Tải bản đầy đủ (.doc) (56 trang)

luận văn quản trị tài chính Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Trách nhiệm hữu hạn Hưng phúc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (334.86 KB, 56 trang )

Chuyên đề thực tập
LỜI NÓI ĐẦU
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập
và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong mọi loại hình doanh nghiệp,
vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Trong quản lý
tài chính, các doanh nghiệp cần chú ý quản lý việc huy động và sự luân chuyển của
vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thái khác nhau của tài sản và hiệu quả tài
chính. Nói cách khác, vốn cần được xem xét và quản lý trong trạng thái vận động và
mục tiêu hiệu quả của vốn có ý nghĩa quan trọng nhất. Để có các đầu vào phục vụ sản
xuất kinh doanh doanh nghiệp phải có một lượng tiền ứng trước, lượng tiền này gọi là
vốn của doanh nghiệp hay nói cách khác vốn là biểu hiện bằng tiền của vật tư tài sản
được đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời.
Vốn của doanh nghiệp được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp và biến
đổi trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nếu các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả,
vốn của doanh nghiệp có chiều hướng tăng trưởng vì sau mỗi chu kỳ kinh doanh vốn
ban đầu lại được bổ sung bằng một phần lợi nhuận thu được, phần bổ sung này phụ
thuộc vào mức độ sinh lời trong kinh doanh và các chính sách phát triển của doanh
nghiệp.Vì vậy, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển cũng phải quan
tâm đến vấn đề tạo lập, quản lý và sử dụng đồng vốn sao cho có hiệu quả nhằm đạt tới
mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận trong khuôn khổ cho phép của pháp luật.
Việc quản lý và sử dụng vốn sản xuất trong doanh nghiệp có tác động lớn đến
việc tăng hay giảm chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm từ đó ảnh
hưởng tới việc tăng hay giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, vấn đề quản lý và sử dụng
vốn sản xuất kinh doanh có hiệu quả là rất quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp.
Trước kia trong cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp quốc doanh được nhà nước
cấp phát vốn, bao cấp về giá, sản xuất kinh doanh theo chỉ tiêu pháp lệnh của nhà
nước, lỗ nhà nước bù, lãi nhà nước chịu, do đó các doanh nghiệp nhà nước không cần
quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn. Vì vậy nhiều doanh nghiệp không bảo toàn và
phát triển được vốn, hiệu quả sử dụng vốn thấp.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước với nhiều
thành phần kinh tế cùng tồn tại và cạnh tranh với nhau. Các doanh nghiệp nhà nước


cũng phải đối mặt với cạnh tranh, không còn được nhà nước bao cấp như trước. Vì vậy
doanh nghiệp nào làm ăn có hiệu quả sẽ đứng vững trong nền kinh tế mới, doanh
nghiệp nào làm ăn kém hiệu quả sẽ dẫn đến nguy cơ giải thể, phá sản. Như vậy các
doanh nghiệp muốn tồn tại và đứng vững trong cạnh tranh phải chú trọng đến vấn đề
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
1
Chuyên đề thực tập
quản lý, sử dụng vốn lưu động sao cho có hiệu quả. Đây là bức xúc đặt ra đối với các
nhà quản lý doanh nghiệp, đồng thời nó cũng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên
cứu trong lĩnh vực tài chính. Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Catalan, được
sự giúp đỡ của giảng viên Đặng Anh Tuấn và ban lãnh đạo công ty, em đã từng bước
làm quen với thực tiễn, vận dụng lý luận vào thực tiễn của công ty đồng thời từ thực tiễn
làm sáng tỏ lý luận. Với ý nghĩa và tầm quan trọng của vốn sản xuất kinh doanh em đã
đi sâu nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: “Giải pháp nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần Catalan”.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của chuyên đề này gồm 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn lưu động
của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng và tình hình sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ
phần Catalan.
Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ
phần Catalan
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn giảng viên Đặng Anh Tuấn đã chỉ bảo,
hướng dẫn cho em, cảm ơn các anh chị phòng tài chính kế toán và các bộ phận liên
quan ở Công ty cổ phần Catalan đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề tốt
nghiệp này.

Bắc Ninh,tháng 11 / 2010
Sinh viên:
NGUYỄN LINH CHI

SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
2
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP
I. VỐN LƯU ĐỘNG VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NHU CẦU VỐN
LƯU ĐỘNG (VLĐ) CỦA DOANH NGHIỆP.
1.Vốn lưu động và nguồn.
1.1.VLĐ của doanh nghiệp.
Đối với tất cả các doanh nghiệp, vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu, mang tính
chất quyết định để tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn trong các doanh
nghiệp có thể chia ra thành vốn cố định và vốn lưu động, mục tiêu là để phục vụ cho
sản xuất kinh doanh tức là với mục đích tích luỹ và sinh lời không phải với mục đích
tiêu dùng trong doanh nghiệp. Vốn phải được hình thành trước khi diễn ra hoạt động
sản xuất kinh doanh, người ta định nghĩa vốn là số tiền được ứng trước cho hoạt động
sản xuất kinh doanh. vốn sau khi ứng ra, được sử dụng vào sản xuất kinh doanh và sau
một chu kỳ hoạt động phải được thu về để đáp ứng cho chu kỳ hoạt động sản xuất kinh
doanh sau. Vốn không thể bị hao hụt đi, vì mất vốn đối với các doanh nghiệp đồng
nghĩa với việc đứng trước nguy cơ phá sản.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài các tư liệu lao động, các doanh
nghiệp còn cần có các đối tượng lao động khác với tư liệu lao động, các đối tượng lao
động (như nguyên, nhiên, vật liêu, bán thành phẩm…) chỉ tham gia vào một chu kỳ
sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển
dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm.
Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là
tài sản lưu động, còn hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.Vậy:
Vốn lưu động của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của của các tài sản
lưu động đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Những đối tượng sản xuất: gồm những vật tư dự chữ để phục vụ cho quá

trình sản xuất được liên tục như: NVL chính, vật liệu phụ, nhiên liệu…. Những vật tư
đang nằm trong quá trình chế biến như sản phẩm dở dang, bán thành phẩm… và
những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn là TSCĐ, còng gọi là công cụ lao động
nhỏ.
- TSLĐ lưu thông, gồm các sản phẩm hàng hoá cho tiêu dùng, các loại vốn
bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước.
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
3
Chuyên đề thực tập
Trong quá trình sản xuất kinh doanh TSCĐ sản xuất và TSCĐ lưu thông luôn
vận động tuần hoàn và chuyển hoá cho nhau. Chính đặc điểm mang tính quy luật này
làm quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục. Trong nền kinh tế hàng hoá
tiền tệ, để hình thành nên TSCĐ sản xuất và TSCĐ lưu thông thuộc doanh nghiệp cần
thiết phải có một số vốn tiền tệ ứng trước để hình thành các TSCĐ đó. Số vốn ứng
trước này được gọi là vốn lưu động. Do quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành
thường xuyên liên tục nên vốn lưu động cũng vận động không ngừng, lập đi lập lại có
tính chu kỳ gọi là sư chu chuyển của vốn lưu động. Sự vận động của vốn lưu động lần
lượt trải qua các giai đoạn cho đến khi trở về hình thái ban đầu gọi là tuần hoàn của
vốn lưu động thể hiện qua sơ đồ:
T – H ……sản xuất …. H – T (T = T +∆T)
Đối với các doanh nghiệp thương mại, quá trình vận động của vốn lưu động trải
qua hai giai đoạn theo trình tự.
T – H – T’ (T' = T + ∆T)
Như đã trình bày trên ta có thể thấy được trong cùng một thời giao vốn lưu
động các doanh nghiệp được phân bổ lên tất cả các giai đoạn luân chuyển và tồn tại
dưới nhiều hình thưc khác nhau. Vậy muốn cho quá trình sản xuất được liên tục,
doanh nghiệp phải có đủ vốn lưu động để đầu tư cho từng khâu, kiến cho chúng có
mức luân chuyển vốn được diễn ra nhanh hơn, tạo nhiều lợi nhuận hơn. Nếu như một
doanh nghiệp mà không đủ vốn lưu động thì việc tổ chức sản xuất kinh doanh, sử dụng
vốn gặp nhiều khó khăn và đó sẽ làm cho quá trình sản xuất bị trở ngại hoặc gián

