Tải bản đầy đủ (.pdf) (124 trang)

Đề xuất giải pháp tăng cường công tác quản lý các dự án đầu tư tại Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.39 MB, 124 trang )


LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu Luận văn với đề tài “Đề xuất giải
pháp tăng cường công tác quản lý các dự án đầu tư tại Công ty Cổ phần than
Hà Tu - Vinacomin”, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo và
tâm huyết của Thầy giáo TS. Nguyễn Trọng Hoan, cùng những ý kiến chuyên
môn quý báu của Thầy cô Khoa Kinh tế và Quản lý - Trường đại học Thủy lợi
đã chỉ bảo cho tác giả nhiều vấn đề trong nghiên cứu khoa học và đã tạo điều
kiện giúp đỡ tác giả về các tài liệu, thông tin kỹ thuật và đóng góp nhiều ý kiến
cho Luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo của Thầy giáo hướng dẫn Luận văn,
sự giúp đỡ của Thầy giáo, cô giáo, của cơ quan cung cấp số liệu trong quá trình học
tập, nghiên cứu, thực hiện Luận văn.
Cuối cùng tác giả gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã
tạo điều kiện để tác giả hoàn thành Luận văn.
Do trình độ, kinh nghiệm và thời gian nghiên cứu hạn chế nên Luận văn
không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được mọi ý kiến đóng
góp, trao đổi chân thành. Tác giả hi vọng rằng những vấn đề của Luận văn sẽ được
phát triển ở mức độ nghiên cứu sâu hơn góp phần đưa những kiến thức khoa học
vào phục vụ sản xuất.


Hà Nội, ngày 25 tháng 8 năm 2014.
Tác giả Luận văn




Phạm Văn Xuân






LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng Tôi. Các thông tin,
tài liệu trích dẫn trong Luận văn và các số liệu có nguồn gốc rõ ràng tuân thủ đúng
nguyên tắc. Kết quả trình bày trong Luận văn được thu thập trong quá trình nghiên
cứu là trung thực chưa từng được ai công bố trước đây.


Hà Nội, ngày 25 tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn




Phạm Văn Xuân





















MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ, DỰ ÁN ĐẦU
TƯ, QUẢN LÝ DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1
1.1. Đầu tư và dự án đầu tư 1
1.1.1. Khái niệm về đầu tư 1
1.1.2. Chi phí và kết quả đầu tư 3
1.1.2.1. Chi phí đầu tư 3
1.1.2.2. Kết quả đầu tư 4
1.1.3. Khái niệm dự án đầu tư 4
1.2. Quản lý dự án đầu tư và các tiêu chí đánh giá 6
1.2.1. Lập dự án đầu tư 6
1.2.2. Thẩm định dự án đầu tư 6
1.2.3. Thực hiện quản lý dự án đầu tư 10
1.2.3.1. Quản lý dự án đầu tư 10
1.2.3.2. Nội dung quản lý dự án đầu tư 11
1.2.4. Các tiêu chí đánh giá 13
1.3. Các loại dự án đầu tư trong doanh nghiệp khai thác than 15
1.3.1. Các mô hình tổ chức thực hiện quản lý dự án 15
1.3.2. Các loại dự án đầu tư 17
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý dự án đầu tư ngành khai thác than17
1.4.1. Công tác Quản lý của các cơ quan nhà nước 17

1.4.2. Công tác Quản lý của các doanh nghiệp khai thác than 18
1.5. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 19

Kết luận chương 1 21
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN
LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THAN HÀ TU -
VINACOMIN 22
2.1. Giới thiệu khái quát tình hình đầu tư tại Công ty Cổ phần than Hà Tu -
Vinacomin trong thời gian qua từ năm 2008 - 2013 22
2.1.1. Giới thiệu về Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin 22

2.1.2. Tình hình đầu tư tại Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin trong thời
gian qua (2008 - 2013) 27
2.1.3. Vai trò các dự án đầu tư với tác động phát triển kinh tế - xã hội 33
2.1.3.1. Hiệu quả đầu tư 33
2.1.3.2. Vai trò của đầu tư đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế trong nước 34
2.1.3.3. Vai trò của đầu tư đối với sự hình thành và phát triển doanh nghiệp 34
2.1.4. Vai trò của Công ty trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa 37
2.2. Một số dự án đầu tư đã được thực hiện trong thời gian qua 38
2.3. Phân tích thực trạng công tác quản lý các dự án đầu tư tại Công ty Cổ phần
than Hà Tu - Vinacomin trong thời gian qua 39
2.3.1. Công tác lập dự án đầu tư 40
2.3.2. Công tác thẩm định dự án đầu tư 42
2.3.3. Công tác thực hiện đầu tư 44
2.3.3.1. Công tác giám sát đầu tư, báo cáo kế hoạch đầu tư 44
2.3.3.2. Công tác quản lý chất lượng 45
2.3.3.3. Công tác thanh quyết toán dự án 47
2.4. Đánh giá chung về công tác quản lý dự án đầu tư tại Công ty Cổ phần than Hà
Tu - Vinacomin 49
2.4.1. Những kết quả đạt được trong công tác quản lý dự án đầu tư 49

2.4.2. Những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân trong công tác quản lý dự án đầu tư 50
Kết luận chương 2 56
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THAN HÀ TU -
VINACOMIN 58

3.1. Định hướng, mục tiêu phát triển của Công ty Cổ phần than Hà Tu -Vinacomin
trong những năm tới 58
3.1.1. Tiềm năng về tài nguyên khoáng sản 58
3.1.2. Định hướng phát triển của Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin 61
3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý dự án đầu tư tại Công ty Cổ
phần than Hà Tu - Vinacomin trong thời gian tới 67
3.3. Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý các dự án đầu tư tại

Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin 70
3.3.1. Hoàn thiện bộ máy quản lý và nâng cao trình độ nghiệp vụ trong công tác
quản lý 70
3.3.1.1. Hoàn thiện bộ máy quản lý 70
3.3.1.2. Nâng cao trình độ nghiệp vụ trong công tác quản lý, đào tạo nguồn nhân
lực chuyên sâu, đổi mới chính sách thu hút cán bộ quản lý giỏi 74
3.3.2. Hoàn thiện công tác quản lý chung đối với các dự án đầu tư 80
3.3.3. Nâng cao năng lực công tác lập, thẩm định, phê duyệt hồ sơ 85
3.3.3.1. Nâng cao năng lực quản lý công tác lập dự án 85
3.3.3.2. Nâng cao năng lực công tác thẩm định dự án và phê duyệt dự án 89
3.3.3.3. Nâng cao năng lực quản lý công tác thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi
công và tổng dự toán 95
3.3.4. Hoàn thiện công tác quản lý tiến độ 97
3.3.5. Tăng cường công tác lựa chọn nhà thầu, quản lý chất lượng công trình và
thanh quyết toán, đưa dự án vào sử dụng 101
3.3.5.1. Tăng cường công tác lựa chọn nhà thầu 101

3.3.5.2. Tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình 103
3.3.5.3. Tăng cường quản lý công tác thanh quyết toán, đưa dự án vào sử dụng 108
Kết luận chương 3 110
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 111
1. Kết luận 111
2. Kiến nghị 111
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113









DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ Chu trình quản lý dự án 11
Hình 1.2: Đồ thị biểu diễn những tiêu chuẩn ràng buộc kết quả thực hiện dự án 13
Hình 1.3: Sơ đồ mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án 15
Hình 1.4: Sơ đồ hình thức chủ nhiệm điều hành dự án 16
Hình 1.5: Mô hình tổ chức dạng chìa khóa trao tay 16
Hình 2.1: Lô gô Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin 22
Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý Công ty Cổ phần than Hà Tu -Vinacomin
25
Hình 2.3: Vỉa khai thác than số 1 - Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin 30
Hình 2.4: Vỉa khai thác than lô thiên Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin 35
Hình 2.5: Phối cảnh Dự án trụ sở Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin 39
Hình 2.6: Khai thác than hầm lò - Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin 49
Hình 3.1: Công trường khai thác than của Công ty Cổ phần than Hà Tu -

Vinacomin 58
Hình 3.2: Mô hình tổ chức lại Phòng Đầu tư, Xây dựng 71
Hình 3.3: Mô hình tổ chức Phòng thẩm định 71
Hình 3.4: Mô hình tổ chức Tổ khảo sát, thí nghiệm 72
Hình 3.5: Mô hình Ban quản lý dự án 73
Hình 3.6: Thi công lò giếng đứng - Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin 84
Hình 3.7: Tổ chức nghiệm thu kỹ thuật trạm xử lý nước thải Công ty Cổ phần than
Hà Tu - Vinacomin 104
Hình 3.8: Một dự án trồng cây xanh hoàn nguyên bảo vệ môi trường - Công ty Cổ
phần than Hà Tu - Vinacomin 109




DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty giai đoạn 2008 - 2013 30
Bảng 2.2: Các dự án của Công ty thực hiện đầu tư các năm 2008 - 2013 38
Bảng 2.3: Số liệu và tình hình thực hiện công tác lập dự án đầu tư của Công ty
trong giai đoạn 2008 - 2013 40
Bảng 2.4: Số liệu và tình hình thực hiện công tác thẩm định dự án của Công ty
trong giai đoạn 2008 - 2013 42
Bảng 2.5: Số số liệu một số các dự án xuống cấp sau khi đưa vào khai thác sử dụng
của Công ty trong giai đoạn 2008 - 2013 46
Bảng 2.6: Số số liệu và tình hình thực hiện công tác thực hiện dự án của Công ty
trong giai đoạn 2008 - 2013 47
Bảng 3.1: Số liệu sản xuất kinh doanh than kế hoạch thực hiện của Công ty năm
2014 64
Bảng 3.2: Một số dự án đầu tư của Công ty dự kiến trong thời gian tới 65


















DANH MỤC TỪ VÀ KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Diễn giải
BQLĐH Ban quản lý điều hành
TH Thực hiện
KH Kế hoạch
WTO Tổ chức thương mại Thế giới
ISO Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế
HTTĐC Hỗ trợ tái định cư
KTXH Kinh tế xã hội
TKV Tập đoàn công nghiệp Than khoáng sản Việt Nam
KSC Kiểm soát chất lượng sản phẩm
GPMB Giải phóng mặt bằng
NK Nguyên khai




















PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư phát triển là nhiệm vụ chiến lược, một giải pháp chủ yếu để thực hiện
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng tăng trưởng cao, ổn định và bền
vững cho một đất nước cũng như trong từng địa phương.
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kế hoạch tập trung sang cơ chế
thị trường ở nước ta hiện nay, dự án không chỉ bao gồm các dự án đầu tư trong sản
xuất kinh doanh mà còn gồm các dự án không nhằm mục đích lợi nhuận và liên
quan đến nhiều lĩnh vực KTXH khác.
Trong các dự án thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, dự án đầu
tư là loại hình dự án được xã hội quan tâm nhiều nhất, đặc biệt là xã hội theo cơ chế

thị trường. Với chính sách khuyến khích đầu tư của Chính phủ, các doanh nghiệp
trong cả nước đang tích cực trong phát triển các dự án đầu tư tại Việt Nam. Trong
đó Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin không nằm ngoài thực tế trên.
Là một doanh nghiệp Nhà nước, thành viên của Tập đoàn Công nghiệp Than
khoáng sản Việt Nam - Vinacomin, Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin hoạt
động chủ yếu trong lĩnh vực khai khoáng, bên cạnh đó Công ty luôn chú trọng đến
việc đầu tư phục vụ kinh doanh sản xuất và các mục đích khác. Nhiều dự án đầu tư
đã hoàn thành và từng bước phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu quả sản
xuất và cải thiện từng bước đời sống vật chất và tinh thần của công nhân lao động.
Ngoài những thành tựu đạt được, thực tế còn nhiều vấn đề tồn tại trong việc thực
hiện các dự án đầu tư, đặc biệt về công tác quản lý các dự án đầu tư. Khi thực hiện
các dự án đầu tư gặp một số khó khăn trong quá trình quản lý dự án dẫn đến phải
kéo dài thêm thời gian thực hiện, đồng thời phát sinh chi phí đầu tư làm ảnh hưởng
đến hiệu quả của dự án.
Xuất phát từ tình hình đó, bằng những kiến thức đã được học tập, nghiên cứu,
tác giả chọn đề tài Luận văn “Đề xuất giải pháp tăng cường công tác quản lý các
dự án đầu tư tại Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin” với mong muốn góp
phần giải quyết những khó khăn trong việc thực hiện đầu tư để nâng cao hiệu quả
sử dụng nguồn vốn tại Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Thông qua việc phân tích, đánh giá quá trình sử dụng vốn đầu tư và công tác
quản lý dự án đầu tư trong những năm vừa qua tại Công ty Cổ phần than Hà Tu -

