Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

SKKN Áp dụng một số thủ thuật để dạy một bài bài đọc hiểu cho học sinh một cách hiệu quả

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (152.31 KB, 11 trang )

A: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lời mở đầu
Mục đích cuối cùng của việc dạy đọc hiểu Tiếng Anh là sau mỗi khoá học học
sinh có đủ tự tin để có thể đọc được những bài đọc liên quan đến những chủ đề quen
thuộc để phục vụ sự hiểu biết của mình, hạn chế việc tra từ điển xuống đến mức thấp
nhất. Mục đích dạy đọc hiểu này hoàn toàn phù hợp với đường hướng lấy người học
làm trung tâm và dạy ngoại ngữ theo phương pháp giao tiếp - phương pháp đã không
còn xa lạ đối với hầu hết giáo viên dạy ngoại ngữ mặc dù trong thực tế việc ứng dụng
phương pháp này không phải lúc nào và ở đâu cũng dễ dàng và đạt hiệu quả như
mong muốn.
Trong thực tế, việc dạy đọc hiểu nhằm giúp người học phát triển kỹ năng đọc và hiểu
tài liệu, sách báo bằng Tiếng Anh với những nội dung phù hợp với trình độ có thể
giúp họ thu nhận thông tin, nâng cao trình độ Tiếng Anh và có hiểu biết thêm về xã
hội. Khi đọc tiếng mẹ đẻ người học không gặp khó khăn trong việc hiểu nội dung bài
nhưng khi học Tiếng Anh, họ sẽ gặp phải những cấu trúc ngữ pháp và từ mới. Mặt
khác đọc Tiếng Anh còn khó hơn nhiều do sự khác nhau giữa chữ viết và cách phát
âm. Chúng ta đều ý thức một cách rõ ràng rằng đọc thầm mới là mục đích cuối cùng
của việc dạy đọc, do đó giáo viên cần phải giúp người học tự đọc để hiểu nội dung bài
còn đọc thành tiếng chỉ giúp cho việc luyện và kiểm tra phát âm. Đọc hiểu là người
học phải rèn luyện khả năng đọc một cách bao quát cả câu thậm chí nhiều câu, nhiều
đoạn. Cần phải làm cho người học tin rằng đọc chậm từng từ một không phải là đọc
có hiệu quả và việc tập trung đọc từng từ một các em làm chậm lại sự truyền thông
tin từ trí nhớ ngắn hạn sang trí nhớ dài hạn, mà thói quen này dẫn đến việc học sinh
đọc không có hiệu quả, các em không phát triển được tư duy sáng tạo, sự chủ động
trong quá trình rèn luyện và phát triển các kỹ năng ngôn ngữ nói chung, kỹ năng đọc
hiểu nói riêng.
Qua thực tế làm công tác giảng dạy Tiếng Anh nhiều năm, bản thân đã trực tiếp
tham dự các chuyên đề đồng thời dự giờ trao đổi kinh nghiệm giảng dạy với nhiều
giáo viên ở các trung tâm khác tôi thấy các đồng chí đều đã thực hiện đổi mới phương
pháp giảng dạy bộ môn Tiếng Anh nói chung và kỹ năng đọc hiểu nói
riêng. Tuy nhiên, cũng qua các cuộc trao đổi đó, nhiều đồng chí đều có chung một


