Tải bản đầy đủ (.docx) (53 trang)

luận văn quản trị tài chính Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (428.42 KB, 53 trang )

Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHUÔN KHỔ CHI TIÊU
TRUNG HẠN
1.1 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của khuôn khổ chi tiêu trung hạn
1.1.1 Khái niệm về khuôn khổ chi tiêu trung hạn.
Trước đây, việc lập ngân sách theo từng năm một là cách làm phổ biến ở các
nước. Ngân sách được sử dụng chủ yếu để kiểm soát các cơ quan quản lý chứ không
phải để bảo đảm thực thi chính sách một cách hiệu quả, và mối quan tâm chủ yếu tập
trung vào sự tuân thủ quy trình, thủ tục mà không chú ý đến các mục tiêu, đầu ra, kết
quả ngân sách. Cách làm này không khuyến khích chính phủ xác lập ưu tiên chi tiêu
một cách chiến lược cho một giai đoạn, khiến cho các Bộ khó dự liệu các nguồn thu
cho các khoản chi. Các xu hướng chính sách mới có ít cơ hội được đưa vào thực hiện
vì ngân sách hàng năm đã lập sẵn cho các chương trình hiện hành, không phản ứng
kịp với những thay đổi khách quan.
Nhận thấy những nhược điểm nói trên, nhiều nước đã chuyển sang lập ngân
sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF là viết tắt của Medium Expenditure
Framework). Mục đích của khuôn khổ chi tiêu trung hạn là xác định quy mô các
nguồn lực tài chính cần để thực hiện chính sách hiện hành trong trung hạn. Khuôn khổ
đó bao gồm việc cân đối các nhu cầu của các lĩnh vực với tổng nguồn lực hiện có, trên
cơ sở các ưu tiên tổng thể của Quốc gia và của từng Bộ. Khuôn khổ này đòi hỏi phải
lập các chiến lược ngành trong trung hạn và xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu, kết quả
hoạt động. Trên cơ sở đó, xây dựng một ngân sách của ngành, bao gồm cả chi thường
xuyên và chi đầu tư nhằm phản ánh những chi phí cần thiết của các chính sách
ngành.Tổng nhu cầu chi tiêu được xác định trên cơ sở xác định chi phí cho các hoạt
động đã được quyết định, được lựa chọn ưu tiên nhằm đạt các sản phẩm đầu ra trong
mỗi lĩnh vực.
MTEF là sự thay đổi phương thức soạn lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung
hạn nhằm kết nối chặt chẽ giữa tài chính (lập dự toán ngân sách) với chính sách phát
triển KTXH, kế hoạch và chiến lược phát triển ngành phù hợp với mục tiêu điều kiện
của quốc gia, ngành hoặc lãnh thổ (địa phương). Đó là một phương thức soạn lập ngân


sách được xác định trong một giai đoạn dài hơn một năm.Trong đó tổng chi tiêu
1
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
nguồn lực được giới hạn từ trên xuống, việc tính toán chi phí dự toán cho việc thực
hiện các hoạt động cụ thể được tính toán và đệ trình từ dưới lên (trong khuôn khổ giới
hạn trần đã được thông báo). Chúng hợp thành dự toán chi tiêu trung hạn phù hợp chặt
chẽ với chính sách, kế hoạch, chiến lược phát triển của ngành, lãnh thổ cũng như ưu
tiên đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận.
Khuôn khổ chi tiêu trung hạn là một kế hoạch “cuốn chiếu” về thu, chi cho 3
năm. Số liệu năm thứ nhất được dùng làm dự toán ngân sách năm, 2 năm tiếp theo làm
cơ sở lập kế hoạch ngân sách tiếp theo. Quy trình này được lặp lại hằng năm để hỗ trợ
lập ngân sách thường niên. MTEF còn gắn kết chính sách tài khóa với việc lập ngân
sách trung hạn bằng cách kết nối giữa lập tài khóa tổng thể với một quy trình dự báo
ngân sách trung hạn của các sở, qua đó phản ánh chính sách hiện hành của Chính phủ.
Bảng 1.1 Mối liên hệ giữa MTEF và mục tiêu của quản lý chi tiêu công
Mục tiêu của Quản lý chi
tiêu công
MTEF
1.Kỷ luật tài khóa tổng thể Xác định gói ngân quỹ. Xác lập trần ngân sách
cứng nhưng có thể dự báo được.
2.Hiệu quả phân bổ Tái phân bổ cho những cách sử dụng ưu tiên
trong từng giai đoạn. Có thời gian dài hơn để
cân nhắc các quyết định, chính sách. Khơi
thông và tập trung vào việc dự thảo ngân sách,
vào các chính sách, chương trình mới.
3.Hiệu quả hoạt động Dựa trên những sản phẩm đầu ra và kết quả đầu
ra rõ ràng. Hỗ trợ cho các Ngành, địa phương
xác định mục tiêu kinh tế- xã hội nào là chính
sẽ giúp cho hoạt động đạt hiệu quả cao nhất.

Một khuôn khổ chi tiêu trung hạn bao gồm hai phần là kế hoạch tài chính
trung hạn (MTFF) và kế hoạch chi tiêu trung hạn (MTEFs). Kế hoạch tài chính trung
hạn là một phần của phương thức soạn lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung
2
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
hạn, nhằm xây dựng chính sách tài chính trên cơ sở dự báo kinh tế vĩ mô, xác định
nguồn lực và ưu tiên phân bổ nguồn lực (theo quy trình từ trên xuống). Kế hoạch chi
tiêu trung hạn (KHCTTH) là một phần của phương thức soạn lập ngân sách theo
khuôn khổ chi tiêu trung hạn (theo quy trình từ dưới lên).
Phạm vi nghiên cứu chỉ xem xét đến việc xây dựng Kế hoạch chi tiêu trung
hạn mà cụ thể là cho ngành Giáo dục. Đây là kế hoạch chi ngân sách của từng ngành,
từng đơn vị trong thời gian trung hạn (từ 3-5 năm), kể từ năm dự toán ngân sách tiếp
theo, được lập hàng năm theo phương thức “cuốn chiếu”. Trong đó KHCHTH trình
bày mục tiêu, nhiệm vụ, hoạt động, chế độ, chính sách cơ bản, chủ yếu của từng
ngành, từng cơ quan đơn vị sẽ thực hiện trong trung hạn và dự báo các nguồn lực tài
chính, trong đó dự báo cụ thể nguồn lực tài chính công để thực hiện. Mặt khác,
KHCTTH thể hiện cách thức xác định, sắp xếp thứ tự ưu tiên thực hiện các nhiệm vụ,
hoạt động, chế độ, chính sách và dự kiến cụ thể kinh phí trong tổng mức trần chi tiêu
được xác định trước. Đồng thời trình bày một số giải pháp chủ yếu để cân đối giữa
nhu cầu chi và khả năng nguồn lực tài chính công, đưa ra các cảnh báo về nợ dự
phòng.
1.1.2 Đặc trưng của khuôn khổ chi tiêu trung hạn.
1.1.2.1 Đặc trưng của MTEF.
Chi tiêu gắn với nguồn lực hiện có, gắn chi tiêu với chính sách và kết quả.
Việc áp dụng lập ngân sách gắn với kết quả đầu ra là việc quản lý chi tiêu dựa vào cơ
sở tiếp cận những thông tin đầu ra giúp cho các cơ quan nhà nước và chính phủ có thể
phân bổ nguồn lực tài chính nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược một cách hiệu
suất và hiệu quả. Trong đó việc lập ngân sách truyền thống thì không rõ ràng, việc tính
toán dựa vào các yếu tố đầu vào là chủ yếu nên thiếu tính minh bạch.