đoạn.
+ Đặc điểm của vốn lưu động
- Vốn lưu động là hình thái biểu hiện bằng tiền của các tài sản lưu động nên nó
mang những đặc điểm tương tự như tài sản lưu động đó là vốn lưu động tham gia vào
một chu kỳ kinh doanh và vốn lưu động được luân chuyển một lần. Quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng nên vốn lưu động cũng vận
động theo từng chu kỳ một. Trong mỗi một chu kỳ vốn lưu động từ hình thái tiền tệ
chuyển sang hình thái vật chất là vật tư, hàng hóa dự trữ cho hoạt động sản xuất, qua
giai đoạn sản xuất vật tư được đưa vào sản xuất tạo nên thành phẩm và đưa vào tiêu
thụ. Kết thúc chu kỳ, khi doanh nghiệp thu được tiền từ việc bán sản phẩm ra thị
trường, vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ ban đầu. Trên thực tế chu trình trên
không diễn ra một cách tuần tự mà đan xen vào nhau, trong khi một bộ phận vốn lưu
động được chuyển hóa thành vật tư, hàng hóa dự trữ thì một bộ phận khác của vốn lưu
động đang kết tinh trong thành phẩm lại được chuyển hóa trở lại thành vốn bằng tiền,
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
4
Chuyên đề thực tập
cứ như vậy các chu kỳ sản xuất kinh doanh được lặp đi lặp lại, vốn lưu động được tuần
hoàn và luân chuyển liên tục. Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động càng lớn thì hiệu
quả sử dụng của vốn lưu động càng cao. Muốn quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục
thì doanh nghiệp cần có đủ vốn và phân bổ hợp lý trong từng giai đoạn, từng thời kỳ
của quá trình sản xuất.
- Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn lưu động
chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau khi doanh
nghiệp tiêu thụ sản phẩm và thu được tiền bán hàng. Đặc điểm này cũng khác với vốn
cố định và giá trị của vốn cố định được chuyển dịch từng phần vào giá trị sản phẩm
dưới hình thức khấu hao.
Chính từ hai đặc điểm trên của vốn lưu động mà phương pháp quản lý, sử
dụng vốn lưu động là theo định mức tức là định mức vốn lưu động cho từng đơn vị sản
phẩm, định mức vốn cho từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên

trong nền kinh tế thị trường khó xác định được nhu cầu vốn lưu động đối với từng
khâu của quá trình sản xuất kinh doanh do vậy người ta thường dựa trên chỉ tiêu quan
trọng nhất là tiết kiệm nhất về vốn lưu động cho doanh nghiệp.
1.2.Các thành phần của vốn lưu động.
Trong các doanh nghiệp vấn đề tổ chức vốn lưu động có một vai trò quan trong,
doanh nghiệp quản lý và sử dụng vốn lưu động tốt thì sẽ đạt được kết quả cao trong sử
dụng vốn. Vốn lưu động được quay vòng nhanh, doanh nghiệp tổ chức tốt khâu mua
sắm, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm như vậy với lượng vốn nhất định doanh nghiệp
đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn. Cho nên để quản lý sử dụng vốn lưu động tốt thì
việc phân loại vốn lưu động là rất cần thiết. Có một số cách phân loại vốn lưu động
sau:
a. Căn cứ vào vai trò của vốn lưu động với quá trình sản xuất, vốn lưu động được chia
thành 3 loại.
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: Đây là biểu hiện bằng tiền của
những NVL chính, vật liệu phu, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật đóng gói, công cụ
dụng cụ lao động nhỏ, những khoản vốn này được dự trữ để chuẩn bị cho quá trình
sản xuất được liên tục.
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: là biểu hiện bằng tiền của sản phẩm đang
chế tạo bán thành phẩm tự chế, phí tổn đợi phân bổ, số vốn này đáp ứng cho doanh
nghiệp có sản phẩm để bán liên tục.
Qua cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bổ của vốn lưu động trong
từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, cho biết kết cấu vốn lưu động theo vai
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
5
Chuyên đề thực tập
trò. Từ đó có biện pháp điều chỉnh kết cấu vốn lưu động cho phù hợp với từng khâu
nhằm mang lại hiệu quả cao nhất.
b. Căn cứ vào hình thái biểu hiện của vốn lưu động.
- Vốn vật tư hàng hoá: Là khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng hiện
vật cụ thể như: Nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm…. để đảm bảo

nhu cầu vật tư hàng hoá cho sản xuất kinh doanh giúp hoạt động sản xuất kinh doanh
có đủ vật tư tiến hành bình thường, liên tục.
- Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn tiền như: tiền mặt, tiền gửi ngân
hàng, vốn cho thanh toán… để đảm bảo đáp ứng nhu cầu tài chính cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Các khoản phải thu: là các khoản phải thu của khách hàng hay các khoản mà
doanh nghiệp ứng trước cho người bán (các khoản tạm ứng)…
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp biết vai trò của từng loại vốn, là căn cứ
để xác định mức độ tồn tối thiểu và mức dự trữ vật tư hợp lý tạo điều kiện sử dụng vốn
lưu động tiết kiệm và có hiệu quả cao. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt
trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, thì vốn lưu động thường được phân bố nhiều
dưới hình thái vật tư hàng hóa để phục vụ cho công tác sản xuất, chính vì vậy để có thể
quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này doanh nghiệp phải xây dựng kế hoạch
quản lý và sử dụng hiệu quả các loại vật tư hàng hóa của doanh nghiệp. Ngoài ra, cách
phân loại còn này giúp cho doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả
năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp.
Trong thực tế các doanh nghiệp có thể phối hợp các phương pháp phân loại vốn
lưu động để phát huy ưu điểm của từng phương pháp.
2. Nguồn hình thành vốn lưu động.
Để có vốn lưu động đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh,
các doanh nghiệp phải khai thác, tạo lập vốn lưu động từ nhiều nguồn khác nhau.
Ngày nay, Nhà nước giao cho doanh nghiệp quyền linh hoạt huy động các nguồn vốn
sao cho có lợi nhất vì vậy cần nghiên cứu nguồn hình thành vốn lưu động.
Mỗi quan hệ giữa TSLĐ và nguồn vốn lưu động được thể hiện qua công thức:
TSLĐ = Nguồn vốn TSLĐ + Nguồn vốn LĐTT.
Nguồn vốn lưu động = nguồn vốn LĐTX + Nguồn vốn LĐTT .
Có thể phân loại vốn lưu động như sau:
- Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn huy động. Có chia nguồn
vốn lưu động thành 2 loại.
+ Nguồn vốn lưu động thường xuyên

+ Nguồn vốn lưuđộng tạm thời
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
6
Chuyên đề thực tập
Trong đó:
+ Nguồn vốn lưu động thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn định nhằm
hình thành nên TSLĐ thường xuyên cần thiết. Nguồn vốn lưu động thường xuyên
cũng có thể tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn song chủ yếu là bằng các nguồn vốn ngắn
hạn.
Nguồn vốn lưu động thường xuyên càng lớn doanh nghiệp càng chủ động trong
tổ chức đảm bảo vốn cho doanh nghiệp.
+ Nguồn vốn lưu động tạm thời là nguồn vốn lưu động có tính chất ngắn hạn
dưới 1 năm, chủ yếu để đáp ứng những nhu cầu có tính chất tạm thời về vốn lưu thông
phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn này bao gồm khoản vay
ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn, vốn chiếm dụng
hợp pháp.
Việc phân loại nguồn vốn lưu động trên giúp cho người quản lý xem xét huy
động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng nhằm đẩy mạnh việc tổ
chức và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp mình.
- Căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn lưu động: Vốn lưu động của doanh nghiệp
được hình thành từ 2 nguồn.
+ Nguồn vốn chủ sở hữu: Biển hiện quyền sở hữu của người chủ về các tài sản
hiện có của doanh nghiệp. Nguồn vốn này được tạo nên từ 2 nguồn vốn sau: nguồn
vốn ban đầu của chủ sở hữu và nguồn vốn tự bổ sung.
+ Nguồn nợ phải trả: Là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh là
doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán cho các tác nhân kinh tế gồm: Vốn vay ngắn
hạn của ngân hàng, cuả các tổ chức tài chính tín dụng hay các cá nhân khác, vốn vay
dưới hình thức trái phiếu, vốn chiếm dụng của các đối tựơng khác.
Như vậy doanh nghiệp có rất nhiều cách huy động vốn để tài trợ cho vốn lưu
động. Mỗi hình thức huy động vốn đều có những ưu nhược điểm nhất định. Vấn đề đặt