nhận định là việc khai thác các hoạt động sau khi đọc đôi khi thực hiện chưa thật
hiệu quả do hạn chế về thời gian, do học sinh không tỏ ra hứng thú với các hoạt động
ở giai đoạn này hoặc vì bài đọc dài và có nhiều từ mới, học sinh chưa thể hiện sự chủ
động, sáng tạo. Nhiều đồng chí giáo viên băn khoăn không biết nên xử lý thế nào cho
hiệu quả khi gặp phải những giờ dạy mà mình chưa thực hiện được hết ý đồ mình
muốn khai thác để củng cố và phát triển kỹ năng đọc hiểu cho học sinh. Xuất phát từ
thực tế này tôi đã mạnh dạn đóng góp kinh nghiệm giảng dạy của bản thân qua việc
thực hiện kinh nghiệm "Áp dụng một số thủ thuật để dạy một bài bài đọc hiểu cho
học sinh một cách hiệu quả" hy vọng phần nào đó đóng góp giải pháp và tháo gỡ bớt
những khó khăn trong quá trình khai thác sâu các hoạt động trong quá trình dạy đọc.
II. Thực trạng:
1.Cấu trúc một bài dạy tiếng Anh thường bao gồm các hoạt động để phát triển đồng
thời 4 kỹ năng: Nghe- nói- đọc- viết một cách đúng hướng và toàn diện. Nhìn vào bố
cục mỗi đơn vị bài học, chúng ta có thể thấy rõ tầm quan trọng của phần đọc hiểu
trong quá trình dạy và học tiếng Anh. Song việc dạy và học chưa đạt kết quả như
mong muốn vì bài đọc hiểu được dạy theo phương pháp truyền thống: hầu hết thời
gian trên lớp đều chủ yếu dành cho việc giáo viên dạy từ vựng, giới thiệu các cấu trúc
ngữ pháp, đọc mẫu và sửa lỗi phát âm, lỗi ngữ pháp cho học sinh. Việc tập trung vào
ngữ pháp, dịch thuật sẽ ngăn cản học sinh tiếp thu các kiến thức ngôn ngữ một cách tự
nhiên, các em không có cơ hội để sử dụng những hiểu biết về ngôn ngữ của mình. Các
giờ dạy như vậy hết sức nặng nề và buồn tẻ bởi học sinh chỉ được học tập một cách
thụ động, phải tiếp thu một thời lượng kiến thức quá lớn về từ vựng cũng như các cấu
trúc ngữ pháp mới (do đặc thù của bài đọc hiểu). Ngoài việc nhắc lại và bắt chước, các
em hầu như không có cơ hội suy nghĩ, tái tạo ngôn ngữ một cách chủ động, sáng tạo.
Nên phương pháp này chỉ dạy cho học sinh ngôn ngữ đó mà chưa thực sự giúp các em
học được chính ngôn ngữ này.
2.Trong cuốn sách có tựa đề: "Developing Reading Skills" của tác
giả Franciose Grellet, ông có đa ra quan điểm của mình: "Khái niệm đọc hiểu có
nghĩa là đọc để lấy các thông tin cần thiết, "Required information" từ trong bài đọc
"Texts". Vấn đề đặt ra là phải đọc thế nào? Theo ông có bốn cách đọc chính:

