Tải bản đầy đủ (.doc) (91 trang)

Luận văn thạc sỹ: Giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (400.78 KB, 91 trang )

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
 
CAO THỊ THU HUYỀN


GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THANH TOÁN
KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
THỊNH VƯỢNG
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Mã số : 6034.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ VĂN LUYỆN
HÀ NỘI – NĂM 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu nghiên cứu, Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi. Các số liệu nghiên cứu, kết luận thể hiện trong Luận văn là
trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Cao Thị Thu Huyền
MỤC LỤC
Chỉ tiêu 46
Năm 2010 46
Năm 2011 46
Năm 2012 46
Chỉ tiêu 48
Năm 2010 48


Năm 2011 48
Năm 2012 48
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
Chỉ tiêu 46
Năm 2010 46
Năm 2011 46
Năm 2012 46
Số lượng 46
Số lượng giao dịch 46
Số lương giao dịch 46
Chỉ tiêu 48
Năm 2010 48
Năm 2011 48
Năm 2012 48
Số tiền 48
Số tiền 48
Số tiền 48
Các hình thức 53
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của xã hội, ngân hàng ra đời được xem như là một
trong những phát minh kỳ diệu nhất trong lịch sử. Giai đoạn đầu hoạt động của
Ngân hàng sơ khai với nghiệp vụ ban đầu là nhận giữ vàng và các tài sản có giá
trị khác, đến nay ngân hàng đã trở thành tổ chức kinh doanh tiền tệ đa năng và
tổng hợp như: Huy động vốn, cho vay, bảo lãnh, thanh toán hộ
Ở Việt Nam, hệ thống ngân hàng đã không ngừng đổi mới và hoàn thiện
trên tất cả các mặt nghiệp vụ, đã đạt được kết quả nhất định trong đó có dịch
vụ thanh toán không dùng tiền mặt. Tuy nhiên, tình trạng thanh toán bằng tiền
mặt với số lượng lớn vẫn diễn ra phổ biến, gây lãng phí và kém hiệu quả

trong nền kinh tế.
Vì vậy, việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt là một trong
những yêu cầu cấp thiết, một mặt đáp ứng yêu cầu giao dịch kinh tế ngày
càng tăng , mặt khác do yêu cầu bản thân ngân hàng phải không ngừng hoàn
thiện, phát triển hệ thống thanh toán với công nghệ hiện đại nhằm thoả mãn
nhanh, chính xác và giảm chi phí từng bước hội nhập với hệ thống Tài chính -
Ngân hàng khu vực và thế giới.
Từ nhận thức trên, sau thời gian vừa công tác vừa nghiên cứu lý luận và
thực tế thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Việt Nam Thịnh Vượng, em đã chọn đề tài: “Giải pháp phát triển thanh
toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam
Thịnh Vượng” với mong muốn góp phần vào việc phát triển dịch vụ thanh
toán của ngân hàng theo hướng mở rộng quy mô, phạm vi và đối tượng sử
dụng, mặt khác nâng cao chất lượng thanh toán nhằm đáp ứng yêu cầu nhanh
chóng, chính xác, hiệu quả.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm về lý luận thanh toán không
1
dùng tiền mặt để từ đó phân tích đánh giá tình hình thực tế tổ chức thanh toán
không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh
Vượng, chỉ ra những mặt còn hạn chế và đề xuất các giải pháp phát triển
thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận về thanh toán không dùng tiền
mặt của hệ thống ngân hàng và thực tế về việc phát triển thanh toán không
dùng tiền mặt tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng
giai đoạn từ năm 2010 đến nay. Bên cạnh đó có sự tham khảo hoạt động
thanh toán không dùng tiền mặt tại các ngân hàng khác để lựa chọn ứng dụng
phù hợp với điều kiện của VPBank
4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp như: Phương pháp phân
tích tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, đối chiếu kết
hợp với luận giải, qua đó rút ra những tồn tại thiếu sót cần khắc phục để đề
xuất giải pháp góp phần phát triển hơn nữa dịch vụ thanh toán không dùng
tiền mặt tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng.
5. Kết cấu luận văn
Kết cấu của luận văn ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo bao gồm ba chương sau:
Chương 1: Những lý luận cơ bản thanh toán không dùng tiền mặt trong
nền kinh tế thị trường.
Chương 2: Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng.
2
CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN
KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG
1.1. Bản chất, đặc điểm và vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt
1.1.1. Bản chất của thanh toán không dùng tiền mặt
Tiền tệ có ba chức năng chính là: chức năng thước đo giá trị, chức năng
phương tiện thanh toán, chức năng bảo toàn giá trị. Trong đó, chức năng quan
trọng nhất của tiền tệ là chức năng phương tiện thanh toán. Khi tiền tệ xuất
hiện, hình thái trao đổi trực tiếp bằng hiện vật dần dần nhường chỗ cho hình
thái trao đổi gián tiếp thực hiện thông qua trung gian là tiền tệ. Hình thái trao
đổi này trở thành phương tiện và động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng
nhanh chóng, buôn bán trở nên dễ dàng, sản xuất thuận lợi. Khi mức độ tiền
tệ hóa ngày càng cao thì hoạt động giao lưu kinh tế càng được diễn ra thuận
lợi, trôi chảy.

