Tải bản đầy đủ (.pdf) (89 trang)

Giải pháp tăng cường công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (799.38 KB, 89 trang )





TIỂU LUẬN:

Giải pháp tăng cường công tác quản lý
thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối
với các doanh nghiệp công nghiệp trên
địa bàn thành phố Hà Nội







Tuthienbao.com


Lời mở đầu

Kinh tế thị trường với sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đã làm cho các thành phần
kinh tế trong xã hội có điêù kiện cạnh tranh một cách lành mạnh để phát triển và dần
khẳng định được vai trò của mình trong nền kinh tế. Kinh tế Nhà nước- bộ phận kinh
tế chủ đạo của nền kinh tế nước ta nói chung và bộ phận các doanh nghiệp công
nghiệp nói riêng đã thực sự đổi mới. Với phạm vi hoạt động rộng lớn và mang tính
chất đa dạng phong phú, bộ phận này không những đạt hiệu quả cao trong hoạt động
sản xuất kinh doanh mà hàng năm còn đóng góp vào số thu của ngân sách Nhà nước
một tỷ lệ khá lớn. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của bộ phận các doanh nghiệp
công nghiệp, công tác quản lý thu thuế cũng gặp rất nhiều khó khăn bởi những doanh


nghiệp làm ăn yếu kém, không thực hiện tốt các nghĩa vụ với Nhà nước, luôn lợi
dụng những sơ hở của chính sách chế độ và sự yếu kém trong công tác quản lý để
thực hiện hành vi trốn lậu thuế gây thất thu lớn cho ngân sách Nhà nước. Trước nhu
cầu tài chính rất lớn để thực hiện công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước,
yêu cầu lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, chống lại những biểu hiện tiêu cực của
các doanh nghiệp khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước là một công tác
được ngành thuế nói riêng và ngành tài chính nói chung rất quan tâm và nỗ lực thực
hiện.
Xuất phát từ tình hình trên, qua thời gian thực tập tại Cục thuế Hà Nội và cùng với
những kiến thức được trang bị ở trường đại học, tôi xin mạnh dạn nghiên cứu đề
tài:“Giải pháp tăng cường công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối
với các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội”.
Nhằm phân tích thực trạng của công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối
với các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn Hà Nội và đưa ra một số biện pháp
góp ý nhằm hoàn thiện hơn công tác quản lý này trong những năm tới. Đề tài được
trình bày với các nội dung sau:
Chương I : Lý luận chung về thuế thu nhập doanh nghiệp.


Chương II : Thực trạng công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các
doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Chương III: Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh
nghiệp đối với các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà
Nội.




Chương I
Lý luận chung về thuế thu nhập doanh nghiệp


I . Bản chất, vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp
1 . Khái niệm về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
Trước khi xem xét về thuế TNDN, chúng ta có thể tìm hiểu thêm một số vấn đề
chung về thuế cũng như nguồn gốc ra đời của thuế.
Thuế ra đời gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của nhà nước, từng bước
hoàn thiện vai trò và chức năng của nhà nước đối với nền kinh tế. Nhà nước ra đời
đòi hỏi phải có một bộ máy hành chính để quản lý điều hành và bảo vệ đất nước, vì
vậy cần phải có một nguồn tài chính thường xuyên phục vụ cho các hoạt động này.
Do đó thuế ra đời với tư cách là một công cụ tài chính để tạo lập nguồn thu nhằm
duy trì hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Xã hội ngày càng phát triển đi
lên và nhà nước cũng đã dần dần hoàn thiện được chức năng và nhiệm vụ của mình.
Nhà nước không chỉ thực hiện chức năng điều hành và bảo vệ đất nước mà còn là tác
nhân chủ đạo trong việc phát triển kinh tế đất nước. Trong đó, thuế đóng góp một
phần rất quan trọng với chức năng là công cụ bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà
nước và là công cụ vĩ mô quan trọng của nhà nước trong việc điều tiết đối với nền
kinh tế.