• 1. Skimming gist (Đọc lấy ý chính)
• 2. Scanning for details (Đọc lấy thông tin chi tiết)
• 3. Extensive reading ( Đọc các bài đọc dài)
• 4. Intensive reading (Đọc các bài đọc ngắn)
Tuy vậy, Chủ yếu các cuốn sách giáo khoa tiếng Anh đều tập trung vào hai cách
đọc chính đó là đọc lấy ý chính (Skimming gist) và đọc lấy thông tin chi tiết
(Scanning for details). Trên thực tế các bài đọc trong giáo trình tiếng Anh (Lifeline,
Enterprise, English for Law) thường có khá nhiều từ mới và còn nhiều hơn nữa trong
một bài báo, truyện được viết bằng tiếng Anh. Vì thế người đọc không thể vừa đọc
vừa dừng lại tra từ mới, bởi người đọc sẽ phải đọc lại từ đầu sau mỗi lần dừng lại thì
họ mới có khả năng nhớ được nội dung của bài đọc. Việc làm này sẽ mất nhiều thời
gian, không mang lại hiệu quả. Để giới thiệu được hết các từ mới của bài đọc, giáo
viên sẽ không thể có thời gian dành cho các hoạt động nhằm phát triển kỹ năng đọc
hiểu. Bên cạnh đó học sinh khó mà nhớ hết được một khối lượng từ vựng lớn như vậy
trong một thời gian ngắn, học sinh sẽ không biết đọc độc lập nếu không có sự hướng
dẫn, giảng giải của giáo viên.
3. Sau mỗi bài giảng, giáo viên thường khó nắm được học sinh hiểu bài bao nhiêu,
nhớ được lượng thông tin nhiều hay ít, từ vựng trong bài có được các em nắm tốt hay
không, do mải mê quá nhiều với các bước luyện đọc và cung cấp từ mới, mà không
hoặc ít đưa ra các bài tập luyện để củng cố bài sau khi đọc.
4. Giáo viên chưa đầu tư nghiên cứu các thủ thuật gợi mở, khuyến khích học sinh tự
giác, chủ động, tích cực tham gia, rèn luyện và phát triển kỹ năng đọc hiểu Tiếng Anh.
B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.Các giải pháp thực hiện:
1. Để đạt hiệu quả cao trong dạy đọc, giáo viên phải nắm được mục đích, yêu cầu của
một bài đọc, từ đó lựa chọn phương pháp phù hợp cho nội dung từng bài đọc và luôn
bám sát bố cục 3 phần của một bài dạy đọc: Pre-reading, While-reading và Post-
reading. Ưu tiên áp dụng phương pháp mới để phát triển đồng nhất 4 kĩ năng cơ bản:
Nghe- nói - đọc- viết trong dạy đọc cho học sinh. Tránh lan man sa đà quá nhiều vào
việc giải thích từ mới, dịch bài, viết cấu trúc ngữ pháp, khiến cho học sinh bị động và

tiếp thu bài một cách thiếu độc lập.
2. Với những bài học có nhiều từ mới, giáo viên phải có kỹ năng phân loại từ mới để
giúp học sinh có cách tiếp cận phù hợp với từng nhóm từ và nắm được từ một cách
nhanh nhất.
3. Các bài luyện tập sau mỗi bài đọc phải được thực hành một cách phong phú, khoa
học để học sinh có thể độc lập, sáng tạo tiếp nhận kiến thức, từ đó giáo viên có thể
đánh giá mức độ hiểu bài và nhớ từ của học sinh.
4. Giáo viên tham gia nhiều các khoá bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, các khoá đào
tạo của Hội đồng Anh, các buổi dự giờ lên lớp của đồng nghiệp để tiếp thu tốt hơn về
việc vận dụng các thủ thuật gợi mở, khuyến khích học sinh học một cách tự giác, chủ
động. Ngoài ra giáo viên cũng phải đánh giá, nhận xét thái độ học tập, khả năng tiếp
thu kiến thức, sự hứng thú và tính sáng tạo của học sinh trong quá trình tiếp thu kiến
thức, để từ đó áp dụng những thủ thuật vào bài giảng một cách hợp lí, hiệu quả.
II. Các biện pháp tổ chức thực hiện
1. Để tổ chức thực hiện được giải pháp 1 và 3, tôi xin đưa ra một số biện pháp sau:
Khai thác các thủ thuật để củng cố phần đọc hiểu cho học sinh có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong việc phát triển kỹ năng này cho học sinh. Tuy nhiên chúng ta không
nhất thiết quá máy móc phải thực hiện các hoạt động này trên lớp mà đôi khi nếu thời
gian có hạn chúng ta có thể dành khoảng thời gian còn lại đó để hướng dẫn rõ ràng
nhiệm vụ cụ thể cần thực hiện rồi yêu cầu học sinh làm ở nhà.Như vậy có thể chấp
nhận coi như một bài tập về nhà, để sau đó giáo viên có thể kiểm tra trong giờ kiểm
tra bài cũ. Tuy nhiên để việc làm này thực sự hiệu quả như mong muốn,giáo viên phải
thực sự linh hoạt, sáng tạo trong quá trình thực hiện.
Một giờ dạy đọc hiểu không có nghĩa là học sinh chỉ được phát triển kỹ năng
đọc mà giáo viên còn phải biết phối hợp các kỹ năng làm cho bài đọc thêm phần hấp
dẫn qua việc áp dụng nhiều thủ thuật phong phú sao cho phù hợp với khả năng tiếp
thu và năng lực sử dụng ngôn ngữ khác nhau của mỗi học sinh. Chính vì lý do này
mà các hoạt động sau khi đọc "Post - reading" là các hoạt động rèn luyện kỹ năng
nghe, nói, đọc, viết:
1.1 ROLE - PLAY:

