Tải bản đầy đủ (.doc) (17 trang)

“Giải quyết mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong nền kinh tế của Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (170.61 KB, 17 trang )

1
TIỂU LUẬN
MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC -
LÊNIN

Đề tài: “Giải quyết mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và
lực lượng sản xuất trong nền kinh tế của Việt Nam”.
MỞ ĐẦU
Lịch sử phát triển của sản xuất loài người là lịch sử phát triển
của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau. Phương thức sản xuất là sự
thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đó
là cách thức sản xuất ra của cải vật chất mà trong đó lực lượng sản
xuất đạt đến một trình độ nhất định, thống nhất với quan hệ sản xuất
tương ứng với nó. Theo định nghĩa của phép biện chứng duy vật: Là
khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, khoa học về những
quy luật phổ biến nhất của sự vận động và sự phát triến cuả tự nhiên,
xã hội và tư duy trên cơ sở duy vật. Theo định nghĩa trên xã hội ngày
càng phát triển thì mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản
xuất là không thể tách rời, đây là quy luật chung của sự phát triển và
là một trong những quy luật quan trọng quy định sự tồn tại, phát triển
và tiến bộ xã hội.
Mặc dù vậy trong thực tế, hai nhân tố quan hệ sản xuất và lực
lượng sản xuất đã làm nảy sinh những mâu thuẫn giữa chúng. Và sự
mâu thuẫn này ngày càng trở nên gay gắt làm cho nền kinh tế nước ta
ở trong tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng trong một thời gian dài.
Mâu thuẫn này giải quyết ra sao? Nguyên nhân của vấn đề sẽ được đề
cập đến trong bài tiểu luận này.
Đây là lần đầu tiên viết tiểu luận nên trong quá trình viết không
thể không có những sai sót, xin nhận được những ý kiến đóng góp của
thầy cô và các bạn để các bài viết khác sẽ tốt hơn.
2


NỘI DUNG CHÍNH
I. Cơ sở lý luận chung
Các dạng này khiến chúng ta khi nghiên cứu vấn đề cần nhìn
nhận Mác và Ph.Ăng-ghen đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện
chứng vào giữa thế kỷ XIX và dược Lênin phát triển lên vào giữa thế
kỷ XX đã đem lại cho phép biện chứng duy vật, sự thống nhất hữu cơ
giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng. Phép biện
chứng đã thực sự trở thành khoa học trong đó mối liên hệ giữa quan
hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất trình độ của lực lượng sản xuất
là mối liên hệ giàng buộc và chi phối lẫn nhau. Mối liên hệ tạo ra sự
chuyển hoá đa dạng, phong phú của mỗi sự vật hiện tượng. Chính vì
sự đa một cách toàn diện .Có như thế mới nắm bắt được bản chất, cái
cốt lõi của sự vật mà không bị rơi vào nguỵ biện trong nhận thức và
hành động.
Trong quá trình lịch sử tự nhiên, các mối quan hệ giữa con người
- một trong những quy luật quan trọng nhất của chủ nghĩa duy vật biện
chứng là quy luật mâu thuẫn. Theo quy luật này thì trong kết cấu của
mọi sự vật hiện tượng không phải bao giờ cũng bao gồm các nhân tố
đồng nhất, thống nhất với nhau mà mọi sự vật hiện tượng đều được
cấu tạo nên bởi một thể thống nhất bao gồm nhiều mặt khác nhau,
trong đó có những mặt đối lập. Các mặt đối lập tác động với nhau sẽ
xuất hiện những mâu thuẫn. Mâu thuẫn xuất hiện khi các mặt đối lập
đó tác động, liên hệ và chi phối lẫn nhau. Đấu tranh nhằm giải quyết
những mâu thuẫn giữa chúng làm cho sự vật mới ra đời, thay thế sự
3
vật cũ đã cho thấy sư vận động không ngừng của sự vật, phương thức
sản xuất cũng tuân theo quy giới tự nhiên, giữa con người với con
người cũng luôn luôn biến đổi thống nhất với nhau. Lực lượng sản
xuất biểu thị mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình
sản xuất, là mặt tự nhiên của sản xuất xã hội. Quan hệ xã hội là mối

quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, nó là
mặt xã hội của sản xuất. Lực lượng sản xuất gồm những công cụ lao
động mà con người dùng để tạo ra của cải vật chất nhờ kinh nghiệm
và thói quen lao động đã được tích luỹ lại trong quá trình sản xuất.
Quan hệ sản xuất được hiểu là những quan hệ vật chất, quan hệ kinh tế
của đời sống xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Mối quan hệ giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã được C.Mác viết: "Những
thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì,
mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao
động nào". Khi quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất trình độ lực
lượng sản xuất nó sẽ trở thành động lực thúc đẩy, tạo điều kiện cho
lực lượng sản xuất phát triển và ngược lại khi quan hệ sản xuất lạc hậu
hơn hay ở mức độ cao hơn so với tính chất trình độ lực lượng sản
xuất thì nó sẽ trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển của lực
lượng sản xuất, mâu thuẫn nảy sinh và việc giải quyết mâu thuẫn tạo
ra động lực phát triển của phương thức sản xuất, theo đúng với nội
dung của quy luật mâu thuẫn. Và cứ như vậy lịch sử của sản xuất đã
vận động và phát triển trong quá trình lệch pha đến cân bằng rồi lại
lệch pha mới Chỉ có khái niệm mâu thuẫn mới có đủ khả năng để
vạch ra động lực của sự phát triển, mới có thể thực tiễn cho ta nhận
thức được quy luật của sư vân động kinh tế.
4
II. Cơ sở thực tiễn
Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong
giai đoạn đi lên CNXH ở nước ta thực trạng và giải pháp.
1. Thực trạng
a. Việt Nam trong thời kỳ đầu đi lên chủ nghĩa xã hội
Sau 30/4/1975, nước ta hoàn toàn giải phóng, chúng ta đã đạt
được những thành tựu trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh. Tuy
nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn là nền kinh tế nông nghiệp kém phát

triển mang nặng tính tự cấp, tự túc. Trang bị kỹ thuật và kết cấu xã hội
yếu kém, cơ cấu kinh tế mất cân đối, cơ cấu kinh tế tập chung quan
liêu bao cấp để lại nhiều hậu quả nặng nề. Nền kinh tế kém hiệu quả,
năng suất lao động thấp, khủng hoảng kinh tế kéo dài, các tệ nạn tham
nhũng lan rộng. Đảng cộng sản còn non, đội ngũ cán bộ còn yếu về
năng lực các thế lực đế quốc và phản động ráo riết thực hiện chiến
lược diễn biến hoà bình, phá hoại và bao vây kinh tế Nếp sống văn
hoá, đạo đức bị xói mòn, lòng tin vào Đảng và Nhà nước bị giảm sút.
Thực trạng trên có nguồn gốc sâu xa do lịch sử để lại và hậu quả
của nhiều năm chiến tranh, song chủ yếu là chúng ta đã vi phạm sai
lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm các quy luật khách quan trong cải tạo
xã hội chủ nghĩa, trong tiến hành công nghiệp hoá và trong cơ chế
quản lý kinh tế đặc biệt là sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất. Chúng ta đã sai lầm khi tiến hành xây dựng quan hệ sản
xuất tiên tiến rồi mới thúc đẩy lựa chọn lực lượng sản xuất phát triển,
biến đổi. Sự biến đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát
triển của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất biến đổi dẫn đến mâu
5
thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất hiện có và xuất hiện một đòi hỏi
khách quan là xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay bằng kiểu quan hệ sản
xuất mới thích ứng với một trình độ phát triển mới của lực lượng sản
xuất. C.Mác viết: "Tới một giai đoạn phát triển nào đó các lực lượng
sản xuất vật chất xã hội sẽ mâu thuẫn với quan hệ sản xuất hiện có
mà trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển.
Từ chỗ là hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những
quan hệ sản xuất ấy trở thành xiềng xích của các lực lượng sản xuất.
Khi đó bắt đầu thời đại của một cuộc cách mạng xã hội
1
". Kết quả là
đã tạo ra cho chúng ta một nhận thức bản chất của phép biện chứng

giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong phạm vi hình thái
kinh tế xã hội mới sẽ không chứa đựng sự tác động qua lại lẫn nhau,
không còn tồn tại mâu thuẫn biện chứng giữa chúng mà sự lựa chọn
dần dần lực lượng sản xuất cho phù hợp với khoảng không gian rộng
lớn của quan hệ sản xuất.
b. Việt Nam chuyển đổi sang cơ chế kinh tế mới
Trước tình hình trên đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra
việc tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế là đúng đắn: "Phải kết hợp
chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới
kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị"
2
Chính nhờ đường lối đổi mới và lựa chọn các bước đi thích hợp
mà nước ta đã từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và đứng
vững trước sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới.
Công cuộc đổi mới đề ra cho chúng ta nhiệm vụ phải xem xét lại
phương thức và con đường đưa đất nước ta tiến lên. Sai lầm của ta là
1
C.Mác -Ph.Ăng-ghen: Tuyển tập t.1, NXB Sự thật, HN, 1970, tr438.
2
V.I.Lenin Toàn tập ,tập 2
6
đã đẩy nhiều mặt của quan hệ sản xuất lên quá cao, tách rời trạng thái
còn thấp kém của lực lượng sản xuất làm cho hai nhân tố này mâu
thuẫn với nhau dẫn đến kìm hãm sự phát triển của sản xuất xã hội. Đại
hội Đảng lần thứ VI đã nhận ra sai lầm và cũng đã thấy rằng việc cải
tạo quan hệ sản xuất xã hội là cần thiết nhưng không thể tiến hành một
cách chủ quan nóng vội như trước đây, nghĩa là cải tạo và củng cố
quan hệ sản xuất nhưng gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản
xuất. Đại hội VII của Đảng cũng chỉ rõ: " phù hợp với sự phát triển
của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội

chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu. Phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước".
3
Cải tạo và củng cố quan hệ sản xuất nhưng bao giờ cũng phải
gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất, và được đảm bảo
bằng sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đó là điều kiện cơ bản cho
cuộc cách mạng quan hệ sản xuất phát triển vững chắc. Với trình độ
của mình lực lượng sản xuất yêu cầu phải có những quan hệ sản xuất
phù hợp với nó mới có thể bộc lộ hết khả năng của mình và mới có
khả năng phát triển nhanh chóng. Tương ứng với mỗi trình độ lực
lượng sản xuất đòi hỏi một quan hệ sản xuất, một thành phần kinh tế
nhất định như Ph.Ăng-ghen viết: " Giai cấp Tư sản không thể biến
những tư liệu sản xuất có tính chất hạn chế ấy thành những lực lượng
sản xuất mạnh mẽ được nếu không biến những tư liệu sản xuất của cá
nhân thành những tư liệu sản xuất có tính chất xã hội, mà chỉ một số
3
C ng l nh xây d ng t n c trong th i k quá lên CNXH,NXB S th t,HN,1991,tr9-10ươ ĩ ự đấ ướ ờ ỳ độ ự ậ
7
đông người cùng làm mới có thể sư dụng được"
4
. Kết hợp từng ưu thế
riêng của từng thành phần kinh tế thông qua phân cônglao động xã hội
là con đường hiệu quả nhất để phát triển lực lượng sản xuất, qua đây
ta cũng thấy rõ vấn đề cơ bản là lầm thế nào để quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta luôn
luôn được tiến hành đồng thời với việc không ngừng đổi mới và hoàn
thiện cơ chế quản lý kinh tế nhằm bảo đảm cho sư phát triển đó không

