Tải bản đầy đủ (.doc) (91 trang)

Đánh giá hoạt động tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn trên địa bàn xã Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang”.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (362.69 KB, 91 trang )

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho sự hoàn thành khóa luận này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Sinh viên
Đinh Thị Yến
1
LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội,
Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, giáo viên hướng dẫn, tôi
được phân công về thực tập tại xã Phồn Xương, huyện yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, bên cạnh sự cố gắng và nỗ lực
của bản thân cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Cô giáo, PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hiền đã trực tiếp hướng dẫn và
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
- Các thầy giáo, cô giáo khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn và toàn thể
quý thầy, cô giáo trong trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã truyền đạt kiến
thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường.
- UBND xã Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, phòng Nông
nghiệp và PTNT huyện Yên Thế, tổ tiết kiệm và vay vốn của thôn và đặc biệt là
các hộ nông dân điều tra trên địa bàn xã Phồn Xương đã giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình thực tập vừa qua.
- Cùng gia đình, người thân và bạn bè đã động viên tôi trong suốt quá
trình học và thực tập.
Trong cả quá trình thực tập tốt nghiệp, mặc dù đã có nhiều cố gắng, tuy
nhiên do bước đầu tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học, thời gian hạn chế
nên không tránh khỏi nhiều sai sót. Kính mong quý thầy cô cùng bạn bè giúp đỡ
và đóng góp ý kiến để khóa luận được hoàn thiện hơn.


Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Sinh viên
Đinh Thị Yến
2
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Nông nghiệp là ngành ra đời sớm cùng với sự ra đời của loài người. Nó là
ngành chính sản xuất ra lương thực, thực phẩm cung cấp cho con người. Cùng
với sự phát triển của xã hội, nông nghiệp cũng có những bước phát triển không
ngừng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội.
Ở các nước đang phát triển, nông thôn là khu vực kinh tế có nhiều ảnh hưởng
đến sự phát triển của toàn xã hội bởi tỷ trọng về thu nhập và tỷ trọng về lao
động, dân cư trong khu vực kinh tế nông thôn rất cao.
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chung mà Đảng và Nhà nước đã đề ra
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là trong bối cảnh nguồn vốn còn
hạn chế, thì việc phát triển một thị trường tài chính nông thôn là rất quan trọng,
trong đó hoạt động tín dụng phải giữ vai trò nòng cốt để tạo nguồn vốn cho phát
triển nông nghiệp, nông thôn.
Nhằm tìm hiểu, đánh giá về hiệu quả hoạt động tín dụng trên địa bàn, tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá hoạt động tín dụng phục vụ phát triển
nông nghiệp và nông thôn trên địa bàn xã Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh
Bắc Giang”.
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu và đánh giá thực trạng hoạt động của các tổ
chức tín dụng trên cả địa bàn xã. Hệ thống tín dụng chính thống của xã có đa
dạng nhưng chưa đáp ứng được đủ nhu cầu về vốn của nhân dân, chính vì thế,
hệ thống tín dụng phi chính thống trên địa bàn xã Phồn Xương phát triển rất
mạnh mẽ. Tín dụng hụi họ rất phát triển, hầu hết là họ tiền. Chơi họ giúp cho các
hộ giải quyết một cách nhanh chóng nhu cầu về vốn, lãi suất chơi họ trong xã
không chênh lệch nhiều so với lãi suất ngân hàng, do đó, hụi họ trong xã ngày
càng phổ biến. Tín dụng tư nhân cũng phát triển, tuy nhiên đa số đối tượng đi
vay là đối tượng chơi bời, chỉ một số là phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh

doanh. Lãi suất cho vay của họ rất cao, gấp 6 – 10 lần lãi suất ngân hàng. Chính
3
vì vậy, nhu cầu vay phải là đột xuất, không vay được ở đâu thì người dân mới
vay của tổ chức này.
Hệ thống tín dụng trên địa bàn xã phát triển mạnh, người dân trong xã vay
vốn của tín dụng chính thống nhiều khi chưa đúng mục đích tuy nhiên cũng làm
tăng thu nhập, giá trị sản xuất của hộ tăng lên đáng kể. Bên cạnh đó, hệ thống tín
dụng ở xã cũng tồn tại nhiều hạn chế như: chưa đáp ứng đủ nhu cầu vốn của hộ,
lãi suất đối với một số đối tượng nông dân còn khá cao, thời hạn vay của ngân
hàng tương đối ngắn, thủ tục vay vốn còn rườm rà và phức tạp đối với người
nghèo, Chính vì vậy, để tạo điều kiện cho nhân dân trong xã phát triển sản
xuất thì các tổ chức tín dụng cần cải thiện tình hình hoạt động của mình. Tín
dụng chính thống cần đa dạng hóa nguồn vốn huy động hơn nữa, đơn giản hóa
phương thức thủ tục cho vay, cho vay vốn bằng nhiều hình thức như tiền mặt và
hiện vật, củng cố phát triển mạnh mẽ vai trò đoàn thể trong công tác tín dụng xã.
Các tổ chức tín dụng phi chính thống cần được phát triển để đáp ứng một cách
đầy đủ nhu cầu về vốn cho nhân dân, mạnh mẽ nhất là tín dụng anh em bạn bè
với lãi suất thấp hoặc không có lãi. Có đồng vốn trong tay, nông dân cần thường
xuyên trau dồi kiến thức, kinh nghiệm trong sản xuất để việc sử dụng vốn có
hiệu quả.
4
MỤC LỤC
5
DANH MỤC BẢNG
6
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là ngành ra đời sớm cùng với sự ra đời của loài người. Nó là
ngành chính sản xuất ra lương thực, thực phẩm cung cấp cho con người. Cùng
với sự phát triển của xã hội, nông nghiệp cũng có những bước phát triển không