Thanh toán là việc người mua trả cho người bán một giá trị tương đương
với giá trị hàng hóa, dịch vụ mà người bán cung cấp cho người mua. Tiền tệ
đi vào lưu thông thực hiện chức năng phương tiện thanh toán diễn ra dưới hai
hình thức là thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt.
Thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức thanh toán tiền hàng hoá,
dịch vụ và các khoản công nợ không có sự xuất hiện của tiền mặt, mà được
tiến hành bằng cách trích chuyển tiền từ tài khoản của người chi trả sang tài
khoản của người thụ hưởng, hoặc bằng cách bù trừ các khoản nợ lẫn nhau
thông qua vai trò trung gian của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
1.1.2. Đặc điểm của thanh toán không dùng tiền mặt
3
Sự ra đời của thanh toán không dùng tiền mặt gắn liền với sự ra đời của
đồng tiền ghi sổ và sự phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của hệ thống
ngân hàng. Thông qua các nghiệp vụ, ngân hàng đã tạo điều kiện cho cá nhân
và các tổ chức kinh tế mở tài khoản tiền gửi thanh toán và thực hiện việc
thanh toán cho nhau thông qua hình thức chuyển khoản. Thanh toán không
dùng tiền mặt là một hình thức vận động tiền tệ mà ở đây tiền vừa là đơn vị
để kế toán, vừa là phương tiện để thực hiện giá trị của hàng hóa và dịch vụ.
Thanh toán không dùng tiền mặt có một số đặc điểm sau:
- Trong thanh toán không dùng tiền mặt sự vận động của tiền tệ độc lập
tương đối với sự vận động của hàng hóa cả về thời gian lẫn không gian và
thường không có sự trùng khớp nhau. Số tiền thanh toán được tính dựa trên
cơ sở lượng hàng hóa, dịch vụ đã giao giữa người mua và người bán. Như
vậy, người bán có trách nhiệm giao hàng hay cung cấp dịch vụ kịp thời và
đúng với lượng giá trị mà người mua thanh toán. Đồng thời, người mua phải
chuẩn bị đầy đủ phương tiện thanh toán (số dư trên tài khoản tiền gửi thanh
toán hoặc hạn mức thấu chi) để đáp ứng yêu cầu thanh toán đầy đủ, kịp thời
khi xuất hiện yêu cầu thanh toán. Đây là đặc điểm quan trọng và nổi bật nhất
của hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.
- Trong thanh toán không dùng tiền mặt, vật trung gian trao đổi không

xuất hiện trực tiếp như trong hình thức thanh toán dùng tiền mặt theo kiểu H-
T-H mà chỉ xuất hiện dưới dạng tiền kế toán hay tiền ghi sổ và được ghi chép
trên các chứng từ, sổ sách kế toán. Việc thanh toán được thực hiện bằng cách
trích tiền từ tài khoản tiền gửi của người phải trả sang tài khoản tiền gửi của
người thụ hưởng tại ngân hàng. Vì vậy để tiến hành thanh toán qua trung gian
ngân hàng, các chủ thể tham gia thanh toán bắt buộc phải mở tài khoản tại
ngân hàng. Đây là đặc điểm cơ bản nhất của thanh toán không dùng tiền mặt.
- Mỗi giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt có ít nhất ba bên tham
gia: người trả tiền (bên mua), người thụ hưởng (bên bán) và đơn vị trung gian
4
thanh toán là ngân hàng.
Người trả tiền đóng vai trò quyết định trong quá trình thanh toán. Người
trả tiền có nhiệm vụ trả đúng hạn số tiền phải trả, tôn trọng những thủ tục cần
thiết trong thanh toán như lập, nộp chứng từ thanh toán theo mẫu và theo
những thời hạn được quy định hoặc được thỏa thuận trước. Người trả tiền có
quyền từ chối thanh toán nếu các chủ thể khác vi phạm các cam kết hay
những quy định thỏa thuận giữa các bên.
Người thụ hưởng là người được hưởng một khoản tiền do đã cung cấp
hàng hóa, dịch vụ cho người trả tiền. Các cơ sở để người thụ hưởng được
thanh toán là các chứng từ liên quan đến giao nhận hàng và cung ứng dịch vụ.
Vì vậy người thụ hưởng phải kiểm soát kỹ càng các chứng từ phát sinh trong
quá trình thanh toán.
Ngân hàng là đơn vị trung gian thanh toán cung cấp các dịch vụ thanh
toán cho người trả tiền, người thụ hưởng và được hưởng phí dịch vụ thanh
toán. Ngân hàng có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng làm các thủ tục thanh
toán, theo dõi khả năng chi trả của khách hàng và cung cấp kịp thời, đầy đủ
các loại giấy tờ thanh toán cần thiết cho khách hàng theo đúng chế độ quy
định. Khi nhận được các chứng từ thanh toán do khách hàng gửi tới, ngân
hàng phải kiểm tra khả năng thanh toán của chủ tài khoản trước khi thực hiện
thanh toán. Ngân hàng có trách nhiệm thanh toán kịp thời, chính xác và đảm

bảo an toàn tài sản cho khách hàng.
Với những đặc điểm nêu trên, thanh toán không dùng tiền mặt nếu được
tổ chức và thực hiện tốt sẽ phát huy được tác dụng tích cực của nó. Trong nền
kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội và nhu cầu của thị
trường, thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng giữ một vị trí vô cùng
quan trọng trong việc lưu chuyển tiền tệ và trong thanh toán của nền kinh tế.
1.1.3. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt
5
Thanh toán không dùng tiền mặt ra đời và phát triển trên cơ sở nền sản
xuất hàng hoá. Nền sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển thì nhu cầu về
thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng tăng, điều này được thể hiện qua
vai trò của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế.
a. Đối với nền kinh tế và lợi ích xã hội
- Thanh toán không dùng tiền mặt góp phần thúc đẩy sự phát triển của
sản xuất và lưu thông hàng hoá. Thanh toán vừa là khâu mở đầu và cũng vừa
là khâu kết thúc của một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Do đó nếu tổ chức tốt
trong khâu thanh toán thì sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn giúp người bán
thu hồi vốn nhanh để phục vụ tốt cho chu kỳ sản xuất sau, giúp người mua
nhanh chóng có vật tư, hàng hóa, nguyên vật liệu để bắt đầu một chu kỳ sản
xuất mới.
Qua nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt đã rút ngắn được thời
gian thanh toán, tiết kiệm vốn, tăng nhanh tốc độ quay vòng của vốn góp phần
thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- Đối với nền kinh tế, việc tăng tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt
làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm chi phí trong việc in ấn,
bảo quản, vận chuyển tiền mặt.
- Vai trò thanh toán không dùng tiền mặt đối với quản lý vĩ mô của Ngân
hàng Nhà nước nói riêng và của Nhà nước nói chung: Ngân hàng Nhà nước là
tổ chức kinh tế của Nhà nước, thực hiện các chính sách tiền tệ, tín dụng, thanh
toán của Nhà nước. Vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước qua Ngân hàng Nhà