ra là người quản lý tài chính doanh nghiệp phải tính toán cân nhắc để lựa chọn cơ cấu
nguồn taì chính giảm rủi ro cho doanh nghiệp vừa có chi phí sử dụng vốn thấp nhất
nhằm đem lại hiệu quả sử dụng vốn cao.
3. Nhu cầu vốn lưu động và cách xác định nhu cầu vốn lưu động.
3.1. Sự cần thiết phải xác định nhu cầu vốn lưu động
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết của doanh nghiệp được hiểu là
nhu cầu vốn lưu động thường xuyên ở mức thấp nhất cần thiết phải có để đảm bảo quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành bình thường, liên tục.
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
7
Chuyên đề thực tập
Xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết để đảm bảo
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, tiết kiệm và
có hiệu quả kinh tế cao là một nội dung quan trọng của tài chính doanh nghiệp.
Trong điều kiện các doanh nghiệp chuyển sang thực hiện hạch toán kinh doanh
theo cơ chế thị trường thì mọi nhu cầu về vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp đều phải tự tài trợ thì điều này càng có ý nghĩa quan trọng và tác
động thiết .
- Tránh được tình trạng ứ đọng vốn, sử dụng vốn hợp lý và tiết kiệm, nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
- Đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp dược tiến hành bình
thường và liên tục.
- Không gây nên sự căng thẳng giả tạo về nhu cầu vốn kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Là căn cứ quan trọng cho việc xác định các nguồn tài trợ nhu cầu vốn lưu
động của doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lưu động quá cao sẽ không khuyến
khích doanh nghiệp khai thác các khả năng tiềm tàng, tìm mọi biện pháp cải tiến hoạt
động sản xuất kinh doanh để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động: gây nên tình
trạng ứ đọng vật tư hàng hóa: vốn chậm. Luân chuyển và phát sinh các chi phí không

cần thiết làm tăng giá thành sản phẩm.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lưu động quá thấp sẽ gây
nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp
thiếu vốn sẽ không đảm bảo sản xuất liên tục, gây nên những thiệt hại do ngừng sản
xuất, không có khả năng thanh toán và thực hiện các hợp đồng đã ký kết với khách
hàng. Cũng cần thấy rằng nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp là một đại lượng
không cố định và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như:
- Quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
- Sự biến động của các loại giá cả các loại vật tư, hàng hóa mà doanh nghiệp sử
dụng cho sản xuất.
- Chính sách, chế độ về lao động, tiền lương đối với người lao động trong từng
doanh nghiệp.
- Trình độ tổ chức, quản lý sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp trong quá
trình dự trữ sản xuất, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, giảm thấp tương đối nhu
cầu vốn lưu động không cần thiết doanh nghiệp cần tìm các biện pháp phù hợp tác
động đến các nhân tố ảnh hưởng trên sao cho có hiệu quả nhất.
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
8
Chuyên đề thực tập
Để xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết, doanh nghiệp có thể sử
dụng các phương pháp khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mình. Sau đây là
2 phương pháp chủ yếu:
3.2. Phương pháp trực tiếp:
Nội dung chủ yếu của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng
trực tiếp đến việc dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để xác định nhu cầu của
từng khoản VLĐ trong từng khâu rồi tổng hợp lại toàn bộ nhu cầu của doanh nghiệp.
Sau đây là phương pháp xác định nhu cầu VLĐ cho từng khâu kinh doanh của
doanh nghiệp:
a.Xác định nhu cầu VLĐ cho khâu dự trữ sản xuất

Công thức tính toán như sau:
V
nl
= M
n
x N
nl
Trong đó:
V
nl
: Nhu cầu vốn nguyên vật liệu chính của doanh nghiệp trong năm kế hoạch.
M
n
: Mức tiêu dùng bình quân một ngày về chi phí nguyên vật liệu chính năm kế
hoạch
N
nl
: Số ngày dự trữ hợp lý
Đối với các khoản vốn không đươc sử dụng nhiều và không thường xuyên ,mức
tiêu dùng ít biến động thì có thể áp dụng phương pháp tính theo tỉ lệ (%) với
tổng mức luân chuyển của loại vốn đó trong khâu dự trữ sản xuất.
Công thức tính toán:
V
nk
= M
lc
x T%
Trong đó:
V
nk

:nhu cầu vốn trong khâu dự trữ của loại vốn khác
M
lc
:Tổng mức luân chuyển của loại vốn đó trong khâu dự trữ
T%: tỉ lệ phân trăm của loại vốn đó so với tổng mức luân chuyển
b.Xác định nhu cầu VLĐ cho khâu sản xuất
+ Xác định nhu cầu vốn sản phẩm đang chế tạo
Công thức tính toán:
V
dc
= P
n
x C
k
x H
s
Trong đó:
V
dc
:Nhu cầu vốn sản phẩm đang chế tạo
P
n
:Mức chi phí sản xuất bình quân một ngày
C
k
:Chu kì sản xuất sản phẩm
H
s
:Hệ số sản phẩm đang chế tạo
+Xác định nhu cầu vốn chi phí chờ kết chuyển (chi phí phân bổ dần)

SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
9
Chuyên đề thực tập
Công thức tính toán như sau:
V
pb
= V
pd
+V
pt
-V
pg
Trong đó :
V
pb
:Vốn chi phí chờ kết chuyển trong kì kế hoạch
V
pd
: Vốn chi phí chờ kết chuyển đầu kì kế hoạch
V
pt
: Vốn chi phí chờ kết chuyển tăng trong kì kế hoạch
V
pg
: Vốn chi phí chờ kết chuyển được phân bố vào giá thành sản phẩm trong kì
kế hoạch
c.Xác định nhu cầu VLĐ khâu lưu thông
Công thức tính toán:
V
tp

=Z
sx
x N
tp
Trong đó:
V
tp
:Vốn thành phẩm kì kế hoạch
Z
sx
:Giá thành SX sản phẩm, hàng hoá bình quân mỗi ngày kì kế hoạch
N
tp
:Số ngày luân chuyển của vốn thành phẩm
Ưu điểm của công tác: Xác định được nhu cầu cụ thể của từng loại vốn trong
từng khâu kinh doanh. Do đó tạo điều kiện tốt cho việc quản ý, sử dụng vốn theo từng
loại trong từng khâu sử dụng.
Nhược điểm: Việc tính toán tương đối phức tạp, mất nhiều thời gian, nếu
doanh nghiệp sử dụng nhiều loại vật tư trong sản xuất.
3.3. Phương pháp gián tiếp:
Nội dung của phương pháp này là dựa vào kết quả thống kê kinh nghiêm về
VLĐ bình quân năm báo cáo, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm kế hoạch để xác định
nhu cầu VLĐ trong năm kế hoạch.
M
1
Vnc = Vld
o
x (1 + t%)
M
n

Trong đó:
Vnc: Nhu cầu VLĐ năm kế hoạch.
M
1
, M
0
: là tổng mức luân chuyên VLĐ năm kế hoạch và năm báo cáo
Vld
0
: So dư bình quân VLĐ năm báo cáo.
t%: Tỷ lệ tăng (giảm) số ngày luân chuyển VLĐ năm kế hoạch
so với năm báo cáo.
k
1
-

k
o
t%= x 100
k
o
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
10
Chuyên đề thực tập
Trong đó:
k
i,
k
o
: Kỳ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch và năm báo cáo.