Thuế được hình thành và phát triển gắn liền với nhiều giai đoạn lịch sử khác
nhau, do đó có rất nhiều những quan điểm khác nhau về thuế với những góc độ nhìn
nhận ở từng thời điểm lịch sử nhất định.
Theo ăng-ghen:“ Để duy trì quyền lợi công cộng cần phải có sự đóng góp của
những người công dân của nhà nước đó là thuế”. Còn theo một số nhà kinh tế hiện
đại: “Thuế là khoản đóng góp mang tính chất pháp lệnh của nhà nước bắt buộc mọi
công dân hoặc các tổ chức kinh tế nộp vào ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu
của bộ máy nhà nước. Khoản nộp về thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp mà qua
các khoản trợ cấp xã hội, phúc lợi công cộng thuế được hoàn trả gián tiếp”.
Ngoài ra còn một số các quan điểm khác và ở mỗi quan điểm cũng đã nhấn mạnh
được tác dụng của thuế đối với nền kinh tế.

Qua những quan điểm của các nhà kinh tế ta có thể rút ra được bản chất cơ bản
của thuế như sau:
- Thuế là khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân đối với Nhà nước, thuế
do Nhà nước đặt ra và được luật pháp qui định.
- Thuế thu vào ngân sách để đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho Nhà nước, không mang
tính hoàn trả trực tiếp cho các đối tượng nộp thuế.
- Thuế đảm bảo cho Nhà nước thực hiện điều tiết kinh tế, phân phối lại thu nhập
và các chức năng xã hội khác.
Thông thường một hệ thống thuế gồm những sắc thuế được sắp xếp vào 3 nhóm,
đó là:
* Nhóm các sắc thuế thuộc loại thuế đánh vào thu nhập (gọi chung là thuế thu
nhập).
* Nhóm các sắc thuế thuộc loại thuế đánh vào thu nhập đem ra sử dụng
( gọi chung là thuế tiêu dùng hay thuế hàng hoá).
* Nhóm các sắc thuế thuộc loại thuế đánh vào thu nhập đã hình thành nên tài
sản ( gọi chung là thuế tài sản hay thuế vốn).
Trong đó thuế TNDN là một sắc thuế thuộc loại thuế thu nhập,nó được hầu hết các
quốc gia trên thế giới sử dụng vì tính hiệu quả và khả năng bao quát nguồn thu. Mỗi


nước với những đặc diểm kinh tế xã hội khác nhau thì việc áp dụng thuế TNDN ở
từng nước cũng khác nhau. Tuy nhiên, ta có thể đưa ra một khái niệm được pháp luật
Việt Nam thừa nhận như sau:
“Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi đã trừ đi các
chi phí liên quan đến thu nhập đó”
2 . Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp
- Thuế TNDN là loại thuế trực thu. Tính chất trực thu của loại thuế này được biểu
hiện ở sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh
tế, không có sự chuyển giao gánh nặng về thuế từ người nộp thuế sang người chịu
thuế.

- Về thực chất thuế TNDN đánh vào lợi nhuận của các cơ sở kinh doanh. Bởi vậy,
mức động viên của ngân sách Nhà nước đối với loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào
hiệu quả kinh doanh cũng như quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có
thu nhập chịu thuế cao sẽ phải nộp thuế nhiều. Ngược lại, những doanh nghiệp có thu
nhập thấp, gặp khó khăn sẽ được giảm thuế, thậm chí được miễn thuế.
- Thuế TNDN chỉ đánh vào phần thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi các chi phí liên
quan tạo ra khoản thu nhập đó.
3. Vai trò của thuế TNDN trong nền kinh tế thị trường
- Thuế TNDN là khoản thu quan trọng của ngân sách Nhà nước. Điều này được thể
hiện ở phạm vi áp dụng thuế TNDN rất rộng. Nó khai thác nguồn thu từ các đối tượng
nộp thuế có tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh đem lại thu nhập ở mọi lĩnh
vực, trên mọi địa bàn. Mặt khác, cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế, quy mô của
các hoạt động kinh doanh ngày càng được mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng
cao, tích luỹ từ nội bộ doanh nghiệp ngày càng nhiều sẽ tạo ra nguồn thu về thuế
TNDN ngày càng lớn cho ngân sách Nhà nước .
- Thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết các hoạt động
kinh doanh. Thông qua hệ thống thuế suất ưu đãi, thuế TNDN góp phần định hướng
cho các nhà kinh doanh đầu tư vào những lĩnh vực mà Nhà nước cần khuyến khích
đầu tư nhằm đảm bảo cơ cấu kinh tế hợp lý. Thuế TNDN còn góp phần khuyến khích


thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển thông qua miễn, giảm thuế cho các cơ sở kinh
doanh mới thành lập trong một thời hạn nhất định nhằm giúp doanh nghiệp giảm bớt
những khó khăn ban đầu khi khởi nghiệp. Mặt khác, thông qua hoàn thuế TNDN cho
tái đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, qua việc tính trừ các khoản
chi phí hợp lý, hợp lệ…cũng góp phần khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư theo
chiều rộng và theo chiều sâu, thúc đẩy tăng cường hạch toán kinh tế, tạo điều kiện
nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp.
Thuế TNDN thực sự là công cụ hữu hiệu để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo một
cơ cấu kinh tế hợp lý theo ngành và theo địa bàn.

- Thuế TNDN góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Luật thuế TNDN được áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế, cho mọi
hình thức kinh doanh. Thuế được tính trên số thu nhập còn lại sau khi đã trừ tất cả các
khoản chi phí hợp lý, hợp lệ với thuế suất ổn định cho nên những doanh nghiệp có thu
nhập cao phải nộp thuế nhiều, ngược lại những doanh nghiệp có thu nhập thấp thì nộp
thuế ít, thậm chí doanh nghiệp không phải nộp thuế nếu không có thu nhập đã tạo ra
sự bình đẳng công bằng trong động viên đóng góp cho ngân sách Nhà nước giữa các
cơ sở kinh doanh.
Bởi những vai trò quan trọng không thể thiếu của thuế TNDN do đó nó luôn luôn
là một loại thuế cần thiết đối với mọi quốc gia. Dù cho thực tế hiện nay, các nước
phát triển đang có xu hướng coi trọng thuế gián thu hơn thuế trực thu, nhưng trong
một tương lai gần thuế TNDN vẫn sẽ giữ vai trò quan trọng trong hệ thống thuế quốc
gia, đặc biệt là đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
II . Quản lý thuế TNDN ở Việt Nam
1 . Bối cảnh ra đời của thuế TNDN ở Việt Nam
ở nước ta, trước năm 1990 khu vực kinh tế Nhà nước áp dụng chế độ thu trích nộp
lợi nhuận và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh áp dụng chế độ thuế lợi tức theo biểu
thuế luỹ tiến từng phần. Luật thuế Lợi tức ở nước ta được ban hành vào năm 1990 áp
dụng chung cho các doanh nghiệp cả khu vực kinh tế Nhà nước và ngoài quốc doanh.
Qua 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần bộc lộ nhiều nhược điểm, đặc biệt


trong hoàn cảnh Việt Nam ngày càng có mối quan hệ chặt chẽ hơn nữa với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Cùng với Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế TNDN
được chính thức ban hành vào tháng 5/1997, có hiệu lực thi hành từ 1/1/1999.
* Sự cần thiết phải ban hành Luật thuế TNDN ở Việt Nam
Việc ban hành Luật thuế TNDN thay cho Luật thuế Lợi tức là do những lý do sau
đây:
- Luật thuế TNDN ra đời nhằm khắc phục những nhược điểm của Luật thuế Lợi tức.
Vì Luật thuế Lợi tức có quá nhiều thuế suất: Đối với các doanh nghiệp trong nước