nước chỉ thực sự phát huy và có hiệu quả khi phần lớn khối lượng giao dịch
được thanh toán tập trung qua Ngân hàng thương mại. Từ đó Ngân hàng Nhà
nước quản lý một cách tổng thể lượng tiền tệ lưu thông trong dân cư, kiểm
soát được mức tạo tiền phục vụ cho việc điều tiết chính sách tiền tệ.
b. Đối với các tổ chức và cá nhân
6
Như đã phân tích ở trên, thanh toán không dùng tiền mặt góp phần thúc
đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ chu chuyển vốn và quá trình tái sản xuất
trong hoạt động kinh doanh.
Mặt khác, thanh toán không dùng tiền mặt đảm bảo sự an toàn về vốn,
tránh được những rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra trong quá trình thanh toán.
Đặc biệt trong những trường hợp giao dịch thanh toán có giá trị lớn hay
khoảng cách giữa người mua và người bán xa thì thanh toán không dùng tiền
mặt sẽ giúp khách hàng không phải vận chuyển một số lượng lớn tiền mặt hay
phải gặp trực tiếp nhau để giao tiền.
c. Đối với các ngân hàng và tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
Khi cung cấp dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, ngân hàng và các
tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán sẽ thu được phí dịch vụ từ khách hàng.
Phí dịch vụ này có thể thu từ người chi trả hoặc từ người nhận tùy theo từng
phương thức thanh toán hay thỏa thuận giữa các khách hàng. Đây là một
nguồn thu đáng kể của ngân hàng và các tổ chức cung ứng dịch thanh toán.
Mặt khác, nếu ngân hàng làm tốt công tác thanh toán không dùng tiền
mặt thì sẽ thu hút khách hàng đến với ngân hàng của mình và sử dụng tiếp các
dịch vụ khác. Để sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, các đơn vị
sản xuất kinh doanh và cá nhân phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại
Ngân hàng nhằm thực hiện chuyển tiền đi thanh toán hay nhận tiền về. Vì
vậy, trên tài khoản luôn luôn có một số tiền nhất định để phục vụ cho công tác
thanh toán. Đây chính là nguồn vốn tiềm tàng chảy vào ngân hàng. Bên cạnh
đó, khi khách hàng đã mở tài khoản tiền gửi thanh toán và sử dụng dịch vụ
thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng thì khách hàng có thể sử dụng

tiếp các sản phẩm dịch vụ khác của chính ngân hàng này như tín dụng, mở tài
khoản thẻ, gửi tiết kiệm,…
Thanh toán không dùng tiền mặt giúp hệ thống Ngân hàng thương mại
7
thực hiện chức năng tạo tiền. Khi sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền
mặt, khách hàng chỉ cần trích tài khoản tiền gửi thanh toán của mình mở tại
Ngân hàng chuyển vào tài khoản tiền gửi của người hưởng mở tại cùng ngân
hàng hay khác ngân hàng. Ngân hàng hưởng lại sử dụng nguồn vốn này để
cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng thanh toán hàng hóa,
dịch vụ… Cứ như vậy, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm cho từ một số
tiền gửi ban đầu được nhân lên gấp bội, tăng tổng phương tiện thanh toán
trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
1.2. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt và các phương thức
thanh toán vốn của ngân hàng
1.2.1. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
Hiện nay các đơn vị và cá nhân thanh toán qua ngân hàng áp dụng các
hình thức thanh toán không dùng tiền mặt sau:
Uỷ nhiệm chi (hoặc lệnh chi)
Uỷ nhiệm thu (hoặc nhờ thu)
Séc thanh toán
Thẻ thanh toán.
Thư tín dụng
a. Ủy nhiệm chi (UNC) hoặc lệnh chi
UNC là lệnh của chủ tài khoản ủy nhiệm cho tổ chức cung ứng dịch vụ
thanh toán phục vụ mình trích một số tiền nhất định từ tài khoản tiền gửi của
mình để chuyển cho người hưởng có tài khoản ở cùng tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán hoặc khác tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
UNC được áp dụng trong thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc chuyển
tiền của các khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán trong cùng một tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán hoặc giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.

