Tải bản đầy đủ (.doc) (51 trang)

204 Một số vấn đề về nâng cao hiệu quả kinh doanh Đối với các doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn tỉnh Lai Châu (Tr51)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (304.21 KB, 51 trang )

Lời mở đầu
Kinh tế Nhà nớc nói chung, doanh nghiệp Nhà nớc nói riêng đã đợc xây dựng
và phát triển ở nớc ta gần 50 năm. Trong quá trình đó các doanh nghiệp Nhà nớc đã
góp phần quan trọng tạo ra những tiền đề vật chất - kỹ thuật trong quá trình xây
dựng và phát triển kinh tế đất nớc, nhất là trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại
đất nớc hiện nay. Song những kết quả hoạt động của đa số các doanh nghiệp Nhà n-
ớc cha tơng xứng với nguồn lực đầu t, cha phát huy đợc vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế nhiều thành phần, định hớng lên chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa trong khu vực
kinh tế này còn nẩy sinh nhiều hiện tợng tiêu cực. "Bài toán hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp Nhà nớc" đang là vấn đề lớn, đợc các cấp các ngành, địa
phơng quan tâm giải quyết.
Trong điều kiện tự nhiên xã hội của mình, tỉnh Lai Châu rất coi trọng việc
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp Nhà nớc nói riêng và ở
các doanh nghiệp khác nói chung, giúp cho các doanh nghiệp đứng vững trên thị tr-
ờng và thắng lợi trong cạnh tranh. Mặt khác, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
ở các doanh nghiệp Nhà nớc trên địa bàn tỉnh còn góp phần giữ vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế của tỉnh, giúp đỡ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Sau nhiều năm sắp xếp và đăng ký lại doanh nghiệp Nhà nớc trên địa bàn tỉnh
theo Nghị định 388/CP, Nghị định 90/CP, 91/CP, Chỉ thi 500/TTg, tuy số lợng
doanh nghiệp Nhà nớc có giảm, song nhìn chung các doanh nghiệp Nhà nớc vẫn
trong tình trạng hoạt động kém hiệu quả; nhiều doanh nghiệp Nhà nớc tuy đợc thành
lập lại nhng vẫn làm ăn thua lỗ, nợ quá hạn không có khả năng thanh toán; các doanh
nghiệp Nhà nớc trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhỏ bé về quy mô, lạc hậu về kỹ thuật và
công nghệ; vai trò của doanh nghiệp Nhà nớc cha phát huy hết tiềm năng và năng lực
sẵn có.
Trớc thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà n-
ớc trên địa bàn tỉnh Lai châu trong điều kiện mới, nhằm phát huy mạnh mẽ tiềm
năng sẵn có của doanh nghiệp để xứng đáng với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
nhiều thành phần, tác giả đã đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: "Một số vấn đề về
nâng cao hiệu quả kinh doanh Đối với các doanh nghiệp Nhà nớc trên địa bàn
tỉnh Lai Châu".


1
Đề tài tập trung vào nghiên cứu, làm rõ vai trò của khu vực doanh nghiệp
Nhà nớc nói chung đồng thời cần phải nhận thức đợc ý nghĩa của việc nâng cao hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này. Trên cơ sở đó phân
tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nớc trên địa
bàn tỉnh Lai Châu, đánh giá một cách khoa học để tìm ra nguyên nhân đạt đợc và
cha đạt đợc hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nớc
trên địa bàn tỉnh. Từ đó đa ra phơng hớng và các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp Nhà nớc trên địa bàn tỉnh
trong thời gian tới.
Thực hiện đợc mục đích đó đề tài gồm 3 chơng:
Chơng 1: Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh Đối với các doanh nghiệp Nhà nớc
Chơng 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp Nhà nớc trên địa bàn tỉnh Lai Châu
Chơng 3: Phơng hớng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp Nhà nớc trên địa bàn tỉnh
Lai châu
2
Chơng 1
Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh Đối với các doanh nghiệp Nhà nớc
1. Những vấn đề cơ bản về hiệu quả sản xuất - kinh doanh
1.1- Quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử
dụng các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp nhằm đạt kết quả
cao nhất trong hoạt động đó với chi phí ít nhất. Nó không chỉ là thớc đo trình độ tổ
chức quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp.
Hiện nay đang có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề hiệu quả kinh doanh.
Điều này do điều kiện lịch sử và góc độ nghiên cứu khác nhau về vấn đề hiệu quả.

Nhà kinh tế học ngời Anh Adam Smith cho rằng "hiệu quả là kết quả đạt đợc
trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá" nhà kinh tế học ngời Pháp
Ogiephri cũng quan tâm nh vậy, ở đây hiệu quả đợc đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Rõ ràng quan điểm này khó giải thích kết
quả sản xuất kinh doanh có thể tăng do tăng chi phí mở rộng sử dụng các nguồn sản
xuất. Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này
chúng có cùng hiệu quả.
Quan niệm thứ hai cho rằng:" Hiệu quả là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm
của kết quả và phần tăng thêm của chi phí". Quan niệm này đã biểu hiện đợc quan
hệ so sánh tơng đối giữa kết quả đạt đợc và chi phí đã tiêu hao. Nhng xét trên quan
điểm triết học Mác- Lênin thì sự vật và hiện tợng đều có mối quan hệ ràng buộc hữu
cơ tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ. Hơn nữa sản xuất
kinh doanh là một quá trình trong đó các yếu tố tăng thêm có sự liên hệ mật thiết với
các yếu tố sẵn có. Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả sản xuất kinh
doanh thay đổi. Theo quan điểm này tính hiệu quả kinh doanh chỉ đợc xét tới phần
kết quả bổ sung và chi phí bổ sung.
Quan niệm thứ ba: hiệu quả đợc đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra
để đạt đợc kết quả đó. Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh đựơc mối quan hệ
bản chất của hiệu quả kinh tế. Nó đã gắn đựoc kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu
quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí. Tuy nhiên, quan điểm
này cha biểu hiện đợc tơng quan về lợng và chất của kết quả và cha phản ánh hết
3
mức độ chặt chẽ của mối quan hệ này. Để phản ánh đợc trình độ sử dụng các nguồn
lực, chúng ta phải cố định1 trong 2 yếu tố hoặc kết qủa đạt đợc hoặc chi phí bỏ ra,
nhng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin thì các yếu tố này không ở trạng
thái tĩnh mà luôn luôn biến đổi và vận động.
Quan niệm thứ t cho rằng: Hiệu quả là mức độ thoả mãn yêu cầu của qui luật
kinh tế cơ bản của xã hội chủ nghĩa, cho rằng quĩ tiêu dùng với tính cách là chỉ tiêu
đại diện cho mức sống của mọi ngời trong các doanh nghiệp, là chỉ tiêu phản ánh
hiệu quả kinh doanh. Quan điểm này có u điểm là đã bám sát mục tiêu cầu nền sản