có 3 mức thuế suất, đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 4 mức thuế
suất. Ngoài ra doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn phải nộp thuế lợi nhuận
chuyển ra khỏi Việt Nam .
- Luật thuế TNDN phù hợp với sự phát triển của kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay khoản thu của doanh nghiệp rất đa dạng. Có
nhiều khoản thu nhập mới phát sinh như : lãi do bán cổ phiếu, cổ phần; thu nhập từ
hoạt động cho thuê máy móc, thiết bị mà thuế Lợi tức không bao quát được. Nay
được quy định trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp để quản lý nộp thuế.
Thuế TNDN bao quát và điều tiết được tất cả các khoản thu nhập đã, đang và sẽ
phát sinh của các cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động trong nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN của Việt Nam.
- Thực hiện ưu đãi thống nhất đối với các loại hình doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp
trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Từng bước hoàn chỉnh chính sách thuế cho phù hợp với các nước trong khu vực và
trên thế giới.
2 . Nội dung cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành
2.1 . Đối tượng nộp thuế ( ĐTNT)
* Đối tượng nộp thuế TNDN là tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế.
* Đối tượng không phải nộp thuế TNDN:


Là các hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có thu
nhập từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trừ hộ gia đình và cá
nhân nông dân sản xuất nông nghiệp có giá trị hàng hoá lớn, có thu nhập cao.
2.2 . Căn cứ tính thuế
Thuế TNDN được xác định dựa trên hai căn cứ : thu nhập chịu thuế và thuế suất.
Công thức tính thuế TNDN phải nộp :

Thuế TNDN Thu nhập chịu thuế Thuế suất

phải nộp = trong kỳ *
Thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập chịu thuế của hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, kể cả thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ ở
nước ngoài và thu nhập chịu thuế khác.
Thu nhập chịu thuế để làm căn cứ tính thuế TNDN được xác định theo công thức
sau:

Thu nhập Thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu
chịu thuế = từ hoạt động kinh + thuế khác
trong kỳ doanh trong kỳ trong kỳ


Thu nhập chịu thuế từ hoạt động kinh doanh:

Thu nhập chịu thuế Doanh thu tính thu Chi phí kinh doanh
từ hoạt động kinh = nhập chịu thuế _ hợp lý
doanh trong kỳ trong kỳ trong kỳ

* Doanh thu tính thu nhập chịu thuế :
Doanh thu tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ
bao gồm cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở sản xuất, kinh doanh được hưởng.


Đối với cơ sở nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, doanh thu để tính thu
nhập chịu thuế TNDN không bao gồm thuế GTGT.
Đối với cơ sở nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu để tính
thu nhập chịu thuế TNDN bao gồm cả thuế GTGT.
Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là thời điểm hàng hoá,
dịch vụ đã được tiêu thụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
- Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp hoặc trả chậm( quyền sở hữu hàng

hoá chưa chuyển cho người mua) thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là số tiền
phải thu khi người mua trả tiền theo thời hạn quy định của hợp đồng.Việc xác định
doanh thu, chi phí đối với hàng hoá mua bán trả góp hoặc trả chậm thực hiện theo
nguyên tắc chi phí phải phù hợp với doanh thu.
Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp hoặc trả chậm, nếu bên mua và
bên bán có thoả thuận chuyển quyền sở hữu, thì doanh thu của hàng bán tính theo giá
bán trả một lần kể từ khi giao hàng hoặc khi xuất hoá đơn GTGT hoặc hoá đơn bán
hàng,(không bao gồm lãi trả góp hoặc lãi trả chậm. Trường hợp này, lãi trả góp và lãi
trả chậm hạch toán vào thu nhập hoạt động tài chính).
- Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu, tặng, doanh thu để tính thu nhập
chịu thuế được xác định theo giá bán của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc
tương đương trên thị trường tại thời điểm trao đổi, biếu tặng.
- Đối với sản phẩm tự dùng, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là chi phí để sản
xuất ra sản phẩm đó.
- Đối với gia công hàng hoá doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là tiền thu về gia
công bao gồm cả tiền công, nhiên liệu động lực, vật liệu phụ và chi phí khác phục vụ
cho việc gia công hàng hoá.
- Trường hợp bán hàng qua đại lý, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác
định khi đại lý giao hàng chi người mua hoặc khi :
+ Bên nhận đại lý chuyển quyền sở hữu cho người mua
+ Bên nhận đại lý xuất hoá đơn.