xa rời định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay các thành phần kinh tế
của ta đang vận động theo cơ chế thị trường với sự điều tiết quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước quản lý thị
trường bằng pháp luật, bằng cơ chế chính sách, và các đòn bẩy kinh tế
để phát triển để sản xuất phục vụ mọi nhu cầu của xã hội.
c. Những ưu điểm và hạn chế trong cơ chế kinh tế mới
* Ưu điểm:
Trong cơ chế kinh tế mới, sự cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ. Do đó
tính năng động sáng tạo đươc phát huy, người lao động đã không còn
tính ỷ lại vào nhà nước như trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
mà không biết chủ động tìm việc và tăng thu nhập. Đối với các doanh
nghiệp bước đầu đổi mới phân phối lợi nhuận, thực hiện cơ chế giá
tiêu thụ sản phẩm theo quan hệ cung cầu trên thị trường và hoạt động
kinh doanh có hiệu quả.
Do được bình đẳng trước pháp luật nên quan hệ cạnh tranh trên
thị trường ngày càng tăng, phạm vi độc quyền nà nước gắn với các
mặt hàng thuộc diện cấm hay hạn chế các thành phần kinh tế ngoài
4
Ph.Ăng-ghen Chống đuy rinh, NXB Sự thật, HN, 1971, tr 455
8
quốc doanh đã thu hẹp rõ rệt. Các thành phần kinh tế có điều kiện tìm
tòi sáng tạo và phát triển .Ví dụ về ngành Bưu điện hay Điện lực đây
là hai ngành độc quyền về kinh doanh ở nước ta hiện nay.
* Hạn chế:
Bên cạnh những ưu điểm là những hạn chế đó là viêc chuyển
sang cơ chế thị trường còn có nhiều mặt thiếu nhất quán đặc biệt trong
tài chính tiền tệ, quản lý còn lỏng lẻo, đội ngũ cán bộ chưa theo kịp
với yêu cầu của thị trường mới, vai trò của Nhà nước trong quản lý
hoạt động đời sống kinh tế xã hội còn yếu. Trong lĩnh vực kinh doanh.
Nhà nước chưa tạo được động lực khuyến khích nâng cao năng suất

kinh doanh. Người lao động chưa có động lực thường xuyên và chưa
cảm thấy có sự gắn bó đối với sản xuất kinh doanh và quá trình phát
triển của doanh nghiệp. Tình trạng lạm dụng kinh doanh còn nhiều, thị
trường vốn còn chậm phát triển, lãi xuất, chưa phù hợp với kinh tế thị
trường dẫn đến hạn chế đầu tư phát triển.
2. Giải pháp việc vận dụng quản lý sản xuất phù hợp với tính
chất trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta cần tập chung giải
quyết các vấn đề sau.
a, Phát triến lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay:
Yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất chính là con
người, trình độ lực lượng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục tự
nhiên của con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Cho dù tư
liệu lao động tạo ra từ trước có sức mạnh đến đâu và yếu tố đối tượng
lao động có phong phú như thế nào nhưng nếu con người không có kỹ
năng, kỹ xảo thì cũng trở nên vô tác dụng. Lênin viết: "Lực lượng sản
xuất hàng đầu của toàn nhân loại là công nhân, là người lao động"
5
.
5
V.I.Lênin :Toàn tập, t 38 NXB Tiến bộ 1977, tr 430.
9
Lịch sử loài người đã đánh dấu bằng những mức quan trọng trong sự
phát triển của lực lượng sản xuất. C.Mac và Ph.Ăngghen đã từng nói:
"Lực lượng sản xuất là kết quả của năng lực thực tiễn của con người,
nhưng bản thân năng lực thực tiễn này bị quyết định bởi những điều
kiện trong đó người ta sống bởi nhiều lực lượng sản xuất đã đạt được
bởi hình thái xã hội đã có trước họ, không phải do họ tạo ra mà do
thế hệ trước tạo ra"
6
. Và hiện nay chúng ta đang chứng kiến sự bùng