Vinacomin về những kết quả đạt được, những tồn tại cần khắc phục. Từ đó đề xuất
một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý các dự án đầu tư tại Công ty
Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin.
3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp thống kê;
phương pháp phân tích so sánh; phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp
tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; phương pháp đối chiếu với hệ thống văn bản pháp

quy về quản lý dự án, quản trị dự án và các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý
đầu tư cùng một số phương pháp kết hợp khác, để nghiên cứu và giải quyết các vấn
đề được đặt ra.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
a. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những hoạt động quản lý dự án đầu tư nói
chung, các dự án đầu tư tại Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin nói riêng và
các ảnh hưởng đến công tác quản lý dự án đầu tư.
b. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý dự án đầu tư tại Công ty Cổ phần
than Hà Tu - Vinacomin theo quy định của pháp luật hiện hành trong những năm
gần đây, để làm căn cứ đề xuất những giải pháp tăng cường công tác quản lý dự án
đầu tư trong thời gian tới.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a. Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần hệ thống và cập nhật những vấn đề lý luận cơ bản, các quy
định của pháp luật hiện hành về công tác quản lý dự án đầu tư. Những nghiên cứu
này có giá trị làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu
chuyên sâu về quản lý dự án đầu tư.
b. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu, phân tích và những đề xuất của đề tài là đề xuất một số
giải pháp tăng cường công tác quản lý dự án đầu tư tại Công ty Cổ phần than Hà Tu
- Vinacomin nhằm khắc phục các tồn tại trong công tác quản lý dự án, nâng cao
hiệu quả dự án đầu tư tại Công ty trong thời gian tới.
6. Kết quả dự kiến đạt được

Kết quả nghiên cứu Luận văn có nhiệm vụ đạt được gồm:
- Hệ thống những cơ sở lý luận cơ bản về các vấn đề liên quan quản lý dự án
nói chung, quản lý dự án đầu tư và những ảnh hưởng tới công tác quản lý dự án đầu
tư. Luận văn cũng tổng quan hệ thống văn bản pháp quy về quản lý đầu tư;

- Phân tích đánh giá tình hình thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư tại
Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin trong thời gian qua; qua đó đánh giá
những kết quả đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại, vướng mắc cần khắc phục;
- Nghiên cứu đề xuất những giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn, có tính
khả thi nhằm tăng cường công tác quản lý dự án đầu tư tại Công ty Cổ phần than
Hà Tu - Vinacomin trong thời gian tới.
7. Nội dung của Luận văn
Ngoài các phần
Phần mở đầu;
Phần kết luận kiến nghị;
Ngoài ra Luận văn có 3 chương nội dung chính sau
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư, dự án đầu tư, quản lý dự
án và quản lý dự án đầu tư
Chương 2. Phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý dự án Đầu tư
tại Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin
Chương 3. Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý các dự án đầu tư
tại Công ty Cổ phần than Hà Tu - Vinacomin

1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ, DỰ ÁN ĐẦU
TƯ, QUẢN LÝ DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1. Đầu tư và dự án đầu tư
1.1.1. Khái niệm về đầu tư
Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11
năm 2005 có quy định Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu
hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy
định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm
thu được kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Các nguồn lực sử dụng có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và

trí tuệ. Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài
chính hoặc tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng
suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn xã hội.
Có rất nhiều hình thái biểu hiện cụ thể của đầu tư. Tùy từng mức độ tiếp cận
với những tiêu thức khác nhau, có thể có các cách phân chia hoạt động đầu tư khác
nhau. Một trong những tiêu thức thường được sử dụng đó là tiêu thức quan hệ quản
lý của chủ đầu tư.
- Theo tiêu thức này, đầu tư được chia thành đầu tư gián tiếp và đầu tư trực
tiếp.
+ Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vổn không trực tiếp
tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư.
+ Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia
quản lý điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. Đầu tư trực tiếp
lại bao gồm đầu tư dịch chuyển và đầu tư phát triển. Đầu tư dịch chuyển là một
hình thức đầu tư trực tiếp trong đó việc bỏ vốn là nhằm dịch chuyển quyền sở hữu
giá trị của tài sản. Thực chất trong đầu tư dịch chuyển không có sự gia tăng giá trị
tài sản. Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp. Hoạt động đầu tư
này nhằm duy trì và sáng tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và
sinh hoạt đời sống của xã hội. Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới
cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ.
- Đặc trưng của hoạt động đầu tư:
+ Là hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tư trước hết là quyết định việc sử
2
dụng các nguồn lực mà biểu hiện cụ thể dưới các hình thức khác nhau như tiền, đất
đai, tài sản, vật tư thiết bị, giá trị trí tuệ,…
Vốn được hiểu như là các nguồn lực sinh lợi. Dưới các hình thức khác nhau
nhưng vốn có thể xác định dưới hình thức tiền tệ, vì vậy các quyết định đầu tư
thường được xem xét từ phương diện tài chính (tốn phí bao nhiêu vốn, có khả năng
thực hiện không, có khả năng thu hồi được không, mức sinh lợi là bao nhiêu…).
Nhiều dự án có thể khả thi ở các phương diện khác (kinh tế, xã hội) nhưng không