Trên thực tế để ước đoán nhanh nhu cầu VLĐ năm kế hoạch, có thể sử dung
công thức
M
1
V nc=
L
1
Trong đó:
L
1
: Số vòng quay VLĐ kỳ kế hoạch.
Ưu điểm: Tương đối đơn giản, giúp doanh nghiệp ước tính nhanh chóng nhu
cầu để xác định nguồn tài trợ phù hợp.
Nhược điểm: Độ chính xác của kết quả tính toán bị hạn chế.
II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU
ĐỘNG.
*Xuất phát từ vai trò của vốn lưu động đối với hoạt động sản xuất kinh doanh:
Vốn lưu động là một bộ phận không thể thiếu được trong vốn sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp mặc dù vốn lưu động chiếm tỷ trọng nhỏ trong doanh nghiệp
sản xuất và chiếm tỷ trọng khá lớn trong doanh nghiệp thương mại dịch vụ nhưng
xuất phát từ vai trò của vốn lưu động với quá trình sản xuất nó đảm bảo cho quá
trình tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục và tác động
trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh .Do đặc điểm của VLĐ nên nếu thiếu vốn
hay VLĐ không luân chuyển được thì quá trình sản xuất sẽ gặp nhiều khó khăn và có
thể bị gián đoạn gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.
Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật
tư. Trong doanh nghiệp. VLĐ nhiều hay ít phản ánh số lượng vật tư hàng hoá dự trữ ở
các khâu nhiều hay ít.VLĐ luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh số lượng vật tư
sử dụng tiết kiệm hay lãng phí? Vì vậy thông qua tình hình luân chuyển của vốn lưu
động có thể kiểm tra một cách toàn diện đối với việc cung cấp, sản xuất và tiêu thụ của

doanh nghiệp. Mặt khác với vai trò của vốn luân chuyển, VLĐ giúp tổ chức tốt việc
mua hàng hoá từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực lưu thông. Sử dụng VLĐ hợp lý cho
phép khai thác tối đa năng lực làm việc của các tài sản cố định thuộc vốn cố định, làm
tăng lợi nhuận, góp phần làm tốt công tác bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh. Vì
vậy việc quản lý bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ là vấn đề quan tâm hàng
đầu của các doanh nghiệp.
* Xuất phát từ ý nghĩa bảo toàn VLĐ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
11
Chuyên đề thực tập
Bảo toàn VLĐ là phải duy trì và giữ vững được sức mua của đồng vốn để sao
cho số vốn thu hồi về sau mỗi vòng tuần hoàn đủ sức mua sắm một lượng tài sản như
cũ theo thời giá hiện tại. Trong điều kiện hiện nay khi các doanh nghiệp phải thực
hiện nguyên tắc tự cấp phát tài chính thì toàn vốn nói chung và VLĐ nói riêng có ý
nghĩa sống còn, đảm bảo cho doanh nghiệp ít nhất phải đảm bảo tài sản xuất giản đơn
với quy mô như cũ hoặc phát triển vốn để tái sản xuất mở rộng.
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của
các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công
tác quản lý tài chính doanh nghiệp nó quyết định đến sự tăng trưởng của mỗi doanh
nghiệp trong cơ chế mới.
1. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
VLĐ.
1.1 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
Hiệu qủa kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh những mặt lợi ích mà
doanh nghiệp đạt được trong quá trình sử dụng vốn tiến hành sản xuất kinh doanh.
Hiệu quả được thể hiện trên hai mặt đó là: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Trong sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn được hiểu như là một chỉ tiêu
phản ánh mối quan hệ giữa hiệu quả thu được (lợi nhuận) với chi phí bỏ ra. Một doanh
nghiệp được coi là hoạt động có hiệu quả nếu như doanh nghiệp hoạt động lấy thu bù
chi có lãi và ngược lại.

Do những đặc điểm vận động của VLĐ nên hiệu quả sử dụng VLĐ chủ yếu
được phản ánh qua tốc độ luân chuyển VLĐ. Kết quả họat động chủ yéu của doanh
nghiệp chịu tác động trực tiếp của việc tổ chức sử dụng VLĐ do chất lượng công tác
quản lý, sử dụng VLĐ chi phối. Mặt khác việc sử dụng tiết kiệm có hiệu quả VLĐ góp
phần giảm chi phí hạ thấp giá vốn hàng bán tạo lợi thế cạnh tranh giúp doanh nghiệp
tiêu thụ sản phẩm nhanh tăng doanh thu và lợi nhuận.
Sử dụng VLĐ có hiệu quả là cơ sở thực hiện yêu cầu của cơ chế hạch toán kinh
doanh tiết kiệm và hiệu quả, trên cơ sở do tự chủ về kinh doanh, tự chủ tài chính rút
ngắn thời gian chu chuyển VLĐ giúp cho doanh nghiệp giảm số vốn tài trợ cho lưu
động, tăng tốc độ tái sản xuất . Vì vậy cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ để
đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ người ta đưa vào các chỉ tiêu sau:
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
12
Chuyên đề thực tập
1.2.Một số chỉ tiêu.
* Tốc độ luân chuyển VLĐ. Tốc độ luận chuyển VLĐ được biểu hiện bằng 2 chỉ tiêu.
- Số vòng quay VLĐ: chỉ tiêu này cho biết trong một thời kỳ nhất định VLĐ
luân chuyển được bao nhiêu lần.
M Trong đó:
L = L: Số vòng quay của VLĐ trong kỳ
VLĐ
bq
M: Tổng mức luân chuyển VLĐ trong kỳ
VLĐ
bq
: Số VLĐ bình quân sử dụng trong kỳ
- Kỳ luân chuyển VLĐ: Chỉ tiêu này cho biết thời gian cần thiết bình quân để
hoàn thành một vòng luân chuyển của VLĐ.
K =
360

hay K =
VLĐbq x 360
L M
Trong đó:
K: Kỳ luân chuyển VLD
Tốc độ luân chuyển VLĐ nhanh hay chậm vói lên tình hình tổ chức các mặt
mua sắm, dự trữ, sản xuất tiêu thụ tiêu thụ của doanh nghiệp có hợp lý hay không.
Vòng quay vốn càng tăng nhanh thì kỳ luân chuyển vốn càng được rút ngắn chứng tỏ
VLĐ được sử dụng hiệu quả và ngược lại.
* Mức tiết kiệm VLĐ
- Mức tiết kiệm tuyệt đối.
VLĐ tiết kiệm tuyệt đối là do tăng độ luân chuyển vốn nền doanh nghiệp có thể tiết
kiệm được một số VLĐ. Nói cách khác với mức luân chuyển nên doanh nghiệp cần số
vốn ít hơn.
Công thức xác định
VLĐ
TKTD
= (
360
MI
X KI) – VLĐ
O
Trong đó:
VLĐ
TKTD
: Vốn lưu động tiết kiệm tuyệt đối.
VLĐ
O
: Vốn lưu động bình quân kỳ báo cáo.
Mức tiết kiệm VLĐ tuyệt đối:

Mức tiết kiệm tương đối là do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ nên doanh nghiệp
có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn, song không cần tăng thêm hoặc tăng
không đáng kể quy mô VLĐ.
VLĐ
TKTGD
=
360
Mi
X (Ki – Kn)
0
1
1
1
L
M
L
M

SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
13
Chuyên đề thực tập
Công thức xác định.
Trong đó:
VLĐ
TKTGD
: VLĐ Tiết kiện tương đó
(-) : Là phản ánh mức tiết kiện VLĐ
(+) : Là phản ánh mức tăng phi VLĐ
Hiệu suất sử dụng VLĐ.
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng VLĐ có thể làm ra bao nhiêu đồng doanh thu

thuần.
Hiệu suất sử dụng VLĐ =
DTT
VLĐ bình quân trong kỳ
Là số VLĐ cần có để đạt được 1 đồng doanh thu chỉ tiêu này càng nhỏ thì hiệu
quả sử dụng VLĐ càng cao và ngược lại.
Số vốn lưu động bq trong kỳ
Hàm lượng vốn lưu động =


doanh thu thuần thực hiện trong kỳ
Hàm lượng VLĐ =
Số VLĐ bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần
* Tỷ suất lợi nhuận VLĐ;
Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng VLĐ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước
(hoặc sau) thức thu nhập.
Tỷ suất lợi nhuận VLĐ =
Lợi nhuận trước (sau) thuế
Số VLĐ bình quân trong kỳ
III. CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VLĐ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VLĐ.
1. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ:
Trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp chịu
rất nhiều các nhân tố làm tăng hoạt động làm tăng hoặc giảm hiệu quả sử dụng VLĐ
của doanh nghiệp. Nhưng chung quy lại có hai nhân tố ảnh hưởng là nhân tố chủ quan
và nhân tố khách quan.
- Nền kinh tế thiểu phát, sức mua kém sẽ làm sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ
chậm dẫn đến tình trạng ứ đọng VLĐ, chậm luân chuyển vốn, thập chí dẫn đến tình

trạng mất vốn.
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
14
Chuyên đề thực tập
- Tác động cuả cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật liên tục có sự thay đổi, nếu
vận dụng tốt sẽ năng cao khả năng sử dụng vốn lưu động, nhưng ngược lại, nếu vận
dụng không tốt sẽ gây ứ đọng vốn, hoặc chậm luân chuyển vốn.
Ngoài các yếu tố khách quan nêu trên còn có những nhân tố chủ quan làm ảnh
hưởng tới sử dụng VLĐ.
- Chính sách vĩ mô của Nhà nước: Các chính sách của Nhà nước có vai trò nhất
định đến một khía cạnh riêng biệt tác động đến doanh nghiệp.
- Trình độ quản lý sử dụng vốn tại các doanh nghiệp.
- Quản lý hàng tồn kho kém, sản phẩm hàng hoá ứ đọng kém, mất phẩm chất
chiếm tỷ trọng lớn trong VLĐ.
2. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung và VLĐ nói riêng có
rất nhiều các biện pháp, công cụ quản lý nhằm sử dụng tiết kiện, đạt hiệu quả kinh tế
cao nhất với các nguồn vốn hiện có, các tiềm năng về kỹ thuật, công nghệ, lao động và
các lợi thế khác của doanh nghiệp. Dưới đây em xin trình bày một số giải pháp chủ
yếu sau:
a. Lựa chọn phương án kinh doanh, phương án sản phẩm.
Hiệu quả sử dụng vốn trước hết được quyết định bởi việc doanh nghiệp có khả
năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Do vậy, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải quan
tâm đến việc sản xuất sản phẩm gì? Tiêu thụ ở đâu? với giá nào? để nhằm huy động
mọi nguồn lực vào hoạt động với mục đích sinh lời. Trong điều kiện nền kinh tế thị
trường, quy mô và tính chất sản xuất kinh doanh không phải do chủ quan doanh
nghiệp quyết định mà do thị trường chi phối, khả năng nhận biết, dự đoán thị trường,
nắm bắt thời cơ… là nhân tố quyết định thành công hay thất bại trong kinh doanh. Vì
vây, giải pháp có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng VLĐ
là phải chọn đúng đắn phương án kinh doanh, phương án sản xuất, kinh doanh những

sản phẩm không phù hợp với yêu cầu thị trường, sản phẩm không tiêu thu được, vốn bị
ứ đọng và hiệu quả sử dụng vốn thấp.
b. Xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động từ đó có phương án huy động và sử dụng
hợp lý các nguồn vốn.
Doanh nghiệp cần có phương án để xác định chính xác vốn lưu động tối thiểu
cho sản xuất kinh doanh Nếu thừa vốn, doanh nghiệp phải có biện pháp xử lý linh hoạt
như: đầu tư mở rộng vốn, doanh nghiệp, cho các đơn vị khác vay…tránh để tình trạng
vốn ứ đọng không sinh lời, không phát huy được hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.
c. Quản lý tốt quá trình sử dụng VLĐ.
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
15
Chuyên đề thực tập
- Quản lý tốt vốn bằng tiền bằng việc định mức vốn quỹ hợp lý và các hoạt
động là để doanh nghiệp có thể mua sắm hàng hoá, vật liệu và thanh toán các chi phí
cần thiết cho hoạt động bìn thường của doanh nghiệp. Ngoài ra, quản trị lành mạnh
VLĐ đòi hỏi duy trì một mức tiền mặt hợp lý đó.
Thứ nhất: Doanh nghiệp phải có dự trữ tiền mặt vừa đủ đề hướng triết khấu
mua hàng đúng kỳ hạn, làm tăng hệ số khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp.
Thứ hai: Vì các tỷ số về khả năng thanh toán là tỷ số căn bản trong lĩnh vực tín
dụng đòi hỏi doanh nghiệp phải có những tỷ số trên gần với tiêu chuẩn trung bình của
các doanh nghiệp cùng ngành, có uy tín cao thì doanh nghiệp có thể mua hàng thanh
toán chậm và vay dễ dàng các ngân hàng.
Thứ ba: Có tiền mặt doanh nghiệp có thể lợi dụng ngay các cơ hội tốt để kinh
doanh. Và trong trường hợp các rủi ro bất ngờ xẩy ra thì doanh nghiệp có thể dễ dàng
ứng phó.
- Quán trịêt tốt các hoạt động thanh toán: Nó phản ánh chất lương công tác tài
chính. Quản lý hoạt động thanh toán sẽ nói rõ tình hình và khả năng thanh toán của
doanh nghiệp và nó ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý vốn bằng tiền. Nếu quản lý hoạt
động thanh toán tốt sẽ đảm bảo lượng tiền cho hoạt động kinh doanh mang lại khả
năng thanh toán dồi dào cho doanh nghiệp. Với tư cách chủ nợ doanh nghiệp phải đưa

ra các chính sách tín dụng lập kế hoạch và kiểm soát các khoản phải thu. Để kiểm soát
các khoản này cần phân loại và theo dõi số dự nợ của từng nhóm khách hàng theo tập
quán thương mại của họ, đồng thời tiến hành lập bảng phân tuổi các khoản phải thu.
Trên cơ sở đó có thể phân tích mức độ trả nợ và không trả nợ đúng hạn của khách
hàng. Doanh nghiệp cần chú trọng phòng ngừa bằng việc bảo hiểm, lập quỹ dự phòng
tài chính khi rủi ro xảy ra.
Quản lý tốt vốn tồn kho dự trữ: Có dự trữ tồn kho đúng mức, hợp lý tránh bị
hàng ứ đọng nhiều, doanh nghiệp sẽ không bị gián đoạn sản xuất, không bị thiết sản
phẩm hàng hoá để bán dồng thời tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ.
d. Tổ chức và quản lý tốt quá trình sản xuất kinh doanh.
- Hiệu quả sử dụng VLĐ phụ thuộc vào việc sử dụng tiết kiệm và tăng nhanh
tấc độ luân chuyển VLĐ.
- Tổ chức tốt quá trình thu mua, bảo quản vật tư
- Tổ chức hợp lý quá trình lao động.
- Tổ chức đa dạng hoá hình thức tiêu thụ sản phẩm,mở rộng thị trường tiêu thụ
trong và ngoài nước nhằm tiêu thụ nhanh số lượng nhiều.
- Tiết kiệm tối ưu chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lưu đông nhằm tăng lợi
nhuận.
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
16
Chuyên đề thực tập
e. Đầu tư công nghệ, kỹ thuật hiện đại vào sản xuất.
Việc đưa kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào sản xuất có ý nghĩa đặc biệt cho
việc thúc đẩy tăng nhanh tốc độ luân chuyển VLĐ vì nhờ đó mà rút gắn được thời
gian sản xuất. Tuy nhiên khi quyết định đầu tư vào TSCĐ thì cần lưu ý đến tính hiệu
quả, sự phù hợp về nguồn vốn khả năng khai thác sản xuất và nhu cầu tiêu thụ sản
phẩm trên thị trường.
f. Tăng cường phát huy vai trò của tài chính trong việc quản lý và sử dụng VLĐ.
Thực hiện biện pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường công tác kểm
tra tài chính đối với việc sử dụng vốn nói chung là VLĐ nói riêng trong tất cả các khâu