Uỷ nhiệm chi có những ưu điểm: là hình thức thanh toán đơn giản, thuận
8
tiện và được áp dụng trong nhiều năm nay. Uỷ nhiệm chi được sử dụng khá
phổ biến trong thanh toán hàng hóa, dịch vụ cũng như thanh toán phí trả tiền
nợ, thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách
Tuy nhiên, bên cạnh đó ủy nhiệm chi còn có những hạn chế: việc chi trả
và thời gian chi trả lệ thuộc vào đơn vị mua quyết định. Trong trường hợp đơn
vị mua bị khó khăn về tài chính hoặc vi phạm hợp đồng thì quyền lợi của bên
bán không được đảm bảo vì bên mua đã sử dụng hàng hoá và dịch vụ của bên
bán giao cho. Với việc thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi có thể dẫn đến tình
trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau nếu một trong hai bên vi phạm hợp đồng. Do
đó, Uỷ nhiệm chi thường được áp dụng trong trường hợp thanh toán giữa hai
bên thực sự có tín nhiệm lẫn nhau.
b. Ủy nhiệm thu (UNT) hoặc nhờ thu
Uỷ nhiệm thu là giấy tờ thanh toán do người bán lập để ủy thác cho tổ
chức cung ứng dịch vụ thanh toán thu hộ một số tiền từ người mua tương ứng
với giá trị hàng hóa, dịch vụ đã cung ứng.
Ủy nhiệm thu được áp dụng trong giao dịch thanh toán giữa những
người sử dụng dịch vụ thanh toán có mở tài khoản trong nội bộ tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán hoặc giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán,
trên cơ sở có thỏa thuận hoặc hợp đồng về điều kiện thu hộ giữa bên trả tiền
và bên thụ hưởng.
Thời hạn thực hiện UNT do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thỏa
thuận với người sử dụng dịch vụ thanh toán.
Ủy nhiệm thu còn bộc lộ một số hạn chế: Uỷ nhiệm thu và các chứng từ
giao hàng xuất phát từ bên bán nhưng lại đòi hỏi phải ghi Nợ trước, Có sau
nên thường bị luân chuyển chứng từ qua nhiều công đoạn gây ách tắc chậm
trễ trong thanh toán. Bên cạnh đó, việc tự động lập ủy nhiệm thu này có thể
dẫn đến người bán lập ủy nhiệm thu để thu khống, thu thừa tiền của người
9

mua do đó Ủy nhiệm thu chỉ được sử dụng để thanh toán những hàng hóa,
dịch vụ có dụng cụ ghi đo chính xác như điện, điện thoại, nước… Hay nó
được áp dụng trong trường hợp hai bên tin tưởng lẫn nhau.
c. Séc thanh toán
Séc là loại lệnh trả tiền của chủ tài khoản được lập trên mẫu in sẵn do
Ngân hàng Nhà nước quy định, để yêu cầu đơn vị thanh toán trích một số tiền
từ tài khoản tiền gửi thanh toán của mình trả cho người thụ hưởng có tên ghi
trên séc hay người cầm séc.
Séc phải được lập trên mẫu in sẵn do Ngân hàng Nhà nước quy định, thể
hiện được đầy đủ các thông tin Người ký phát, người thụ hưởng, Đơn vị thực
hiện thanh toán, Đơn vị thu hộ, ngày ký phát, Số tiền thanh toán, Nội dung
thanh toán…Séc phải được ký đóng dấu xác nhận bởi người/đơn vị có thẩm
quyền đã đăng ký với đơn vị thực hiện thanh toán.
Các chủ thể tham gia thanh toán séc bao gồm Người ký phát, người thụ
hưởng, Đơn vị thực hiện thanh toán, Đơn vị thu hộ, Trung tâm thanh toán bù
trừ séc.
Séc được phân loại thành một số loại phổ biến sau:
Séc chuyển khoản là loại séc mà người ký phát séc ra lệnh cho ngân hàng
trích tiền từ tài khoản của mình để chuyển tra sang tài khoản của người khác
trong hoặc khác ngân hàng. Séc chuyển khoản không chuyển nhượng được và
không thể lĩnh tiền mặt được.
Séc bảo chi là séc đã được tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán xác nhận
khả năng thanh toán trước khi người chi trả trao Séc cho người thụ hưởng để
nhận hàng hóa và dịch vụ. Với Séc bảo chi, trước khi muốn phát hành Séc bảo
chi cho người thụ hưởng, người ký phát phải đến tổ chức cung ứng dịch vụ
thanh toán phục vụ mình để làm thủ tục bảo chi cho tờ séc. Sau khi được đóng
dấu “Bảo chi”, ghi ký hiệu mật lên tờ séc, người ký phát mới có thể sử dụng
10
tờ Séc đó để trao cho người thụ hưởng
Séc du lịch là một loại séc quốc tế, được in sẵn mệnh giá và được chấp

nhận ở phần lớn các quốc gia trên thế giới. Tại một số nước phát triển, séc du
lịch có có giá trị thanh toán như tiền mặt. Người mua séc du lịch có thể quy
đổi ra tiền mặt bằng cách ký xác nhận lên tờ séc. Séc du lịch là một trong
những phương thức thanh toán thông thường dành cho khách hàng khi đi
nước ngoài.
Thanh toán bằng séc có nhiều thuận lợi và nhanh chóng trong giao dịch
mua bán, người mua hàng ký séc đưa cho người bán và người bán chỉ cần
cầm séc và CMND ra ngân hàng là có thể nhận được tiền hoặc tiền sẽ được
chuyển vào tài khoản của người bán.
Tuy nhiên thanh toán bằng séc hiện nay vẫn hạn chế, nguyên nhân là sự
lo ngại của người bán hàng sợ tài khoản của người mua không còn tiền, séc
giả, dễ dẫn đến rủi ro. Bên cạnh đó, việc thanh toán séc cũng gặp không ít
phiền phức nếu người mua và người bán không có tài khoản ở cùng một ngân
hàng, thanh toán phải qua nhiều khâu lưu chuyển chứng từ và séc dẫn đến
chậm trễ trong thanh toán.
d. Thẻ thanh toán
Thẻ ngân hàng là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt do
ngân hàng phát hành cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hoá và dịch vụ tại
các đơn vị chấp nhận thẻ, rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán hay
các quầy trả tiền mặt tự động.
Theo tính chất thanh toán của thẻ thì thẻ được chia làm ba loại: Thẻ ghi
nợ, thẻ trả trước, thẻ tín dụng.
Thẻ ghi nợ là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn với tài khoản tiền gửi
thanh toán của chủ thẻ. Để sử dụng thẻ này, chủ thẻ phải có tài khoản hoạt
động thường xuyên tại ngân hàng. Khi khách hàng thực hiện giao dịch thanh
11
toán hàng hóa dịch vụ hoặc rút tiền thì giá trị giao dịch sẽ được trừ ngay lập
tức vào tài khoản của chủ thẻ. Như vậy, người sử dụng thẻ này không phải
lưu ký tiền vào tài khoản đảm bảo thanh toán thẻ, căn cứ để thanh toán là số
dư tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ sở hữu thẻ tại ngân hàng và hạn mức