Đồng thời trong trường hợp này phải có hợp đồng đại lý bằng văn bản giữa bên
giao và bên nhận đại lý, nếu không có hợp đồng thì việc giao hàng cho đại lý sẽ coi
như hoạt động bán hàng thông thường.
- Đối với hoạt động cho thuê nhà, thuê tài sản, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế
là số tiền thu từng kỳ theo hợp đồng.Trường hợp bên thuê trả trước chi nhiều năm thì
doanh thu được tính phân bổ tương ứng theo thời gian thuê từng năm trả trước.
- Đối với hoạt động tín dụng, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là tiền lãi cho vay

thực thu được trong kỳ tính thuế.
- Doanh thu vận tải hàng không là toàn bộ số tiền doanh nghiệp vận tải hàng không
được hưởng từ việc vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hoá sau khi đã hoàn thành
quá trình vận chuyển, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Thời
điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là dịch vụ vận chuyển đã hoàn
thành.
- Doanh thu bán điện là số tiền ghi trên hoá đơn GTGT. Thời điểm xác định doanh
thu để tính thu nhập chịu thuế căn cứ vào ngày cuối cùng ghi chỉ số công tơ trên hoá
đơn tính tiền điện không phân biệt đầu tháng hay cuối tháng. Ngày cuối cùng ghi chỉ
số công tơ thuộc tháng nào thì tính vào doanh thu của tháng đó.
Đối với các dịch vụ có hoạt động xuất hoá đơn, thu tiền tương tự như: nước, bưu
điện…thì cũng xác định như trên.
- Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm, doanh thu để tính thu nhập
chịu thuế là số tiền phải thu về phí bảo hiểm gốc, phí đại lý giám định, phí nhận tái
bảo hiểm, thu hoa hồng tái bảo hiểm và các khoản thu khác.
- Trong trường hợp cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có doanh thu bằng ngoại tệ
thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị
trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời
điểm phát sinh doanh thu ngoại tệ.
* Các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ được trừ để tính thu nhập chịu thuế từ hoạt động
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ bao gồm :


- Khấu hao tài sản cố định(TSCĐ) dùng cho sản xuất, kinh doanh. Mức trích khấu
hao TSCĐ do Bộ tài chính quy định.
- Chi phí nguyên liệu,vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hoá thực tế sử dụng vào
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ liên quan đến doanh thu và thu nhập chịu thuế trong kỳ,
được tính theo mức tiêu hao hợp lý và giá thực tế xuất kho.
- Chi phí tiền lương, tiền công và các khoản mang tính chất tiền lương, tiền công phải
trả cho người lao động, tiền ăn giữa ca :

+ Tiền lương, tiền công và các khoản mang tính chất tiền lương, tiền công phải
trả cho người lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước theo chế độ hiện hành.
+ Tiền lương, tiền công và các khoản mang tính chất tiền lương, tiền công phải
trả cho người lao động trong các cơ sở kinh doanh khác theo hợp đồng lao động.
Nếu chưa thực hiện chế độ hợp đồng lao động thì tiền lương, tiền công và các
khoản mang tính chất tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động được
tính vào chi phí để tính thu nhập chịu thuế căn cứ vào mức tiền lương, tiền công
bình quân của ngành nghề tại địa phương.
Không được tính vào chi phí tiền lương, tiền công các khoản chi phí sau :
 Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ hộ cá thể sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ.
 Tiền lương, tiền công của sáng lập viên doanh nghiệp mà họ không trực
tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Đối với các sáng lập viên trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ thì được hạch toán tiền lương vào chi phí.
+ Chi phí tiền ăn giữa ca cho người lao động
- Chi phí nghiên cứu khoa học, công nghệ; sáng kiến, cải tiến, tài trợ cho giáo dục; y
tế; đào tạo lao động theo chế độ quy định.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Điện, nước, điện thoại, sửa chữa tài sản cố định, kiểm
toán, bảo hiểm tài sản, chi trả tiền sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy
phép công nghệ không thuộc tài sản cố định, các dịch vụ kỹ thuật.