từ dự trữ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm.
Bên cạnh đó, cần thực hiện một số phương án cần thiết như sau:
- Xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó đề ra kế hoạch tổ chức huy động
vốn nhằm đáp ứng nhu cầu đó, tránh tình trạng thiếu vốn gây gián đoạn cho sản xuất.
Nếu thừa vốn cần có biện pháp xử lý linh hoạt như đầu tư mở rộng hay cho vay để
không làm ứ đọng vốn. Phải khai thác triệt để nguồn vốn bên trong doanh nghiệp đồng
thời lựa chọn nguồn trang trải bên ngoài cho hợp lý góp phần giảm chi phí sử dụng
vốn tới mức thấp nhất, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Quản trị vốn dưới hình thức tồn kho dự trữ: việc quản lý tồn kho dự trữ rất
quan trọng, với mức độ tồn kho đúng mức, hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp không bị gián
đoạn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Mặt khác, tồn kho dự trữ thường chiếm tỉ
trọng đáng kể trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp (15-30%) nên quản lý tốt tồn
kho dự trữ sẽ giúp cho việc sử dụng vốn lưu động tiết kiệm, hiệu quả.
Mức tồn kho dự trữ từng loại tài sản thường khác nhau, tùy thuộc vào từng
ngành nghề kinh doanh mà mức tồn kho dự trữ cao thấp khác nhau, nhưng đều chịu
ảnh hưởng của những nhân tố như: qui mô sản xuất, khả năng cung ứng của thị trường,
giá cả của các loại nguyên vật liệu, đặc điểm công nghệ sản xuất, trình độ quản lý…
Phương pháp quản trị vốn tồn kho dự trữ: Phương pháp tổng chi phí tối thiểu,
phương pháp tồn kho bằng không… Tài sản tồn kho dự trữ biểu hiện bằng tiền là vốn
tồn kho dự trữ, để tiết kiệm vốn và sử dụng có hiệu quả, DN phải sử dụng phương
pháp quản trị sao cho phù hợp.
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
17
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
TẠI CÔNG TY CP CATALAN
I. Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần Catalan.
1.1. Sự ra đời.

Cuộc sống đang ngày càng ổn định và nâng cao, nhu cầu con người ngày càng
lớn hơn về nhiều mặt. Trong đó, nhu cầu về vật liệu xây dựng cũng chiếm vị trí khá
quan trọng. Cuộc sống của con người gắn liền với những nhu cầu như: ăn, ở, đi lại…
Do đó, nhu cầu về cơ sở hạ tầng, đường xá…ngày càng cao để phục vụ tốt cho nhu cầu
của con người. Theo đó, vật liệu xây dựng đóng vai trò rất quan trọng góp phần xây
dựng những công trình tiên tiến, hiện đại đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế. Vì vậy,
rất nhiều đơn vị, công ty, doanh nghiệp đã bắt tay kinh doanh mặt hàng này và đã gặt
hái được nhiều thành công.
Công ty cổ phần Catalan là một công ty mới thành lập và đi vào hoạt động
trong những năm gần đây, lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là vật liệu xây dựng. Tuy mới
thành lập nhưng với bộ máy làm việc khoa học và công nghệ tiên tiến nên công ty đã
từng bước khẳng định được vị trí của mình bằng việc có chỗ đứng trên thị trường, để
duy trì và phát huy được vị trí của mình thì công ty cần tiếp tục nỗ lực hơn nữa đưa
hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên
công ty, xây dựng chữ tín với khách hàng nhờ chất lượng phục vụ và sản phẩm đạt tiêu
chuẩn. Muốn đạt được điều đó thì một trong các yếu tố quan trọng là sử dụng một cách
hiệu quả vốn lưu động.
Hiện nay, tổng số cán bộ, nhân viên của công ty là 35 người, trong đó có 20 cán
bộ có trình độ đại học trở lên cùng đội ngũ công nhân có nhiều kinh nghiệm, bao gồm
350 công nhân.
a, Về dây truyền công nghệ sản xuất
Công ty cổ phần Catalan hiện là doanh nghiệp cổ phần gần 30 cán bộ, kỹ sư,
công nhân lành nghề, là đơn vị sản xuất kinh doanh có sản phẩm đạt tiêu chuẩn hàng
việt nam chất lượng cao trong nhiều năm liền, tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong
sản xuất kinh doanh, là một Công ty có uy tín trong lĩnh vực vật liệu xây dựng. Trong
những năm gần đây, được sự quan tâm của Nhà nước, Công ty đã đầu tư mua sắm
được nhiều trang thiết bị phục vụ cho sản xuất, hiện Công ty đang áp dụng hệ thông
quản lý chất lượng tạo được niềm tin với nhiều bạn hàng. Nhờ vậy, Công ty có điều
kiện tham gia đấu thầu và thắng nhiều gói thầu lớn trong nước. Đây là những tiền đề
cho sự phát triển của Công ty.

SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
18
Chuyên đề thực tập
b, Về nguồn lao động
Lao động là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất. Việc phân công
bố trí lao động hợp lý sẽ tạo điều kiện tăng năng suất lao động, giảm chi phí nhân
công, tăng hiệu quả sản suất.
Là một Công ty sản xuất sản phẩm có khối lượng lớn lao động nặng nhọc, đòi
hỏi người lao động phải có sức khoẻ tốt. Do yêu cầu công việc đặt ra nên lực lượng lao
động của Công ty đều có trình độ và được đào tạo, phân công phù hợp với
chuyên môn ngành nghề. Công ty cổ phần Catalan là Công ty được thành lập trong
khoảng thời gian gần đây nhưng có được đặc điểm nổi bật về lao động có trình độ
chuyên môn tương đối tốt. Nhìn vào bảng ta có thể thấy tỷ lệ cán bộ có trình độ chiếm
đa số. Về lao động tuy đã qua đào tạo nhưng trình độ phân phối chưa hợp lý. Vì đặc
điểm trên làm ảnh hưởng đến năng suất thiết bị, trình độ không cân xứng ảnh hưởng
đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Với dây chuyền sản xuất khép kín và
đồng bộ nếu không đảm bảo máy móc ổn định, không hiểu công tác vận hành sẽ gây
nên sự lãng phí thời gian. Tất cả các yếu tố trên sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của
Công ty từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
1.2. Môi trường hoạt động kinh doanh.
Hiện nay, do nhu cầu của thị trường nên ngành sản xuất và kinh doanh vật liệu
xây dựng rất phát triển. Nắm bắt được điều đó và kết hợp với nguồn nhân lực dồi dào,
chuyên nghiệp, công ty cổ phần Catalan khá thành công trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình.
1.2.1. Lĩnh vực kinh doanh chính:
Sản xuất và phân phối các loại gạch xây dựng cho thị trường.
- Loại hình công ty: Công ty cổ phần.
- Vốn điều lệ: 35 000 000 000 000đ
Mục tiêu: Tạo công ăn việc làm cho người lao động, từng bước chiếm lĩnh thị trường,
phấn đấu trở thành một trong những công ty hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực sản

xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, xây dựng hình ảnh tốt của công ty trong công
chúng.
1.2.2 Về thị trường và khách hàng.
Việc lựa chọn các kênh tiêu thụ sản phẩm và tổ chức các hoạt động trong công
tác hoạt động trong công tác tiêu thụ sản phẩm là công việc khá quan trọng và cần
thiết đối với các doanh nghiệp, điều này giúp các doanh nghiệp đưa sản phẩm của
mình ra thị trường tới người tiêu dùng bằng nhiều cách. Tuy nhiên, đều qua các kênh
chủ yếu sau:
+ Nhà sản xuất xuống chi nhánh bán buôn của người sử dụng cuối cùng.
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
19
Chuyên đề thực tập
+ Nhà sản xuất xuống tổng đại lý, xuống nhà đại lý, xuống người tiêu dùng cuối
cùng.
+ Nhà sản xuất xuống hàng bán buôn độc lập, xuống cửa hàng bán lẻ.
+ Nhà sản xuất xuống cửa hàng bán lẻ của nhà sản xuất.
Mạng lưới bán hàng của doanh nghiệp là tập hợp các kênh nối liền người sản
xuất và người tiêu dùng. Mạng lưới bán hàng được cấu thành bởi các yếu tố sau:
- Người sản xuất: Là các doanh nghiệp và các nhà đầu tư, họ được coi là người
bán thứ nhất trực tiếp sản xuất ra sản phẩm và bán chính những sản phẩm đó. Điểm
xuất phát của sản phẩm chính là nơi sản phẩm đó được sản xuất, từ sản phẩm dở dang
trở thành sản phẩm hoàn thành đạt tiêu chuẩn.
- Người tiêu dùng: Là người sử dụng sản phẩm đã được sản xuất nhằm thỏa
mãn nhu cầu của họ, người tiêu dùng được coi là người cuối cùng trong mạng lưới tiêu
thụ sản phẩm.
- Người bán buôn: Là những người với tư cách là cầu nối trung gian từ người
sản xuất tới người bán hàng. Họ là người có thế lực kinh tế lớn mạnh mua hàng hóa
với khối lượng khá lớn, có uy tín, có khả năng khống chế thị trường, chi phối người
sản xuất và người bán lẻ.
- Người bán lẻ: Là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng, họ có thể

mua hàng hóa trực tiếp từ nơi sản xuất hay từ người bán buôn để phân phối tới người
tiêu dùng, những người bán lẻ số vốn ít hơn so với người bán buôn. Khối lượng mua
về nhỏ hơn những hàng hóa bán buôn, họ tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng vì vậy
họ nắm bắt được thông tin thị trường và phản ánh nhanh, kịp thời với sự thay đổi của
thị trường.
- Người đại lý: Là một loại hình kinh doanh làm chức năng trung gian trong
quá trình vận động hàng hóa. Đối với công tác bán hàng của doanh nghệp cần phải
quan tâm đến đại lý tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp chứ không phải đại lý cho
người bán buôn hay người bán lẻ.
- Xuất khẩu: Là việc đưa hàng hóa từ thị trường trong nước ra thị trường nước
ngoài làm cho sản phẩm không chỉ được người tiêu dùng trong nước mà cả thế giới
biết đến.
1.2.3. Lợi thế tương đối so với các đối thủ cạnh tranh:
Do tiếp cận với hệ thống thông tin hiện đại, cơ sở hạ tầng thuận lợi và làm tốt
công tác marketing, công ty rất có uy tín với các nhà đầu tư và các nhà cung cấp. Công
ty đã có các quan hệ tốt với nhà cung cấp, đảm bảo cung cấp hàng hóa ổn định và đảm
bảo chất lượng. Do vậy, tất cả các mặt hàng kinh doanh rất đa dạng, có nhiều mức mẫu
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
20
Chuyên đề thực tập
mã và mức giá khác nhau. Chính điều này đã giúp công ty có khả năng phục vụ nhiều
đối tượng khách hàng khác nhau.
1.2.4. Kích thích tiêu thụ, xúc tiến bán hàng.
Công ty có chính sách khuyến mại đối với khách hàng đã mua hàng của công
ty, các khách hàng mua nhiều hàng và các khách hàng tiềm năng thuộc thị trường mới
như:
- Tặng lịch để bàn, treo tường, tặng một số đồ lưu niệm có biểu tượng của công
ty cho ban giám đốc và một số bộ phận có liên quan đến việc mua hàng. Tặng áo có in
tên và biểu tượng của công ty cho công nhân các đơn vị đã mua hàng, chính điều này
đã có tác dụng tích cực giúp người trực tiếp sử dụng sản phẩm được quan tâm, chính

họ sẽ phần nào cảm thấy tin tưởng sản phẩm hơn.
- Ưu đãi về giá, giảm giá cho các khách hàng mua hàng lần thứ hai trở lên với
số lượng lớn.
- Thăm hỏi khách hàng vào dịp lễ, tết, hiếu, hỉ gây thiện cảm và tạo điều kiện
gặp gỡ, trao đổi với khách hàng.
- Tham dự các cuộc họp của các phái đoàn thương mại của các nước sang thăm
và làm việc với khách hàng Việt Nam.
Ngoài ra còn xúc tiến các hoạt động khác như:
- Công tác quảng cáo: Là công tác nhằm đưa sản phẩm của mình đến người tiêu
dùng giúp người tiêu dùng biết sản phẩm của doanh nghịêp nhiều hơn làm tăng số
lượng sản phẩm tiêu thụ. Tùy thuộc và sản phẩm, đối tượng tiêu dùng hay khả năng tài
chính mà lựa chọn phương tiện quảng cáo cho phù hợp, từ đó tiết kiệm được chi phí
mà do sản phẩm tiêu thụ tăng. Có thể thông qua đài, báo, ti vi, mạng thông tin…với
nhiều phương thức đa dạng, phù hợp, quảng cáo liên tục, đột xuất…Ngoài ra để xây
dựng hình ảnh tốt về công ty và các sản phẩm của mình. Tên và biểu trưng công ty
được đăng ký bản quyền, các cán bộ công nhân viên đều mặc áo có biểu tượng công
ty.
- Tham gia hội chợ, triển lãm: Nhằm trưng bày, khuyến khích, giới thiệu sản
phẩm của mình đến khách hàng. Khi tham gia hội chợ, triển lãm, doanh nghiệp phải
lựa chọn những sản phẩm tiêu biểu về chất lượng, mẫu mã có khả năng cạnh tranh trên
thị trường. Đây chính là hoạt động tích cực cho công tác bán hàng của doanh nghiệp.
- Tổ chức hội nghị khách hàng: Để hội nghị khách hàng đạt hiệu quả cao, công
tác hội nghị phải chu đáo, hội nghị phải có sự tham gia của những bạn hàng quan
trọng, những mặt hàng lớn. Cần tạo không khí cởi mở, thân thiện giữa nhà sản xuất và
khách hàng để tiếp cận được tâm tư, nguyện vọng của khách hàng thông qua việc đóng
góp ý kiến đóng góp đối với sản phẩm của doanh nghiệp và tổ chức bán hàng như:
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
21
Chuyên đề thực tập
phong cách bán hàng, chế độ đãi ngộ, thái độ của người bán hàng đối với người mua.

Thông qua hội nghị, nhà sản xuất đưa ra giá bán và các biện pháp trong hoạt động tiêu
thụ sản phẩm để khách hàng tham khảo từ đó đưa ra các ý kiến nhằm nâng cao chất
lượng trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Từ đó tìm ra những khó khăn để khắc phục.
Trên thị trường không thể tránh khỏi việc cạnh tranh giữa các nhà sản xuất với
nhau. Vì vậy, những nhà sản xuất cần có những biện pháp để làm cho khách hàng tin
tưởng vào sản phẩm của mình, phải phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng, phải có
sự liên kết trong tiêu thụ tạo ra thế vững vàng và thông thoáng.
- Công tác bán hàng: Công ty đã thành công trong nhiều dự án và trúng thầu
cung cấp vật liệu xây dựng cho nhiều công trình lớn. Điều này cho thấy công ty đã
thành công nhất định trong việc tìm kiếm khách hàng và áp dụng các biện pháp
marketing.
Bên cạnh các hoạt động bán hàng công ty đã chú trọng đến việc đào tạo đội ngũ
cán bộ chuyên nghiệp. Hàng năm, công ty đều cử đội ngũ cán bộ đi đào tạo, mời các
chuyên gia về để đào tạo cán bộ công nhân viên của công ty góp phần tạo ra sản phẩm
ngày càng chất lượng, mẫu mã đẹp, tạo niềm tin cho khách hàng.
- Phân phối sản phẩm: Công ty có trụ sở và phòng trưng bày lớn và đẹp, ở vị trí
khá thuận lợi và lý tưởng.
Công ty cũng đã xây dựng một hệ thống các đại lý trực tiếp của công ty tại một
số tỉnh thành. Đây là các đại lý trực tiếp của công ty và được quyền dùng tên, biểu
tượng công ty phía trên biển hiệu của họ.
Bên cạnh đó công ty luôn tiến hành hoạt động kinh doanh không trái với các
quy định của pháp luật, luôn bám sát các định hướng phát triển của nhà nước, tôn
trọng khách hàng và luôn chú ý đến việc giữ uy tín của mình trên thị trường. Chính
nhờ các hoạt động marketing kể trên công ty đã từng bước thành công và khẳng định
vị trí của mình trên thị trường.
1.3. Sản phẩm.
Công ty cổ phần Catalan là công ty chuyên sản xuất và kinh doanh vật liệu xây
dựng, cụ thể là các sản phẩm sau:
- Gạch ốp Ceramic.
- Gạch lát.