thanh toán tối đa của thẻ do ngân hàng quy định.
Thẻ trả trước là loại thẻ khách hàng không cần thực hiện các thủ tục phát
hành thẻ như yêu cầu, họ chỉ cần trả cho ngân hàng một số tiền và sẽ được
ngân hàng bán cho một tấm thẻ với mệnh giá tương đương. Đặc tính của thẻ
này là chỉ được giới hạn trong số tiền có trong thẻ và chi tiêu trong một
khoảng thời gian nhất định tùy vào quy định của mỗi ngân hàng, tức là hạn
mức thẻ không có tính chất tuần hoàn.
Thẻ tín dụng là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cho
phép người sử dụng có khả năng chi tiêu trước trả tiền sau. Theo đó người
chủ thẻ được sử dụng một hạn mức tín dụng quy định không phải trả lãi để
mua sắm hàng hóa dịch vụ. Khoảng thời gian từ khi thẻ này được sử dụng để
thanh toán đến lúc chủ thẻ phải trả tiền cho ngân hàng có độ dài phụ thuộc
vào từng loại thẻ tín dụng của các tổ chức khác nhau. Thời gian này chủ thẻ
hoàn toàn được miễn lãi đối với số tiền phát sinh. Nếu hết thời gian miễn lãi
này mà toàn bộ số tiền phát sinh chưa được thanh toán thì chủ thẻ phải chịu
những khoản phí và lãi chậm trả.
Theo phạm vi lãnh thổ, thẻ chia làm hai loại là thẻ trong nước và thẻ
quốc tế:
Thẻ trong nước là thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi lãnh thổ một
quốc gia, do đó đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó.
Thẻ quốc tế là loại thẻ được chấp nhận trên toàn cầu, sử dụng các ngoại
tệ mạnh để thanh toán. Nó được khách du lịch rất ưa chuộng vì sự an toàn tiện
lợi. Tuy nhiên do phạm vi sử dụng rộng cho nên quy trình hoạt động của thẻ
này phức tạp hơn.
12
Để được sử dụng thẻ ngân hàng (sau đây gọi tắt là thẻ) khách hàng phải
thực hiện các thủ tục đăng ký sử dụng thẻ và đáp ứng đủ các điều kiện theo
quy định của ngân hàng phát hành thẻ. Ngân hàng phát hành thẻ sẽ thẩm định
tính pháp lý và khả năng tài chính của khách hàng, phát hành thẻ cho các
khách hàng có kết quả thẩm định đạt yêu cầu đồng thời ký hợp đồng sử dụng

thẻ với khách hàng.
Việc tiếp nhận thanh toán bằng thẻ phải có hợp đồng thoả thuận giữa ngân
hàng phát hành thẻ hoặc ngân hàng thanh toán thẻ với đơn vị chấp nhận thẻ.
Ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ có trách nhiệm
hướng dẫn đầy đủ quy trình thanh toán thẻ cho các đơn vị chấp nhận thẻ.
Tại các đơn vị chấp nhận thẻ: Khi chủ thẻ xuất trình thẻ để mua hàng
hóa, dịch vụ đơn vị chấp nhận thẻ phải sử dụng máy chuyên dùng kết hợp với
việc kiểm tra bằng mắt: Tính hợp lệ, thời hạn hiệu lực của thẻ, đối chiếu số
thẻ của khách hàng với thông báo về danh sách thẻ bị từ chối thanh toán của
ngân hàng phát hành thẻ, đối chiếu số tiền thanh toán với hạn mức thanh toán
được quy định, kiểm tra CMND/hộ chiếu, chữ ký chủ thẻ…
Tại Ngân hàng thanh toán thẻ: Nhận được bảng kê kèm các hoá đơn
thanh toán của đơn vị chấp nhận thẻ gửi đến, sau khi đã kiểm tra đủ điều kiện
thanh toán, ngân hàng thanh toán thẻ có trách nhiệm thanh toán ngay cho đơn
vị chấp nhận thẻ.
Thanh toán bằng thẻ có ưu điểm là nhanh chóng, tiện lợi, an toàn.
Tuy nhiên số lượng và giá trị giao dịch được thanh toán bằng thẻ hiện
nay vẫn hạn chế do thói quen của người dân.
e. Thư tín dụng
Thư tín dụng là văn bản cam kết của người mua, có xác nhận của Ngân
hàng bên mua để uỷ nhiệm cho Ngân hàng bên mua thanh toán một số tiền
nhất định cho người bán, nếu người bán nộp đầy đủ chứng từ thanh toán hợp
lệ theo điều kiện và thời hạn của thư tín dụng.
13
Thư tín dụng dùng trong thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ trên cơ sở hợp
đồng kinh tế đã ký kết và trong trường hợp giữa người mua và người bán không
tín nhiệm lẫn nhau. Thư tín dụng thường áp dụng khi bên bán hoặc bên mua giao
dịch không thường xuyên, không biết nhau hoặc giao dịch lần đầu, hoặc do yêu
cầu bên bán đòi hỏi bên mua đảm bảo cho khả năng thanh toán chắc chắn.
1.2.2. Các phương thức thanh toán vốn của ngân hàng