Trong thực tế giảng dạy, không kỹ năng ngôn ngữ nào được dạy tách biệt, do đó
luyện nói là một hoạt động rất hữu ích ở giai đoạn sau khi đọc (Post-reading). Khi
những công việc ở giai đoạn trong khi đọc (While-reading) kết thúc, giáo viên có thể
yêu cầu học sinh đóng kịch( Role- play), sử dụng nội dung đã được đề cập đến trong
bài đọc hiểu để đóng vai và luyện tập hội thoại cùng các bạn . Đây là một hoạt động
rất thú vị và hữu ích đối với học sinh bởi các em được dùng ngay kiến thức trong bài
đọc áp dụng vào thực tế giao tiếp hàng ngày.
Ví dụ: Lifeline Pre-intermediate - Unit 6 - People and Places
Reading: it was a normal day - 54-55.
•A. Interviewer:
You are interviewing David on TV.
Prepare some questions for him
Example:
• 1. What happened to you?
• 2. What did you do when you heard this news?
• 3. How did you feel??
• 4. What did you do?
• 5. How did the event change your life?
•B. David
You are being interviewed on television. Tell the interviewer about your normal day
and the event happened to you. Write some notes to help you remember.
Example:
• - Woking in the bank.
• - Daughter was kidnaped
• - Kidnapper asked for money.
• - Most terrible moments in my life.
1.2. MATCHING:
Giáo viên nên củng cố từ vựng cho học sinh ở giai đoạn sau khi đọc bởi từ
vựng được dạy trong văn cảnh sẽ trở lên có ý nghĩa, hữu ích và học sinh nhớ lâu, hiểu
sâu hơn. Chính vì vậy mà chúng ta cần phải thấy rõ ràng đây là một hoạt động rất hữu

hiệu giúp học sinh được làm việc theo cá nhân , theo cặp hay theo nhóm, suy diễn
nghĩa của từ, ngữ đã cho sẵn trong ngữ cảnh cụ thể. Những từ ngữ này có thể được
đưa vào cột bên trái, sau đó những định nghĩa được trộn lẫn vào cột bên phải , nhiệm
vụ của học sinh là tìm ra hay khớp nối những từ ngữ đó với các định nghĩa phù hợp.
Ví dụ:
Lifelines Pre-intermediate - Unit 5 Comparisons
Read - page 42 - 43
Match a phrase in A with its definition in B
A B
a.to see eye to eye with someone
b. to keep an eye on someone or st
c.to catch someone's eye
d.to look someone( straight) in the eye.
e. to give someone the eye.
f.to be someone's blue-eyed boy/girl.
g.to turn blind eye to something
a.to ignore something
b. to attract someone's attention
c. to agree with someone
d.to watch carefully
e. to be the favourite
f. to show that you are interested in sb
g.to be directed with sb
1.3. GRIDS OR FORMS
Giáo viên có thể sử dụng thủ thuật này nhằm kiểm tra việc học sinh có hiểu nội
dung chính được đề cập đến trong bài đọc hay không mặt khác học sinh còn được phát
triển kỹ năng phân loại thông tin cần cung cấp sao cho phù hợp với từng mục yêu cầu
cụ thể của bài tập.
Example: Basic English - Unit 6- Abilities page 73-74
Sau khi học sinh đọc bài khoá và hoàn thiện bài tập sách giáo khoa, giáo viên