1.4. Cơ cấu tổ chức của công ty.
Căn cứ điều lệ hoạt động, công ty đã hoàn thành bộ máy quản lý nhằm đưa
doanh nghiệp hoạt động tốt, có hiệu quả:
Sơ đồ bộ máy công ty
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
22
Chuyên đề thực tập
Ban giám đốc: Chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ hoạt động của công ty, ban giám
đốc là bộ máy điều hành của công ty.
- Giám đốc: Là người đứng đầu công ty, có nhiệm vụ và quyền hạn theo quy
định của nhà nước, chịu trách nhiệm trước pháp luật và công ty về hoạt động kinh
doanh của mình. Giúp việc cho giám đốc là phó giám đốc.
- Phó giám đốc: Thay mặt giám đốc khi giám đốc đi vắng, trực tiếp thực hiện
phụ trách công tác kinh doanh của công ty.
Các phòng chức năng:
- Phòng kinh doanh: Chịu trách nhịêm kinh doanh đối với toàn bộ sản phẩm của
công ty và đối với khách hàng.
- Phòng kỹ thuật: Chịu trách nhiệm về kỹ thuật của dây chuyền máy móc, kỹ
thuật sản phẩm.
- Phòng tổ chức hành chính: Có nhiệm vụ sắp xếp tổ chức nhân lực lao động,
tuyển dụng, đào tạo cán bộ.
- Phòng kế toán: Có chức năng mở sổ sách kế toán ghi chép các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh trong tháng, tổng hợp quyết toán theo kỳ, đảm bảo nguồn vốn phục vụ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, giám sát vốn hiện có, tạm ứng vốn cho các
cơ sở theo dõi, quản lý TSCĐ, thực hiện đầy đủ các chế độ tài chính kế toán, lập báo
cáo tài chính theo quy định.
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
23
Giám đốc
Phó giám đốc

Phòng
Kinh
Doanh
Phòng
Kỹ
Thuật
Phòng
TổChức
Hành
Chính
Phòng
Kế
Toán
Các
Phân
Xưởng
Độc lập
Chuyên đề thực tập
- Các phân xưởng độc lập: Có nhiệm sản xuất theo từng khâu để tạo ra sản
phẩm.
+ Bộ máy kế toán chia thành các bộ phận:
- Kế toán trưởng (trưởng phòng): phụ trách chung kế toán tổng, thống kế toán
thống kê của doanh nghiệp, sắp xếp, bố trí cán bộ kế toán.
- Phó phòng kế toán kiêm kế toán thanh toán, kế toán tiền lương theo công nợ.
- Kế toán giá thành: tính giá thành sản phẩm hàng tháng theo từng loại sản
phẩm, phân bổ chi phí.
- Kế toán tiêu thụ và thành phẩm: theo dõi kho thành phẩm của công ty, kiểm
tra tính doanh thu, thuế đầu ra hàng tháng, theo dõi thanh lý hợp đồng.
- Kế toán vật tư: thực hiện theo dõi vật tư, công cụ lao động, thanh toán cho
người bán đồng thời theo dõi việc thanh toán và công nợ của công ty.

- Kế toán TSCĐ và ngân hàng: theo dõi tổng hợp chi tiết TSCĐ, trích va phân
bổ khấu hao TSCĐ; theo dõi làm thủ tục vay vốn với ngân hàng, tính lãi vay vốn.
- Thủ quỹ: theo dõi cấp phát và thu tiền kịp thời, chính xác, hàng ngày phải
khóa sổ đối chiếu với kế toán thanh toán.
- Thông kê tổng hợp: sắp xếp, bảo quản hồ sơ, lưu tại phòng một cách khoa
học, hợp lý, làm nhiệm vụ thống kê tổng hợp.
II. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG MỘT SỐ NĂM
QUA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CATALAN.
1. Những thuận lợi và khó khăn cơ bản trong quá trình hoạt động kinh doanh
của công ty.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình công ty cổ phần Catalan đã
không ngừng đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh tận dụng triệt để những thuận lợi và
khắc phục những khó khăn từng bước khẳng định vị trí của mình trên thương trường.
* Những thuận lợi mà công ty có được bao gồm:
- Một là: Công ty có đội ngũ cán bộ am hiểu về thị trường và đặc điểm kinh
doanh của ngành hàng. Với số lượng cán bộ nhân viên của công ty bao gôm 35 người,
trong đó số lao động có trình độ đại học và trên đại học là 20 người. Như vậy, với số
lượng lao động hiện có sẽ đảm bảo cho công ty hoàn thành tốt nhịêm vụ kinh doanh
đồng thời phấn đấu không ngừng đẩy mạnh phát triển tốt hoạt động kinh doanh của
mình.
- Hai là: Có nhiều bạn hàng tin cậy trên thị trường. Là một doanh nghịêp hoạt
động có hiệu quả trong nghề nên công ty đã tạo được uy tín nhất định với bạn hàng
trên mọi miền đất nước, một mặt công ty vẫn quan hệ tốt với bạn hàng cũ, mặt khác
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10
24
Chuyên đề thực tập
tìm kiếm những khách hàng mới trong kinh doanh. Chính vì vậy hoạt động kinh doanh
của công ty rất thuận lợi.
- Ba là: Công ty có thị trường hoạt động khá rộng, công ty có mạng lưới kinh
doanh trên địa bàn rộng và có vị trí kinh doanh thuận lợi với mạng lưới kinh doanh

rộng khắp nên quy mô kinh doanh của công ty ngày càng mở rộng tạo điều kiện để
công ty phát triển hoạt động kinh doanh của mình.
* Bên cạnh những thuận lợi mà công ty có được trong quá trình hoạt đông kinh doanh
của công ty còn gặp phải những khó khăn nhất định như:
- Một là: Sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt. Trong cơ chế thị
trường luôn biến động, công ty phải đa dạng hóa mặt hàng kinh doanh đồng thời
không ngừng nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu thị trường nâng cao sức mạnh
cạnh tranh. Đó cũng là khó khăn đòi hỏi cán bộ công nhân viên trong công ty phải phát
huy thế mạnh khắc phục mọi yếu điểm để kết quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao.
- Hai là: Để cung cấp kịp thời các mặt hàng cần thiết khi thị trường khác có nhu
cầu, công ty phải dự trữ một lượng lớn hàng hóa trong kho, điều này gây trở ngại cho
quá trình luân chuyển vốn lưu động.
- Ba là: Phạm vi hoạt động của công ty khá rộng là một nhân tố gây khó khăn
cho công tác quản lý về vốn, đặc biệt là vốn lưu động của công ty. Mặt khác, với phạm
vi rộng công ty phải bỏ ra nhiều khoản chi phí: đi lại, vận chuyển…dễ dẫn đến lãng
phí về vật tư, tiền vốn.
2. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Catalan những năm gần
đây.
Xuất phát từ đặc điểm ngành hàng nên những năm gần đây các mặt hàng của
công ty gặp phải sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường.Điều này có thể thấy rõ qua một
số chỉ tiêu mà công ty đã đạt được trong 3 năm gần đây.
Bảng 1:Trích báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Catalan.
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu 2007 2008 2009
Doanh thu có thuế 82 747,156 89 485,182 101 743,006
Doanh thu thuần 78 775,293 87 534,405 100 430,521
Lợi nhuận thuần 200,344 236,978 411,472
Tổng giá vốn hàng bán 58 502,239 66 059,944 80 911,265
Nguồn: Phòng tài chính kết toán công ty cổ phần Catalan.
SV: Nguyễn Linh Chi Lớp: LTTC – K10

25

×