ngừng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội.
Ở các nước đang phát triển, nông thôn là khu vực kinh tế có nhiều ảnh hưởng
đến sự phát triển của toàn xã hội bởi tỷ trọng về thu nhập và tỷ trọng về lao
động, dân cư trong khu vực kinh tế nông thôn rất cao.
Nền kinh tế nước ta với nông nghiệp là chủ yếu với gần 80% dân số ở
nông thôn thì vai trò của nông nghiệp và nông thôn là vô cùng quan trọng.
Trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, nông nghiệp được coi là cơ sở
cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Đặc biệt khi Việt Nam thực hiện chính
sách mở cửa, gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), thương mại nông
nghiệp đã đóng góp lớn vào nguồn thu ngoại tệ, tăng thu nhập cho khu vực nông
nghiệp, cải thiện đời sống của người dân nông thôn. Nhận thức rõ vai trò quan
trọng của nông nghiệp nông thôn, Nghị quyết Đại hội Đảng khóa X chỉ đạo: “
Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và
nâng cao đời sống nhân dân: Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông
nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng. Phải luôn
luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển
nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; tạo
điều kiện từng bước hình thành nền nông nghiệp sạch”. Để thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ chung mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế, nhất là trong bối cảnh nguồn vốn còn hạn chế, thì việc phát triển một thị
trường tài chính nông thôn là rất quan trọng, trong đó hoạt động tín dụng phải
7
giữ vai trò nòng cốt để tạo nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Hiện nay nước ta có khoảng hơn 1000 tổ chức tín dụng và tổ chức phi ngân hàng
đang cung cấp vốn cho nông nghiệp và nông thôn. Các tổ chức tín dụng này đã
đáp ứng được cơ bản nhu cầu về vốn ở vùng nông thôn.
Tuy nhiên hiện nay và trong tương lai nhu cầu vay vốn của khu vực này là
rất lớn vì khu vực này có khoảng 10 triệu hộ sản xuất, trên 10 triệu ha đất nông
lâm ngư nghiệp mặt nước nuôi trồng thủy sản chưa được khai thác. Như vậy các

tổ chức tín dụng cấp vốn cho nông nghiệp nông thôn đóng vai trò hết sức quan
trọng trong việc đổi mới bộ mặt nông thôn nước ta.
Các tổ chức tín dụng cấp vốn cho nông nghiệp nông thôn trên địa bàn
huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đó là NHNN&PTNT, NHCSXH và các tổ chức
QTDND, các tổ chức đoàn thể sau nhiều năm hoạt động đã đáp ứng phần nào về
vốn cho các đơn vị sản xuất trên địa bàn huyện. Các tổ chức này đã góp phần
không nhỏ để tạo ra những kết quả về kinh tế, xã hội của các đơn vị trên địa bàn,
cũng nhờ đó mà chính bản thân các tổ chức này từng bước được cải thiện và
phát triển. Nhằm tìm hiểu, đánh giá về hiệu quả hoạt động tín dụng trên địa bàn,
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá hoạt động tín dụng phục vụ phát
triển nông nghiệp và nông thôn trên địa bàn xã Phồn Xương, huyện Yên Thế,
tỉnh Bắc Giang”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng trên địa
bàn nghiên cứu xã Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đề xuất giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động và hiệu quả của tín dụng.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động tín dụng
trong phát triển kinh tế xã hội nói chung và nông nghiệp nông thôn nói riêng.
8
- Đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động tín dụng đối với sự phát triển
nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn xã Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc
Giang.
- Đề ra một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng
phục vụ nông nghiệp nông thôn xã Phồn Xương trong những năm tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động tín dụng trên địa bàn xã
Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung:
+ Những cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động tín dụng
+ Tình hình hoạt động và kết quả đạt được của các tổ chức tín dụng
+ Kết quả thu được từ phía tiếp nhận tín dụng
Phạm vi không gian: xã Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Phạm vi thời gian: từ 20/01/2012 đến 20/05/2012. Thu thập số liệu, phân
tích, đánh giá các vấn đề nghiên cứu trong 3 năm 2009, 2010, 2011.
9
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm về tín dụng, phát triển nông nghiệp và nông thôn
2.1.1.1 Khái niệm về tín dụng
Tín dụng xuất phát từ thuật ngữ Latinh có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm.
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn với sự tín
nhiệm nhất định.
Tín dụng ra đời rất sớm, nó xuất hiện từ khi xã hội có sự phân công lao
động và trao đổi hàng hoá đã hình thành những sự kiện nợ nần nhau, phát sinh
những quan hệ vay mượn để thanh toán. Tín dụng là một phạm trù kinh tế của
nền kinh tế hàng hoá, nó phản ánh quan hệ kinh tế giữa ngưởi sở hữu với người
sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn
trả vốn và lợi tức khi đến hạn.
Nhìn chung, tín dụng được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau, mỗi
quan điểm đều thể hiện được những điểm cơ bản về tín dụng.
Cùng với sự phát triển thì hình thức tín dụng ngày càng hoạt động rộng khắp và
phổ biến hơn. Như vậy theo nghĩa hẹp, tín dụng là một quan hệ kinh tế hình
thành trong quá trình chuyển hoá giá trị giữa hình thái hiện vật và hình thái tiền
tệ từ tổ chức này hay người này sang tổ chức khác hay người khác theo nguyên
tắc hoàn trả vốn và lãi trong một thời gian nhất định. Nói cách khác tín dụng là
sự chuyển quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật

hay tiền tệ trong một thời gian nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng và
khi đến hạn người sử dụng phải trả cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn.
Khoản giá trị được dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng.
Theo nghĩa rộng, quan hệ tín dụng gồm hai mặt: huy động vốn và tiến hành cho
vay. Tín dụng được biểu hiện là tổng số tiền được gửi vào các tổ chức tín dụng
là quyền kiểm soát số tiền đó đã bị chuyển đổi cho đối tượng khác có quyền
10
kiểm soát số tiền gửi. Một tổ chức tín dụng có hai bộ phận rõ rệt: Một bên là
người vay, một bên là người cho vay. Nó cũng gồm cả giá của sự chuyển số tiền
đó, chính lãi suất giữa người cho vay và người vay. Người cho vay trong kinh
doanh tín dụng là một cá nhân hay tổ chức, người vay trong tín dụng cũng có thể
là cá nhân hoặc doanh nghiệp có nhu cầu về tiền tệ để phát triển sản xuất hay
tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hoặc đầu tư cho tương lai.
Nhìn chung quan niệm này đã phản ánh một cách cụ thể về quan hệ tín dụng,
thông qua các đối tượng tín dụng, các tổ chức tín dụng giúp cho nhận thức trong
quan hệ tín dụng, do vậy quan hệ này được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực
kinh tế khi có nhu cầu vay mượn tín dụng.
2.1.1.2 Bản chất của tín dụng
Qua định nghĩa về tín dụng, tiền tệ hoặc hàng hoá trong quan hệ tín dụng
không phải là bị bán ra mà là cho mượn. Người đi vay và người cho vaycó mối
liên hệ với nhau thông qua sự vận động giá trị của vốn tín dụng. Bản chất của
quá trình vận động này được thể hiện như sau:
+ Thứ nhất là phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay. Tức là vốn
được chuyển từ người cho vay sang người đi vay.
+ Thứ hai là người đi vay sử dụng vốn tín dụng để thoả mãn mục đích
nhất định của mình. Người đi vay chỉ có quyền sử dụng vốn tín dụng mà không
có quyền sở hữu vốn tín dụng.
+ Thứ ba là người đi vay hoàn trả vốn tín dụng và lãi về vay vốn tín dụng
cho người cho vay sau một thời gian do hai bên thoả thuận. Đây là giai đoạn kết
thúc một vòng tuần hoàn của vốn tín dụng. Đến thời hạn do hai bên thoả thuận,

người vay trả lãi cho người cho vay một giá trị lớn hơn vốn vay ban đầu, phần
tăng thêm này được gọi là lãi.
Như vậy, sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động
của tín dụng. Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt phạm trù tín dụng với phạm trù
kinh tế khác.
11
2.1.1.3 Khái niệm về phát triển NN&NT
Phát triển NN&NT là sự thay đổi về đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn
theo hướng tích cực, được biểu hiện trong sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu
nhập, giảm bớt tình trạng đói nghèo cùng với sự cải thiện về văn hoá, y tế, giáo
dục của con người ở nông thôn. Sự phát triển NN&NT chính là sự tăng trưởng
về mặt kinh tế và sự phát triển tích cực xã hội khu vực nông thôn.
2.1.2 Vai trò của tín dụng đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn
2.1.2.1 Vai trò của tín dụng đối với tình hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Chính phủ rất
quan tâm, chú trọng đến phát triển kinh tế nông thôn đặc biệt chương trình CNH
- HĐH nông nghiệp nông thôn đã trở thành chiến lược trong chính sách kinh tế
vĩ mô của Nhà nước.
Thực hiện chương trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn cần phải có
vốn đầu tư rất lớn, thời gian thu hồi vốn chậm. Bởi vì đầu tư vào cơ sở ở nông
thôn là việc làm tốn kém, đóng góp của người dân và nguồn để lại từ thuế nông
nghiệp cho địa phương để tái sản xuất không đáp ứng được. Để giải quyết vấn
đề này đòi hỏi sự tăng đầu tư của Chính phủ và hỗ trợ tín dụng cho nông nghiệp
nông thôn. Tín dụng đóng vai trò như là yếu tố đầu vào cho quá trình CNH -
HĐH nông nghiệp nông thôn.
Vốn tín dụng góp phần quan trọng trong việc thay đổi, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp. Vốn tín dụng đầu tư hợp lý vào lĩnh vực nông nghiệp theo
hướng phát huy thế mạnh của từng vùng, những nông sản là mũi nhọn, có hiệu
quả kinh tế cao dẫn đến cơ cấu ngành nông nghiệp thay đổi. Cơ cấu ngành nông

nghiệp thay đổi hợp lý là cơ sở cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
hợp lý.
12
2.1.2.2 Vai trò của tín dụng đối với kinh tế hộ
Dựa vào tín dụng người nông dân có thể đầu tư thêm các yếu tố đầu vào
như: thuê thêm đất canh tác, mua giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu,… Tín
dụng tạo điều kiện cho nông dân tập trung sản xuất những nông sản có giá trị
kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu thị trường và hình thành những vùng chuyên canh
mang tính hàng hoá.
Thu nhập của hộ nông dân phụ thuộc vào hai yếu tố là giá trị sản xuất và
chi phí trung gian. Nhưng cả hai yếu tố này lại phụ thuộc vào yếu tố giá cả và
lượng đầu vào, lượng đầu ra. Sự bắt buộc phải trả lãi suất tín dụng đã làm cho
người nông dân buộc phải tính toán danh mục đầu tư để có thể hoàn trả vốn và
lãi suất đúng thời hạn. Tín dụng giúp gia tăng yếu tố đầu vào để tăng khối lượng
sản phẩm ở đầu ra giúp thay đổi thu nhập cho hộ gia đình.
Tín dụng là giải pháp quan trọng giúp cho người nghèo thoát nghèo. Nó
giúp cho người nghèo cũng có thể mua được các yếu tố sản xuất để nâng cao thu
nhập cải thiện cuộc sống. Đầu tư tín dụng ưu đãi cho người nghèo ngoài việc
mang lại hiệu quả kinh tế còn mang lại hiệu quả xã hội.
2.1.2.3 Vai trò của TD đối với sự phát triển của văn hoá, giáo dục, y tế
Để phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng nguồn lao động nông
thôn phục vụ cho việc CNH - HĐH nông thôn thì phụ thuộc rất nhiều vào việc
đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hoá. Kết quả đầu tư này còn chịu ảnh hưởng bởi
các nguồn vốn đầu tư cho việc xây dựng trường học, trạm y tế, nhà văn hoá,…
Những cơ sở của y tế, giáo dục, văn hoá tạo điều kiện cho người nông dân được
học hành nâng cao trình độ dân trí dần có khả năng tiếp cận với khoa học kỹ
thuật tiên tiến.
2.1.2.4 Vai trò của TD đối với quản lý rủi ro
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và những
biến động bất thường của nó cùng với biến động giá cả nông sản, chi phí sản