yêu cầu học sinh hoàn thiện bảng sau để có được những thông tin chi tiết hơn về V.
Putin
1. Name: Putin.
2. Date of birth:
3.Place of birth
4. University he graduated
5. His wife's job
7. Daughter
8.His favourite sport
9.Things he could do when he 13
1.4. WH- QUESTIONS
Loại câu hỏi có từ để hỏi bao gồm:
When ?
What ?
Where ?
Who ?
How long ? How much ? How many ? in order to check comprehension of details
(on the line questions).
• - Why do you think/ know ?
• - How ?
What do you think about ?
Câu hỏi dạng này thường dùng để gợi mở cho những phần giả thích, tóm tắt, đề
bạt ý tưởng về một vấn đề.
Hoạt động này yêu cầu học sinh nghe và trả lời các câu hỏi để lấy những thông tin
có thể thấy ngay trong bài đọc và những thông tin không nằm ngay trong bài mà học
sinh phải biết suy luận ra từ nội dung bài mà các em vừa đọc. Đây là một hoạt động
rất khuyến khích sử dụng và có thể sử dụng cho bất cứ bài đọc trong giáo trình nào.
1.5. DISCUSSION
Thủ thuật này có thể được sử dụng để:
• - Xác định nội dung bài đọc và nêu ra ý nghĩa của nó.

- Rút ra bài học kinh nghiệm sau khi học bài đó.
• - Kết hợp kĩ năng nói.
Example:
Unit 8: Places
Read - page 59
Discuss the advantages and disadvantages of citylife and countrylife.
• - schools
• - hospitals
• - food
• - air
• - means of transport
• - water
• - electricity
• - entertainment
• - Accommodation.
1.6. MULTIPLE CHOICES.
Hoạt động này yêu cầu học sinh đọc chọn đáp án đúng là A, B , C hoặc D cho
từng câu hỏi. Đây là 1 trong những thủ thuật nhằm kiểm tra kĩ năng xác định những
thông tin cụ thể trong bài mà các em đã được đọc. Tuy nhiên để dạy đọc hiểu theo
đúng yêu cầu của việc đổi mới phương pháp giảng dạy đồng thời để giúp học sinh đọc
hiểu toàn diện một bài đọc, giáo viên cần phải lưu ý sử dụng thủ thuật này một cách
hợp lý và cần coi đây chỉ là một trong số nhiều các hoạt động để quá trình dạy đọc
hiểu đạt hiệu quả như mong muốn. Với thủ thuật này học sinh có thể được kiểm tra
việc hiểu nội dung chính của bài, của từng đoạn, nắm được nghĩa của từ hoặc cấu trúc
mới
Example. Facts and Fingures - Unit4: History of Jeans
Read page 32-33
Circle the correct answer
1- liked to wear jeans because the material could hardly wear out.
a.Students b. Teachers c. Doctors d. Workers

2. The worldwide economic situation became worse in the
a. 1980s b. 1970s c. 1990s d. 1960s
3. The 1960s' fashions were
a. painted jeans b. casual clothes
c. embroidered jeans d. both a and c are correct.
4. Jeans became so many people started wearing jeans in the 1970s'
a. more fashionable b. cheaper c. more and more expensive d. shorter.
1.7. ANSWER GIVEN.
Chúng ta có thể sử dụng thủ thuật này để kiểm tra đọc hiểu chi tiết đặc biệt là về
hình ảnh và sư kiện. Chúng ta cũng có thể cho học sinh làm các dạng bài đánh dấu vì
nó còn giúp giáo viên giảm được thời gian chuẩn bị bài.
Example:
Prepare questions for the following answers. .
a. 7th October 1952
b. In 1975
c. 14
th
March 2004
Example of students' answer
a. When was Putin born?
b ?
1.8 GAP FILLING
Giáo viên viết phần tóm tắt bài đọc lên bảng (ngắn gọn) với những từ đang còn
thiếu và yêu cầu học sinh điền những từ thiếu đó vào chỗ trống. Dạng bài này giúp
học sinh nắm được bài đọc một cách cô đọng nhất và thực hành các từ đã học hiệu quả
nhất.
Example:
Basic English - Unit 8: How long ago?
Read - page 97
Complete the paragraph with one suitable word .