xuất chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng cao đơì sống vật chất và tinh thần của
nhân dân. Song khó khăn ở đây là phơng diện đo lờng thể hiện t tởng định hớng đó.
Đời sống nhân dân nói chung và mức sống nói riêng rất đa dạng và phong phú,
nhiều hình, nhiều vẻ phản ánh trong các chỉ tiêu mức độ thoả mãn nhu cầu hay mức
độ nâng cao đời sống là điều kiện khó khăn.
Để làm sáng tỏ bản chất và đi đến một khái niệm hiệu quả hoàn chỉnh theo
định hớng trên chúng ta phải xuất phát từ những luận điểm của triết học Mác và
những luận điểm của lý thuyết hệ thống.
Hiệu quả kinh tế - xã hội, chủ yếu đợc thẩm định bởi thị trờng, là tiêu chuẩn
cơ bản để xác định phơng hớng hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp. Tuy
vậy, hiệu quả ấy là gì? nh thế nào là có hiệu quả?... Vấn đề này cha đựoc giải quyết
triệt để. Thật khó mà đánh giá mức độ đạt đợc hiệu quả kinh doanh của một hoạt
động sản xuất kinh doanh khi mà bản thân phạm trù này cha đợc định rõ bản chất và
những biểu hiện của nó.
1.2- Phân loại hiệu quả trong các hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả kinh doanh đợc biểu hiện ở những
dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện những đặc trng, ý nghĩa cụ thể của hiệu quả.
Việc phân loại hiệu quả kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng
thiết thực cho công tác quản lý. Nó là cơ sở để xác định các chỉ tiêu và mức hiệu quả
kinh doanh từ đó đề ra những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc
dân.
4
Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả kinh doanh thu đợc từ hoạt động của
từng doanh nghiệp kinh doanh. Biểu hiện chung của hiệu quả cá biệt là lợi nhuận mà
mỗi doanh nghiệp đạt đợc.
Hiệu quả kinh tế -xã hội đem lại cho nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của
hoạt động sản xuất kinh doanh vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế,
tăng năng suất lao động xã hội, tích luỹ ngoại tệ, tăng thu cho ngân sách, giải quyết

việc làm, cải thiện đời sống cho nhân dân.v.v...
Trong quản lý kinh doanh không những cần tính toán hiệu quả đạt đợc trong
hoạt động của từng ngời, từng doanh nghiệp, mà còn phải tính toán - quan trọng
hơn, phải đạt đựoc hiệu quả kinh tế- xã hội đối với nền kinh tế quốc dân. "Hiệu quả
kinh tế- xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển" (Chiến lợc kinh tế-
xã hội đến năm 2000). Giữa hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế - xã hội
có mối quan hệ nhân quả và tác động qua lại với nhau. Hiệu quả kinh tế quốc dân
chỉ có thể đạt đợc trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp. Tuy vây,
có thể có những doanh nghiệp không đảm bảo đợc hiệu quả (bị lỗ) nhng nền kinh tế
vẫn thu đợc hiệu quả. Tuy nhiên, tình hình thua lỗ của doanh nghiệp nào đó chỉ có
thể chấp nhận đợc trong những thời điểm nhất định do những nguyên nhân khách
quan mang lại. Các doanh nghiệp phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế - xã hội vì đó
chính là tiền đề và điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, nhng để
doanh nghiệp quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội chung của nền kinh tế quốc dân,
Nhà nớc cần có các chính sách đảm bảo kết hợp hài hoà lợi ích của xã hội với lợi ích
của doanh nghiệp và cá nhân ngời lao động.
Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp.
Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng gắn liền với môi trờng và thị
trờng của nó. Doanh nghiệp phải căn cứ vào thị trờng để giải quyết những vấn đề
then chốt: Kinh doanh cái gì, kinh doanh nh thế nào, kinh doanh cho ai và với chi
phí là bao nhiêu?
Mỗi nhà cung cấp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong
những điều kiện cụ thể về nguồn tài nguyên, trình độ trang bị kỹ thuật, trình độ tổ
chức và quản lý lao động, quản lý kinh doanh. Họ đa ra thị trờng sản phẩm của mình
đối với một chi phí cá biệt nhất định và ngời nào cũng muốn tiêu thụ đợc hàng hoá
của mình với giá cao nhất, Tuy vậy, khi đa sản phẩm của ra bán trên thị trờng, họ
5
chỉ có thể bán theo mức giá cả thị trờng, nếu sản phẩm của họ có chất lợng tơng đ-
ơng. Bởi vì thị trờng chỉ thừa nhận mức trung bình xã hội cần thiết về hao phí để sản
xuất ra một đơn vị hàng hoá. Qui luật giá trị đã đặt tất cả các doanh nghiệp với mức

chi phí cá biệt khác nhau trên cùng một mặt bằng trao đổi, thông qua một mức giá
cả thị trờng.
Suy đến cùng, chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội. Nhng tại mỗi doanh
nghiệp mà chúng ta cần đánh giá hiệu quả, thì chi phí lao động xã hội đó lại đợc thể
hiện dới các dạng chi phí cụ thể:
- Giá thành sản xuất
- Chi phí ngoài sản xuất.
Bản thân mỗi loại chi phí trên lại có thể đợc phân chia chi tiết tỷ mỷ hơn.
Đánh giá hiệu quả kinh doanh không thể không đánh giá hiệu quả tổng hợp của các
loại chi phí trên đây và cũng lại cần thiết phải đánh giá hiệu quả của từng loại chi
phí.
Đó là việc cần làm, giúp cho hoạt động kinh doanh tìm đợc hớng giảm chi
phí cá biệt của doanh nghiệp nhằm tăng hiệu quả kinh doanh.
Nh vậy, hiệu quả kih doanh nói chung đợc tạo thành trên cơ sở hiệu quả của
các loại chi phí cấu thành. Các đơn vị kinh doanh là nơi trực tiếp sử dụng các yếu tố
của quá trình kinh doanh. Vì vậy, bản thân các đơn vị kinh doanh phải quan tâm xác
định những biện pháp đồng bộ để thu đợc hiệu quả toàn diện trên các yếu tố của quá
trình đó.
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
Trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh, việc xác định hiệu quả nhằm
hai mục đích cơ bản:
Một là, để thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các dạng chi phí trong hoạt
động kinh doanh.
Hai là, để phân tích luận chứng kinh tế của các phơng án khác nhau trong
việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó, từ đó lựa chọn lấy một phơng án có lợi
nhất.
Hiệu quả tuyệt đối là lợng hiệu quả đợc tính toán cho từng phơng án cụ thể
bằng cách xác định mức lợi ích thu đợc với lợng chi phí bỏ ra. Chẳng hạn tính toán
6
mức lợi nhuận thu đợc từ một đồng chi phí sản xuất (giá thành), hoặc từ một đồng

vốn bỏ ra.v.v...
Ngời ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ chi phí ra để thực hiện một
thơng vụ nào đó, để biết đợc với những chi phí bỏ ra sẽ thu đợc những lợi ích cụ thể
và mục tiêu cụ thể gì, từ đó đi đến quyết định có nên bỏ ra chi phí hay không cho th -
ơng vụ đó. Vì vậy, trong công tác quản lý kinh doanh, bất kỳ công việc gì đòi hỏi phải
bỏ ra chi phí dù với một lợng lớn hay nhỏ cũng đều phải tính toán hiệu quả tuyệt đối.
Hiệu quả so sánh đợc xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt
đối của các phơng án với nhau. (Nói cách khác, hiệu quả so sánh chính là mức
chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phơng án). Mục đích chủ yếu của việc tính
toán này là so sánh mức độ hiệu quả của các phơng án (hoặc cách làm khác nhau
cùng thực hiện một nhiệm vụ) từ đó cho phép lựa chọ một cách làm có hiệu quả cao
nhất.
Trên thực tế, để thực hiện một nhiệm vụ nào đó, ngời ta không chỉ tìm thấy
một cách (một phơng án, một con đờng, một giải pháp) mà có thể đa ra nhiều cách
làm khác nhau. Mỗi cách làm đó đòi hỏi lợng đầu t vốn, lợng chi phí khác nhau, thời
gian thực hiện và thời gian thu hồi vốn đầu t cũng khác nhau. Vì vậy, muốn đạt đợc
hiệu quả kinh tế cao, ngời làm công tác quản lý và kinh doanh không nên tự trói mình
vào một cách làm màphải vận dụng mọi sự hiểu biết đa ra nhiều phơng án khác nhau,
rồi so sánh hiệu quả kinh tế của các phơng án đó để chọn ra một phơng án có lợi nhất.
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,
song chúng lại có tính độc lập tơng đối. Trớc hết, xác định hiệu quả tuyệt đối là cơ
sở để xác định hiệu quả so sánh. Nghĩa là, trên cơ sở những chỉ tiêu tuyệt đối của
từng phơng án, ngời ta so sánh mức hiệu quả ấy của các phơng án với nhau. Mức
chênh lệch chính là hiệu quả so sánh.
Tuy vậy, có những chỉ tiêu hiệu quả so sánhđợc xác định không phu thuộc
vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối. Chẳng hạn, việc so sánh giữa mức chi phí của
các phơng án với nhau để chọ ra phơng án có chi phí thấp, thực chất chỉ là sự so
sánh mức chi phí của các phơng án chứ không phải là việc so sánh mức hiệu qủa
tuyệt đối của các phơng án.
1.3- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

