan. Tỷ
lệ góp vốn
Việt Nam
42% và
nước ngoài
58%.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
22

×