13
xuất và sự không ổn định về nguồn lực đã tạo nên sự rủi ro trong sản xuất nông
nghiệp.
Có nhiều biện pháp đã được sử dụng để quản lý rủi ro như: bố trí sản xuất
đa canh, đa dạng hoá cây trồng và các loại hình kinh doanh,… và hình thức sử
dụng tín dụng.
Nhờ có tín dụng, người nông dân có điều kiện đầu tư sản xuất như: mua
giống có chất lượng và năng suất cao, trang thiết bị phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp cũng như các trang thiết bị để hạn chế sự tác động có hại của thời tiết.
2.1.3 Các hình thức tín dụng trong NN&NT
Hệ thống tín dụng nông thôn từ khi ra đời đã phát triển khá nhanh và được
chia làm nhiều hình thức theo các tiêu thức nhất định như: thời gian, đối tượng
cho vay, mục đích sử dụng vốn, hình thức biểu hiện vốn vay và chủ thể của các
hoạt động tín dụng.
2.1.3.1 Theo thời hạn cho vay
+ Tín dụng ngắn hạn (3 – 9 tháng): là những khoản tín dụng có thời hạn trong
vòng một năm như tín dụng theo tháng, theo vụ, thường được sử dụng để cho
vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và phục vụ nhu cầu sinh hoạt của
cá nhân.
+ Tín dụng trung hạn (1 – 3 năm): thường là nhưng khoản vay để nuôi đại gia
súc, trồng cây lưu gốc, đổi mới công nghệ sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất…
+ Tín dụng dài hạn (trên 3 năm): loại tín dụng này được sử dụng để cung cấp
vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Tín dụng
dài hạn trong nông nghiệp là để trồng và chăm sóc cây dài ngày, cây lâm nghiệp,
chăn nuôi gia súc cơ bản, mua sắm tàu thuyền, máy móc thiết bị sản xuất, chế
biến nông – lâm – thuỷ hải sản, mở rộng cơ sở sản xuất,…
14
2.1.3.2 Theo đặc điểm của vốn
+ Tín dụng vốn lưu động: là những khoản vay để mua các yếu tố đầu vào cho

sản xuất, trang trải chi phí sản xuất, đổi mới công nghệ sản xuất, nuôi đại gia
súc,…Tín dụng lưu động thường được sử dụng để cho vay bù đắp mức vốn lưu
động thiếu hụt tạm thời. Loại tín dụng này thường được chia ra các loại: cho vay
dự trữ hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất và cho vay để thanh toán các khoản nợ
dưới hình thức chiết khấu kỳ phiếu.
+ Tín dụng vốn cố định: là những khoản vay để mua máy móc, thiết bị, trồng
cây lâu năm, nuôi gia súc cơ bản,… Đây là những khoản vay nhằm tạo ra tài sản
cố định trong các cơ sở kinh doanh nông nghiệp. Thời hạn cho vay là trung hạn
và dài hạn.
Đây là cách phân loại dễ hiểu nhất vì mỗi khoản vay đều cho một loại mục đích
sử dụng, có tác dụng phân tích lợi nhuận của những loại tín dụng hoặc từng món
nợ cũng như cung cấp các thông tin khác trong đánh giá tài chính.
2.1.3.3 Theo mục đích sử dụng vốn
+ Tín dụng sản xuất, lưu thông hàng hoá: là những khoản vay để phục vụ
cho sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp hay trong lưu thông hàng hoá
như buôn bán dịch vụ thương mại.
+ Tín dụng tiêu dung: là những khoản vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
như: mua sắm nhà cửa, xe cộ, các hàng hoá bền chắc và cả những nhu cầu hàng
ngày. Tín dụng tiêu dùng có thể được cấp phát dưới hình thức bằng tiền hoặc
bán chịu hàng hoá.
2.1.3.4 Theo hình thức biểu hiện vốn vay
+ Tín dụng bằng tiền: là những khoản vay bằng tiền
+ Tín dụng bằng hiện vật: là những khoản vay bằng hiện vật như: vật tư
phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cho bảo vệ thực vật,…
Phân loại theo hình thức này đa dạng hơn, thuận tiện hơn theo từng mục
đích sử dụng vốn vay, phù hợp hơn với hộ nông dân.
15
2.1.3.5 Theo chủ thể trong quan hệ tín dụng
+ Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp
được biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá.