7
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp hay một nền kinh tế quốc dân đợc
đánh giá thông qua một số chỉ tiêu hiệu quả nhất định. Những chỉ tiêu hiệu quả này
phụ thuộc chặt chẽ vào mục tiêu hoạt động của mỗi cấp (mục tiêu của chủ thể hiệu
quả). Bởi vậy, phân tích hiệu quả của các hoạt động cần xác định rõ chiến lợc cũng
nh mục tiêu của mỗi chủ thể trong từng giai đoạn phát triển.
Chỉ tiêu tổng quát.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp, có quan hệ
đến toàn bộ các yếu tố của quá trình kinh doanh. Doanh nghiệp chỉ có thể đạt đợc
hiệu quả cao khi sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả.
Để đánh giá có cơ sở khoa học hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cần
phải xây dựng hệ thống chi tiêu phù hợp gồm chỉ tiêu tổng quát và chỉ tiêu chi tiết
cụ thể để tính toán.
Các chỉ tiêu chi tiết cụ thể phải phù hợp, phải thống nhất với công thức đánh
giá hiệu quả chung:
Kết quả thu đợc trong kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nớc đo bằng các chỉ
tiêu nh doanh thu và lợi nhuận thực hiện. Còn chi phí bỏ ra nh lao động, vốn cố
định, vốn lu động....
Công thức trên phản ánh sức sản xuất (hay sức sinh lợi ) của các chỉ tiêu phản
ánh chi phí bỏ ra.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp lại có thể tính bằng cách so sánh
nghịch đảo:


Công thức này phản ánh sức hao phí của các chỉ tiêu bỏ ra nghĩa là để có một
kết quả thu đợc thì hao phí hết mấy đơn vị bỏ ra.
8
Kết quả thu được
Hiệu quả kinh doanh =
Chi phí bỏ ra

Chi phí bỏ ra
Hiệu quả kinh doanh =
Kết quả thu được
Hệ thống các chỉ tiêu
Dựa trên nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu bằng cách so sánh giữa kết
quả kinh tế và chi phí kinh tế ta sẽ lập bảng hệ thống chỉ tiêu và lựa chọn những chỉ
tiêu cơ bản nhất sao cho số lợng các chỉ tiêu là ít nhất, tổng hợp nhất thuận lợi cho
việc tính toán và phân tích.
Chỉ tiêu Doanh thu (DT) Lợi nhuận (P)
Lao động (N) W = DT/N
Chỉ tiêu này phản ánh một lao
động có thể làm đợc bao nhiêu
đồng doanh thu trong một kỳ
B = P/N
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ
đóng góp của mỗi ngời lao động
đối với doanh nghiệp vào lợi
nhuận hay kết quả kinh doanh
Vốn cố định (G) H
1
= DT/G
Chỉ tiêu này biểu hiện mức tăng
kết quả kinh doanh của mỗi đơn vị
giá trị TSCĐ nhng chỉ tiêu phản
ánh hiệu quả kinh tế tổng hợp nhất
của vốn cố định thờng đợc sử
dụng là mức doanh lợi
H
2
= P/G

Chỉ tiêu này phản ánh số tiền lãi
hoặc số thu nhập thuần tuý trên
một đồng tiền vốn cố định hoặc
số vốn cố địnhcần thiết để tạo ra
một đồng lợi nhuận hoặc lãi
thực hiện. Chỉ tiêu này có thể so
sánh với kỳ trớc hoặc kế hoạch
để đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn cố định
Vốn lu động
(VL)
H
3
= DT/VL
Biểu thị mỗi đơn vị vốn lu động bỏ
vào kinh doanh có khả năng mang
lại bao nhiêu đồng vốn doanh thu
hay thể hiện khả năng số vòng quay
của vốn lu động, mức đảm nhận
của một kỳ luân chuyển vốn lu
động của doanh nghiệp.
H
4
= P/VL
Mức doanh lợi của vốn lu động
bỏ vào kinh doanh mang lại bao
nhiêu lợi nhuận
Chi phí thờng
xuyên trong
kinh doanh (C)

T
1
= DT/C
Hiệu quả sử dụng chi phí phản
ánh doanh thu đạt đợc khi bỏ ra 1
đồng chi phí
T
2
= P/C
Mức sinh lợi của 1 đơn vị chi
phí biểu thị mức lợi nhuận thu
đợc khi 1 đồng chi phí đợc bỏ ra
Thời gian hoàn
vốn đầu t (T
V
)
T
V
= V
ĐT
/P + K
C
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả
của vốn đầu t sau khi đã đợc vật
E = (P+K
C
)/V
ĐT
Hệ số này cho biết, trong thời gian
một năm, một đơn vị vốn đầu t sẽ

9
hoá. Đó là khoảng thời gian mà
vốn đầu t bỏ ra để thực hiện nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh và có thể
thu hồi lại đợc nhờ lợi nhuận và
khấu hao cơ bản thu đợc hàng
năm.
đợc bồi hoàn lại bao nhiêu
Lợi nhuận và tỷ
suất lợi nhuận
(P)
P = DT - (Z + Th T
0
)
Biểu hiện thông qua sự so sánh kết
quả (DT) và các loại chi phí bỏ ra
trong quá trình sản xuất kinh doanh.
D
Z
= P/Z
Phản ánh mức lợi nhuận thu đợc
từ một đơn vị chi phí sản xuất.
Trong đó:
DT: Doanh thu T
1
: Hiệu suất sử dụng chi phí
P: Lợi nhuận T
2
: Mức sinh lợi của một đơn vị chi phí
B: Mức sinh lợi của một lao động V

ĐT
: Tổng lợng vốn đầu t xây dựng cơ bản
W:Doanh thu bình quân 1 lao động K
c
: Mức khấu hao cơ bản hàng năm
H
1
: Hiệu quả sử dụng tài sản cố
định
T
v
: Thời hạn hoàn vốn đầu t
H
2
: Mức sinh lợi của vốn cố định D
Z
: Tỷ suất lợi nhuận tính theo giá thành
H
3
: Số vòng quay của vốn lu động Z: Giá thành hàng hoá và dịch vụ
H
4
:Mức doanh lợi của vốn lu động
2 . Sự cần thiết nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đối với
doanh nghiệp Nhà nớc
2.1- Vị trí vai trò của doanh nghiệp Nhà nớc
Doanh nghiệp Nhà nớc (DNNN) là những cơ sở kinh doanh do Nhà nớc sở hữu
hoàn toàn hay một phần. DNNN phân biệt với doanh nghiệp t nhân ở quyền sở hữu
của Chính phủ và phân biệt với các cơ quan khác cửa Chính phủ ở tính chất kinh
doanh thơng mại, tạo ra thu nhập qua cung cấp hàng hoá và dịch vụ của chúng. Đặc