khả thi về phương diện tài chính và vì thế cũng không thể thực hiện trên thực tế.
+ Là hoạt động có tính chất lâu dài.
Khác với các hoạt động thương mại, các hoạt động chi tiêu tài chính khác, đầu
tư luôn luôn là hoạt động có tính chất lâu dài. Do tính lâu dài nên mọi sự trù liệu
đều là dự tính, chịu một xác suất biến đổi nhất định do nhiều yếu tố. Chính điều này
là một trong những vấn đề hệ trọng phải tính đến trong mọi nội dung phân tích,
đánh giá của quá trình thẩm định dự án.
+ Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong
tương lai.
Đầu tư về một phương diện nào đó là một sự hy sinh lợi ích hiện tại để đánh
đổi lấy lợi ích tương lai (vốn để đầu tư không phải là các nguồn lực để dành), vì
vậy luôn luôn có sự so sánh, cân nhắc giữa lợi ích hiện tại và lợi ích tương lai. Rõ
ràng rằng, nhà đầu tư mong muốn và chấp nhận đầu tư chỉ trong điều kiện lợi ích
thu được trong tương lai lớn hơn lợi ích hiện nay họ tạm thời phải hy sinh (không
tiêu dùng hoặc không đầu tư vào nơi khác).
+ Là hoạt động mang nặng rủi ro.
Các đặc trưng nói trên đã cho thấy hoạt động đầu tư là một hoạt động chứa
đựng nhiều rủi ro. Bản chất của sự đánh đổi lợi ích và lại thực hiện trong một thời
gian dài không cho phép nhà đầu tư lượng tính hết những thay đổi có thể xảy ra
trong quá trình thực hiện đầu tư so với dự tính. Vì vậy, chấp nhận rủi ro như là bản
năng của nhà đầu tư. Tuy nhiên nhận thức rõ điều này nên nhà đầu tư cũng có
những cách thức, biện pháp ngăn ngừa hay hạn chế khả năng rủi ro để sự sai khác
so với dự tính là ít nhất.
- Nhà Đầu tư:
Nhà đầu tư được quy định tại Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 là tổ chức, cá
nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm:
3
+ Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật doanh
nghiệp;
+ Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác xã;

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước khi Luật này
có hiệu lực;
+ Hộ kinh doanh, cá nhân;
+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người
nước ngoài thường trú ở Việt Nam;
+ Các tổ chức khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.
1.1.2. Chi phí và kết quả đầu tư
1.1.2.1. Chi phí đầu tư
Một cách chung nhất, mọi nguồn lực (tiền vốn, đất đai, tài nguyên, tài sản, lao
động, trí tuệ,…) được sử dụng cho hoạt động đầu tư (bao gồm việc tạo ra tài sản cố
định, phương tiện và các điều kiện để đảm bảo hoạt động bình thường).
Theo tính chất của các loại chi phí có thể chia ra 2 loại chính:
- Chi phí đầu tư cố định: Đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, các cơ sở phụ
trợ, tiện ích khác và các chi phí trước vận hành.
Phần chi phí trước vận hành tuy không trực tiếp tạo ra tài sản, phương tiện
phục vụ cho hoạt động đầu tư nhưng là các chi phí gián tiếp hoặc liên quan đến
việc tạo ra và vận hành khai thác các tài sản đó để đạt được mục tiêu đầu tư. Các
chi phí này thường gồm các khoản sau:
+ Chi phí cho công tác chuẩn bị ban đầu, phát hiện dự án: Điều tra, khảo sát để
lập, trình duyệt dự án,…
+ Chi phí cho tư vấn, khảo sát, thiết kế, giám sát trong quá trình triển khai
thực hiện dự án,…
+ Chi phí quản lý dự án.
+ Chi phí chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật (đào tạo, huấn luyện…).
+ Các chi phí tài chính: các khoản chi phí phát sinh từ việc sử dụng vốn như
lãi vay trong thời gian xây dựng, phí thu xếp tài chính, phí cam kết, phí bảo lãnh,
- Vốn lưu động ban đầu: Là các chi phí để tạo ra tài sản lưu động ban đầu, các
điều kiện để dự án có thể đi vào hoạt động bình thường theo các điều kiện kinh tế
kỹ thuật dự tính. Vốn lưu động ban đầu gồm các khoản sau:
4

+ Dự trữ sản xuất (vật tư, vật liệu, nhiên liệu,… cho một chu kỳ sản xuất kể cả
dự trữ bảo hiểm cần thiết).
+ Dự trữ cho bán thành phẩm, thành phẩm tồn kho.
+ Các khoản thuộc quỹ tiền mặt.
Tuỳ thuộc vào đặc điểm, điều kiện của từng dự án mà có thể hoặc không có;
có nhiều hoặc ít nhu cầu về vốn lưu động ban đầu.
1.1.2.2. Kết quả đầu tư
Kết quả đầu tư là những biểu hiện của mục tiêu đầu tư dưới dạng các lợi ích
cụ thể. Kết quả đầu tư có thể biểu hiện ở các dạng sau:
- Kết quả tài chính: là các lợi ích về tài chính thu nhận được từ dự án biểu hiện
bằng giá trị theo giá thị trường.
- Kết quả kinh tế: là các lợi ích về kinh tế biểu hiện bằng giá trị tính theo giá
kinh tế.
- Kết quả xã hội: Kết quả biểu hiện dưới dạng các lợi ích xã hội (trình độ dân
trí, khả năng phòng chống bệnh tật, đảm bảo môi trường sống,…). Kết quả xã hội
biểu hiện khá phong phú và thường không thể đo lường một cách rõ ràng.
1.1.3. Khái niệm dự án đầu tư
Dự án theo nghĩa chung nhất có thể hiểu là một lĩnh vực hoạt động đặc thù,
một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và
theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới. Dự án không chỉ là một ý
định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định, dự án không phải là một
nghiên cứu trừu tượng mà tạo nên một thực thể mới, là một nỗ lực có thời gian
nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất.
Dự án thường bị ràng buộc về nguồn lực vì khi nhắc đến dự án, người ta nhìn
thấy ngay các khoản chi phí: tiền bạc, phương tiện, dụng cụ, thời gian, trí tuệ, Các
nguồn lực này ràng buộc chặt chẽ với nhau và tạo nên khuôn khổ của dự án. Vì
khối lượng chi phí nguồn lực cho dự án là một thông số then chốt phản ánh mức độ
thành công của dự án đối với những dự án có quy mô lớn. Hầu hết các dự án có quy
mô lớn đều phải trải qua những thời kỳ khó khăn vì bất kỳ một quyết định nào cũng
bị ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ: chủ đầu tư, nhà tư vấn và các nhà thầu bên