Trong khuôn khổ tài chính (luôn có giới hạn trần). Việc đề ra một giới hạn
trần giúp cho việc xây dựng khuôn khổ chi tiêu một cách hợp lý tránh lãng phí. Vì
nguồn lực thì có hạn trong khi hàng năm có rất nhiều các mục tiêu dự án cần triển
khai, yêu cầu người làm ngân sách phải cân nhắc lựa chọn các chiến lược mục tiêu
phù hợp không những vừa đáp ứng cho phát triển KTXH mà việc sử dụng các nguồn
3
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
lực này một cách có hiệu quả và hiệu suất cao nhất, so với ngân sách truyền thống với
tình trạng cho bao nhiêu sử dụng bấy nhiêu.
Trung hạn, cuốn chiếu (điều chỉnh nối tiếp nhau): MTEF được xác định
trong thời kỳ 3 năm và theo nguyên tắc cuốn chiếu không phải là bản dự toán chi tiết
từng năm.
Theo nguyên tắc cuốn chiếu là nguồn tài chính dải đều cho 3 năm giai đoạn
này gối đầu cho những năm tiếp theo. Việc có thêm năm N+2, N+3 để mở rộng thông
tin về tầm nhìn ngân sách dự báo trung hạn cho các chương trình của năm sau, dự toán
thêm những khoản chi mới cho những dự án mới giúp cho chính phủ có thể giành
nhiều thời gian cho những chương trình quan trọng.nâng cao trách nhiệm người duyệt
ngân sách và tránh tách rời chi đầu tư và chi thường xuyên.
Sơ đồ 1.1 Nguyên tắc cuốn chiếu (ví dụ)
Ưu tiên rõ ràng (lựa chọn vấn đề ưu tiên): Thực tế tổng chi phí dự toán cho
tất cả các hoạt động có nhiều khả năng lớn hơn mức trần ngân sách được thông báo do
vậy việc sắp xếp các danh mục, lựa chọn và quyết định ưu tiên là rất quan trọng.
Trần nguồn lực giao từ trên xuống kết hợp dự toán ngân sách từ dưới lên
về chi phí hiện tại và trung hạn cho chính sách hiện có.
4
KẾ HOẠCH CHI TIÊU TRUNG HẠN 2008-2010
Dự toán NS
2008
Dự toán trung

hạn 2010
Dự toán trung
hạn 2009
Số liệu năm (n+2),(n+3) được sử dụng để
phân bổ ngân sách cho chu kỳ KHCTTH
tiếp theo có điều chỉnh theo ưu tiên chính
sách mới và tình hình vĩ mô.
Dự toán trung
hạn 2011
Dự toán trung
hạn 2010
Dự toán NS
2009
KẾ HOẠCH CHI TIÊU TRUNG HẠN 2009-2011
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
MTEF là sự kết hợp cả hai quy trình là trần nguồn lực giao từ trên xuống
kết hợp việc lập ngân sách từ dưới lên. Đầu tiên các Bộ tổng hợp (Bộ Kế hoạch Đầu
tư và Bộ Tài chính) đưa ra dự báo kinh tế vĩ mô, khuôn khổ tài khóa và các mức trần
chi tiêu cho các ngành tiếp đó các bộ chủ quản, các tỉnh, các đơn vị chi tiêu lập dự
toán trung hạn gồm mức chi tiêu cơ sở và chi tiêu sáng kiến mới mới dựa trên mức
trần, xu hướng, ưu tiên, chiến lược, các nguồn vốn của ngành.
Theo KKCTTH dự toán ngân sách được lập gồm 2 phần:
Chi tiêu cơ sở: được xác định là chi cho các khoản chi (thường xuyên và đầu
tư) nhằm đảm bảo cho các chính sách và hoạt động hiện hành. Các khoản chi này gồm
2 loại chi tiêu:
+ Dự kiến chi trong 3 năm để duy trì chính sách hiện hành với các
tiêu chí và tiêu chuẩn hiện hành.
+ Dự kiến chi nhằm triển khai các chính sách và hoạt động của Chính
phủ khi nguồn vốn được xác định và nhất trí công khai bằng luật hay thẩm quyền

khác.
Chi tiêu sáng kiến mới là các khoản chi để thực hiện:
+ Các nhiệm vụ hoạt động, chế độ, chính sách mới.
+ Mở rộng các hoạt động, nhiệm vụ, chế độ, chính sách đã được triển
khai từ trước.
+ Các nhiệm vụ, hoạt động, chế độ chính sách chưa được cam kết về tài
chính hoặc bị đình hoãn do thiếu nguồn lực nhưng cần tiếp tục thực hiện trong trung
hạn.
1.1.2.2 Những nội dung cơ bản của khuôn khổ chi tiêu trung hạn ngành tại
địa phương.
- Xác định bối cảnh, xu hướng phát triển KTXH, tài chính, ngân sách liên quan
đến ngành, địa phương.
- Dự kiến thay đổi về chính sách, chế độ của nhà nước liên quan đến ngành, địa
phương.
- Xác định phạm vi của bản dự toán ngành.
- Làm rõ các ưu tiên, các chiến lược và hoạt động của ngành, địa phương.
5
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
- Phân bổ ngân sách gắn với thực hiện mục tiêu, chiến lược và kế hoạch.
- Ước tổng chi năm hiện hành, năm dự toán và 2 năm kế tiếp. Chi cho chính sách
hiện hành và chi cho chính sách mới.
- Xử lý giữa trần ngân sách và nhu cầu chi, kiến nghị biện pháp xử lý.
- Tóm tắt các hoạt động tài chính trong chu kỳ của MTEF.
Về nội dung của MTEF có một số khác biệt với việc lập ngân sách theo khuôn khổ
thường niên. Theo khuôn khổ thường niên thì ngân sách được lập hàng năm, việc
phân bổ ngân sách dựa trên các khoản mục chi đề xuất, chú trọng vào việc tuân thủ, và
có sự tách biệt giữa chi đầu tư và chi thường xuyên. Ngược lại, lập ngân sách theo
khuôn khổ chi tiêu trung hạn lập trong khoảng thời gian từ 3-5 năm, trong đó năm đầu
tiên là năm ngân sách, đồng thời lên kế hoạch cho các năm ngân sách tiếp theo quá

trình này được lặp đi lặp lại từng năm để hỗ trợ việc lập ngân sách sát với thực tế
(cuốn chiếu), trong đó ngân sách được phân bổ theo từng gói cho các năm trong giai
đoạn trung hạn, việc lập ngân sách này chủ yếu là tập trung vào kết quả hoạt động và
có sự gắn kết giữa chi thường xuyên và chi đầu tư.
Việc áp dụng lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn sẽ khắc phục được
một số nhược điểm của ngân sách truyền thống.
Thứ nhất: Việc áp dụng ngân sách truyền thống chưa phát triển được đầy đủ hệ
thống thông tin nhằm cân đối nguồn lực với các ưu tiên của chính phủ. Hiện tại, các
mục tiêu của Kế hoạch phát triển KT-XH không được liên kết rõ ràng với nguồn lực,
vì vậy có thể sẽ không có nguồn lực để đáp ứng các chính sách này.
Thứ hai: Khuôn khổ ngân sách hiện tại cũng không gắn việc đạt mục tiêu và đáp
ứng các chỉ tiêu với số ngân sách cần có, việc kiểm soát đầu vào được coi trọng hơn
trong khi ít quan tâm đến việc cải thiện kết quả đầu ra thông qua việc đáp ứng các
mục tiêu và chỉ tiêu của ngành. Theo quy trình ngân sách trước đây, thì ngân sách
hàng năm được lập trên cơ sở tăng thêm (cộng thêm x% so với số dự toán của năm
trước đó) mà không xét tới việc có nên tiếp tục tiến hành các hoạt động đang được
cung cấp tài chính hay không. Các hoạt động này diễn ra từ năm này sang năm khác
trong khi nguồn lực không hẳn đã tăng lên tương ứng. Dẫn đến việc bỏ qua nhiều
chương trình, hoạt động mới hiệu quả hơn.
6
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
Thứ ba: Lập ngân sách truyền thống không đảm bảo tính kế thừa giữa kế hoạch và
lập ngân sách các năm. Ngân sách soạn lập theo chu kỳ hàng năm, do đó nó không
được đánh giá, xem xét sự phân bổ nguồn lực gắn kết với những chương trình phát
triển kinh tế xã hội dài hạn. Nguồn lực của NS phân bổ mang tính dàn trải, thiếu sự
xác định thứ tự ưu tiên chi tiêu. Cách phân bổ ngân sách hiện nay không dựa trên nền
tảng lý luận tài chính Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, thiếu chiến lược rõ ràng,
không cho phép đạt được các mục tiêu mong muốn của Chính phủ.
Thứ tư: Việc đàm phán ngân sách giữa các bộ ngành và địa phương với Bộ Tài