nổ về cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật. Nhiệm vụ của chúng ta là
xác định được những lĩnh vực vần ưu tiên dựa trên thế mạnh của mình
và dự báo đúng xu hướng phát triển của khoa học kĩ thuật hiện đại.
Làm như vậy mới có bước tiến lớn về sự phát triển sản xuất theo kịp
trình độ của các nước phát triển trên thế giới.
b, Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại và vấn đề yếu tố
con người trong lực lượng sản xuất.
Khoa học kỹ thuật có một sức mạnh kỳ diệu và có ý nghĩa quyết
định đến sự phát triênr sản xuất, nhưng không phải là yếu tố quyết
định của lực lượng sản xuất. Công nghệ hiện đại chỉ làm tăng sức
mạnh chinh phục tự nhiên của con người chứ không làm thay thế hoàn
toàn hoạt động sản xuất của con người. Khoa học kỹ thuật phát triển
đến đâu thì con người cũng không bao giờ bị đẩy ra ngoài quá trình
sản xuất. Máy móc dù thông minh đến mấy cũng do con người tạo ra
và phụ thuộc vào con người. Điều cốt yếu là chúng ta biết lựa chọn
những công nghệ thích hợp với yếu tố con người và tài nguyên đất
nước. Vì thế Mác đã nhận xét "Trong tất cả những LLSX lớn nhất là
bản thân giai cấp Cách mạng".
c, Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất.
6
C.Mac- Ph Ang-ghen Tuyển tập ,t2 NXB Sự thật , Hà Nội 1977, tr 541
10
Trong lịch sử đã và sẽ không tồn tại một hình thức sản xuất vật
chất nào mà lại không có nhân tố con người. C.Mác và Ph.Ăng-ghen
viết: "Bản thân con người bắt đầu từ phân biệt với súc vật ngay khi
con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt "
7
. Để nghiên
cứu vấn đề này, chúng ta cần phân tích đặc điểm hiện trạng của lực
lượng lao động nước ta nhằm vạch ra những tiềm năng và hạn chế.

Qua đó có những biện pháp, chính sách phù hợp với xu thế phát triển
chung đồng thời phát huy khả năng lao động sản xuất và sáng tạo của
con người.
Nước ta là một nước đông dân, dân số năm 2000 gần 77 triệu với
40 triệu lao động. Lực lượng lao động đông đảo này đã tiếp nhận và
phát huy truyền thống lao động cần cù, khả năng nắm bắt kỹ thuật và
nâng cao nghề nhanh tuy còn nhiều hạn chế: Tìnhtrạng dư thừa lao
động do sản xuất chưa phát triển. Trong nhận thức của người lao động
về thang bậc nghề nghiệp cũng có nhiều quan niệm đánh giá khác
nhau. Tâm lý "ở trong biên chế nhà nước" vẫn nổi trội hơn so với tâm
lý "giải quyết nhu cầu việc làm". Quan niệm trên đã tác động mạnh
đến sự lựa chọn việc làm, do đó cũng là lực cản sự cống hiến cho xã
hội.
Chúng ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện trên các
lĩnh vực. Để phát huy nhân tố con người như là "lực lượng sản xuất
sản xuất hàng đầu của nhân loại" không thể đặt ngoài mối quan hệ
biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Xuất phát
trên cơ sở nhận thức lại vai trò, vị trí và yếu tố con người trong lực
lượng sản xuất, Đảng và Nhà nước đã có những điều chỉnh đúng đắn
7
C.Mác v Ph. ng-ghen:tu ên t p ,t1, NXB S th t,HN, 1980,tr268à Ă ỷ ậ ự ậ
11
trong đường lối phát triển kinh tế nói chung và trong chiến lược về
con người nói riêng.
Con người là tổng hoà của những mối quan hệ xã hội. Để phát
triển toàn diện con người cần có những biện pháp tích cực, đồng bộ,
những chính sách kinh tế đúng đắn. Như vậy thì yếu tố con người mới
được phát huy một cách triệt để trong lực lượng sản xuất.
d, Để Khoa học nhanh chóng trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp ở nước ta.