cạnh các đối tác cung cấp vốn, nhân lực, vật tư và các tổ hợp công nghệ, kỹ thuật,
Các dự án quy mô nhỏ hay quy mô lớn đều được triển khai trong một môi
trường biến đổi. Công tác điều hành dự án do vậy phải tính đến hiện tượng này để
5
phân tích và ước lượng các rủi ro, chọn lựa giải pháp và dự kiến những bất lợi có
thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến dự án, theo dõi và có phản ứng kịp thời
đảm bảo cho việc hoàn thanh dự án đúng yêu cầu.
Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 có quy định: Dự án đầu tư là tập hợp các đề
xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể,
trong khoảng thời gian xác định.
Việc xem xét dự án đầu tư có thể từ nhiều góc độ:
- Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách
chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được
những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
- Xét trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng
vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, KTXH trong một thời gian dài.
- Trên góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi
tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, làm
tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Xét theo góc độ này, dự án đầu tư là
một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế
nói chung.
- Xét về mặt nội dung: Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần
thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định
để tạo mới, mở rộng hoạch cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện
những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Như vậy, một dự án đầu tư bao gồm bốn thành phần chính:
- Mục tiêu của dự án được thể hiện ở hai mức.
+ Mục tiêu phát triển thể hiện sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện các
mục tiêu chung. Mục tiêu này được thực hiện thông qua những lợi ích dự án mang
lại cho nền kinh tế - xã hội.

+ Mục tiêu trực tiếp của chủ đầu tư: Đó là mục tiêu cụ thể cần đạt được của
việc thực hiện dự án. Mục tiêu này được thực hiên thông qua những lợi ích tài
chính mà chủ đầu tư thu được từ dự án.
- Các kết quả: Đó là những kết quả cụ thể, có thể định lượng được tạo ra từ các
hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện được các
mục tiêu của dự án.
- Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự
6
án để tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với
một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế
hoạch là việc của dự án.
- Các nguồn lực: Về vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các
hoạt động của dự án. Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư
cần cho dự án.
Tổng quát, dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ
vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt
được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến nâng cao chất lượng của sản
phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định.
1.2. Quản lý dự án đầu tư và các tiêu chí đánh giá
Nội dung của quản lý dự án đầu tư là lập kế hoạch, giám sát, kiểm tra tất cả
các khía cạnh của dự án và thúc đẩy tất cả các thành phần tham gia nhằm đạt được
mục tiêu của dự án một cách an toàn trong khuôn khổ thời gian, chi phí và phương
pháp.
Quá trình đầy đủ từ khi lập dự án, thẩm định và phê duyệt dự án, tổ chức thực
hiện quản lý dự án.
1.2.1. Lập dự án đầu tư
Giai đoạn lập dự án chính là giai đoạn chuẩn bị đầu tư, bao gồm:
- Xây dựng ý tưởng dự án: Là việc xác định mục tiêu, kết quả cuối cùng và các
phương pháp thực hiện để đạt kết quả đó. Xây dựng ý tưởng dự án được bắt đầu
ngay khi dự án bắt đầu hình thành, trên cơ sở các nguồn lực của nhà đầu tư và mục

tiêu đạt được cuối cùng của dự án.
- Phát triển dự án: Phát triển dự án là giai đoạn chi tiết xem xét dự án cần được
thực hiện như thế nào mà nội dung của nó tập trung vào công tác thiết kế và lập kế
hoạch.
Trong tất cả các giai đoạn từ khi chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc đầu tư đưa
dự án vào vận hành khai thác thì giai đoạn chuẩn bị đầu tư là quan trọng nhất, là
tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở các giai đoạn sau.
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư là giai đoạn quyết định triển khai dự án hay không.
Giai đoạn mang tính chất nghiên cứu về mọi vấn đề kinh tế, kỹ thuật liên quan đến
hình thành dự án, thực hiện dự án, vận hành dự án sau khi đưa vào hoạt động.
1.2.2. Thẩm định dự án đầu tư
7
Thẩm định dự án đầu tư được xem như là một yêu cầu không thể thiếu và là
cơ sở để ra quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư. Đây là công việc được tiến hành
trong các giai đoạn hình thành dự án (nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi
hoặc các nghiên cứu chuyên đề).
Yêu cầu thẩm định dự án đầu tư xuất phát từ bản chất, tính phức tạp và các
đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư.
Thẩm định dự án nhằm làm sáng tỏ và phân tích về một loạt các vấn đề có liên
quan tới tính khả thi trong quá trình thực hiện dự án: thị trường, công nghệ, kỹ
thuật, khả năng tài chính của dự án để đứng vững trong suốt vòng đời hoạt động, về
quản lý thực hiện dự án, phần đóng góp của dự án vào sự tăng trưởng của nền kinh
tế,… với các thông tin về bối cảnh và các giả thiết sử dụng trong dự án này; Đồng
thời đánh giá để xác định xem dự án có giúp đạt được các mục tiêu xã hội hay
không, nếu có thì bằng cách nào, và liệu dự án có đạt hiệu quả kinh tế hay không
khi đạt các mục tiêu này.
Giai đoạn thẩm định dự án bao hàm một loạt khâu thẩm định và quyết định,
đưa tới kết quả là chấp thuận hay bác bỏ dự án. Như vậy, về mặt chuyên môn yêu
cầu chung của công tác thẩm định dự án là đảm bảo tránh thực hiện đầu tư các dự
án không có hiệu quả, mặt khác cũng không bỏ mất các cơ hội đầu tư có lợi.