chính thiếu một cơ sở minh bạch, dẫn đến quá trình này chịu sự chi phối rất lớn của
những Bộ, ngành, địa phương có nhiều ảnh hưởng hoặc sự tùy tiện trong việc điều
chỉnh ngân sách của các cơ quan chức năng Trung ương. Cũng chính vì thế mà khuôn
khổ ngân sách hàng năm đã hạn chế rất nhiều tính tiên liệu.
Thứ năm: Ngân sách truyền thống tách rời chi thường xuyên và chi đầu tư. Hầu
hết các công trình hạ tầng công cộng đều đòi hỏi ngoài những chương trình đầu tư
mang tính trung hạn còn phải có những khoản chi để vận hành bảo dưỡng các công
trình sau này khi chúng được xây dựng xong. Tuy nhiên, với cách lập ngân sách
truyền thống, hai loại chi tiêu này được xây dựng độc lập với nhau. Chẳng hạn, ở cấp
Trung ương, trong khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm quản lý và phân bổ
các chương trình chi đầu tư công cộng thì chi thường xuyên lại do Bộ Tài chính đảm
nhiệm. Kết quả là, trong các khoản chi thường xuyên hàng năm thiếu hẳn phần dự
toán chi vận hành bảo dưỡng cho các công trình công cộng đã và đang được đưa vào
hoạt động. Đây là một sự lãng phí nguồn lực vốn eo hẹp của đất nước, vì các công
trình công cộng không thể phát huy tối đa công suất của mình, thậm chí còn xuống
cấp rất nhanh chóng ngay sau khi được xây dựng xong.
1.2 Kỹ thuật và những yêu cầu xây dựng khuôn khổ chi tiêu trung hạn.
1.2.1 Kỹ thuật chủ yếu xây dựng khuôn khổ chi tiêu trung hạn
Khi xây dựng MTEF cần triển khai rất nhiều công đoạn. Việc lập MTEF trải
qua 8 bước
Sơ đồ 1.2: Các bước trong kỹ thuật lập MTEF
• Bước 1: Xác định giới hạn trần chi tiêu và các chiến lược tài trợ.
7
7. Xác định
trách nhiệm và
liên kết hoạt
động
5. Phân tích chi
phí cam kết và
dự kiến chi tiêu

2. Xây dựng các
mục tiêu chiến lược
1.Xác định giới hạn
trần chi tiêu và các
chiến lược nguồn tài
trợ
6. Lựa chọn và
quyết định ưu
tiên
8. Đánh giá tính
khả thi của các
đề xuất.
4. Tính toán chi
phí cho các
hoạt động và
các đầu ra
3. Xây dựng các
đầu ra và các hoạt
động
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
Để đạt được kết quả cao hơn từ nguồn lực hiện có, MTEF đòi hỏi phải thiết lập các
công cụ để phân bổ nguồn lực phù hợp với mục tiêu chiến lược ưu tiên. Do vậy cần
xác định trước mức giới hạn nguồn lực để chủ động phân bổ chúng cho các ưu tiên,
trình tự này thực hiện như sau:
- Xác định giới hạn trần cho quốc gia (khung tài chính). Trên cơ sở đó, xác định
giới hạn trần cho các địa phương, ngành, các đơn vị.
- Đối với một đơn vị, bộ ngành, địa phương, trần ngân sách có thể có hai phần:
trần ngân sách cho chi tiêu cơ sở và trần ngân sách cho chi tiêu sáng kiến mới.
- Đánh giá các nguồn lực sẵn có, ước tính chi phí thực tế của việc thực hiện

chính sách.
- Tập trung phân bổ nguồn lực để thực hiện các mục tiêu chiến lược.
- Phân bổ nguồn lực theo các mục tiêu chiến lược của chính sách một cách minh
bạch.
Việc xây dựng tổng thể các nguồn lực có thể được khai thác cho bộ ngành, địa
phương trong năm cơ sở và trong giai đoạn trung hạn là điều cần thiết. Những nguồn
tài chính chủ yếu có thể khai thác: NSNN, đóng góp từ phí và lệ phí, đóng góp của
cộng đồng, trái phiếu vay nợ, nguồn viện trợ nước ngoài…
Khi bắt đầu lập MTEF, Bộ TC, Bộ KHĐT thông báo cho các bộ tỉnh, các đơn vị
các mức trần sơ bộ ban đầu, bao gồm tất cả nguồn lực mà TW kiểm soát. Trên cơ sở
giới hạn đó, các bộ, tỉnh, đơn vị sẽ sắp xếp thứ tự ưu tiên cho các hoạt động và cho
các đầu ra.
Khi tổng mức nguồn lực đã được xác định, các yếu tố được xem xét khi quyết
định các mức phân bổ giữa các ngành sẽ bao gồm:
- Những ưu tiên của các ngành theo ưu tiên của Chính phủ.
- Những ưu tiên của các ngành theo mục tiêu của Tỉnh
- Vai trò của Chính phủ trong phạm vi ngành.
• Bước 2 Xây dựng các mục tiêu chiến lược.
Xác định mục tiêu chiến lược của ngành, tỉnh, đơn vị là những mục tiêu cần đạt
được trong một thời gian nhất định. Bao gồm 2 phần: mục tiêu tổng quát và mục tiêu
cụ thể.
• Bước 3 Xác định đầu ra và các hoạt động.
8
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
Các đầu ra và hoạt động là cơ sở để xây dựng ngân sách thống nhất 3 năm.
- Thống nhất các đầu ra đạt được và hoạt động để tạo ra các đầu ra đó.
- Lập kế hoạch số lượng đầu ra cần được tạo ra trong một giai đoạn 3 năm.
- Xác định rõ các hoạt động sẽ tạo ra các đầu ra đó với hiệu quả và hiệu suất
nhất.

- Xác định chi phí thực hiện các hoạt động.
- So sánh chi phí với nguồn lực sẵn có.
- Sắp xếp thứ tự ưu tiên và giảm các khả năng để phù hợp với nguồn lực sẵn có.
Sơ đồ 1.3: Các yếu tố cần thiết để xác định đầu ra.
Giải thích các yếu tố của sơ đồ:
Đầu ra là hàng loạt hàng hóa công do cơ quan Nhà nước tạo ra và cung cấp cho xã
hội.
Kết quả là các tác động, ảnh hưởng đến cộng đồng từ quá trình tạo ra một đầu ra
hoặc nhóm các đầu ra. Kết quả kế hoạch là mục tiêu của Chính phủ cố gắng đạt được
thông qua các đầu ra.
Đầu vào là những nguồn lực được các cơ quan, đơn vị công sử dụng để thực hiện
các hoạt động và từ đó tạo nên kết quả đầu ra.
Chi phí là số tiền (nguồn lực tài chính) được chi ra (phân phối và sử dụng) để
trang trải cho đầu vào.
Tính hiệu quả: Liên quan đến đầu ra và nguồn lực đầu vào cần thiết. Chỉ số hiệu
quả được tính toán thông qua các chỉ tiêu: chi phí trên một đơn vị đầu ra; chi phí trung
bình của xã hội để sản xuất một đơn vị đầu ra.
9
(1)
Chi phí
Đầu vào
(1) So sánh kinh tế
(2) So sánh hiệu suất
(3) Mức độ thành công
(4) Hiệu quả sử dụng
nguồn lực
(2)
Hoạt động
(4)
Đầu ra