Trong nền kinh tế thị trường, hiện tượng thừa thiếu vốn của các nhà doanh
nghiệp thường xuyên xảy ra, vì vậy hoạt động của tín dụng thương mại một mặt
đáp ứng nhu cầu vốn của các nhà doanh nghiệp tạm thời thiếu vốn, đồng thời
giúp cho các doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá của mình. Mặt khác hình thức
này cũng giúp cho các nhà doanh nghiệp chủ động khai thác được nguồn vốn
nhằm đáp ứng kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Tín dụng ngân hàng: là loại tín dụng giữa nhà nước với các tổ chức tín
dụng khác với các nhà doanh nghiệp và các nhân.
Trong nền kinh tế hiện nay, ngân hàng đóng vai trò là một tổ chức trung
gian, trong quan hệ tín dụng nó vừa là người cho vay đồng thời là người đi vay.
Với tư cách là người đi vay, ngân hàng nhận tiền gửi của các nhà doanh nghiệp,
cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã
hội. Với tư cách là người cho vay, nó cung cấp tín dụng cho các nhà doanh
nghiệp và cá nhân.
+ Tín dụng Nhà nước: là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tầng lớp
dân cư hoặc với các tổ chức kinh tế - xã hội trong đó Nhà nước là người đi vay.
Chủ thể trong quan hệ tín dụng Nhà nước bao gồm: Người đi vay là Nhà
nước Trung ương và Nhà nước địa phương, người cho vay là dân chúng, các tổ
chức kinh tế, ngân hàng và nước ngoài. Mục đích đi vay của tín dụng nhà nước
là bù đắp khoản bội chi ngân sách. Tín dụng Nhà nước bao gồm: tín dụng ngắn
hạn và tín dụng dài hạn.
+ Tín dụng tư nhân, cá nhân: là loại quan hệ tín dụng giữa cá nhân và tư
nhân cho vay nặng lãi hoặc giữa cá nhân với nhau.
16
+ Tín dụng thuê mua: là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp với các
tổ chức tín dụng thuê mua, được áp dụng với các khoản đầu tư vào tài sản cố
định.
2.1.3.6 Theo phương diện tổ chức
+ Tín dụng chính thống: là hình thức huy động vốn và cho vay vốn
thông qua các tổ chức tài chính tín dụng chính thống có đăng ký vào hoạt động

công khai theo pháp luật, hoặc chịu sự quản lý và giám sát của chính quyền nhà
nước các cấp. Tín dụng chính thống giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tín dụng
bao gồm hệ thống ngân hàng, kho bạc nhà nước, hệ thống quỹ tín dụng nhân
dân, các công ty tài chính, các tố chức đoàn thể xã hội, các tố chức quốc tế, các
tố chức phi chính phủ,…
*Ngân hàng NN&PTNT: được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ bộ
phận tín dụng nông nghiệp của NHNN, thực sự hoạt động vào tháng 12/1990,
sau khi luật ngân hàng có hiệu lực từ ngày 1/10/1990. NHNN&PTNT tiếp quản
mạng lưới chi nhánh của NHNN ở nông thôn. Tính đến nay NHNN&PTNT có
mạng lưới hoạt động hơn 2300 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc.
Ngân hàng áp dụng hình thức cho vay theo nhóm cùng chịu trách nhiệm
chung, mỗi nhóm có từ 10 đến 20 người. Các thành viên trong nhóm thoả thuận
cùng chịu trách nhiệm trả nợ. Cán bộ ngân hàng giữ liên hệ mật thiết với trưởng
nhóm. Tuy nhiên, không có đơn xin vay chung cả nhóm, mà mỗi đơn xin vay sẽ
được giải quyết cá nhân. Tương tự, những người có gửi tiền tiết kiệm cũng có sổ
tiết kiệm riêng. Ngoài ra, ngân hàng còn phối hợp với những tổ chức quần chúng
để cung cấp các dịch vụ tài chính cho hội viên của những tổ chức quần chúng
đó. Những tố chức quần chúng như: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội
Cựu chiến binh đứng ra lập những nhóm được bảo lãnh để vay tiền và có bảo
đảm chung là sẽ hoàn trả nợ vay.
Các hộ nông dân muốn vay cũng phải có tài sản thế chất (và thường phải
có bảo lãnh của chính quyền xã), và chỉ được vay dưới 70% giá trị tài sản thế
17
chấp. Tuy ngân hàng có chức năng cung cấp tín dụng với mọi kỳ hạn, các khoản
vay thường là ngắn hạn và trung hạn, và 75% các khoản vay là dưới 12 tháng.
Lãi vay thường là 1%/tháng (hoặc 1,5%/tháng đối với vay dài hạn).
*Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH): là một tổ chức phi lợi nhuận
được thành lập vào tháng 8/1995 và bắt đầu hoạt động vào ngày 1/1/1996. Mục
tiêu chính của ngân hàng là phục vụ chương trình xoá đói giảm nghèo. Ngân
hàng không thiết lập hệ thống của riêng mình trên toàn quốc, mà sử dụng mạng