Mặt khác, thẩm định dự án còn là công việc được thực hiện theo quy định về
quản lý đầu tư, vì vậy cần được tiến hành theo các yêu cầu về quản lý. Về mặt này,
công tác thẩm định dự án phải được tiến hành phù hợp với các quy định hiện hành
về quản lý đầu tư và đảm bảo thời hạn quy định.
Theo Nghị định số 12/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/2/2009, nội dung
thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm: Thẩm định dự án đầu tư của
người ra quyết định đầu tư và thẩm định thiết kế cơ sở của cơ quan quản lý nhà
nước:
Nội dung thẩm định Dự án đầu tư xây dựng công trình
(1) Xem xét các yếu tố đảm bảo tính hiệu quả của dự án, bao gồm: sự cần thiết
đầu tư; các yếu tố đầu vào của dự án; quy mô, công suất, công nghệ, thời gian, tiến
độ thực hiện dự án; phân tích tài chính, tổng mức đầu tư, hiệu quả kinh tế - xã hội
của dự án.
(2) Xem xét các yếu tố đảm bảo tính khả thi của dự án, bao gồm: sự phù hợp
với quy hoạch; nhu cầu sử dụng đất, tài nguyên (nếu có); khả năng giải phóng mặt
8
bằng, khả năng huy động vốn đáp ứng tiến độ của dự án; kinh nghiệm quản lý của
chủ đầu tư; khả năng hoàn trả vốn vay; giải pháp phòng cháy, chữa cháy; các yếu tố
ảnh hưởng đến dự án như quốc phòng, an ninh, môi trường và các quy định khác
của pháp luật có liên quan.
(3) Xem xét thiết kế cơ sở bao gồm:
a) Sự phù hợp của thiết kế cơ sở với quy hoạch chi tiết xây dựng hoặc tổng
mặt bằng được phê duyệt; sự phù hợp của thiết kế cơ sở với phương án tuyến công
trình được chọn đối với công trình xây dựng theo tuyến; sự phù hợp của thiết kế cơ
sở với vị trí, quy mô xây dựng và các chỉ tiêu quy hoạch đã được chấp thuận đối
với công trình xây dựng tại khu vực chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng được phê
duyệt;
b) Sự phù hợp của việc kết nối với hạ tầng kỹ thuật của khu vực;
c) Sự hợp lý của phương án công nghệ, dây chuyền công nghệ đối với công
trình có yêu cầu công nghệ;

d) Việc áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về xây dựng, môi trường, phòng
cháy, chữa cháy;
đ) Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức tư vấn, năng lực hành
nghề của cá nhân lập thiết kế cơ sở theo quy định.
Thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư được quy định tại Nghị định số
12/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/2/2009 như sau:
Thẩm quyền thẩm định Dự án đầu tư xây dựng công trình:
1. Người quyết định đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định dự án trước khi
phê duyệt. Đầu mối thẩm định dự án là đơn vị chuyên môn trực thuộc cấp quyết
định đầu tư. Đơn vị đầu mối thẩm định dự án có trách nhiệm lấy ý kiến về thiết kế
cơ sở của cơ quan quản lý nhà nước theo quy định tại khoản 6 Điều này và lấy ý
kiến các cơ quan liên quan để thẩm định dự án. Người quyết định đầu tư có thể thuê
tư vấn để thẩm tra một phần hoặc toàn bộ nội dung quy định tại khoản 1, khoản 2
Điều 11 Nghị định này.
Đối với các dự án đã được phân cấp hoặc uỷ quyền quyết định đầu tư thì
người được phân cấp hoặc uỷ quyền quyết định đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm
định dự án.
2. Thủ tướng Chính phủ thành lập Hội đồng Thẩm định nhà nước về các dự án
đầu tư để tổ chức thẩm định dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư và dự
9
án khác nếu thấy cần thiết. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư là Chủ tịch Hội đồng
Thẩm định nhà nước về các dự án đầu tư.
3. Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước:
a) Cơ quan cấp Bộ tổ chức thẩm định dự án do mình quyết định đầu tư. Đầu
mối tổ chức thẩm định dự án là đơn vị chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu
tư;
b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định dự án do mình quyết định đầu
tư. Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối tổ chức thẩm định dự án.
Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã tổ chức thẩm định dự án do mình quyết
định đầu tư. Đầu mối thẩm định dự án là đơn vị có chức năng quản lý kế hoạch

ngân sách trực thuộc người quyết định đầu tư.
4. Đối với dự án khác thì người quyết định đầu tư tự tổ chức thẩm định dự án.
5. Đối với dự án đầu tư xây dựng công trình đặc thù thì việc thẩm định dự án
thực hiện theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng
công trình đặc thù.
6. Việc thẩm định thiết kế cơ sở được thực hiện cùng lúc với việc thẩm định
dự án đầu tư, không phải tổ chức thẩm định riêng.
Các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tham gia ý kiến về thiết kế cơ
sở:
a) Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành đối với dự án quan trọng
quốc gia, dự án nhóm A;
b) Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành đối với dự án nhóm B, C.
Bộ Xây dựng ban hành Thông tư quy định cụ thể về thẩm quyền và trách
nhiệm tham gia ý kiến về thiết kế cơ sở của các cơ quan nêu trên.
7. Thời gian thẩm định dự án, được tính từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cụ thể:
a) Đối với dự án quan trọng quốc gia: thời gian thẩm định dự án không quá 90
ngày làm việc;
b) Đối với dự án nhóm A: thời gian thẩm định dự án không quá 40 ngày làm
việc;
c) Đối với dự án nhóm B: thời gian thẩm định dự án không quá 30 ngày làm
việc;
d) Đối với dự án nhóm C: thời gian thẩm định dự án không quá 20 ngày làm
10
việc.
1.2.3. Thực hiện quản lý dự án đầu tư
1.2.3.1. Quản lý dự án đầu tư
Trong những năm trở lại đây với trình độ khoa học công nghệ phát triển, các
nhà đầu tư dự án đã yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng dự án đầu tư. Trong
đó công tác quản lý dự án đầu tư là yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại của dự
án. Quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có tính hệ thống

để tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc liên quan tới dự án dưới sự ràng
buộc về nguồn lực có hạn. Để thực hiện mục tiêu dự án, các nhà đầu tư dự án phải
lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống chế và đánh giá toàn bộ
quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án.
Bất kỳ dự án nào cũng trải qua một số giai đoạn phát triển nhất định. Để đưa
dự án qua các giai đoạn đó, đương nhiên ta phải bằng cách này hoặc cách khác,
quản lý được nó. Quản lý dự án thực chất là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời
gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án
hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được yêu cầu
đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, dịch vụ bằng phương pháp và điều
kiện tốt nhất cho phép.
Quản lý dự án đầu tư là một quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm
tra các công việc và nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu đã định.
Quản lý dự án là việc áp dụng những kiến thức, kỹ năng, phương tiện và kỹ
thuật trong quá trình hoạt động của dự án để đáp ứng được những nhu cầu và mong
đợi của người hùn vốn cho dự án. Trong thực tế quản lý dự án luôn gặp vấn đề về
quy mô dự án, thời gian hoàn thành dự án, chi phí và chất lượng.
Mục tiêu cơ bản của quản lý dự án thể hiện ở chỗ các công việc phải được
hoàn thành theo yêu cầu, đảm bảo chất lượng, trong phạm vi chi phí được duyệt,
đúng thời gian và giữ cho phạm vi dự án không thay đổi.
Ba yếu tố: Thời gian, chi phí và chất lượng là những mục tiêu cơ bản và giữa
chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tuy mối quan hệ giữa ba mục tiêu có
thể khác nhau giữa các dự án, giữa các thời kì của một dự án, nhưng nói chung để
đạt được kết quả tốt với mục tiêu này thường phải hy sinh một hoặc hai mục tiêu
kia. Do vậy, trong quá trình quản lý dự án các quản lý hy vọng đạt được sự kết hợp
tốt nhất giữa các mục tiêu của quản lý dự án.
11
1.2.3.2. Nội dung quản lý dự án đầu tư
Chu trình quản lý dự án xoay quanh ba nội dung chủ yếu là: Lập kế hoạch,
phối hợp thực hiện mà chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí thực hiện, giám

sát các công việc dự án nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Chu trình quản lý dự
án được thể hiện qua sơ đồ (Hình 1.1).

Hình 1.1: Sơ đồ Chu trình quản lý dự án
- Lập kế hoạch: là việc xây dựng mục tiêu, xác định những công việc được
hoàn thành, nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và quá trình phát triển kế hoạch
hành động theo một trình tự lôgic mà có thể biểu diễn dưới dạng sơ đồ hệ thống.
- Điều phối thực hiện dự án: Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm
tiền vốn, lao động, máy móc thiết bị và đặc biệt là điều phối và quản lý tiến độ thời
gian. Nội dung này chi tiết hóa thời hạn thực hiện cho từng công việc và toàn bộ dự
án.
- Giám sát: Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình
hoàn thành, giải quyết những vấn đề liên quan và thực hiện báo cáo hiện trạng.
Các nội dung của quản lý dự án hình thành một chu trình năng động từ việc
lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó cung cấp các thông tin
phản hồi cho việc thiết lập kế hoạch dự án.
Chi tiết các nội dung chính của quản lý dự án gồm:
(1) Quản lý phạm vi dự án: Tiến hành khống chế quá trình quản lý đối với nội
dung công việc của dự án nhằm thực hiện mục tiêu dự án. Nó bao gồm việc phân
chia phạm vi, quy hoạch phạm vi, điều chỉnh phạm vi dự án,…
12
(2) Quản lý thời gian dự án: Quản lý thời gian dự án là quá trình quản lý mang
tính hệ thống nhằm đảm bảo chắc chắn hoàn thành dự án theo đúng thời gian đề ra.
Nó bao gồm các công việc như xác định hoạt động cụ thể, sắp xếp trình tự hoạt
động, bố trí thời gian, khống chế thời gian và tiến độ dự án.
(3) Quản lý chi phí dự án: Quản lý chi phí dự án là quản lý chi phí, giá thành
dự án nhằm đảm bảo hoàn thành dự án chi phí không vượt quá mức trù bị ban đầu.
Nó bao gồm việc bố trí nguồn lực, dự tính giá thành và khống chế chi phí.
(4) Quản lý chất lượng dự án: Quản lý chất lượng dự án là quá trình quản lý có
hệ thống việc thực hiện dự án nhằm đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về chất lượng

mà khách hàng đặt ra. Nó bao gồm việc quy hoạch chất lượng, khống chế chất
lượng và đảm bảo chất lượng.
(5) Quản lý nguồn nhân lực: Quản lý nguồn nhân lực là phương pháp quản lý
mang tính hệ thống nhằm đảm bảo phát huy hết năng lực, tính tích cực, sáng tạo
của mỗi người trong dự án và tận dụng nó một cách có hiệu quả nhất. Nó bao gồm
các công việc như quy hoạch, tổ chức, xây dựng đội ngũ, tuyển chọn nhân viên và
xây dựng các ban dự án.
(6) Quản lý việc trao đổi thông tin dự án: Quản lý việc trao đổi thông tin dự án
là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo việc truyền đạt, thu thập,
trao đổi một cách hợp lý các tin tức cần thiết cho việc thực hiện dự án cũng như
truyền đạt thông tin, báo cáo tiến độ dự án.
(7) Quản lý rủi ro trong dự án: Khi thực hiện dự án sẽ gặp phải những nhân tố
rủi ro là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm tận dụng tối đa những nhân tố
có lợi không xác định và giảm thiểu tối đa những nhân tố bất lợi không xác định
cho dự án. Nó bao gồm việc nhận biết, phân biệt rủi ro, cân nhắc, tính toán rủi ro,
xây dựng đối sách và khống chế rủi ro.
(8) Quản lý việc mua bán của dự án: Quản lý việc thu mua của dự án là biện
pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm sử dụng những hàng hóa, vật liệu thu mua
được từ bên ngoài tổ chức thực hiện dự án. Nó bao gồm việc lên kế hoạch thu mua,
lựa chọn việc thu mua và trưng thu các nguồn vật liệu.
(9) Quản lý việc giao nhận của dự án: Đây là một nội dung quản lý dự án mới
mà Hiệp hội các nhà quản lý dự án trên thế giới đưa ra dựa vào tình hình phát triển
của quản lý dự án. Một số dự án tương đối độc lập nên sau khi thực hiện hoàn
thành dự án, hợp đồng cũng kết thúc cùng với sự chuyển giao kết quả. Nhưng một
13
số dự án lại khác, sau khi dự án hoàn thành thì khách hàng lập tức sử dụng kết quả
dự án này vào việc vận hành sản xuất. Dự án vừa bước vào giai đoạn đầu vận hành
sản xuất nên khách hàng (người tiếp nhận dự án) có thể thiếu nhân tài quản lý kinh
doanh hoặc chưa nắm vững được tính năng, kỹ thuật của dự án. Vì thế cần có sự
giúp đỡ của đơn vị thi công dự án giúp đơn vị tiếp nhận dự án giải quyết vấn đề