(3)
Kết quả
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
Tính hiệu suất: Một hoạt động có tính hiệu suất là đầu ra với một đầu vào tối thiểu,
hoặc với một đầu vào tạo ra nhiều đầu ra nhất, thường thì rất ít các hoạt động thỏa
mãn đồng thời cả hiệu quả và hiệu suất.
Tính thích hợp: thể hiện mối quan hệ kết hợp giữa kết quả thực tế và mục tiêu
chiến lược.
• Bước 4: Tính toán chi phí cho các hoạt động và các đầu ra.
Ước tính chi phí thực hiện cho các hoạt động hiện tại (chi cơ sở) và mối liên hệ với
các mục tiêu.
- Xác định và lượng hóa các đầu vào và các yếu tố chi phí.
- Xem xét tính hiệu quả chi phí của từng hoạt động, tiên liệu xem để đạt được
cùng một đầu ra với đầu vào ít hơn hay kết hợp các yếu tố đầu vào khác nhưng ít tốn
kém hơn.
Xác định đánh giá các khoản chi tiêu mới, xác định đánh giá mối quan hệ giữa
các khoản chi tiêu cho những sáng kiến mới với các mục tiêu
Từ chi phí mỗi hoạt động và số lượng hoạt động, xác định tổng dự toán chi phí
(tính theo giá cố định).
• Bước 5: Phân tích chi phí và dự kiến chi tiêu.
Phân tích chi phí và dự kiến chi tiêu gồm:
- Cập nhật dòng cơ bản về chi tiêu hiện nay, có tính đến thay đổi đơn giản có thể
xảy ra do giữ vững các chính sách hiện nay và “giữ một hệ thống” ở dạng hiện hành
của nó.
- Chi phí cho tác động của việc thay đổi chính sách hay chiến lược mới. Xác định
những thay đổi gây ra về mặt chi phí.
- Tiết kiệm tăng lên do việc thay đổi các dịch vụ.
Tất cả chi phí ở dạng số lượng (theo giá hiện hành) và bởi vậy phải tính đầy đủ đến
lạm phát. Cập nhật các dòng cơ bản cho:

- Lạm phát
- Tác động của việc thay đổi số lượng dịch vụ sẽ cung cấp.
- Chi phí thường xuyên cho các dự án đầu tư và các dự án của các nhà tài trợ.
10
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
- Phần cung cấp của đối tác cho các chương trình và các dự án của các nhà
tài trợ.
- Sức ép đối với dòng ngân sách chính- chi phí vượt trội, quỹ của các nhà tài
trợ mà đã được lên ngân sách trước kia nhưng chưa được thực hiện, giảm
đóng góp của cộng đồng (đã có kế hoạch)
• Bước 6: Lựa chọn và quyết định ưu tiên.
Do tổng dự toán của tất cả các hoạt động có thể lớn hơn mức trần chi tiêu đã
thông báo do vậy cần phải sắp xếp các danh mục và lựa chọn ưu tiên. Việc sắp xếp
này phải theo những tiêu chí nhất định. Các hoạt động, quyết định cần sắp xếp theo
các yếu tố sau:
- Tác động trực tiếp: Đầu ra và hoạt động đóng góp vào việc đạt được mục tiêu
của Bộ ngành, đơn vị, hoạt động nào giải quyết được vấn đề hoặc cải thiện được tình
hình phải được ưu tiên nhiều hơn.
- Khung thời gian: Các đầu ra và hoạt động có thể giải quyết vấn đề mau chóng
nhất và có tác động lâu dài sẽ được ưu tiên nhiều hơn.
- Hiệu suất chi phí: Vì các nguồn lực là có hạn nên viêc lựa chọn các đầu ra và
hoạt động với chi tiêu thấp nhất sẽ được ưu tiên nhiều hơn.
- Năng lực thực hiện: Năng lực thực hiện của các Bộ, ngành ,đơn vị được coi là
nhân tố quan trọng trong việc sắp xếp thứ tự ưu tiên giữa các đầu ra, những trung tâm
chi phí có năng lực thực thi cao hơn hoặc các đầu ra hay hoạt động có nhu cầu vốn
thấp hơn cần phải được ưu tiên hơn.
- Nhu cầu về vốn: một số hoạt động có nhu cầu về vốn cao ngay khi cả chúng ít
được ưu tiên hơn.
Sau khi đã sắp xếp các thứ tự ưu tiên ta sẽ giảm dự toán trên cơ sở ưu tiên.

Những hoạt động có mức độ ưu tiên cao sẽ được duy trì mức dự toán trong khi những
hoạt động có mức ưu tiên thấp cần phải giảm bớt hoặc ngừng thực hiện.
• Bước 7: Xác định trách nhiệm và liên kết hoạt động.
11
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
Xác định cơ quan nào chịu trách nhiệm vụ trong việc cung cấp đầu ra và thực
hiện các mục tiêu đề ra. Việc xác định trách nhiệm của các đơn vị, đối tác chủ yếu là
cần thiết không nên bỏ qua.
Có nhiều hoạt động sẽ được tài trợ 1 hoặc nhiều dự án đang triển khai hay sắp
triển khai. Ngược lại, một dự án, chương trình chứa đựng nhiều mục tiêu liên quan
đến nhiều bộ, ngành, đơn vị. Do vậy, xác định nhiệm vụ từng đơn vị và liên kết họ lại
trong quá trình lập ngân sách theo MTEF là rất quan trọng.
•Bước 8: Đánh giá tính khả thi của các đề xuất.
- Đánh giá, kiểm tra xem các hoạt động hiệu quả nhất, ít tốn kém nhất để đạt
được mục tiêu đề ra hay không? Các hoạt động có thực sự đem lại những đầu
ra mong muốn hay không? Liệu có cách khác kết hợp các hoạt động để tạo ra
các đầu ra đó hay không?
- Ai là người cung cấp các đầu ra đó? Đơn vị công lập hay tư nhân? Chính phủ
có nên cung cấp dịch vụ này hay để cho tư nhân, các tổ chức phi chính phủ hay
cộng đồng cung cấp?
- Đánh giá tính khả thi về mặt kỹ thuật của các hoạt động và đầu ra.
- Đánh giá tính khả thi về mặt tài chính của các hoạt động.
- Xem xét chi phí thường xuyên phát sinh sau khi các hoạt động đầu tư mới hoàn
thành.
1.2.2 Những yêu cầu cơ bản để triển khai khuôn khổ chi tiêu trung hạn.
Có chính sách kinh tế vĩ mô tốt, kỹ năng và phương pháp phân tích và dự báo kinh
tế vĩ mô tốt để làm cơ sở xây dựng khuôn khổ chi tiêu trung hạn.
Có chính sách và công cụ tài chính thích ứng. MTEF dựa trên mối liên kết chặt
chẽ giữa chính sách và kế hoạch kinh tế vĩ mô với chính sách tài khóa. Các kế hoạch