lưới chi nhánh và cán bộ của Ngân hàng NN&PTNT, không huy động tiết kiệm
mà chủ yêu dựa vào chính phủ và các ngân hàng quốc doanh để có nguồn vốn
cho vay.
Ngân hàng tham gia giảm nghèo đói bằng cách cấp tín dụng cho những ai
không đủ điều kiện vay từ Ngân hàng NN&PTNT do không có tài sản thế chấp.
Do vậy, chỉ những hộ gia đình nào là thành viên của nhóm chịu trách nhiệm
chung (cũng do các tổ chức quần chúng hỗ trợ hình thành) mới được vay. Các
hộ muốn vay cũng phải nằm trong diện nghèo theo tiêu chuẩn Việt Nam. Kỳ hạn
vay tối đa là 36 tháng, và mức vay tối đa là 2,5 triệu đồng. lãi vay là lãi suất ưu
đãi do NHNN ấn định ở mức 0,7%/tháng. Trong đó, tổ chức xã hội ở địa
phương giữ 0,1% cho chi phí giám sát; Ngân hàng NN&PTNT giữ 0,25% cho
chi phí hành chính; và Ngân hàng chính sách xã hội giữ 0,35% để trang trải chi
phí vốn. Tính đến cuối năm 1999, ngân hàng đã cấp tín dụng cho hơn 2,3 triệu
hộ nghèo với tổng dư nợ 3.879 tỉ đồng.
*Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND): bắt đầu từ một chương trình thí điểm
chịu sự giám sát của NHNN vào tháng 7/1993. Khi đó, một trong những mục
tiêu quan trọng của NHNN là khôi phục lòng tin của người dân đối với hệ thống
tín dụng nông thôn sau sự sụp đổ của hàng loạt hợp tác xã tín dụng.
QTDND hoạt động theo luật hợp tác xã. QTDND cho xã viên vay, nhận
tiền gửi của cả xã viên lẫn những người không phải xã viên. Tuy các khoản vay
nhỏ không càn thế chấp, các khoản vay lớn vẫn cần thế chấp bằng giấy chứng
18
nhận quyền sử dụng đất hay tài sản khác. Kỳ hạn cho vay thường dưới 12 tháng.
Lãi suất vay (khoảng 1,5%/tháng) và lãi suất tiền gửi (0,9%/tháng) do NHNN ấn
định, và thường cao hơn lãi suất của Ngân hàng NN&PTNT và NHPVNN.
Hệ thống QTDND có ba cấp: quỹ tín dụng địa phương, quỹ tín dụng
vùng, và quỹ tín dụng trung ương. Tính đến cuối năm 1999, có 981 QTDND ở
các cấp xã, vùng và trung ương, với khoảng 630.000 xã viên.
*Ngân hàng cổ phần nông thôn: hình thành từ việc sắp xếp lại hoặc sáp
nhập các hợp tác xã tín dụng. Các ngân hàng này tập trung cho vay đối với

những nông hộ và người buôn bán trong dịa phương phục vụ. Mức cho vay
thường thấp, từ 1 đến 3 triệu, và cho các mục đích ngắn hạn như mua hạt giống,
phân bón và thuốc trừ sâu. Lãi vay thường cao hơn 0,5% - 1% so với lãi suất của
Ngân hàng NN&PTNT. Tất cả các ngân hàng này đều yêu cầu phải có thế chấp
mới được vay. Những ngân hàng này phải chịu mức trần lãi suất tiền gửi do
NHNN ấn định, do vậy còn hạn chế về khả năng huy động tiết kiệm.
+ Tín dụng phi chính thống:
Vốn tín dụng được vay từ các tổ chức hoạt động không bị chi phối bởi
Ngân hàng nhà nước là các tổ chức đoàn thể như: Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên,
Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, Các tổ chức này không phải là chủ thế
cung cấp vốn tín dụng mà chỉ là lực lượng trợ giúp chính phủ, các tổ chức phi
chính phủ giải ngân cho các chương trình dự án chỉ định nhằm đẩy mạnh phát
triển kinh tế, xã hội ở khu vực nông thôn.
+ Tín dụng không chính thống:
Hình thức này tồn tại ở hầu hết các thôn, xã trong nông thôn Việt Nam và
đã đáp ứng được một phần quan trọng trong nhu cầu vốn của dân cư nông thôn.
Tín dụng không chính thống bao gồm các hình thức:
- Tín dụng tư nhân: Vốn tín dụng được cung cấp bởi một số người giàu có
trong nông thôn cho những người có nhu cầu vốn đột xuất hay ngắn hạn để thực
19
hiện hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hộ nghèo vay cho nhu cầu sinh hoạt
hàng ngày lúc giáp hạt bằng nguồn vốn tự có là chủ yếu.
Trước đây ở nhiều nơi tín dụng tư nhân tồn tại dưới hình thức cho vay nặng lãi
đã làm cho kinh tế hộ vay vốn không những không phát triển mà còn ngày càng
rơi vào nghèo túng hơn. Hiện nay với sự phát triển của hệ thống tín dụng nông
thôn làm cho người nông dân có sơ hội tiếp cận với vốn vay tín dụng nên tình
trạng cho vay nặng lãi đã giảm đáng kể. Tuy nhiên tín dụng tư nhân với việc cho
vay nặng lãi vẫn tồn tại nhất là ở vùng sâu, vùng xa nơi mà thị trường tín dụng
chưa phát triển.
- Tín dụng thương mại: Là hình thức tín dụng mua bán chịu vật tư, hàng

hóa giữa người buôn bán, cung ứng dịch vụ trong nông thôn với các hộ gia đình.
Trong quan hệ tín dụng này vốn vay là hiện vật, vốn trả bằng tiền, thủ tục vay
đơn giản, thời gian chịu nợ thường theo chu kỳ sản xuất kinh doanh, lãi suất
được tính vào giá cả vật tư, hàng hóa khi cho vay hoặc không tính lãi tùy thuộc
vào mối quan hệ giữa hai bên.
- Tín dụng hộ hàng, làng xóm, bạn bè: Là hình thức tín dụng mang tính
cất tương trợ, trợ giúp lẫn nhau không lấy lãi suất, khi gặp khó khăn, có việc đột
xuất giữa những người có quan hệ họ hàng, anh em, làng xóm, bạn bè. Trong
nông thôn hình thức tín dụng này khá phổ biến và đa dạng vì đây không chỉ là
hình thức tín dụng đơn thuần mà còn thể hiện mối quan hệ huyết thống, tình
nghĩa làng xóm.
- Hình thức hụi, họ, phường: Là hình thức góp vốn theo mức quy định của
một nhóm người với nhau để tạo ra một lượng vốn lớn cho một người trong
nhóm sử dụng trong một khỏang thời gian nhất định. Phương thức này mang
tính tương trợ là chính, nó là cơ sở tốt cho việc thành lập nhóm tương trợ trong
sản xuất kinh doanh.
Tóm lại: hiện nay trên thị trường tín dụng nông thôn có nhiều hình thức
vốn vay tín dụng. Sự đa dạng và phong phú này đã tạo dự cạnh tranh sôi động
20
trên thị trường, lượng vốn tín dụng được tăng cường và hộ nông dân có nhiều cơ
hội được vay vốn. Hình thức tín dụng nào tạo điều kiện thuận lợi cho người dân
vay vốn sẽ có ưu thế cạnh tranh trên thị trường hơn.
2.1.4 Hiệu quả hoạt động tín dụng
2.1.4.1 Khái niệm hiệu quả
Hiệu quả là đại lượng để đánh giá xem xét kết quả hữu ích được tạo ra thế
nào từ nguồn chi phí bao nhiêu, trong điều kiện cụ thể nào, có thể nhận được
hay không.
2.1.4.2 Các phương pháp đánh giá hiệu quả
* Hiệu quả kinh tế: Là một hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu đề cập
đến lợi ích kinh tế sẽ thu được trong hoạt động kinh tế. Nâng cao chất lượng