Việc Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp là một quy
luật khách quan của sự phát triển xã hội. Ngày nay dự đoán ấy đang
trở thành hiện thực trong nhiều nước công nghiệp phát triển.
Trong thực tế, sự phát triển của khoa học đã giúp con người tăng
cường sức mạnh trong quá trình chinh phục tự nhiên, sử dụng những
sức mạnh của nó. Không có khoa học làm sao con người có thể tạo ra
năng lượng hạt nhân, phóng tầu vũ trụ lên thám hiểm các hành tinh
hay sản xuất ra máy điện tử và người máy công nghiêpj thay thế nhiều
hoạt động phức tạp của mình. Mác viết: "Cùng với sản xuất tư bản
chủ nghĩa, nhân tố khoa học lần đầu tiên được phát triển, vận dụng và
tạo ra một cách có ý thức trong phạm vi mà các thời đại trước đó
chưa hề có ý thức được"
8
.
Khoa học là một hình thái ý thức xã hội, tự nó có thể gây nên
một biến đổi nào cho lực lượng sản xuất khoa học vốn bắt đầu
hoạtđộng lao động.
Sản xuất và là kết quả hoạt động nhận nhận thức của con người,
gắn liền và phụ thuộc vào con người phải thông qua hoạt động sản
xuất của con người, khoa học mới có thể trở thành lực lượng trực tiếp
8
Trích theo tạp chí "Người cộng sản" (Liên Xô), số7, 1958, tr 23
12
được. Người có tri thức khoa học sẽ có kỹ năng lao động và làm việc
có hiệu quả hơn những người không không nắm được tri thức khoa
học. Như vậy khoa học trở thành lực lượng sản xuất không phải với tư
cách là một yếu tố độc lập mà nó thâm nhập vào tất cả các yếu tố của
lực lượng sản xuất. Ngày nay không chỉ có khoa hoc tự nhiên mà cả
khoa học xã hội cũng tham gia mạnh mẽ trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp.

Do vậy, chúng ta nghiên cứu lực lượng sản xuất và các yếu tố
hợp thành lực lượng sản xuất không ngoài mục đích trên, cơ sở lý luận
đã tác động đúng tới lực lượng sản xuất, rút ngắn khoảng cách với các
nước phát triển đưa đất nước ta tới phồn vinh hạnh phúc.
e, Xây dựng quan hệ sản xuất và hoàn thiện mối quan hệ này ở
nước ta hiện nay.
Tầm vóc trí tuệ của Đảng và nhân dân ta trong quá trình tìm tòi
sáng tạo, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, tiến lên chủ
nghĩa xã hội ngày càng được khẳng định nhất là sau 10 năm thực hiện
công cuộc đổi mới, bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng. Từ đó đến nay
quan điểm của chúng ta về CNXH đã được xác định ngày càng rõ hơn.
Nói như vậy không có nghĩa là điều mà cuộc sống đặt ra chúng ta đều
đã làm xong còn nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Một trong
những vấn đề đó là việc xây dựng quan hệ sản xuất, phát triển các
thành phần kinh tế.
Trước đây chúng ta chú trọng xây dựng và hoàn thiện quan hệ
sản xuất nhưng mặt khác chúng ta chủ trương đồng thời tạo lập cả
quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Tuy nhiên khi thực hiện chủ
trương này do chủ quan và nóng vội, có lúc chúng ta đã làm sai quy
13
luật, xoá bỏ quá nhanh các thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Từ chỗ
nhận biết các sai lầm, chúng ta đã biết chuyển sang nền kinh tế nhiều
thành phần.
Việc chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần thực chất để xây
dựng ủng hộ và phát triển quan hệ sản xuất, thực hiện mọi giải pháp
phát triển có hiệu quả các thành phần kinh tế thuộc khu vực sở hữu
nhà nước, tập thế, củng cố và nâng cao địa vị làm chủ của người lao
động trong sản xuất xã hội. Sự chuyển hướng kinh tế về phương diện
lý luận và thực tế sẽ giúp cho việc giải phóng và phát triển lực lượng
sản xuất, củng cố hoà thiện thêm quan hệ sản xuất XHCN và hơn nữa