phát triển kinh tế xã hội trong tương lai cần được dựa trên các dự đoán hợp lý về
nguồn lực trong tương lai.
Xác lập rõ ràng trong tư duy ưu tiên nguồn lực. MTEF tạo ra một cơ chế tốt hơn
cho việc sắp xếp hợp lý các khoản ngân sách phù hợp với chính sách. Lập kế hoạch
ngân sách, về thực chất là cách bố trí ngân sách cho tương lai theo kiểu dàn trải, dàn
12
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
đều hay có lựa chọn cho ưu tiên. MTEF chính là công cụ giúp làm công việc bố trí
ngân sách từ ưu tiên thấp sang ưu tiên cao hơn, từ tầm nhìn ngắn hạn (từng năm một),
phân tán rời rạc sang tầm nhìn trung hạn (3 năm), có liên kết giữa chi đầu tư và chi
thường xuyên và liên kết giữa các ngành gắn kết tốt với mục tiêu.
Chấp hành kỷ luật ngân sách. Các khoản phân bổ ngân sách cần phải dựa trên giới
hạn về tổng mức ngân sách thỏa dụng, các bộ chuyên ngành phải bằng lòng với khoản
ngân sách được thông báo và tiến hành phân bổ trong giới hạn đó.
Thể chế tốt, phù hợp và không thiên lệch. Một khuôn khổ chi tiêu trung hạn đòi
hỏi phải có một cơ sở thể chế có khả năng làm chỗ dựa cho đối tượng khác nhau sử
dụng khuôn khổ chi tiêu trung hạn như là một khuôn khổ, nền tảng cho việc đề ra các
quyết định và chi tiêu. Các nhà quyết định chính trị phải chấp nhận khuôn khổ chi tiêu
trung hạn như một phương tiện phân bổ nguồn lực.
Có các thông số thích hợp. Thiết kế một khuôn khổ chi tiêu trung hạn đòi hỏi phải
xác định được các thông số kỹ thuật như xác định tổng mức chi tiêu, mối quan hệ giữa
phân chia theo lĩnh vực và cơ cấu tổ chức của Chính phủ, nội dung gói chi tiêu, cơ sở
giá cả hợp lý cho việc dự toán các khoản chi tiêu trong tương lai, cơ chế điều phối với
quy trình ngân sách từng năm, mức độ linh hoạt theo bối cảnh khác nhau.
Đảm bảo tính minh bạch. Minh bạch về tài chính và chính sách sẽ nâng cao trách
nhiệm giải trình của các đối tượng tham gia quy trình khuôn khổ chi tiêu trung hạn.
Minh bạch tài chính là việc công khai cơ cấu và chức năng của Chính phủ, các ý định
chính sách tài chính, các khoản thu, chi của khu vực công và những dự báo tài chính.
Minh bạch về chính sách là việc công khai những ý định của Chính phủ trong một

chính sách cụ thể, những kết quả sẽ phải đạt được và chi phí để đạt được kết quả đó.
Minh bạch cần gắn liền với trách nhiệm giải trình, là việc báo cáo kết quả thực hiện
các chính sách, kế hoạch, chiến lược với những con số cụ thể về số lượng và chất
lượng của các đầu ra và kết quả đạt được. Không đơn thuần là đã thu được bao nhiêu,
đã chi bao nhiêu tiền mà quan trọng hơn là việc thu, chi ngân sách đã giải quyết được
vấn đề gì, với những kết quả như thế nào, phải được đo đếm bằng số liệu cụ thể.
1.3 Nội dung lập kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục tại địa phương.
Nội dung kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành gồm hai phần:
• Phần một: Kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành.
13
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
- Phạm vi dự toán.
- Xu hướng và các vấn đề của ngành giai đoạn KHCTTH
- Nguồn vốn cho ngành giáo dục
- Kế hoạch chi tiêu cho ngành trong giai đoạn chi tiêu trung hạn.
- Nghĩa vụ nợ
- Tài liệu bổ trợ
• Phần hai: Dự toán chi tiêu trung hạn cho Sở chủ quản (Sở giáo dục tại
địa phương)
- Phạm vi dự toán của Sở
- Xu hướng và vấn đề trong ngành liên quan đến sở trong giai đoạn KHCTTH.
- Ưu tiên chiến lược và hoạt động của Sở.
- Nguồn thu chi tiêu cơ sở.
- Chi tiêu mới cho giai đoạn kế hoạch chi tiêu trung hạn.
- Nghĩa vụ nợ.
- Tài liệu bổ trợ.
- Tổng hợp.
- Các giả định khi đưa ra lập KHCTTH.
1.4 Kinh nghiệm lập kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành ở các địa phương thí

điểm ở Việt Nam.
Thực hiện theo quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 21/4/2003 của thủ tướng chính
phủ phê duyệt báo cáo khả thi Dự án “cải cách quản lý tài chính công” và thông tư số
55/2008/TT/BTC về hướng dẫn thí điểm xây dựng kế hoạch tài chính trung hạn và kế
hoạch chi tiêu trung hạn giai đoạn 2009-2011 đã tiến hành thí điểm việc lập kế hoạch
chi tiêu trung hạn cho 4 ngành ( Giáo dục và đào tạo, Y tế, Nông nghiệp và phát triển
nông thôn, Giao thông vận tải) ở 3 địa phương (Hà nội, Bình dương, Vĩnh long) .
Sau hơn 3 năm triển khai thực hiện, được sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới, Cơ
quan phát triển Vương quốc Anh và các chuyên gia quốc tế, chuyên gia trong nước,
Bộ Tài chính cùng các Bộ, địa phương tham gia thí điểm đã xây dựng được mô hình
Kế hoạch Tài chính và Chi tiêu trung hạn cho Việt Nam và đã đưa ra được báo cáo thí
điểm cho giai đoạn trung hạn 3 năm: 2006-2008, 2007-2009 và 2008-2010. Qua quá
trình thí điểm cho ngành Giáo dục ở một số Tỉnh đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm
trong việc xây dựng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành, bao gồm các vần đề như:
14
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
 Đầu tiên là yêu cầu về thông tin: Cần có một luồng thông tin toàn diện, đầy
đủ để hỗ trợ chính xác cho MTEFs. Đây là thách thức lớn nhất trong việc
thực hiện MTEF, việc thu thập thông tin ở cấp sở cũng như dữ liệu tổng
hợp từ các đơn vị cấp dưới phải cho cùng một loại thông tin. Các đơn vị
trường học, phòng quản lý quận huyện phải cập nhật thông tin một cách
chính xác như số trường, lớp, học sinh, giáo viên ở từng cấp học. Bên cạnh
đó việc cập nhật thông tin từ Trung ương cũng như các chính sách của
Tỉnh, Thành phố liên quan tới các cơ chế có thể tác động đến nhiệm vụ, chỉ
tiêu ngành.
 Về dự kiến nguồn lực của ngành. Khi có giới hạn trần ngân sách do Bộ
giao xuống thì Sở giáo dục phải dự kiến nguồn lực của ngành bao gồm
những nguồn nào, nguồn Ngân sách nhà nước (trần ngân sách) và nguồn
ngoài ngân sách ( trái phiếu chính phủ, học phí, xã hội hóa giáo dục )

 Về dự kiến các thông số liên quan đến chi tiêu cơ sở và chi tiêu sáng kiến
mới.
Các thông số liên quan đến chi tiêu cơ sở và chi tiêu sáng kiến mới rất
quan trọng có tác động đến việc xây dựng kế hoạch cho giai đoạn trung
hạn ngành một cách chính xác. Đối với ngành Giáo dục thì việc đầu tiên là
xét đến việc thay đổi các tham số (tham số chung, thay đổi về chính sách
cũng như thay đổi số cụ thể ngành Giáo dục) gây ảnh hưởng trực tiếp và
gián tiếp đến chi tiêu cơ sở và chi tiêu sáng kiến mới.
 Xử lý chênh lệch giữa chi tiêu và giới hạn trần. Khi đã xây dựng được dự
toán ngân sách cho ngành từ dưới lên ta so sánh với giới hạn trần ngân sách
của ngành Giáo dục, nếu có xảy ra chênh lệch giữa nhu cầu và nguồn lực
thì đơn vị lập ngân sách phải có biện pháp xử lý (xem xét việc xin bổ sung
ngân sách, cắt giảm các khoản chi chưa cần thiết…) tuy nhiên các biện
pháp này mang tính thụ động tùy thuộc vào nguồn lực của Nhà nước.
15
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
CHƯƠNG II : KHẢ NĂNG ÁP DỤNG KHUÔN KHỔ CHI TIÊU TRUNG HẠN
CHO NGÀNH GIÁO DỤC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
2.1 Những ảnh hưởng của tình hình kinh tế xã hội của Thành phố đến sự
nghiệp giáo dục.
2.1.1 Tổng quan về ngành giáo dục thành phố.
Ngành giáo dục và đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh với trên 70 ngàn giáo viên
và gần 1,5 triệu học sinh các cấp học từ mầm non, tiểu học, trung học phổ thông đến
giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục thường xuyên có quy mô lớn, với những điều
kiện thuận lợi và khó khăn đặc thù của một thành phố năng động, đa dạng; tuy đạt
được những thành tựu khả quan nhưng cũng đang phải đối mặt với nhiều áp lực về
chất lượng cao trước xu thế đổi mới và hội nhập.
Trong năm học 2008–2009, toàn thành phố có 638 cơ sở giáo dục mầm non, 467
trường cấp I, 239 trường cấp II, 81 trường cấp III và 55 trường cấp II, III. Ngoài ra,