Two American, Jacob Davis and Levi Straus Jeans in 1873. Davis bought
from Levi's shop. He told Levi that he had a way to make strong for
workmen. The first jeans were In 1935 jeans became for women
1.9. RE-WRITE
Bài đọc có thể được viết dưới dạng giống hoặc khác một bài đọc: ví dụ: dưới
dạng bài quảng cáo, bức thư, bài phỏng vấn. Loại bài này có thể sử dụng để thực hành
giúp mở rộng kĩ năng từ đọc sang viết
Ví dụ: Lifelines Pre-intermediate- Reading page 38
Hoàn thành bức thư của Tom viết cho mẹ mình từ Bulgaria để nói cho mẹ biết
chuyện gì đã xảy ra với mình
Bulgaria
21
st
November, 1990.
Dear Mum,
Tell her about how two girls cheated him from Zagrab to Bela
Palakataking
I'm afraid that I have some bad news for you.
Tell her about how he was arrested by Police and in prision now
Finish the letter

1.10. RETELLING
Nếu bài đọc là 1 đoạn văn trần thuật, để trình bày lại được bằng khẩu ngữ thì sau khi
đọc, học sinh được yêu cầu kể lại chi tiết và càng chính xác càng tốt về những nội
dung của bài đọc.
Example:
Basic English Unit 7 - My neighborhood
Read - page 67.
Retell about the new shopping mall in Nam's neighborhood .The following questions
may help you.

• 1. What is special about it?
• 2. What facilities are available there?
• 3. How often does it open?
• 4. How many stores are there?
• 5. Is it comfortable to shop?
2. Để tổ chức thực hiện được giải pháp 2, tôi xin đưa ra một số biện pháp sau:
Trong một bài giảng, giáo viên phải phân loại được từ mới. Cách phân loại này sẽ
giúp học sinh sớm nhận biết được những từ nào cần tập trung để hiểu bài. Từ mới sẽ
được phân loại theo các nhóm.
2.1. Nhóm từ phải tra từ điển (Từ chủ động - Active/ Productive vocabulary): Những
từ thuộc nhóm này là các từ và cụm từ chủ chốt (Keywords and phrases) trong bài đọc
mà thiếu những từ và cụm từ chủ chốt này học sinh không thể hiểu được nội dung của
bài đọc. Muốn học sinh nắm được các từ này, giáo viên phải lựa chọn trúng từ vựng
để dạy cho học sinh. Đồng thời các từ này phải phù hợp với đối tượng học sinh. Đối
với các từ quan trọng nhưng quá khó thì giáo viên chỉ nên dạy bằng hình thức dịch
thuật hay giải thích ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu mà thôi.
2.2. Nhóm từ có thể đoán theo ngữ cảnh của bài: Những loại từ này, giáo viên có thể
hướng dẫn học sinh đoán nghĩa dựa vào những từ đã biết và thông qua ngữ cảnh của
bài học. Các kỹ thuật gợi mở (eliciting techniques) là cần thiết và quan trọng trong
khâu này và nó nên được xuyên suốt quá trình dạy đọc vì nó giúp giáo viên gợi lại vốn
từ vựng của các em, tránh dạy lại những từ mà học sinh đã biết và khuyến khích học
sinh tham gia vào quá trình dạy học. Một trong những kĩ thuật gợi mở được dùng hiệu
quả là: Giới thiệu ngữ cảnh (Set the scene) Đây là bước đưa ra chủ đề bài đọc (Topic)
cho học sinh, tạo cho các em tâm lý sẵn sàng, huy động vốn hiểu biết sẵn có của học
sinh về từ vựng, cấu trúc ngữ pháp và những vốn hiểu biết chung (General
knowledge) để các em sẵn sàng, dễ dàng tiếp cận với bài đọc. Đồng thời dùng ngữ
cảnh để giới thiệu từ vựng giúp học sinh hiểu từ đó trong ngữ cảnh chứ không hiểu
theo nghĩa đơn, nghĩa từ điển của nó.
2.3. Nhóm từ không nhất thiết phải hiểu nghĩa của chúng (Passive/Receptive
vocabulary): Những nhóm từ này có thể là giới từ, phụ từ, các trạng từ nhấn mạnh.