điểm sở hữu của Chính phủ hầu nh bao giờ cũng bao gồm cả quyền kiểm soát, chỉ
đạo, can thiệp ở một mức độ nào đó vào hoạt động của doanh nghiệp. Nguồn vốn
của doanh nghiệp Nhà nớc là những chuyển khoản từ chính phủ và tiền vay.
10
Trên thế giới, không có nớc nào triệt bỏ hoàn toàn các doanh nghiệp Nhà n-
ớc. Vai trò của khu vực này đợc xác định và thay đổi tuỳ thuộc vào đặc điểm, mục
tiêu nền kinh tế qua mỗi thời kỳ phát triển đất nớc.
Nhìn chung, sự cần thiết của khu vực DNNN trong nền kinh tế thị trờng đợc
biện minh bởi hai lý do sau:
Thứ nhất, DNNN cung cấp những hàng hoá và dịch vụ công cộng mà quyền
sở hữu không thể xác định (giao thông, đờng bộ, công trình kiến trúc lịch sử, phong
cảnh thiên nhiên...) hoặc những hàng hoá, dịch vụ mà t nhân không thể và không
muốn làm (điện nớc...).
Thứ hai, DNNN thúc đẩy sự phát triển cân đối và giải quyết việc làm ở các
ngành, lĩnh vực, khu vực kinh tế đòi hỏi đầu t lớn, có độ mạo hiểm cao mà t nhân
không đủ sức, không muốn đầu t.
Thứ ba, DNNN kiểm soát những khu vực có tầm quan trọng chiến lợc đối với
an ninh quốc gia nh công nghiệp quốc phòng, khai thác mỏ nguyên liệu phóng xạ.
Thứ t, thực hiện sự phối hợp lại thu nhập; chống lại khuynh hớng dẫn tới độc
quyền tự nhiên tại khu vực t nhân.
Thứ năm, ngoài ra một số nớc, đặc biệt là ở các nớc đang phát triển, các DNNN
còn là một kênh tạo thu nhập quan trọng cho ngân sách Nhà nớc; là kênh thu hút viện
trợ và vốn đầu t nớc ngoài cho phát triển kinh tế; cũng nh biểu hiện và phơng tiện đề
cao tinh thần độc lập tự chủ quốc gia về kinh tế, là biểu hiện công bằng xã hội. ý nghĩa
này đợc tuyệt đối hoá ở nhiều nớc, khiến cho khu vực Nhà nớc bành trớng tối đa và trở
thành một sản phẩm ý thức hệ mang tính chất định kiến.
Về tỷ trọng trong nền kinh tế quốc dân, thông thờng, ở các nớc t bản phát
triển, DNNN chiếm khoảng trên dới 10% t bản sản xuất (chẳng hạn, 2% ở Mỹ, 8% ở
Anh). ở những nớc đang phát triển, tỷ lệ này cao hơn nhiều (70% ở ả rập, Ai cập..).
Còn ở những nớc có nền kinh tế kế hoach hoá tập trung, tỷ lệ có thể đạt tới trên dới

95% nh ở Tiệp khắc (cũ).
Từ những nguyên nhân trên, sự ra đời và tồn tại các doanh nghiệp Nhà nớc là
sự đòi hỏi khách quan có tính phổ biến của mọi nền kinh tế.
Sự ra đời và tồn tại của các doanh nghiệp Nhà nớc thờng do những nguyên
nhân về chính trị - xã hội, kinh tế khách quan chi phối.
11
ở nớc ta hệ thống doanh nghiệp Nhà nớc đợc hình thành dựa trên ba con đ-
ờng sau đây:
- Nhà nớc quốc hữu hoá các doanh nghiệp của t sản mại bản.
- Cải tạo các doanh nghiệp t bản trong nớc, khi tiến hành công cuộc cải tạo
xã hội chủ nghĩa nền kinh tế.
- Nhà nớc xây dựng các doanh nghiệp mới từ vốn ngân sách, vốn vay nợ hay
vốn viện trợ nớc ngoài.
Các doanh nghiệp Nhà nớc của ta đợc hình thành chủ yếu bằng con đờng thứ ba
- Nhà nớc xây dựng các doanh nghiệp mới từ vốn ngân sách, vốn vay hay vốn viện trợ
của nớc ngoài trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế đất nớc.
Do hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau nh vậy nên hệ thống doanh
nghiệp Nhà nớc của ta có trình độ phát triển rất khác nhau, đặc biệt là về quy mô,
trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ, tổ chức và quản lý. Mặt khác, trong những
giai đoạn khác nhau, hệ thống doanh nghiệp đợc xây dựng trên những quan điểm
khác nhau nh: u tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, xây dựng cơ cấu
kinh tế tự lực, tự cờng, phát triển kinh tế địa phơng và xây dựng huyện. vv... có một
thời gian khá dài hệ thống doanh nghiệp ở miền Bắc còn bị phá hoại nặng nề của
chiến tranh.
Hiện nay ở nớc ta, doanh nghiệp Nhà nớc đợc coi là tổ chức kinh tế do Nhà
nớc đầu t vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt
động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nớc giao
(Điều 1 - Luật Doanh nghiệp Nhà nớc)
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế đất nớc, từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung sang nền kinh tế thị trờng, có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc, theo định h-

ớng xã hội chủ nghĩa thì chức năng của doanh nghiệp Nhà nớc đã có những thay đổi
nhất định. Các doanh nghiệp Nhà nớc vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị phân phối
đồng thời là công cụ điều tiết kinh tế của Nhà nớc.
Là đơn vị sản xuất, doanh nghiệp Nhà nớc phải tiến hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh theo pháp luật, có nghĩa là chuyển hoá các yếu tố đầu vào thành
của cải vật chất, hoặc dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu thị trờng và giành lợi nhuận
cao. Thực hiện chức năng này, doanh nghiệp Nhà nớc xuất hiện với t cách là một
12
chủ thể sản xuất kinh doanh tiến hành những qua hệ cần thiết cho việc thực hiện các
mục tiêu của mình.
Là một đơn vị phân phối, doanh nghiệp Nhà nớc phải làm tốt các nghiệp vụ
bán sản phẩm, dịch vụ, qua đó thu đợc các khoản tiền mặt, séc giấy nợ để trang trải
cho các khoản chi phí, khoản nộp thuế và nghĩa vụ xã hội, đầu t cho phát triển sản
xuất và mở rộng thị trờng. Với chức năng này, doanh nghiệp Nhà nớc phải đạt tới sự
phân phối hợp lý nhằm tạo ra động lực phát triển sản xuất và bảo đảm công bằng xã
hội.
Là công cụ điều tiết nền kinh tế của Nhà nớc, doanh nghiệp Nhà nớc phải
hoạt động có hiệu quả, mở đờng, khai phá hay nâng đỡ các thành phần kinh tế khác
cùng phát triển.
Với các chức năng trên, trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp Nhà n-
ớc có vai trò quan trọng, đợc thể hiện ở các nội dung sau:
Một là, doanh nghiệp Nhà nớc là một chủ thể sản xuất hàng hoá trong khuôn
khổ pháp luật, có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về quá trình tái sản xuất và
kinh doanh của mình nhằm đáp ứng các nhu cầu thị trờng và đạt mục tiêu mong
muốn (lợi nhuận tối da, uy tín, vị thế trên thơng trờng...)
Hai là, doanh nghiệp Nhà nớc là một pháp nhân kinh tế bình đẳng trớc pháp
luật. Do vậy, trong cơ chế thị trờng, các doanh nghiệp Nhà nớc phải chấp nhận cạnh
tranh. Để thắng lợi trong cạnh tranh phải hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu
quả.
Ba là, doanh nghiệp Nhà nớc là một tổ chức kinh tế, là một tế bào của nền