Để thực hiện các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho khách
hàng, ngân hàng sử dụng các phương thức thanh toán vốn sau:
a. Thanh toán điện tử liên chi nhánh ngân hàng
Phương thức thanh toán điện tử liên chi nhánh ngân hàng áp dụng thanh
toán giữa các chi nhánh ngân hàng trong cùng hệ thống, là phương thức thanh
toán quan trọng của ngân hàng. Thanh toán điện tử liên chi nhánh ngân hàng là
quan hệ thanh toán nội bộ giữa các Chi nhánh ngân hàng trong cùng hệ thống
phát sinh trên cơ sở nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt giữa các khách
hàng có mở tài khoản tiền gửi thanh toán ở các Chi nhánh ngân hàng khác nhau
hoặc các nghiệp vụ chuyển tiền, điều hoà vốn trong nội bộ hệ thống.
Ngày nay, trong điều kiện khoa học công nghệ và thanh toán phát triển.
Việc ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ và thông tin vào các
hoạt động của Ngân hàng nói chung và công tác thanh toán nói riêng là một
điều hết sức cần thiết, thanh toán liên chi nhánh ngân hàng truyền thống đã
được phát triển thành thanh toán tập trung điện tử. Qua hình thức này số liệu
thanh toán có liên quan đến các chi nhánh khác nhau được truyền và xử lý
thông qua hệ thống máy vi tính. Phương thức này được áp dụng đối với tất cả
các khoản thanh toán bằng VNĐ, và bằng ngoại tệ qua tài khoản tiền gửi
thanh toán của Chi nhánh tại trung tâm thanh toán. Muốn thực hiện được
thanh toán điện tử thì đòi hỏi chi nhánh tham gia phải có đầy đủ các điều kiện
về kỹ thuật, nghiệp vụ như mạng vi tính cục bộ, điện dự phòng, khả năng
14
truyền thông, cán bộ kỹ thuật và cán bộ nghiệp vụ.
Tóm lại, phương thức thanh toán này có nhiều ưu điểm là nhanh chóng
và chính xác, tài khoản hạch toán đơn giản, quy trình thanh toán chặt chẽ.
Mọi khoản chuyển tiền được thực hiện ngay trong ngày và đối chiếu ngay do
đó hạn chế được tối đa những sai sót có thể xảy ra.
b. Thanh toán điện tử liên ngân hàng
Thanh toán điện tử liên ngân hàng là một hệ thống thanh toán hiện đại,
xây dựng trên nền tảng kỹ thuật công nghệ tiên tiến và nằm trong dự án hiện

đại hoá ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế.
Thanh toán điện tử liên ngân hàng khác hệ thống là phương thức thanh
toán áp dụng giữa các Ngân hàng thương mại khác hệ thống trong toàn cả
nước. Phương thức này được diễn ra qua một hệ thống điện tử liên ngân hàng
mà Ngân hàng Nhà nước đứng ra chủ trì. Hệ thống thanh toán điện tử liên
ngân hàng được chia thành hai tiểu hệ thống là hệ thống thanh toán giá trị cao
hoặc khẩn và hệ thống thanh toán giá trị thấp.
Các ngân hàng thành viên có văn bản giới thiệu các cán bộ tham gia vào
quy trình kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán, trong đó xác định rõ nhiệm vụ, trách
nhiệm của từng cán bộ được giới thiệu để thực hiện các phần công việc trong
thanh toán điện tử liên ngân hàng. Bản giới thiệu này gửi trực tiếp đến ngân
hàng chủ trì. Mỗi cán bộ của ngân hàng thành viên được giới thiệu tham gia
vào quy trình kỹ thuật nghiệp vụ của thanh toán điện tử liên ngân hàng, tùy
theo chức năng nhiệm vụ của mỗi cán bộ sẽ được ngân hàng chủ trì quy định
chữ ký điện tử và mã khóa bảo mật.
Khi chuyển lệnh thanh toán đi, các ngân hàng thành viên phải tuân tủ
nguyên tắc chung về phân quyền hạn và trách nhiệm xử lý, kiểm tra, kiểm
soát giữa các phần hành nghiệp vụ và cá nhân có liên quan đến tài khoản
chuyển tiền đi sao cho tất cả các khâu công việc phải có tính độc lập với nhau
15
và phải có người thực hiện, người kiểm soát.
Đến thời điểm thực hiện phiên thanh toán, các ngân hàng thành viên gửi
các lệnh thanh toán đã được lập cùng bảng kê các lệnh thanh toán gửi đi ngân
hàng chủ trì. Ngân hàng chủ trì sẽ thực hiện kiểm tra đối chiếu giữa lệnh
thanh toán và bảng kê các lệnh thanh toán. Chỉ sau khi ngân hàng chủ trì hạch
toán xong kết quả, thì toàn bộ kết quả thanh toán bù trừ trong phiên cùng với
lệnh thanh toán sẽ được truyển tới các ngân hàng thành viên liên quan.
Trường hợp tài khoản ngân hàng thành viên bị thiếu khả năng chi trả so
với kết quả thanh toán bù trừ, ngân hàng chủ trì sẽ loại bỏ một số lệnh thanh
toán theo trật tự ưu tiên từ thấp đến cao. Các lệnh thanh toán không được xử