theo con số từ 1994, Thành phố Hồ Chí Minh còn có 20 trung tâm xóa mù chữ, 139
trung tâm tin học, ngoại ngữ và 12 cơ sở giáo dục đặc biệt. Tổng cộng 1.308 cơ sở
16
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
giáo dục của thành phố có 1.169 cơ sở công lập và bán công, còn lại là các cơ sở dân
lập, tư thục. Hệ thống các trường từ bậc mầm non tới trung học trải đều khắp thành
phố. Trong khi đó, những cơ sở xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tập trung chủ yếu vào
bốn huyện ngoại thành Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ.
Sau hơn 20 năm đổi mới đất nước, đồng hành với các lĩnh vực của xã hội, ngành
giáo dục và đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh tích cực thực hiện Nghị quyết Trung
ương 2 khóa VIII về giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, đã có những bước
phát triển về quy mô, chất lượng và đổi mới về cơ chế hoạt động. Chất lượng đào tạo
của các nhà trường tương đối tốt; giáo dục đạo đức, luật pháp và giáo dục thể chất đều
được quan tâm thực hiện, luôn giữ thứ hạng cao so với cả nước. Tỷ lệ tốt nghiệp phổ
thông hằng năm được giữ vững, ổn định trên 90%.
Trải qua 25 năm đổi mới, ngành giáo dục vẫn còn đối mặt với không ít khó khăn
như cơ sở vật chất trường lớp còn chật hẹp, sĩ số lớp đông (40-50 học sinh/lớp), hầu
hết học sinh phải học tập 1 buổi/ngày. Dù hàng năm, ngành giáo dục TPHCM đã được
sự quan tâm của lãnh đạo TP, quận huyện, nỗ lực đáp ứng hơn 1.000 phòng học mỗi
năm nhưng với tốc độ tăng dân số cơ học ngày một cao, trường lớp không thể theo
kịp. Giáo dục chuyên nghiệp dạy nghề cũng còn nhiều bất cập, quản lý đứt khúc theo
hình thức quản lý khác nhau của 2 Bộ (Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội); đầu tư tản mạn, thiếu tập trung và chưa đúng mức để đáp
ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho địa phương.
Sớm nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, coi sự nghiệp giáo dục là
“quốc sách hàng đầu” là nhân tố cho sự phát triển của Thành phố trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, nguồn chi ngân sách cho giáo dục chiếm tỷ trọng lớn trong
chi thường xuyên và tăng dần qua các năm, 2008 chiếm 37.22% /tổng dự toán chi
thường xuyên, năm 2009 chiếm 43,48% ,Dự toán năm 2010 chiếm 44,31%.

Bảng 2.1: Dự toán chi tiêu theo lĩnh vực kinh tế của TP HCM.
Đơn vị: triệu đồng.
Năm 2008 2009 2010
Tổng chi thường xuyên của NSĐP
(NSQH) 4.038.189 5.167.209 6.487.828
Chi sự nghiệp kinh tế 505.359 556.354 716.633
17
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
Sự nghiệp GDĐT 1.502.839 2.246.941 2.874.539
Sự nghiệp Y tế 317.082 414.293 501.062
Văn hóa, XH, thể thao 186.091 288.967 387.776
Chi khác 1.486.818 1.660.114 2.016.818
(Nguồn: bảng tổng hợp thu chi ngân sách 24 quận huyện từ năm 2008 đến năm 2010
tại Sở TC TPHCM).
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ chi ngân sách cho ngành GDĐT của Thành phố HCM.
Đơn vị: triệu đồng.
2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh ảnh hưởng đến
ngành Giáo dục.
Thành phố Hồ Chí minh chiếm 0,6% diện tích và 6,6% dân số so với cả nước,
nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, là trung tâm kinh tế của cả nước. Thành
phố HCM là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất, đi đầu trong cả nước về tốc độ
tăng trưởng kinh tế, tỷ trọng GDP cuả thành phố chiếm 1/3 GDP của cả nước. Tốc độ
tăng trưởng đạt 11,8% trong năm 2010 cao hơn chỉ tiêu so với kế hoạch đề ra và phấn
đấu trong giai đoạn 2011-2015 tăng ít nhất trên 10%/năm, với nền kinh tế tăng trưởng
ổn định cho phép khả năng tăng chi cho giáo dục trên 30%/ tổng chi ngân sách toàn
Thành phố.
Các ngành công nghiệp, dịch vụ đều tăng trưởng nhanh, góp phần nâng cao đời
sống nhân dân. Khu vực dịch vụ vẫn giữ mức đóng góp cao nhất là 6,56%, tiếp theo là
công nghiệp và xây dựng 5,15 %, cuối cùng là khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản là

0,07% (số liệu năm 2011) giúp các đơn vị giáo dục có khả năng nhận được nhiều đầu tư
hơn từ ngân sách nhà nước, bên cạnh đó cơ cấu nền kinh tế có sự chuyển biến tích cực
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn (đến năm
2010 khu vực nông lâm thủy sản chiếm 1,1%GDP, khu vực công nghiệp và xây dựng
chiếm 45,3%GDP, khu vực dịch vụ là 53,6%GDP). Cơ cấu kinh tế dự kiến đến năm
2015 (% trong GDP) là dịch vụ 57%, công nghiệp 42%, nông nghiệp 1%, tạo cơ hội
tiếp cận giáo dục với tốc độ cao.
18
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
Với lợi thế là Thành phố trọng điểm kinh tế của cả nước nên TP HCM có triển vọng
tiếp nhận được nguồn đầu tư của nước ngoài cho giáo dục như có cơ hộ tiếp cận với các
nền giáo dục tiên tiến trên Thế giới, được tăng cường trang thiết bị, đổi mới nội dung,
chương trình học nâng cao được chất lượng giáo dục.
Thu nhập bình quân đầu người tăng GDP bình quân đầu người năm 2010 ước đạt
2800 USD bằng 1,68 lần năm 2005, và phấn đấu đến 2015 là 4.800 USD gấp 1,7 lần
so với năm 2010 tạo điều kiện tăng chi phí đơn vị, nâng cao chất lượng giáo dục theo
ưu tiên chiến lược của ngành.
Bên cạnh những ảnh hưởng nền kinh tế thì những tác động về xã hội cũng ảnh
hưởng không nhỏ đến ngành giáo dục, cơ hội tiếp cận giáo dục cơ bản tăng lên do tỷ
lệ hộ nghèo ngày càng giảm.
Với tình trạng nhập cư hiện nay cùng với sự gia tăng dân số tự nhiên thì giáo dục
TP HCM đang trở nên quá tải, số học sinh tăng nhanh ở tất cả các cấp học nhất là
mầm non, và các cấp học khác trong những năm tiếp theo nên cơ sở vật chất, trường
lớp cũng như giáo viên có thể không đáp ứng đủ trong tương lai.
Năm 2010 là năm cuối cùng trong Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-
2010 đồng thời đây cũng là năm cơ sở, đặt nền tảng cho việc xây dựng Kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm
2011-2020 trong đó có những định hướng phát triển và nhiệm vụ chủ yếu cho ngành Giáo
dục như sau:

+ Đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Tạo bước
chuyển biến mạnh mẽ trong các hoạt động sự nghiệp và nâng cao chất lượng cung cấp
dịch vụ công.
+ Nâng cao chất lượng và hiệu quả ngành GDĐT như triển khai chương trình
giáo dục mầm non, giảm tỷ lệ học sinh yếu kém, ứng dụng thêm công nghệ thông tin
để tham gia quá trình đổi mới công tác qua các hoạt động.
+ Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế tri thức. Đặc biệt, chú
19
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
trọng đào tạo nhân lực có trình độ cao.
2.2 Những vấn đề cần xác định trong lập kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành
Giáo dục ở Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2.1 Các mục tiêu, ưu tiên chiến lược và chính sách ngành giáo dục trên
địa bàn Thành phố Hồ chí Minh.
Căn cứ vào chính sách trong ngành và đặc điểm KT-XH của địa phương, Sở giáo
dục sẽ đưa ra các mục tiêu kế hoạch cho trung hạn. Dựa vào tình hình thực tế, sau khi
thực hiện kế hoạch 5 năm 2006-2010 ngành Giáo dục TP HCM đã đạt được một số
thành quả nhất định. Trong năm 2010 thực hiện theo chỉ thị số 5555/BGDĐT-KHTC
về xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục và đào tạo năm 2010 và kế hoạch 5 năm
2010-2015 ngành Giáo dục TP HCM đã xây dựng chiến lược và hoạt động trong
những năm tới, tập trung vào các mục tiêu tiếp cận, chất lượng và hiệu quả quản lý.
Các thứ tự ưu tiên cũng căn cứ vào tình hình thực tế của ngành, của địa phương mà
Sở giáo dục từ những định hướng, chiến lược, mục tiêu của Bộ GDĐT sẽ đưa ra
những chiến lược ưu tiên cho ngành của địa phương. Các thứ tự ưu tiên này có thể
khác so với thứ tự ưu tiên của Bộ GDĐT.
Nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các bậc học. Thực hiện chương trình học
2 buổi/ ngày ở các bậc học cơ bản (giảm sĩ số để 100% học sinh tiểu học, 50% học
sinh THCS và 30% học sinh THPT được học 2 buổi/ ngày).

Mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cơ bản và giáo dục bậc cao. Tiếp tục giữ vững
các thành tựu về phổ cập giáo dục tiểu học và hoàn thành phổ cập THCS.
Giáo dục ngoài công lập sẽ được khuyến khích phát triển mạnh ở các bậc mẫu
giáo, trung học phổ thông, THCN, dạy nghề và đại học
Nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục. Đào tạo lại cán bộ quản lý giáo dục, cải cách
chương trình quản lý giáo dục.
Các mục tiêu chương trình hoạt động chính được thống kê ở bảng sau:
Bảng 2.2: Các ưu tiên chiến lược và hoạt động.
Ưu tiên Chương trình hoạt
động
Mục tiêu
1. Nâng cao chất 1.1 Nâng cao chất lượng môi - Phấn đấu đến năm 2015
20
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
lượng giáo dục. trường và kết quả học tập.
Thực hiện học 2 buổi /
ngày ở tiểu học và THCS.
1.2 Triển khai đại trà chương
trình giáo dục mầm non
mới, trong đó chú trọng
thực hiện chương trình phổ
cập mẫu giáo 5 tuổi nhằm
chuẩn bị kỹ năng cần thiết.
1.2 Đào tạo, nâng cao chất
lượng đội ngũ giảng viên
đại học, dạy nghề có chất
lượng cao.
1.3 Triển khai thực hiện
các giải pháp nhằm giảm tỷ

lệ học sinh yếu kém, khắc
phục tình trạng học sinh bỏ
học.
1.4 Tăng cường ứng dụng
công nghệ thông tin để đổi
mới phương pháp dạy và
học. Khuyến khích giáo
viên, giảng viên soạn bài
giảng điện tử và tham gia
trao đổi kinh nghiệm ứng
dụng công nghệ thông tin
trong giảng dạy.
1.5 Tạo điều kiện thuận lợi,
đáp ứng nhu cầu học tập
cho con em nhân dân, nhất
là nhu cầu học tập tin học,
ngoại ngữ, xây dựng xã hội
học tập trên địa bàn thành
phố.
1.6 Phát triển hợp tác quốc
tế trong giáo dục đại học,
hợp tác đào tạo với các
trường đại học quốc tế chất
lượng cao. Xây dựng
trường cấp quốc tế.
có 95% số trẻ em trong
độ tuổi 5 tuổi được học 2
buổi/ ngày,
99% trẻ 5 tuổi đến mẫu
giáo và 50% cơ sở giáo

dục mầm non đạt chuẩn
quốc gia.
Đến năm 2015: Giáo dục
hoà nhập được thực hiện
ở tất cả các cấp học và
trình độ đào tạo để đến
năm 2015 có 65% người
khuyết tật được học hoà
nhập; 75% thanh niên
Việt Nam trong độ tuổi
đạt trình độ học vấn
trung học phổ thông và
tương đương; tỷ lệ hoàn
thành cấp học được duy
trì ở mức 90% trở lên đối
với cả ba cấp học.
- Phấn đấu đến năm 2015
có 99% trẻ em trong độ
tuổi tiểu học được đến
trường .Năm 2015 có
20% số học sinh lớp 3
được học ngoại ngữ theo
chương trình mới.
-Đến năm 2015 tỉ lệ
người biết chữ trong độ
tuổi từ 15 trở lên là 97%.
Huy động được nhiều trẻ
khuyết tật, trẻ em có hoàn
cảnh khó khăn đi học.
- Đẩy mạnh ứng dụng

CNTT trong giảng dạy và
trong quản lý giáo dục ở
tất cả các cấp học. 65%
số giáo viên có đủ khả
năng ứng dụng CNTT để
hỗ trợ cho công tác giảng
dạy và bồi dưỡng chuyên
môn.
21
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
2. Mở rộng cơ hội tiếp
cận giáo dục cơ bản
và giáo dục bậc
cao.
2.1 Hoàn thành phổ cập giáo
dục tiểu học và trung học
cơ sở trong phạm vi toàn
quốc.
2.3 Phát triển các trường
trung học phổ thông ngoài
công lập.
2.4 Thực hiện các chương
trình dạy nghề bậc cao, thu
hút học sinh sau THPT,
THCN.
2.5 Đa dạng hóa các loại
hình đào tạo đại học.
-Củng cố, mở rộng mạng
lưới trường, lớp, nâng tỷ

lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà
trẻ, nhóm trẻ từ 15% năm
2005 lên 20% năm 2010
và đạt 30% năm 2015; trẻ
từ 3 đến 5 tuổi đến lớp
mẫu giáo đạt 67% năm
2010 và đạt 75% năm
2015;
- Đến năm 2015 có
khoảng 93% quận, huyện
có trung tâm giáo dục
thường xuyên và 85% xã,
phường có trung tâm học
tập cộng đồng.
- Xây dựng hoàn chỉnh 3
phân hiệu trường cao
đẳng tại huyện Củ Chi,
Nhà Bè và Cần Giờ
3. Đổi mới mạnh mẽ
công tác đào tạo sư
phạm, công tác bồi
dưỡng nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo
dục.
3.1Xây dựng văn bản pháp
luật giáo dục
Đẩy mạnh ứng dụng CNTT
trong QLGD
- Về đội ngũ giáo viên,
giảng viên: Đến năm

2015, đại học có 30%
tiến sĩ, 50% thạc sĩ; cao
đẳng có 5% tiến sĩ, 35%
thạc sĩ; trung cấp chuyên
nghiệp có 25% thạc sĩ trở
lên
-Đào tạo, bồi dưỡng,
nâng cao chất lượng đội
ngũ giáo viên mầm non,
phấn đấu để có 100%
năm 2015, trong đó có
15% đạt trình độ trên
chuẩn năm 2015.
(Nguồn từ chỉ thị nhiệm vụ giáo dục- đào tạo của UBND tpHCM và kế hoạch phát
triển GDĐT 5 năm 2011-2015)
2.2.2 Phạm vi dự toán ngân sách ngành Giáo dục.
Phạm vi dự toán bao gồm tất cả những khoản chi của Sở và đơn vị chi tiêu do Sở
quản lý cũng như chi tiêu cho giáo dục của cấp quận huyện thuộc Thành phố.
22
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
• Về phần phạm vi dự toán ngành.
Cấp ngân sách Thành phố:
- Văn phòng Sở Giáo Dục và Đào Tạo.
- Các trường Trung học phổ thông và trực thuộc, gồm:
+ 81 Trường Trung học phổ thông
+ 3 Trường mầm non.
+ 2 Trung tâm giáo dục thường xuyên (Chu Văn An và Lê Quý Đôn), TT
khuyết tật Nguyễn Đình chiểu, TT Tiếng Hoa.
+ TT hướng nghiệp Lê Thị Hồng Gấm.