kinh tế quốc dân. Do vậy, hoạt động của doanh nghiệp Nhà nớc phải bảo đảm sự
thống nhất giữa lợi ích của tập thể cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp và lợi
ích chung của toàn hệ thống kinh tế quốc dân. Sự thống nhất về mục tiêu đạt hiệu
quả kinh tế - xã hội ngày càng cao sẽ là cơ sở bảo đảm cho sự thống nhất chung.
Bốn là, doanh nghiệp Nhà nớc là một tổ chức xã hội, có trách nhiệm làm chủ
các phơng tiện kỹ thuật, tài nguyên và giải quyết tốt các vấn đề xã hội.
Từ những chức năng và vai trò mới của doanh nghiệp Nhà nớc, trong hiện tại
và tơng lai, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là vấn đề có ý nghĩa quan
trọng và quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Nhà nớc,
bảo đảm định hớng xã hội chủ nghĩa.
13
2.2- Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp Nhà nớc.
Đặc điểm nổi bật bao quát toàn bộ các khu vực doanh nghiệp Nhà nớc là, bên
cạnh sự cần thiết và tác động tích cực không thể phủ nhận của doanh nghiệp Nhà n-
ớc, thì đây là khu vực hoạt động kém hiệu quả nhất về kinh tế - kỹ thuật, gây ra
những tổn thất to lớn cho các nguồn lực phát riển của đất nớc. Nguyên nhân của tình
trạng này có thể kể ra nh sau:
- Các mục tiêu mà Chính phủ áp đặt cho các doanh nghiệp Nhà nớc nhiều khi
mâu thuẫn nhau, dẫn đến sự hoạt động của doanh nghiệp mất hiệu quả về kỹ thuật
(chẳng hạn vì lý do phát triển không cấn đối giã các vùng, doanh nghiệp Nhà nớc
buộc phải đặt cơ sở tại những vùng địa lý bất lợi cho sản xuất kinh doanh).
- Nhiều doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động theo nguyên tắc độc quyền, không
tuỳ thuộc vào lợi nhuận mà nó đem lại, dẫn đến làm mất tác dụng của cơ chế cạnh
tranh kích thích tính hiệu quả của doanh nghiệp.
- Mặc dầu với số lợng nhân viên hành chính đông đảo hơn hẳn các doanh
nghiệp khác, các thông tin từ doanh nghiệp Nhà nớc cho Chính phủ thờng tỏ ra kém
chất lợng, làm tăng tính chủ quan các can thiệp của Nhà nớc vào hoạt động của
doanh nghiệp. Chính sự kết hợp giữa quản lý yếu kém và công nghệ lạc hậu của
doanh nghiệp đã dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn và năng suất lao động thấp, nhiều

doanh nghiệp bị thua lỗ.
- Hơn nữa, các doanh nghiệp Nhà nớc đang làm trầm trọng thêm vấn đề ngân
sách và nợ Chính phủ thông qua nhuững khoản vay kém hiệu quả với độ rủi ro cao
của doanh nghiệp Nhà nớc, thông qua những tài trợ của Ngân sách nhà nớc cho
doanh nghiệp Nhà nớc, hay những khoản nợ lẫn nhau giữa Chính phủ và doanh
nghiệp Nhà nớc.
Chính những lý do trên đây cùng với nguồn ngân sách hạn hẹp không cho
phép tăng các khoản bù lỗ và đầu t, tài trợ cho các doanh nghiệp Nhà nớc để chúng
thích ứng với sự biến đổi mạnh mẽ của thị trờng và kỹ thuật - công nghệ trong môi
trờng cạnh tranh gay gắt hiện nay và những biến đổi căn bản về bối cảnh chính trị xã
hội, đã quy định sự cần thiết phải cải cách, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
của khu vực doanh nghiệp Nhà nớc.
14
2.3- ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp Nhà nớc.
Đối với nền kinh tế nớc ta nói chung và đối với các doanh nghiệp Nhà nớc
việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh có ý nghĩa quan trọng, thể
hiện:
- Tiêu chuẩn hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là cơ sở để đánh giá
mức độ của các phơng án sản xuất kinh doanh khác nhau và chọn phơng án có hiệu
quả kinh tế cao. Dù ở cấp nào, thành phần kinh tế nào cũng phải lấy tiêu chuẩn hiệu
quả kinh tế làm cơ sở cho việc lựa chọn và đa ra các quyết định quản lý. Nâng cao
hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là cơ sở, tiền đề để phát triển kinh tế
trong các doanh nghiệp nói riêng và của toàn bộ hệ thống nền kinh tế nói chung.
- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nớc góp
phần nâng cao năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm và do đó tăng khả năng
cạnh tranh cho mỗi doanh nghiệp.
- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nớc góp
phần tạo ra ngày càng nhiều lợng sản phẩm cung cấp cho xã hội, đáp ứng tốt nhu
cầu lành mạnh của thị trờng.

- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh góp phần tăng lợi nhuận trong các
doanh nghiệp, qua đó nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho ngời lao động.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà
nớc sẽ góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nền kinh tế đất nớc; đẩy mạnh sự phân công lao động xã hội theo cả
chiều rộng lẫn chiều sâu; tạo điều kiện giải quyết nhiều việc làm cho ngời lao động.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ góp phần thúc đẩy quá
trình chuyển từ nền kinh tế sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn; góp phần tạo ra nguồn
vốn tích luỹ nội bộ ngày càng lớn, tạo điều kiện vật chất thuận lợi để phát triển sản
xuất, mở rộng giao lu kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội giữa các địa phơng và giữa
các quốc gia; góp phần vào việc ổn định nền kinh tế đất nớc.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Nhà nớc giúp cho các doanh nghiệp có khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học
kỹ thuật tiên tiến, đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá các thiết bị- công nghệ, tạo điều
kiện cho nền kinh tế đất nớc phát triển nhanh và bền vững.
15
- Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh giúp cho các doanh
nghiệp Nhà nớc vơn lên giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, hớng dẫn và giúp đỡ
các thành phần kinh tế khác giữ vững định hớng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nớc phải bảo đảm các yêu cầu sau:
Thứ nhất, việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh một mặt
phải giảm chi phí lao động xã hội, mặt khác phải bảo đảm chất lợng sản phẩm và
không ngừng mở rộng mặt hàng đáp ứng những nhu cầu đa dạng của xã hội.
Thứ hai, việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải
giải quyết những vấn đề kinh tế - kinh doanh, vừa giải quyết những vấn đề xã hội
của đất nớc, đó là:
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải gắn liền với vấn đề
giải quyết việc làm cho xã hội, đảm bảo điều kiện lao động hợp lý và thuận tiện cho
ngời lao động.

Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải gắn liền với
việc bảo vệ môi trờng, sử dụng hợp lý các tài nguyên (lao động, nguyên vật liệu, đất
đai...) đảm bảo an toàn vệ sinh lao động.
- Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh phải thống nhất với vấn đề công
bằng xã hội, phải gắn kết quả sản xuất kinh doanh với sự bình đẳng về mức sống, về
lao động và điều kiện lao động, về phân phối thu nhập.... cho ngời lao động trong
doanh nghiệp.
Thứ ba, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp
nhà nớc đòi hỏi phải xem xét mỗi giải pháp, mỗi phơng án sản xuất kinh doanh một
cách toàn diện về không gian và thời gian, đảm bảo hiệu quả của từng phần tử, từng
phân hệ có tác động tích cực đến việc nâng cao hiệu quả của toàn bộ hệ thống, nâng
cao hiệu quả hiện tại và lâu dài của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Thứ t, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc đòi hỏi quá
trình sản xuất kinh doanh phải thống nhất với sự ổn định kinh tế - chính trị - xã hội
của mỗi quốc gia. Điều đó có nghĩa là quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp phải đảm bảo thực hiện đúng mục đích, đúng hớng kinh doanh theo pháp luật,
góp phần ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nớc. Ngợc lại, sự ổn định về kinh
16
tế, chính trị, xã hội của đất nớc là cơ sở tiền đề vững chắc để hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp ổn định và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn.
Thứ năm, việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi mỗi
doanh nghiệp cần chú trọng đến việc tạo ra và không ngừng tăng lợi nhuận. Tuy
nhiên, không đơn giản coi lợi nhuận nh là tiêu chí duy nhất đánh giá hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mà phải xem xét lợi nhuận đạt đợc
bằng cách nào và đợc phân phối sử dụng ra sao. Trong nền kinh tế thị trờng,
mỗidoanh nghiệp là một tế bào của hệ thống nền kinh tế quốc dân, sự vận động của
nó phải nằm trong quỹ đạo chung và góp phần thực hiện mục tiêu của hệ thống. Do
vậy, lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp thu đợc trong hoạt động sản xuất kinh doanh
phải thể hiện sự gắn bó của doanh nghiệp với sự vận động của thị trờng; phải bảo
đảm tôn trọng pháp luật kỷ cơng của Nhà nớc, góp phần dịch chuyển cơ cấu kinh tế

theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Đồng thời, nó cũng phải đợc phân
phối theo cách kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích với nhau.
Thứ sáu, việc nâng cao hiệu quả hoạt động của mỗi doanh nghiệp Nhà nớc
đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
đó với nền kinh tế quốc dân. Hiệu quả của mỗi doanh nghiệp là tiền đề thúc đẩy việc
ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, đem lại lợi nhuận
ngày càng cao, góp phần nângcao đời sống cho ngời lao động trong doanh nghiệp và
mang lại lợi ích kinh tế cho đất nớc. Ngợc lại, khi hiệu quả kinh tế của đất nớc đợc
nâng cao sẽ tạo những điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp phát triển, đạt hiệu quả kinh tế cao.
17
Chơng 2
Thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp Nhà nớc trên địa bàn tỉnh Lai Châu
1- Tình hình hoạt động và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà
nớc trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
1.1- Tình hình tổng quát của các doanh nghiệp Nhà nớc trên địa bàn tỉnh
Lai Châu.
Những năm trớc đây, hệ thống doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động ở hầu hết các
ngành, các lĩnh vực kinh tế và đã góp phần quan trọng vào quá trình xây dựng và phát
triển kinh tế của tỉnh Lai Châu, tham gia tích cực và có hiệu quả vào việc giải quyết vấn
đề xã hội, thực hiện các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nớc. Bớc vào thời kỳ mới,
mặc dù khó khăn, nhng một số doanh nghiệp dần dần ổn định sản xuất kinh doanh, một
số doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả đã đợc tổ chức sắp xếp lại hoặc giải thể.
Năm 1986 -1987, toàn tỉnh Lai Châu có 65 doanh nghiệp Nhà nớc (trong đó tỉnh
quản lý 43 doanh nghiệp, huyện quản lý 22 doanh nghiệp) đến năm 1989 giải thể 6
doanh nghiệp, còn 59 doanh nghiệp.
Thực hiện nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trởng
về việc thành lập lại và giải thể doanh nghiệp Nhà nớc, chỉ thị 500/TTg ngày
25/8/1995 của Thủ tớng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lai Châu đã chỉ đạo

các ngành rà soát lại các doanh nghiệp Nhà nớc trên địa bàn, tiến hành thành
lập lại các doanh nghiệp Nhà nớc trên cơ sở sắp xếp lại các doanh nghiệp đang
hoạt động nhằm ổn định sản xuất kinh doanh bảo toàn và phát triển vốn đ ợc
giao, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế nhiều
thành phần. Đến nay toàn tỉnh Lai Châu hiện có 58 doanh nghiệp Nhà nớc,
trong đó 7 doanh nghiệp thuộc Tổng công ty 90 và 91; còn 49 doanh nghiệp
thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý và 2 doanh nghiệp trực thuộc khối Đảng
quản lý.
Trong số 49 doanh nghiệp Nhà nớc (Tỉnh quản lý) đợc phân loại nh sau:
Theo tính chất hoạt động có:
- Doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động công ích: 10 doanh nghiệp, chiếm 20,5%
- Doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động kinh doanh: 32 doanh nghiệp, chiếm 65,3%
- Doanh nghiệp Nhà nớc vừa hoạt động công ích vừa hoạt động kinh doanh: 7
doanh nghiệp, chiếm 14,2%.
18
Doanh nghiệp Nhà nớc phân theo tính chất hoạt động
Phân theo ngành kinh tế:
- Thuộc lĩnh vực Nông - Lâm nghiệp: có 12 doanh nghiệp
- Lĩnh vực Công nghiệp: 7 doanh nghiệp
- Lĩnh vực xây lắp: 9 doanh nghiệp
- Giao thông vận tải: 5 doanh nghiệp
- Bán lẻ : 10 doanh nghiệp
- Văn hoá thể thao: có 2 doanh nghiệp
- Lĩnh vực t vấn - KSTK: có 3 doanh nghiệp
- Hỗ trợ tài chính: 1 doanh nghiệp
Doanh nghiệp Nhà nớc phân theo ngành kinh tế
- Về vốn: Với 49 doanh nghiệp nhng tổng số vốn kinh doanh chỉ có 167 tỷ đồng,
trong đó vốn kinh doanh thuộc sở hữu Nhà nớc là 79.142 triệu đồng. Nh vậy bình quân 1
doanh nghiệp có vốn kinh doanh là 3.408 triệu đồng, trong đó vốn Nhà nớc là 1.615 triệu
19

20%
66%
14%
0%
DN công ích
Dn kinh doanh
Dn công ích & kinh doanh
0
2
4
6
8
10
12
Nông -Lâm
Công nghiệp
Xây lắp
Vận tải
Bán lẻ
Văn hoá thể thao
Tư vấn
Tài chính
đồng. Tuy nhiên, số vốn thực tế phát huy đợc tác dụng chiếm gần 70% (trên 30% là vốn
không phải khấu hao, tồn động chờ xử lý, thất thoát do thiên tai, công nợ khó đòi....).
Nhìn chung, vốn kinh doanh thuộc sở hữu Nhà nớc tại các doanh nghiệp rất thấp,
số vốn này mới đạt 34% vốn pháp định, và chiếm 47% trong tổng số vốn huy động vào
kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong số các doanh nghiệp hiện nay thì có 45% doanh
nghiệp có vốn Nhà nớc dới 500 triệu đồng; 27,5% doanh nghiệp có vốn nhà nớc từ 500
triệu đến 1 tỷ đồng; 19,5% doanh nghiệp có vốn Nhà nớc từ 1 đến 3 tỷ đồng; 3,5% doanh
nghiệp có vốn từ 3 đến 5 tỷ đồng và 3,5% doanh nghiệp có vốn Nhà nớc trên 5 tỷ đồng