lý này sẽ được lưu lại và xử lý bù trừ vào phiên thanh toán bù trừ kế tiếp trong
ngày. Nếu đến thời điểm quyết toán mà ngân hàng thành viên đó vẫn không
đủ khả năng chi trả để thanh toán cho các lệnh thanh toán chưa được xử lý bù
trừ, thì ngân hàng chủ trì sẽ tiến hành hủy bỏ các lệnh thanh toán này.
Thanh toán theo phương thức này có ưu điểm tập trung vốn dự trữ, tạo điều
kiện để Ngân hàng nhà Nước kiểm soát nguồn vốn kinh doanh của Ngân hàng
thương mại và tăng tốc độ lưu thông của đồng tiền. Đồng thời, hệ thống này
cũng cung cấp thông tin kịp thời chính xác phục vụ Chức năng quản lý, thực thi
chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà Nước. Đó chính là cơ sở hạ tầng quan
trọng cho việc mở rộng các dịch vụ Ngân hàng hiện đại và thực hiện thương mại
điện tử ở Việt Nam trong tương lai nhất là khi Việt Nam đã gia nhập WTO.
c. Thanh toán bù trừ khác hệ thống
Thanh toán bù trừ là phương thức thanh toán được áp dụng trong thanh
toán giữa các Ngân hàng thương mại khác hệ thống trên cùng một địa bàn
Tỉnh, Thành phố.
Thanh toán bù trừ do một ngân hàng đứng ra chủ trì là Ngân hàng Nhà
nước tại địa bàn Tỉnh, Thành phố đó. Mỗi thành viên tham gia thanh toán bù
16
trừ phải mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng chủ trì để hạch toán và thanh toán
phần chênh lệch cuối cùng của quá trình thanh toán bù trừ.
Mỗi thành viên trong hệ thống thanh toán bù trừ phải tuân thủ các quy
định về thủ tục, nguyên tắc và tổ chức kỹ thuật nghiệp vụ đã quy định. Ngân
hàng chủ trì căn cứ vào bảng kê thanh toán bù trừ do các ngân hàng thành
viên gửi đến, lập bảng kê kết quả thanh toán bù trừ trong phiên cho các Ngân
hàng thành viên. Bảng kết quả đối chiếu số liệu thanh toán bù trừ phải đảm
bảo tổng thu bằng tổng phải trả. Phần chênh lệch kết quả bù trừ của các Ngân
hàng thương mại sẽ được hạch toán ghi có hoặc ghi nợ vào tài khoản tiền gửi
của ngân hàng mình mở tại ngân hàng chủ trì. Trường hợp tài khoản tiền gửi
của ngân hàng thành viên không đủ số dư để thanh toán thì vay ngân hàng chủ
trì hoặc vay ngân hàng thành viên khác để thanh toán.

Phương thức thanh toán bù trừ có ưu điểm là thực hiện đơn giản, phí
thấp nhưng có nhược điểm là giao nhận chứng từ phụ thuộc vào phiên giao
dịch bù trừ trong ngày do đó gây nên chậm trễ trong thanh toán. Bên cạnh đó
tại một số địa bàn còn giao nhận chứng từ giấy, gây mất thời gian đi lại, chậm
thanh toán cho khách hàng.
d. Thanh toán mở tài khoản tiền gửi lẫn nhau để thanh toán
Với phương thức thanh toán này, một ngân hàng sẽ mở tài khoản tiền
gửi ở ngân hàng khác để uỷ quyền thu hộ, chi hộ cho khách hàng. Các khoản
được thực hiện thu hộ, chi hộ này phải được thoả thuận và được quy định
trong hợp đồng uỷ thác thanh toán giữa các ngân hàng. Ngân hàng phát sinh
nghiệp vụ thanh toán có trách nhiệm lập chứng từ thanh toán gửi tới ngân
hàng có quan hệ tiền gửi để yêu cầu thanh toán. Định kỳ các ngân hàng phải
đối chiếu số liệu với nhau, quyết toán số tiền đã thu hộ, chi hộ và thanh toán
với nhau số chênh lệch phải thu, phải trả.
Thanh toán theo phương thức này rất đơn giản, vì khi có nghiệp vụ phát
17
sinh ngân hàng chỉ phải hạch toán một bút toán nội bảng là đã hoàn thành
việc thanh toán cho khách hàng, do đó thời gian thực hiện một giao dịch
thanh toán cũng rất nhanh chóng.
e. Thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước
Đây là phương thức thanh toán được áp dụng trong nghiệp vụ thanh toán
giữa hai ngân hàng hoặc đơn vị ngân hàng khác hệ thống đều có tài khoản tiền
gửi tại Ngân hàng Nhà nước. Các khoản thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại
Ngân hàng Nhà nước phát sinh trên cơ sở các khoản thanh toán giữa các khách
hàng, giữa các ngân hàng khác hệ thống hoặc của nội bộ các ngân hàng như điều
chuyển vốn, các khoản vay, trả giữa các ngân hàng với nhau.
Thanh toán qua tài khoản gửi tại Ngân hàng Nhà Nước có ưu điểm là an
toàn do thực hiện ghi giảm tài khoản của ngân hàng chi trả trước khi ghi tăng
cho ngân hàng thụ hưởng. Tuy nhiên phương thức này có tốc độ thanh toán
chậm không đáp ứng nhu cầu chuyển vốn của khách hàng, mặt khác các

NHTM phải để tiền dự trữ (vì phải mở tài khoản tại chi nhánh Ngân hàng Nhà
Nước tỉnh, thành phố và phải luôn duy trì đủ số dư để sẵn sàng thanh toán)
làm tăng dự trữ của ngân hàng, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
f. Thanh toán ủy nhiệm thu hộ, chi hộ
Uỷ nhiệm thu hộ, chi hộ là một phương thức thanh toán giữa hai ngân
hàng theo sự thoả thuận và cam kết với nhau, ngân hàng này sẽ thực hiện thu
hộ và chi hộ cho ngân hàng kia trên cơ sở các chứng từ thanh toán của các
khách hàng có mở tài khoản tiền gửi tại các ngân hàng kia.
Để tiến hành thanh toán theo phương thức này, hai ngân hàng phải ký
hợp đồng với nhau về nguyên tắc, thủ tục và nội dung thanh toán. Các nghiệp
vụ thanh toán thu hộ, chi hộ phát sinh được hạch toán vào tài khoản tiền gửi
thu hộ, chi hộ giữa các ngân hàng. Theo định kỳ (đã thoả thuận trước), hai
ngân hàng đối chiếu doanh số phát sinh và số dư tài khoản tiền gửi thu, chi hộ
18
để thanh toán cho nhau.
Trên đây là các phương thức mà các ngân hàng có thể áp dụng thanh
toán vốn cho nhau. Tuỳ thuộc vào những điều kiện cụ thể mà các ngân hàng
áp dụng phương thức này hay phương thức khác trong hoạt động thanh toán
của mình. Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, các phần
mềm thanh toán hiện đại ra đời đã hỗ trợ đắc lực cho công tác thanh toán của
các ngân hàng làm cho hoạt động thanh toán ngày càng trở nên nhanh chóng,
chính xác.
1.3. Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
1.3.1. Quan niệm về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
Để nâng cao cạnh tranh và thu hút các khách hàng đến sử dụng dịch vụ,
mỗi ngân hàng cần không ngừng phát triển các dịch vụ nói chung và phát
triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng.
Các ngân hàng có thể phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
theo nhiều hướng khác nhau như: mở rộng thêm các sản phẩm dịch vụ thanh
toán mới; nghiên cứu các kỹ thuật công nghệ mới nhằm ứng dụng vào công