hoạt động kinh tế là tăng cường tận dụng các nguồn lực sẵn có trong hoạt động
kinh tế. Đây là đòi hỏi khách quan của nền sản xuất xã hội do nhu cầu vật chất
của đời sống con người ngày càng tăng.
*Hiệu quả xã hội: Là kết quả của các hoạt động kinh tế xét trên khía cạnh
công ích, phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội. Cùng với hiệu quả kinh tế, hoạt
động sản xuất còn tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế, xã hội
như: cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo việc
làm, tăng thu nhập, giảm tỷ lệ thất nghiệp,
*Hiệu quả môi trường: Đó là tác động đến môi trừờng tự nhiên của hoạt
động sản xuất kinh doanh. Hiện nay, hiệu quả môi trường đang được các nhà
quản lý sử dụng làm công cụ đánh giá. Một hoạt động sản xuất được coi là hiệu
quả thì hoạt động đó không được làm ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái.
Nếu chỉ quan tâm đến hiệu quả kinh tế, mà không quan tâm đến hiệu quả môi
trường, đôi khi dẫn đến mất mát của xã hội lớn hơn nhiều so với lợi ích kinh tế
đem lại. Hiệu quả môi trường được đánh giá bằng các chỉ tiêu dự tính như: sự đa
dạng sinh học, sự cân bằng sinh thái, độ sói mòn đất,
21
2.1.4.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
Bàn về vấn đề hiệu quả kinh tế, các nhà kinh tế ở nhiều nước, nhiều lĩnh
vực có quan điểm khác nhau, có thể tóm tắt thành các quan điểm như sau:
• Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả
đạt được với chi phí bỏ ra hoặc sử dụng các nguồn lực để đạt kết quả đó.
H = Q/C
H: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả sản xuất
C: Chi phí bỏ ra
Quan điểm này phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực, giúp chúng ta so
sánh được hiệu quả giữa các quy mô khác nhau. Tuy nhiên, quan điểm này
không phản ánh được quy mô của hiệu quả, cái mà người sản xuất quan tâm.
• Quan điểm thứ hai: Hiệu quả kinh tế được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt

được và lượng chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó.
H = Q – C
Quan điểm này phản ánh được quy mô của hiệu quả kinh tế nhưng lại không
phản ánh được chi phí bỏ ra để có kết quả đó. Vì thế không xác địng được mức
độ ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào.
• Quan điểm thứ ba: Xem xét hiệu quả kinh tế trong sự biến động của chi phí
và kết quả của sản xuất kinh doanh.
H = ∆K / ∆C
∆K: phần thay đổi kết quả
∆C: phần thay đổi chi phí
Kinh tế vi mô chú ý đến quan hệ tỷ lệ giữa mức độ tăng trưởng kết quả sản xuất
với mức độ tăng lên của chi phí biến đổi. Từ đó chỉ ra điểm tối ưu để đạt lợi
nhuận cao nhất.
22
Kinh tế vĩ mô chú ý quan tâm đến mức độ tăng lên của kết quả sản xuất xã hội
và cho phí xã hội tăng lên.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tín dụng nông thôn ở một số nước trên thế giới
Trong nhiều thập niên vừa qua, chiến lược phát triển của các nước đang
phát triển dành nhiều ưu tiên cho các chương trình xóa đói giảm nghèo, đặc biệt
là ở khu vực nông thôn. Một trong những nội dung chính là cung cấp dịch vụ tài
chính có chi phí phù hợp với khả năng của người dân nông thôn để phát triển
sản xuất, tăng thu nhập, và nhờ đó vượt ra khỏi vòng nghèo đói.
Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng giúp người nghèo vượt ra khỏi đói
nghèo bằng cách nuôi sống các hoạt động tạo thu nhập. Nhưng vốn không chỉ là
yếu tố đầu vào thông thường như hạt giống hay phân bón. Vốn giúp người
nghèo nắm quyền kiểm soát các tài sản khác, giúp cho tiếng nói của họ có trọng
lượng hơn trong các giao dịch kinh tế cũng như quan hệ xã hội.
Đặc trưng của những hệ thống tài chính ở các nước đang phát triển là tình
trạng lưỡng thể tài chính tức là khu vực tài chính chính thức và khu vực tài

chính không chính thức cùng tồn tại và hoạt động song song với nhau. Khu vực
tài chính không chính thức ước tính chiếm từ 30% đến 80% nguồn cung tín
dụng nông thôn ở các nước đang phát triển. Ngoài ra, ước tính chưa đến 5%
nông dân ở châu Phi, 15% ở châu Mỹ La Tinh, và 25% ở châu Á tiếp cận được
với tín dụng chính thức.
*Ngân hàng Grameen ở Bangladesh
Ngân hàng Grameen (GB) là định chế tài chính nổi tiếng nhất thế giới về
tín dụng nông thôn. GB có mạng lưới chi nhánh rộng khắp đến tận cấp cơ sở,
mỗi chi nhánh phục vụ từ 15 đến 22 làng. Đối tượng phục vụ là các gia đình có
chưa đến 0,2 ha đất. Để vay được tín dụng, người trong những gia đình đủ tiêu
chuẩn sẽ lập nhóm gồm năm người có hoàn cảnh kinh tế và xã hội gần giống
nhau. Thông thường, mỗi gia đình chỉ được phép có một người tham gia một
23
nhóm. Mỗi nhóm bầu một trưởng nhóm và một thư ký để chủ trì cuộc họp hàng
tuần. Sau khi nhóm được thành lập, một nhân viên ngân hàng sẽ đến thăm gia
đình và kiểm tra tư cách của mỗi thành viên để lấy thông tin về tài sản, thu nhập,