- Các khoản chi cho lao động nữ theo quy định của pháp luật ; chi bảo hộ lao động ;
chi bảo vệ cơ sở kinh doanh ; trích nộp quỹ bảo hiểm xã hội ; bảo hiểm y tế , kinh phí
công đoàn theo chế độ quy định.
Mức trích nộp hình thành quỹ quản lý của Tổng công ty do Hội đồng quản trị Tổng
công ty phê duyệt, thông báo, sau khi có ý kiến bằng văn bản của cơ quan tài chính có
thẩm quyền.
Chi trang phục cho cán bộ công viên của các cơ sở dùng trang phục thống nhất,

nhưng mức chi tối đa cho một người không quá 500.000 đồng/1năm. Phần chi trang
phục thực tế vượt mức khống chế phải sử dụng nguồn thu nhập sau thuế để bù đắp.
- Chi trả lãi tiền vay vốn của các tổ chức tín dụng và các đối tượng khác theo lãi suất
thực tế khi ký hợp đồng vay nhưng tối đa không quá lãi suất cho vay cao nhất của các
ngân hàng thương mại trên địa bàn taị thời điểm sử dụng tiền vay( nhận tiền vay) theo
hợp đồng vay.
Các khoản chi phí trả lãi tiền vay để góp vốn pháp định, vốn điều lệ của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều không được tính vào chi phí hợp lý, để xác định
thu nhập chịu thuế .
- Trích các khoản dự phòng : giảm giá hàng tồn kho, giảm giá các loại chứng khoán
trong hoạt động tài chính và dự phòng các khoản thu khó đòi.
- Trợ cấp thôi việc cho người lao động theo chế độ hiện hành.
- Chi về tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ bao gồm : chi phí bảo quản, chi bao gói, vận
chuyển, bốc vác, thuê kho, bãi, bảo hành sản phẩm, hàng hoá.
- Chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ và các khoản chi phí khác được khống chế tối đa không quá 7%
tổng số chi phí. Đối với hoạt động thương nghiệp tổng chi phí để xác định mức khống
chế không bao gồm giá mua vào của hàng hoá bán ra.
- Các khoản thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất phải nộp có liên quan đến hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ ( trừ thuế thu nhập doanh nghiệp ) bao gồm:
+ Thuế xuất khẩu
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt


+ Thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ bán ra (đối với cơ sở kinh doanh nộp
thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng )
+ Thuế môn bài
+ Thuế tài nguyên
+ Thuế sử dụng đất nông nghiệp
+ Thuế nhà đất

+ Lệ phí đường, phí qua cầu, qua phà, lệ phí sân bay, lệ phí chứng thư….
+ Tiền thuê đất
- Chi phí quản lý kinh doanh do công ty nước ngoài phân bổ cho cơ sở thường trú ở
Việt Nam theo tỷ lệ doanh thu của cơ sở thường trú so với tổng doanh thu công ty ở
nước ngoài.
Các khoản chi phí không dược coi là chi phí hợp lý và không được tính trừ khi xác
định thu nhập chịu thuế bao gồm:
- Các khoản trích trước vào chi phí mà thực tế không chi hoặc không chi hết như :
trích trước về sửa chữa lớn, phí bảo hành sản phẩm hàng hoá, công trình xây dựng và
các khoản tích trước khác.
- Các khoản chi không có chứng từ hoặc chứng từ không hợp pháp
- Các khoản tiền phạt như phạt vi phạm giao thông, phạt vi phạm chế độ đăng ký
kinh doanh, phạt vi phạm chế độ kế toán, thống kê, phạt vi phạm hành chính về thuế
và các khoản phạt khác.
- Các khoản chi không liên quan đến doanh thu và thu nhập chịu thuế như chi về đầu
tư xây dựng cơ bản; chi ủng hộ các địa phương, đoàn thể, tổ chức xã hội; chi từ thiện
và các khoản chi khác không liên quan đến doanh thu và thu nhập chịu thuế
- Các khoản chi do các nguồn kinh phí khác đài thọ như chi phí sự nghiệp; chi trợ
cấp khó khăn thường xuyên, khó khăn đột xuất…
- Chi phí không hợp lý khác.