này, từ đó mà xuất hiện khâu quản lý việc giao - nhận dự án. Quản lý việc giao -
nhận dự án cần có sự tham gia của đơn vị thi công dự án và đơn vị tiếp nhận dự án,
tức là cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa hai bên giao và nhận, như vậy mới tránh
được tình trạng dự án tốt nhưng kém hiệu quả, đầu tư cao nhưng lợi nhuận thấp.
Trong rất nhiều dự án đầu tư quốc tế đã gặp trường hợp này, do đó quản lý việc
giao nhận dự án là vô cùng quan trọng và phải coi đó là một nội dung chính trong
việc quản lý dự án.
Các nội dung của quản lý dự án có tác động qua lại lẫn nhau và không có nội
dung nào tồn tại độc lập. Nguồn lực phân bổ cho các khâu quản lý phụ thuộc vào
các ưu tiên cơ bản, ưu tiên vào các hình thức lựa chọn để quản lý.
1.2.4. Các tiêu chí đánh giá
Một dự án thành công có các đặc điểm sau:
(1) Hoàn thành trong thời gian quy định; (2) Hoàn thành trong chi phí cho
phép; (3) Đạt được thành quả mong muốn; (4) Sử dụng nguồn lực được giao một
cách hiệu quả. Những tiêu chuẩn ràng buộc kết quả thực hiện dự án thể hiện qua đồ
thị (Hình 1.2).

Hình 1.2: Đồ thị biểu diễn những tiêu chuẩn ràng buộc kết quả thực hiện dự án
Mục đích cuối cùng của mỗi dự án đều là để thực hiện một mục tiêu nhất định,
14
mục tiêu này phải đáp ứng được nhu cầu của người ủy quyền. Tuy nhiên, trong quá
trình thực hiện dự án cụ thể, do sự ảnh hưởng của một số nhân tố nên mục tiêu cuối
cùng là sản phẩm hoặc dịch vụ không phù hợp với yêu cầu của khách hàng, không
làm hài lòng khách hàng. Việc thực hiện thành công mục tiêu dự án thường được
xem xét dựa trên 4 nhân tố sau: Tiến độ sự án và chi phí dự án, phạm vi dự án, sự
đánh giá của khách hàng.
Cụ thể như sau:
(1) Hoàn thành trong thời gian quy định (Tiến độ của dự án).
Tiến độ dự án hiểu một cách đơn giản là sự sắp xếp thời gian thực hiện mỗi dự
án. Mỗi dự án đều có thời gian bắt đầu và kết thúc, thông thường, căn cứ vào tình

trạng thực tế của khách hàng và người được ủy quyền để định ra thời gian hoàn
thành phạm vi công việc. Đối với nhiều dự án thì nhân tố thời gian là chỉ tiêu quan
trọng để đánh giá sự thành công hay không của mục tiêu dự án.
(2) Đạt được thành quả mong muốn (Phạm vi dự án).
Phạm vi dự án còn được gọi làm phạm vi công việc. Nó là công việc buộc
phải hoàn thành nhằm thỏa mãn người ủy quyền. Muốn vậy ta phải đảm bảo chắc
chắn thực hiện thành công mục tiêu dự án, tức là sản phẩm cuối cùng phải đúng với
yêu cầu và tiêu chuẩn lúc đầu mà dự án đề ra.
(3) Hoàn thành trong phạm vi chi phí cho phép (Chi phí dự án).
Chi phí dự án là một khoản tiền mà khách hàng đồng ý chi cho bên tiếp nhận
dự án để có được sản phẩm hay dịch vụ mà mình mong muốn. Chi phí dự án dựa
trên cơ sở tính toán ban đầu, phạm vi của nó bao gồm tiền lương trả cho công nhân
viên, tiền thuê nguyên vật liệu, thiết bị máy móc, phương tiện sản xuất phục vụ cho
dự án cũng như phí trả cho các nhà tư vấn dự án. Khách hàng luôn mong muốn với
một khoản chi phí thấp nhất có thể nhận được một sản phẩm hay dịch vụ thỏa mãn
nhu cầu của mình. Nếu chi phí dự án vượt qua dự tính ban đầu hay vượt qua khả
năng chi trả của khách hàng thì thực hiện dự án đó không được coi là thành công.
(4) Hiệu quả của dự án (Sự đánh giá của khách hàng).
Mục đích cuối cùng của việc thực hiện dự án là để thỏa mãn nhu cầu của
khách hàng. Vì thế, sự đánh giá của người ủy quyền sẽ trực tiếp quyết định dự án
có thành công hay không, mang lại hiệu quả hay không. Để việc thực hiện mục tiêu
dự án chắc chắn có được thành công và để thỏa mãn được nhu cầu của người ủy
quyền thì trước khi thực hiện dự án, ta phải căn cứ vào yêu cầu của họ để định ra

×