(chủ yếu là các doanh nghiệp khai thác thuỷ nông).
Để duy trì mức độ sản xuất nhu vừa qua, các doanh nghiệp phải huy động vốn từ
bên ngoài (kể cả vay Ngân hàng) với số lợng lớn bằng 58,7% vốn huy động vào kinh
doanh của các doanh nghiệp; Chi phí trả lãi vay hàng năm rất lớn thờng chiếm 6% trong
giá thành, do đó làm giảm lợi nhuận hàng năm của nhiều doanh nghiệp.
-Về tài sản: Nguyên giá tài sản cố định hiện nay là 102,4 tỷ đồng, giá trị còn
lại của tài sản cố định là 69 tỷ đồng. Nh vậy bình quân 1 doanh nghiệp có 2,08 tỷ
đồng tài sản cố định.
Tài sản cố định của các doanh nghiệp phần lớn đã cũ, lạc hậu về kỹ thuật, giá trị
còn lại thấp, nhiều tài sản đợc trang bị từ thời kỳ kế hoạch hoá tập trung đến nay cha có
sự đầu t đổi mới, nhiều tài sản cố định đang chờ thanh lý nhng cha đợc giải quyết dứt
điểm, ảnh hởng đến hiệu quả sử dụng vốn. Hiện nay nhiều doanh nghiệp thực hiện đổi
mới thiết bị, công nghệ chủ yếu bằng vay vốn ngân hàng, nhng trog quá trình sử dụng đã
không phát huy đợc ccông suất, giá thành sản phẩm cao dẫn đến hiệu quả đầu t thấp.
- Về lao động: Tổng số lao động thờng xuyên trong các doanh nghiệp Nhà nớc
có 4.494 ngời, trong đó lao động chờ sắp xếp việc làm là 196 ngòi, chiếm 4,36% tổng số
lao động hiện có; 75 % doanh nghiệp có dới 100 lao động; 21% doanh nghiệp có từ 100
đến 300 lao động; 4% doanh nghiệp có trên 300 lao động. Ngoài số lao động thờng
xuyên, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng lực lợng lao động hợp đồng ngắn hạn từ 600 đến
700 lao động, bằng 15% tổng số lao động thờng xuyên.
Chất lợng lao động trong doanh nghiệp hiện nay rất thấp, trong tổng số lao
động của doanh nghiệp Nhà nớc hiện nay trên địa bàn tỉnh thì 2,5% có trình độ đại
học; 5,8% có trình độ trung cấp; 2,2% là công nhân kỹ thuật; 69,7% là lao động phổ
thông không qua đào tạo.
20
Bên cạnh đó có nhiều doanh nghiệp, lao động đợc hình thành từ những năm bao
cấp, đến nay tuổi cao, sức khoẻ giảm, tính năng động bị hạn chế nhiều. Việc đào tạo và
đào tạo lại đội ngũ công nhân lao động cha đợc quan tâm thờng xuyên, ở hầu hết các
doanh nghiệp không tổ chức đợc việc thi tay nghè nâng cao bậc cho công nhân.
- Tổ chức quản lý: Đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp Nhà nớc

hiện nay do Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý có 138 cán bộ lãnh đạo và quản lý doanh
nghiệp, trong đó có 49 giám đốc, 48 phó giám đốc và 41 kế toán trởng.
Về tuổi đời: 45 cán bộ dới 40; 27 cán bộ tuổi từ 40 đến 45; 36 cán bộ tuổi từ 45
đến 50; 30 cán bộ tuổi trên 50.
Về trình độ chuyên môn: đại học có 53 cán bộ; trung cấp 74 cán bộ; trình độ sơ
cấp 11 cán bộ. Trong đó 3 cán bộ không có bằng cấp chuyên môn.
Về trình độ văn hoá: 105 cán bộ trình độ 10/10; 33 cán bộ trình độ 7/10.
Về trình độ chính trị: 4 cán bộ có trình độ cao cấp; 27 cán bộ có trình độ trung
cấp; 1 cán bộ có trình độ sơ cấp và 106 cán bộ có bằng về lý luận chính trị.
Biểu 1: Số liệu về thực trạng doanh nghiệp Nhà nớc trên
địa bàn tỉnh Lai Châu
Chỉ tiêu Đ/vị tính 1987 1989 1998
1- Số lợng doanh nghiệp DN 65 59 58
- Tỉnh quản lý DN 43 49
- Huyện quản lý DN 22 -
- Tổng công ty 90 & 91 7
- Thuộc khối Đảng quản lý 2
2- Lao động doanh nghiệp Nhà nớc ngời 5.000 - 4.336
3 - Quy mô DNNN phân theo vốn kinh doanh
- Dới 500 triệu % 45
- Từ 1- 3 tỷ đồng % 19,5
- Từ 3 - 5 tỷ đồng % 3,5
- Trên 5 tỷ đồng % 3,5
4- Tổng số vốn doanh nghiệp Nhà nớc tỷ đồng 167
Nguồn: Báo cáo Phơng án sắp xếp DNNN của tỉnh Lai Châu, năm 1998
21
1.2- Kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nớc trên địa
bàn tỉnh Lai Châu
- Kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà n ớc phân theo ngành:
Ngành nông nghiệp:

Có 7 doanh nghiệp Nhà nớc, ngoài công ty Vật t nông nghiệp sản xuất kinh doanh
ổn định, có lãi còn lại các doanh nghiệp khác đều gặp khó khăn, sản xuất kinh doanh
không ổn định, bấp bênh nh công ty cây công nghiệp, xí nghiệp cơ khí nông nghiệp, 1
doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ 2 năm liền (Xí nghiệp chè Tam Đờng)
+ Nguồn vốn kinh doanh chiếm tỷ trọng 48%
+ Doanh thu chiếm 23%
Biểu 2: tổng hợp một số kết quả hoạt động các DNNN
thuộc ngành Nông nghiệp
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu 1995 1996 1997
1- Nguyên giá tài sản cố định 34.867 35.417 35.347
2- Nguồn vốn kinh doanh
- Tổng số 28.912 30.447 31.248
- Vốn Nhà nớc 25.659 27.049 27.681
3 - Nợ phải thu 8.672 11.470 12.384
4- Nợ phải trả 4.062 14.487 21.285
5 - Tổng doanh thu 35.076 45.883 51.121
6 - lãi lỗ 710 1.085 813
7- Các khoản nộp ngân sách 803 1.115 1.329
8- Số lao động (ngời) 1.364 972 1.149
Nguồn: Báo cáo Phơng án sắp xếp DNNN, Ban t vấn đổi mới DNNN, năm 1998
Ngành Lâm nghiệp:
Có 5 doanh nghiệp Nhà nớc dang gặp khó khăn về nhiệm vụ sản xuất kinh doanh,
không còn nhiệm vụ khai thác kinh doanh lâm sản. Hiện tại các doanh nghiệp này chỉ
làm dịch vụ chơng trình dự án 327, là những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu
quả.
Biểu 3: tổng hợp một số kết quả hoạt động các DNNN
thuộc ngành lâm nghiệp
22
Đơn vị tính: Triệu đồng