Khoảng năm hoặc sáu nhóm sẽ lập nên một trung tâm trong cùng địa
phương. Từ các trưởng nhóm sẽ bầu ra Trưởng trung tâm, là người chịu trách
nhiệm giúp các thành viên tìm hiểu về kỷ cương của ngân hàng, về chủ trì cuộc
họp hàng tuần. Tất cả các thành viên sẽ được nhân viên ngân hàng giải thích quy
định của GB, quyền và nghĩa vụ của thành viên. Sau khi kết thúc khóa học và
nếu đạt yêu cầu, mỗi người được cấp giấy chứng nhận là thành viên chính thức.
Trước khi đủ tiêu chuẩn vay tiền, mọi thành viên phải chứng tỏ tính thành thực
và tính đoàn kết bằng cách tham dự tất cả các buổi họp nhóm trong ba tuần kế
tiếp. Trong thời gian này, nhân viên ngân hàng tiếp tục bàn về quy định của GB,
và giải đáp thắc mắc. Các thành viên mù chữ cũng được dạy cách ký tên. Các
thành viên không cần phải đến trụ sở ngân hàng để giao dịch. Nhân viên ngân
hàng đến với họ tại những buổi họp hàng tuần để cấp tiền vay, thu tiền trả nợ, và
vào sổ sách ngay tại trung tâm. Có cả các thành viên nữ để làm việc với khách

hàng nữ.
Tại mỗi cuộc họp hàng tuần, mỗi thành viên đóng góp một taka (Đơn vị
tiền tệ của Bangladesh) vào quỹ nhóm. Ban đầu chỉ có hai thành viên được vay
tiền. Them hai người nữa được vay nếu hai người vay đầu tiên trả nợ đúng hạn
trong hai tháng đầu tiên. Người cuối cùng (thường là trưởng nhóm) phải đợi
thêm hai tháng nữa cho đến khi những người vay tiền trước mình chứng tỏ là
đáng tin cậy.
Mỗi khoản vay phải được trả dần hàng tuần trong vòng một năm. Nếu một
người vỡ nợ, những người khác trong nhóm sẽ không được vay. Do đó, áp lực
của các thành viên trong nhóm là một yếu tố quan trọng bảo đảm mỗi thành viên
sẽ trả nợ đầy đủ. Ngoài việc đóng góp một taka mỗi tuần, mỗi thành viên khi
24
vay được tiền phải đóng góp 5% tiền vay vào quỹ nhóm. Các thành viên có thể
vay mượn từ quỹ này với bất cứ mục đích gì, kể cả trả nợ ngân hàng hay tiêu
dùng. Nhờ đó, họ có thể hỗ trợ nhau trả nợ ngay cả lúc gặp hoàn cảnh khó khăn,
và tránh dùng khoản vay ban đầu để tiêu dùng. Tiền vay từ quỹ nhóm cũng phải
được trả hàng tuần. Mỗi nhóm còn lập quỹ khẩn cấp với mức đóng góp bằng 4%
tiền vay ngân hàng. Quỹ này chỉ dùng để giúp thành viên trả nợ trong trường
hợp cấp bách như có tử vong, bị mất cắp hay thiên tai. Do vậy, quỹ này giống
như một khoản tiền bảo hiểm.
Bằng các dịch vụ tiết kiệm, tín dụng linh hoạt, ngân hàng Grameen đã rất
thành công trong việc tiếp cận được tầng lớp nghèo nhất (đặc biệt là phụ nữ
nông thôn không có tài sản), đạt tỷ lệ thu hồi nợ gần 100% và nâng cao vị thế
kinh tế xã hội của khách hàng. Grameen đặc biệt nhấn mạnh những khía cạnh xã
hội và con người trong quá trình phát triển của người nghèo chứ không chỉ dừng
lại ở chương trình tiết kiệm, tín dụng thông thường. Nhiều nghiên cứu đánh giá
rằng Grameen cải thiện tình đoàn kết giữa các thành viên, nâng cao ý thức của
họ, khuyến khích họ lập những trường học quy mô nhỏ và tổ chức các sự kiện
thể thao cho con cái họ, loại bỏ tập tục của hồi môn, phòng chống những bệnh
thường gặp như tiêu chảy và chứng quáng gà ở trẻ em, và chống những bất công

trong xã hội. Phần lớn những cam kết này được nêu trong “16 quyết định” mà
thành viên nào cũng thuộc làu, thể hiện quyết tâm xây dựng một cuộc sống đàng
hoàng và một xã hội tươi đẹp hơn.
*Hệ thống ngân hàng làng xã của Bank Rakyat Indonesia
Năm 1984, ngân hàng quốc doanh chuyên về phát triển nông nghiệp Bank
Rakyat Indonesia (BRI) thành lập hệ thống Unit Desa (UD), tức là ngân hàng
làng xã. Tuy trực thuộc BRI, UD là đơn vị hạch toán độc lập có lãi và toàn
quyền quyết định chủ trương hoạt động kinh doanh.
Hệ thống UD dựa vào mạng lưới chân rết các đại lý tại các làng xã, hiểu
biết rõ về địa phương và nắm thông tin về các đối tượng đi vay. Các đại lý này
25

×