Nghĩa của chúng không làm ảnh hưởng tới việc hiểu ý nghĩa của bài đọc nên giáo viên
không nên dạy các từ này. Việc dạy chúng sẽ làm sao lãng việc nhớ các từ chính trong
bài, vì vậy sẽ làm ảnh hưởng tới việc nhớ nội dung chính của bài. Nên với những từ
này, giáo viên sẽ gợi ý học sinh về nhà xem lại và bổ xung vốn từ vựng bằng cách tự
học và đọc thêm.
3. Để tổ chức thực hiện được giải pháp 4: Những hoạt động mang tính khách quan
như: dự giờ, thăm lớp, chia sẻ kinh nghiệm, tập huấn đổi mới phương pháp dạy học
giáo viên phải tham gia một cách tích cực, chủ động. Những hoạt động mang tính chủ
quan, do mình có thể làm được thì việc đầu tiên giáo viên phải làm đó là: nắm bắt tình
hình thực tế của học sinh. Việc nắm bắt này nên được bắt đầu từ việc tìm hiểu khả
năng tiếp thu bài của học sinh, phân loại đối tượng học sinh và nắm bắt sĩ số lớp học
từ đó đưa ra phương pháp tiếp cận phù hợp. Nếu lớp học đông, học sinh là những
người lớn tuổi, khả năng tiếp thu chậm thì việc áp dụng các kĩ thuật gợi mở nên được
cân nhắc cẩn thận, các hoạt động sau đọc cũng chỉ nên tập trung vào những chi tiết
đơn giản, dễ làm, dễ có kết quả. Còn với những lớp sĩ số ít, học sinh năng động thì kĩ
thuật gợi mở nên được áp dụng triệt để, tối đa, các hoạt động sau khi đọc nên được
khai thác phong phú và đa dạng để phát huy hết khả năng độc lập, sáng tạo của học
sinh.
C: KẾT LUẬN
I. Kết qủa thực hiện:
Trong suốt quá trình giảng dạy của mình, tôi đã tiến hành áp dụng các kỹ thuật
và hình thức tổ chức dạy đọc hiểu tiếng Anh nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học viên trong giờ học ngoại ngữ cũng như những tiết dạy thực nghiệm
để các đồng nghiệp. Kết quả thu được như sau:
- Giáo viên không phải giảng giải hay thuyết trình dài dòng, không phải làm thay cả
phần việc dành cho học sinh. Giáo viên đóng vai trò làm người tổ chức, hướng dẫn,
giúp đỡ, bổ sung kiến thức. Nói cách khác, giáo viên đóng vai trò người thiết kế.
- Đối với học sinh được chủ động tiếp thu kiến thức, được làm chủ thể của hoạt
động. Các em học tập hăng say, hào hứng, chủ động tìm tòi, khám phá, khai thác kiến
thức, rèn luyện kỹ năng tư duy và ý chí tự học hỏi, nghiên cứu kiến thức. Học sinh