Chỉ tiêu 1995 1996 1997
1- Nguyên giá tài sản cố định 2.400 2.363 1.983
2- Nguồn vốn kinh doanh
- Tổng số 3.203 2.053 2.077
- Vốn Nhà nớc 2.121 963 943
3 - Nợ phải thu 1.917 2.392 1.378
4- Nợ phải trả 1.800 4.170 4.306
5 - Tổng doanh thu 7.613 9.886 5.270
6 - lãi lỗ 107 49 72
7- Các khoản nộp ngân sách 361 236 102
8- Số lao động (ngời) 345 331 334
Nguồn: Báo cáo Phơng án sắp xếp DNNN, Ban t vấn đổi mới DNN, năm 1998
Ngành khai thác Than:
Có 1 doanh nghiệp là công ty than hiện đang gặp khó khăn về thị trờng tiêu thụ
sản phẩm, vốn bị ứ đọng, nợ vay ngân hàng cao. Sản phẩm tồn kho khoảng trên 10.000
tấn than, trung khi đó than trung uơng đợc trợ cớc vận chuyển giá bán thấp hơn.
Ngành công nghiệp chế biến:
Có 6 doanh nghiệp, ngoài xí nghiệp in ổn định sản xuất kinh doanh, còn lại các
doanh nghiệp khác đều gặp khó khăn. Có 3 doanh nghiệp : Xí nghiệp chế biến gỗ, Công
ty Vật liệu xây dựng I, Nhà máy cơ khí Lai Châu quy mô nhỏ bé sản xuất kinh doanh
kém hiệu quả, thiếu vốn kinh doanh. Còn lại 2 doanh nghiệp là : Công ty Xuất nhập khẩu
và dịch vụ Thơng mại, công ty Vật liệu xây dựng II mới đầu t dây truyền sản xuất sản
phẩm nhng cha kinh doanh đạt hiệu quả, sản phẩm tồn kho lớn vẫn còn thua lỗ.
Biểu 4: tổng hợp một số kết quả hoạt động các DNNN
thuộc ngành chế biến gỗ
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu 1995 1996 1997
1- Nguyên giá tài sản cố định 3.508 3.752 3.709
2- Nguồn vốn kinh doanh
- Tổng số 336 1.408 1.402

- Vốn Nhà nớc 186 1.252 1.255
3 - Nợ phải thu 545 2.908 565
4- Nợ phải trả 761 5.938 3.625
5 - Tổng doanh thu 3.361 6.562 2.765
6 - lãi lỗ 49 62 294
7- Các khoản nộp ngân sách 505 551 72
8- Số lao động (ngời) 55 70 70
Ngành sản xuất điện nớc:
23
1 doanh nghiệp đó là Công ty Xây dựng và cấp thoát nớc đang trong thời kỳ đầu
t xây dựng cơ bản sản xuất kinh doanh cha ổn định.
Ngành xây dựng cơ bản:
Quy mô, trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh không
đồng đều, nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không ổn định, kém hiệu quả.
Biểu 5: tổng hợp một số kết quả hoạt động các DNNN
thuộc ngành xây dựng
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu 1995 1996 1997
1- Nguyên giá tài sản cố định 7.923 7.918 9.288
2- Nguồn vốn kinh doanh
- Tổng số 4.262 5.064 5.449
- Vốn Nhà nớc 2.163 2.860 3.252
3 - Nợ phải thu 11.888 12.650 7.726
4- Nợ phải trả 11.858 18.174 18.833
5 - Tổng doanh thu 45.363 34.522 24.320
6 - Lãi lỗ 577 182 161
7- Các khoản nộp ngân sách 1.063 1.096 1.023
8- Số lao động (ngời) 715 602 504
Nguồn: Báo cáo Phơng án sắp xếp DNNN, Ban t vấn đổi mới DNN, năm 1998
Ngành Thơng mại bán lẻ:

Là những công ty thơng nghiệp đợc hởng một phần chính sách hỗ trợ của
Nhà nớc trong việc cung ứng các mặt hàng chính sách xã hội cho đồng bào vùng
cao. Đợc Nhà nớc cấp vốn dự trữ lu thông các mặt hàng, tình hình sản xuất kinh
doanh tơng đối ổn định.
Biểu 6: tổng hợp một số kết quả hoạt động các DNNN
thuộc ngành bán lẻ
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu 1995 1996 1997
1- Nguyên giá tài sản cố định 10.998 11.210 12.871
2- Nguồn vốn kinh doanh
- Tổng số 11.660 11.337 13.207
- Vốn Nhà nớc 8.609 8.279 9.740
3 - Nợ phải thu 3.460 319 4.258
4- Nợ phải trả 5.583 14.621 16.646
5 - Tổng doanh thu 69.284 62.150 68.792
6 - lãi lỗ 991 573 590
7- Các khoản nộp ngân sách 1.253 1.231 1.551
8- Số lao động (ngời) 638 621 581
Ngành vận tải:
24
Các công ty vận tải ô tô gặp khó khăn, phơng tiện vận tải cũ nát, không đủ sức
cạnh tranh, giá cớc vận tải không đủ bù đắp chi phí.
Các ngành khác:
+ Một doanh nghiệp : Công ty t vấn xây dựng và Khảo sát Thiết kế Giao thông
sản xuất kinh doanh ổn định có hiệu quả.
+ 2 doanh nghiệp thua lỗ: Công ty số số kiến thiết, Công ty Điện ảnh.
+ 3 doanh nghiệp có quy mô quá nhỏ: Xí nghiệp khảo sát thiết kế thuỷ lợi, xí
nghiệp Khảo sát thiết kế xây dựng, công ty Văn hoá tổng hợp.
Biểu 7: tổng hợp một số kết quả hoạt động các DNNN khác
Đơn vị tính: Triệu đồng

Chỉ tiêu 1995 1996 1997
1- Nguyên giá tài sản cố định 389 496 638
2- Nguồn vốn kinh doanh
- Tổng số 400 487 587
- Vốn Nhà nớc 175 174 221
3 - Nợ phải thu 467 635 1.411
4- Nợ phải trả 794 1.255 1.430
5 - Tổng doanh thu 2.444 2.966 3.593
6 - Lãi lỗ 230 289 435
7- Các khoản nộp ngân sách 187 201 282
8- Số lao động (ngời) 66 76 80
Nguồn: Báo cáo Phơng án sắp xếp DNNN, Ban t vấn đổi mới DNN, năm 1998
- Doanh thu tiêu thụ sản phẩm:
+ Doanh thu bình quân 3 năm (1997 -1999) đạt : 199 tỷ đồng, bình quân 1
doanh nghiệp đạt 4,06 tỷ đồng doanh thu và cứ 1 đồng vốn kinh doanh tạo ra đợc
1,18 đồng doanh thu.
- Lợi nhuận và các khoản nộp ngân sách:
Lãi thực hiện (trớc thuế) hàng năm ở mức từ 3 tỷ đồng đến 3,6 tỷ đồng. Năm
1997, lãi thực hiện tính đến vốn kinh doanh đạt 2% và lãi thực hiện tính trên doanh thu
đạt 1,7%. Bình quân 1 lao động tạo ra đợc 770 ngàn đồng lãi. Tổng mức lãi thực hiện (tr-
ớc thuế) của các doanh nghiệp Nhà nớc hàng năm giảm 1,1 so với năm trớc. Số doanh
nghiệp kinh doanh có lãi giảm từ 44 doanh nghiệp (năm 1995) xuống còn 37 doanh
nghiệp (của năm 1997), số doanh nghiệp phát sinh lỗ tăng từ 3 doanh nghiệp (năm 1995)
lên 10 doanh nghiệp (của năm 1997).
25

×