tác thanh toán; cải tiến quy trình thanh toán; nâng cao quảng bá về ngân hàng,
sản phẩm dịch vụ ngân hàng nói chung và dịch vụ thanh toán nói riêng đến
khách hàng; đưa ra các chính sách phí hợp lý, ưu đãi đối với khách hàng. Tất
cả các công việc trên đều nhằm cho khách hàng thấy được những tiện ích,
thuận lợi của dịch vụ thanh toán mà ngân hàng cung cấp.
1.3.2. Sự cần thiết phải phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán bằng tiền mặt là việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt trong
quan hệ chi trả lẫn nhau về hàng hoá, công nợ và được thực hiện trực tiếp
giữa người mua và người bán không thông qua trung gian nào khác. Người
mua phải có trong tay một lượng tiền mặt tương đương với giá trị hàng hoá,
dịch vụ thì mới phát sinh quan hệ mua bán trao đổi giữa người mua và người
19
bán. Thanh toán bằng tiền mặt tuy có một số ưu điểm là tiện lợi nhưng bên
cạnh đó còn gặp một số hạn chế như: độ an toàn trong thanh toán bằng tiền
mặt không cao vì luôn có sự xuất hiện của tiền mặt nên trong quá trình thanh
toán giữa bên mua và bên bán phải có sự vận chuyển, kiểm đếm, bảo quản
tiền mặt do đó dễ dẫn đến mất mát và nhầm lẫn. Hơn nữa, thanh toán bằng
tiền mặt làm cho vốn bị ứ đọng và chi phí lưu thông tiền tệ tăng.
Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt đã khắc phục được những hạn
chế của thanh toán bằng tiền mặt như chi phí in ấn, bảo quản, vận chuyển và
không an toàn trong lưu thông, đồng thời có vai trò quan trọng thúc đẩy sự
phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá của nền kinh tế. Khi nền kinh tế
ngày càng phát triển đòi hỏi phải phát triển dịch vụ thanh toán không dùng
tiền mặt nhằm đáp ứng được nhu cầu thanh toán của toàn bộ nền kinh tế và
giảm khối lượng giao dịch thanh toán dùng tiền mặt. Đó là lợi ích chung của
nền kinh tế xã hội.
Bên cạnh đó, để nâng cao khả năng cạnh tranh và thu hút khách hàng sử
dụng dịch vụ của ngân hàng mình, các ngân hàng cần không ngừng phát triển,
hoàn thiện sản phẩm dịch vụ, trong đó có thanh toán không dùng tiền mặt.
Nếu ngân hàng chú trọng phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt

sẽ thu hút khách hàng đến sử dụng dịch vụ thanh toán của ngân hàng, từ đó có
thể khách hàng sẽ sử dụng tiếp các dịch vụ khác như gửi tiết kiệm, tín dụng,
mở tài khoản thẻ,…
Do tính ưu việt như trên nên hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
cần không ngừng hoàn thiện và ngày càng phát triển, không thể thiếu được
trong nền kinh tế thị trường.
1.3.3. Nội dung và các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển thanh toán
không dùng tiền mặt của một ngân hàng thương mại
Để đánh giá được mức độ phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
20
(TTKDTM) của một ngân hàng thương mại, ta có thể dựa trên các tiêu chí sau:
a. Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt/ Tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt:
Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt = Doanh số thanh toán bằng tiền mặt/
Tổng doanh số thanh toán x 100%
Tỷ lệ TTKDTM = Doanh số TTKDTM/ Tổng doanh số
thanh toán x 100%
Dựa vào tiêu chí này ta có thể đánh giá được tỷ trọng thanh toán không
dùng tiền mặt so với thanh toán bằng tiền mặt và mức độ phát triển của thanh
toán không dùng tiền mặt qua các năm.
b. Tốc độ tăng doanh thu, chi phí từ hoạt động thanh toán không dùng
tiền mặt:
Tốc độ tăng doanh thu = Doanh thu từ TTKDTM năm sau/ Doanh thu từ
TTKDTM năm trước x 100%
Tốc độ tăng chi phí = Chi phí từ TTKDTM năm sau/ Chi phí từ
TTKDTM năm trước x 100%
Từ việc so sánh doanh thu, chi phí hoạt động thanh toán không dùng tiền
mặt qua các năm ta có thể đánh giá được mức độ phát triển và hiệu quả của
hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt của một ngân hàng.
c. Tỷ lệ giá trị giao dịch/Tốc độ tăng giá trị giao dịch của các hình thức
thanh toán không dùng tiền mặt:

Tỷ lệ giá trị giao dịch của hình thức TTKDTM = Giá trị giao dịch của
hình thức TTKDTM / Tổng doanh số TTKDTM x 100%
Tốc độ tăng của hình thức TTKDTM = Giá trị giao dịch năm sau/ Giá trị
giao dịch năm trước x 100%
So sánh tỷ lệ của các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt qua các
năm và tốc độ tăng của từng hinh thức thanh toán không dùng tiền mặt nhằm
đánh giá mức độ phát triển của từng hình thức thanh toán không dùng tiền
21

×