nắm được nội dung bài ngay trên lớp. Hơn nữa sau mỗi giờ học, kiến thức của học
sinh về các lĩnh vực văn hoá, khoa học được mở rộng hơn. Do đó học sinh có được
sự hứng thú trong học tập. Cụ thể là:
+ Đối với sinh viên lớp K1: Là khoá đào tạo sinh viên chuyên ngành Tiếng Anh đầu
tiên liên kết với trường ĐHNN- ĐHQGHN nhưng đầu vào của các em rất thấp , kinh
nghiệm giảng dạy chưa nhiều, việc áp dụng được phương pháp tiếp cận mới vào giảng
dạy chưa nhuần nhuyễn nên hầu như sinh viên có hiểu bài nhưng số sinh viên tham
gia vào các hoạt động tái tạo được ngôn ngữ sau khi đọcb không nhiều. Hầu hết chỉ
dừng lại ở việc đọc được bài, đọc được từ mới nhưng không tái tạo lại được nội dung
của bài học. Kết quả sau mỗi bài dạy là: 30-35% (40hv/1 lớp)
+ Đối với sinh viên lớp K2, K3: Hai khoá sau, đầu vào của các em có tốt hơn khoá 1,
tôi mạnh dạn tiếp cận phương pháp mới với một số thủ thuật luyện sau đọc (Post
Reading). Ban đầu rat hiệu quả có khoảng 65-70% số sinh viên hiểu bài và có khả
năng tái tạo ngôn ngữ.( sĩ số 30-35 sv/1 lớp)
+ Lớp kế toán K11 và Luật từ xa: Đây là hai lớp đào tạo theo hệ từ xa liên kết với
Viện đại học Mở Hà Nội. Giáo trình dạy hai lớp này chủ yếu là giáo trình đọc hiểu
(chuyên ngành Kế Toán và Luật). Tôi và giáo viên cùng khoa rất vất vả khi dạy hệ
này vì đa số học viên tuổi đời cao, thời gian lên lớp ít, giáo trình lại khó, lượng từ
vựng nhiều. Với một số thủ thuật áp dụng trong bài dạy, tôi đã giúp học viên đơn giản
hoá bài giảng và giứp họ nhớ được đa số các từ chuyên ngành cần thiết. Tuy vậy, do
những điều kiện nhất định, khả năng tái tạo ngôn ngữ của học viên cũng không đạt
được như mong muốn: 45% ( 50hv/1 lớp)
+ Lớp tiếng Anh nâng cao- Bệnh viện Nhi Thanh Hoá: Đây là lớp học của các Bác sĩ
chuyên khoa học giao tiếp và chuyên ngành y. Những bài đọc thuộc chuyên ngành rất
nhiều từ mới và lượng kiến thức rất lớn. Với cách làm trên tôi đã giúp các học viên có
được những kĩ năng cơ bản trong quá trình học đọc tài liệu, phát triển thêm được kĩ
năng nghe- nói và đặc biệt vốn từ được cải thiện rất nhiều. Kết quả 80% học viên có
thể nói- nghe và đọc thực hành sau đọc tốt.
II. Đề xuất và kiến nghị :
• - Nên có những buổi học tập, giao lưu giữa các lớp với nhau để tạo môi trường

giao tiếp và sử dụng Tiếng Anh.
• - Sở Giáo dục và Đào tạo nên tổ chức nhiều hơn những khoá tập huấn về đổi
mới phương pháp dạy học có sự góp mặt của các chuyên gia.
• - Trung tâm trang bị thêm những phòng học có đầy đủ các phương tiện dạy học
hiện đại để đáp ứng nhu cầu của giáo viên và người học.
Trên đây là những đóng góp của tôi trong quá trình giảng dạy, Tôi rất mong tiếp thu
mọi ý kiến đóng góp xây dựng từ phí đồng nghiệp để kinh nghiệm này được hoàn
thiện và có hiệu quả trong thực tế giảng dạy, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng
giảng dạy bộ môn tiếng Anh ở tất cả các bậc học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

MỤC LỤC
A. Đặt vấn đề
I. Lời mở đầu
II. Thực trạng
B. Giải quyết vấn đề
I. Các giải pháp thực hiện
II. Các biện pháp để tổ chức thực hiện
C. Kết luận
I. Kết qủa thực hiện
II. Đề xuất và kiến nghị

×