Thu nhập chịu thuế khác: Bao gồm các khoản thu nhập sau:
- Chênh lệch về mua, bán chứng khoán
- Thu nhập về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản


- Lãi từ chuyển nhựơng, thanh lý tài sản
- Lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, lãi bán hàng trả chậm
- Chênh lệch do bán ngoại tệ
- Kết dư cuối năm các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá

chứng khoán, dự phòng bù đắp các khoản phải thu khó đòi
- Thu các khoản thu khó đòi đã xoá sổ kế toán nay đòi được
- Thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ nợ
- Các khoản thu nhập từ hoạt động sản xuất,kinh doanh của những năm trước bị bỏ
sót mới phát hiện ra
- Thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài.
Trường hợp nhận được khoản thu nhập đã nộp thuế thu nhập ở nước ngoài thì cơ sở
kinh doanh phải xác định số thu nhập trước khi nộp thuế thu nhập ở nước ngoài để
tính thuế TNDN. Khi xác định số thuế thu nhập cả năm sẽ được trừ số thuế thu nhập
đã nộp ở nước ngoài nhưng số thuế được trừ không vượt quá số thuế thu nhập tính
theo Luật thuế TNDN cho khoản thu nhập nhận được đó.
- Các khoản thu nhập liên quan đến viẹc tiêu thụ hàng hoá, cung cấp dịch vụ không
tính trong doanh thu, sau khi đã trừ các khoản chi phí theo quy định của Bộ Tài chính
để tạo ra khoản thu nhập đó.
- Các khoản thu nhập khác.
Thuế suất thuế TNDN:
- Thuế suất thuế TNDN áp dụng đối với cơ sở kinh doanh trong nước và tổ chức, cá
nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam là 32%.
- Thuế suất 25% áp dụng đối với các cơ sở kinh doanh dưới đây trong thời hạn 3
năm kể từ khi Luật thuế TNDN có hiệu lực thi hành :
+ Khai thác mỏ, khoáng sản, lâm sản và thuỷ sản
+ Luyện kim, sản xuất sản phẩm cơ khí
+ Sản xuất hoá chất cơ bản, phân bón, thuốc trừ sâu
+ Sản xuất vật liệu xây dựng (trừ sản xuất xi măng)


+ Xây dựng ( trừ khảo sát, thiết kế, tư vấn, giám sát)
+ Vận tải ( trừ vận tải hàng không, vận tải taxi)
- Các cơ sở kinh doanh có thu nhập cao do địa điểm kinh doanh thuận lợi, ngành

nghề kinh doanh ít bị cạnh tranh mang lại thu nhập cao, sau khi nộp thuế thu nhập
theo thuế suất 32% mà phần thu nhập còn lại cao hơn 20% vốn chủ sở hữu hiện có thì
số vượt trên 20% phải chịu thuế TNDN bổ sung với thuế suất 25%. Thu nhập chịu
thuế TNDN bổ sung được xác định bằng cách lấy thu nnhập còn lại( sau khi nộp thuế
TNDN theo thuế suất 32%) trừ đi 20% vốn chủ sở hữu hiện có.
Tạm thời chưa thu thuế TNDN bổ sung đối với các cơ sở kinh doanh sau :
+ Các cơ sở sản xuất, kinh doanh được áp dụng thuế suất TNDN 25% trong thời
hạn 3 năm, kể từ ngày 1/1/1999.
+ Các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn khuyến khích đầu tư
được hưởng mức thuế suất thuế TNDN ưu đãi.
+ Các cơ sở sản xuất nếu xuất khẩu trên 50% sản phẩm sản xuất ra hoặc có
doanh thu xuất khẩu chiếm 50% tổng doanh thu.
+ Các hộ kinh doanh.
+ Các đơn vị sự nghiệp hưởng kinh phí ngân sách cấp, không được cấp vốn kinh
doanh thì không phải nộp thuế TNDN bổ sung. Trường hợp hoạt động có thu đã
thực hiện chế độ kế toán theo pháp lệnh kế toán thống kê hiện hành, xác định
được vốn chủ sở hữu thì phải nộp thuế TNDN bổ sung( nếu có ).
- Đối với các dự án đầu tư mới thuộc các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi đầu tư
được áp dụng thuế suất thuế TNDN như :
+ Nếu thuộc các lĩnh vực, ngành nghề được ưu đãi đầu tư theo quy định của
Chính phủ được hưởng mức thuế suất ưu đãi là 25%.
+ Nếu dự án đầu tư thuộc lĩnh vực, ngành nghề ưu đãi đầu tư, đồng thời đầu tư
vào huyện thuộc vùng dân tộc thiểu số miền núi và hải đảo, vùng có khó khăn
khác theo quy định của Chính phủ được hưởng mức thuế suất 20%.