từng bước làm cho quan hệ sản xuất ở nước ta phù hợp với yêu cầu
phát triển của lực lượng sản xuất.
Phát triển các thành phần kinh tế không phải là công việc dễ
dàng và càng không thể hoàn thành trong một thợi gian ngắn. Vậy nên
kết quả vừa qua chỉ là bước đầu và trong quá trình thừc hiện nhiệm vụ
trên cùng còn không ít sai sót. Song cũng phải nhận thấy rằng phát
triển kinh tế nhiều thành phần là một chiến lược đúng đắn. Không thể
có các thành tựu kinh tế vừa qua nếu không thực hiện chính sách kinh
tế nhiều thành phần, nếu quan hệ sản xuất không được điều chỉnh đổi
mới phù hợp với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất.
Đã làm có thể có sai sót, yếu kém nhưng nếu sớm phát hiện và
biết khắc phục thì không những quan hệ sản xuất mới được xây dựng
củng cố và phát triển vững chắc hơn mà còn giải phóng mạnh mẽ hơn
lực lượng sản xuất. Đó cũng là điều mà Đảng ta luôn quan tâm để giải
quyết.
14
KẾT LUẬN
Qua quá trình phát triển trên, lực lượng sản xuất chỉ có thể phát
triển khi có một quan hệ sản xuất mới phù hợp với nó. Quan hệ sản
xuất lạc hậu hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo sẽ kìm hãm sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Duy trì sự tồn tại nhiều thành phần kinh
tế đi lên CNXH chính là những bước đi phù hợp với tất yếu kinh tế từ
sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Ph Ăng-ghen viết: " Giai cấp Tư sản
không thể biến những tư liệu sản xuất có tính chất hạn chế thành
những lực lượng sản xuất mạnh mẽ được nếu không biến những tài
liệu sản xuất của cá nhân thành những tài liệu sản xuất có tính chất
xã hội mà chỉ một số đông ngươì cùng làm, mới có thể sử dụng
được''
9
.

Mặc dù bị chi phối bởi lực lượng sản xuất nhưng quan hệ sản
xuất cũng có những tác động trở lại với lực lượng sản xuất. Khi quan
hệ sản xuất phù hợp với tính chất trình độ của lực lượng sản xuất, nó
sẽ tạo thành lực lượng thúc đẩy, định hướng và tạo điều kiện cho lực
lượng sản xuất phát triển. Ngược lại nếu quan hệ sản xuất lạc hậu hơn
so với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nó sẽ kìm
hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi
phát triển sản xuất của mình và do thay đổi phát triển sản xuất, cách
làm ăn của mình loài người đã thay đổi tất cả các quan hệ sản xuất.
Bản thân sự vận động của các cặp mâu thuẫn trong phạm trù lực lượng
sản xuất, quan hệ sản xuất và đặc biệt là mối quan hệ của lực lượng
9
Ph Ăng- ghen:chống Đuy-Rinh, NXB sự thật ,HN, 1971, tr 455
15
sản xuất và quan hệ sản xuất ở một nước như nước ta cũng là những
vấn đề cần làm rõ.
Quy luật Mac đã phát hiện được vận động, phát triển trong thực
tế Cách mạng và tronh nhận thức khoa học. Nó cũng đòi hỏi bổ sung
và phát triển. Qua đó có thể thấytừ sản xuất nhỏ đi lên CNXH chúng
ta vẫn phải tuân theo một cách nghiêm khắc quy luật C.Mác đã phát
hiện. Có thể kết luận rằng: Các dân tộc,các quốc gia có thể bỏ qua
hoặc rút ngắn một giai đoạn lịch sử của mình nhưng không thể bỏ qua
được quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ
của lực lượng sản xuất.
16
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Giáo trình triết học Mác – LêNin
2. Tạp chí triết học sô 1-1993
3. Tạp chí triết học số 3-4997

4. Tạp chí triết học số 5-2000
5. Tạp chí triết học số 1-2001
6. Tài liệu nghiên cứu văn kiện đại hội VI của Đảng
7. Tài liệu nghiên cứu văn kiện đại hội VIII của Đảng
8. Tài liệu nghiên cứu văn kiện đại hội IX của Đảng
9. Thực trạng quan hệ sản xuất ở Việt Nam
17

×