Cấp ngân sách Huyện:
- 24 Văn phòng giáo dục cấp Quận, Huyện.
- 407 Trường mầm non + mẫu giáo.
- 444 Trường tiểu học trong đó có 3 trường cấp 1, 2.
- 250 Trường trung học cơ sở trong đó có 11 trường cấp 2, 3
- 49 Trung tâm giáo dục thường xuyên.
- 24 Trường bồi dưỡng giáo dục.
• Phạm vi dự toán của sở GDĐT Thành phố Hồ Chí Minh.
- 81 Trường Trung học phổ thông
- 3 Trường mầm non.
- 2 Trung tâm giáo dục thường xuyên (Chu Văn An và Lê Quý Đôn), TT khuyết
tật Nguyễn Đình chiểu, TT Tiếng Hoa.
- TT hướng nghiệp Lê Thị Hồng Gấm.
- Trường cao đẳng kinh tế, CĐ kinh tế Phú Lâm, Thủ Đức
- 2 Trường ĐH (Nguyễn Hữu Cảnh và Nam Sài Gòn)
2.2.3 Các chế độ định mức chi tiêu hiện hành chung cho ngành Giáo dục.
2.2.3.1 Các nguyên tắc tính định mức.
Định mức chi hiện nay cho ngành giáo dục gồm 3 phần: chi cho con người, chi
hoạt động và chi khác.
Về định mức chi ngân sách cho giáo dục được áp dụng dựa trên một số thông
tư hướng dẫn ban hành của các bộ ngành liên quan.
- Quy định về mức lương tối thiểu. Mức lương tối thiểu được thay đổi qua các
năm.
Bảng 2.3: Thay đổi mức lương tối thiểu qua các năm.
STT Thời gian Lương tối thiểu Mức tăng
1 01/01/2000-31/12/2000 180.000
2 01/01/2001- 31/12/2002 210.000 16,67%
3 01/01/2003- 30/09/2005 290.000 31,1%
4 01/10/2005-30/09/2006 350.000 20,69%
5 01/10/2006-31/12/2007 450.000 28,57%

23
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
6 01/01/2008-30/04/2009 540.000 20%
7 01/05/2009-30/04/2010 650.000 20,37%
8 01/05/2010- nay 730.000 12,31%
- Định mức biên chế giáo viên trên lớp và định mức số cán bộ viên chức bộ
phận gián tiếp của trường theo thông tư 35/2006/TTLT-BGDĐT- BNV ngày
23/8/2006 của Bộ Giáo Dục- Đào tạo và Bộ Nội Vụ về hướng dẫn định mức biên chế
viên chức ở các cơ sở giáo dục phổ thông công lập và Thông Tư liên tịch số
71/2007/TTLT- BGDĐT- BNV ngày 28/11/2007 của Bộ Giáo Dục- Đào tạo và Bộ Nội
Vụ về hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở giáo dục mầm non
công lập.
- Phụ cấp ưu đãi thông tư liên tịch số 01/2006/TTLT- BGDĐT-BNV-BTC ngày
23/01/2006 của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Bộ Nội Vụ và Bộ Tài Chính về việc hướng
dẫn thực hiện quyết định số 244/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ Tướng
Chính Phủ về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy tại các
cơ sở giáo dục công lập;
- Phụ cấp chức cụ theo thông tư 33/2005/TT-BGD&ĐT ngày 08/12/2005 của
Bộ Giáo Dục- Đào tạo về hướng dẫn tạm thời thực hiện chế độ phụ cấp chức vụ lãnh
đạo trong các cơ sở giáo dục công;
- Chi y tế học đường/ học sinh/năm theo thông tư số 14/2007/TT-BTC ngày
08/03/2007 của Bộ Tài Chính về hướng dẫn sử dụng kinh phí thực hiện công tác y tế
trong các trường học. Riêng khi lập dự toán năm 2010 thì bỏ phần kinh phí chi cho y
tế học đường theo quy định này, mà theo nghị định số 62/NĐ-CP ngày 27/7/2009 của
Chính Phủ trích 12% BHYT về cho trường học để chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho học
sinh.
- Sĩ số học sinh trên lớp theo quyết định số 02/2003/QĐ-UB ngày 03/1/2003
của UBND Thành Phố về phê duyệt quy hoạch phát triển mạng lưới trường học ngành
giáo dục- đào tạo Thành Phố đến năm 2010.

-Học phí 1 lớp/năm được tính theo mức thu hiện hành đối với từng cấp học
theo quy định tại Thông tư liên tịch số 54/1988/TTLT/BGDĐT-BTC ngày 31/08/1998
24
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
của Bộ Giáo Dục-Đào Tạo và Bộ Tài Chính về hướng dẫn thực hiện thu chi và quản lý
học phí ở các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Các đơn vị cơ sở giáo dục phải dùng nguồn 40% học phí để thực hiện cải cách tiền
lương, trong đó đã trừ 10% thất thu học phí.
- Số lớp tính định mức được tính theo số lớp bình quân thực tế tại các trường.
- Hệ số lương bình quân được tính trên cơ sở hệ số lương bình quân thực tế chi
theo số thực giải ngân từ Kho Bạc Nhà Nước TPHCM;
- Cơ cấu chi 80% cho con người và 20% cho hoạt động theo QĐ số
151/2006/QĐ-TTg ngày 29/6/2006 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc ban hành định
mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước năm 2007.
Riêng năm 2010 và 2011 có một số điểm thay đổi:
- Đưa phần hỗ trợ làm thêm giờ của GV khối mầm non vào trong định mức
(theo công văn số 550/UBND-TM ngày 12/02/2009 của Ủy ban nhân dân Thành Phố)
- Bổ sung thêm 1% bảo hiểm thất nghiệp vào trong định mức (theo thông tư
96/2009/TT-BTC ngày 20/05/2009 của BTC về việc hướng dẫn chế độ tài chính đối
với quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
- Bổ sung thêm 1% bảo hiểm y tế vào trong định mức (theo thông tư 62/NĐ-CP
ngày 27/07/2009 của BTC về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật
của BHYT.).
Năm 2011 theo NĐ 152/2006/NĐ-CP mức trích BHXH là 22%.
2.2.3.2 Các công thức chung để áp dụng tính định mức chi tiêu .
• HSL bình quân = HSL cấp bậc bình quân + HS PCCV bình quân
Trong đó
-HSL cấp bậc bình quân = tổng mục chi 6000 (theo MLNS)/ Tổng số biên chế
GD từng cấp.

-Hệ số PCCV bình quân = Hệ số PCCV 1 CBQL/ tổng số biên chế 1 trường.
• Chi cho con người 80% cho một lớp: (A) = (1) + (2) + (3) + (4) + (5)
– học phí/hs/năm x số hs/lớp. trong đó:
- Lương cấp bậc = HSL cấp bậc bình quân x Lương tối thiểu x số GV trên lớp x
12 tháng (1)
25

×