+ Nếu dự án thuộc lĩnh vực, ngành nghề ưu đãi đầu tư, đồng thời đầu tư vào
huyện thuộc vùng dân tộc thiểu số ở miền núi cao theo quy định của Chính phủ
được hưởng mức thuế suất 15%.
- Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo luật đầu tư

nước ngoài tại Việt Nam, áp dụng thuế suất chung là 25%.
3. Quy trình quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp
3.1. Các bộ phận chính trong quy trình :
Căn cứ vào các quy định về tổ chức bộ máy ngành thuế, các phòng, tổ, đội và đối
tượng nộp thuế. Cục thuế liên quan trực tiếp đến quy trình quản lý thu thuế là :
- Lãnh đạo Cục thuế
- Phòng hành chính
- Phòng Kế hoạch Kế toán Thống kê (KH-KT-TK)
- Phòng máy tính
- Các phòng Quản lý thu các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp nhà
nước,doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.
- Phòng Thanh tra và xử lý tố tụng (TT-XL-TT)
- Phòng nghiệp vụ
- Phòng quản lý ấn chỉ
Trong đó, các bộ phận chính trực tiếp thực hiện hành thu là các phòng quản lý
thu, phòng KH-KT-TK, phòng máy tính, phòng TT-XL-TT.
3.2. Quy trình quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp :
* Quy trình đăng ký thuế và cấp mã số thuế:
- Doanh nghiệp lập đăng ký thuế: Doanh nghiệp mới ra kinh doanh phải liên hệ với
Cục thuế( bộ phận ấn chỉ) để nhận và kê khai tờ khai đăng ký thuế theo mẫu quy định.
Sau khi kê khai đầy đủ các chỉ tiêu trên tờ khai, doanh nghiệp gửi tờ khai đăng ký
thuế tới cơ quan thuế để được cấp mã số thuế. Các Chi cục thuế tập hợp các đăng ký
thuế tại chi cục theo từng đội thuế, kèm theo bản kê danh sách ĐTNT để gửi về cục
thuế đề nghị cấp mã số thuế.


- Tiếp nhận đăng ký thuế: Phòng hành chính nhận tờ khai đăng ký thuế của các
doanh nghiệp và nhận các tệp tờ đăng ký thuế từ các Chi cục gửi lên Cục, ghi sổ nhận
đăng ký thuế theo mẫu. Phân loại tờ đăng ký thuế của các doanh nghiệp theo từng
phòng quản lý thu để chuyển cho phòng quản lý thu và chuyển các tệp đăng ký thuế

của các Chi cục cho phòng KH-KT-TK.
- Kiểm tra tờ khai đăng ký: Phòng quản lý thu kiểm tra các chỉ tiêu kê khai trên tờ
đăng ký thuế của các doanh nghiệp, phát hiện nếu có sai sót thì liên hệ với doanh
nghiệp để chỉnh sửa. Sau đó, chuyển tờ khai đăng ký thuế đã kiểm tra cho phòng KH-
KT-TK.
- Nhập đăng ký thuế và cấp mã số thuế: Phòng KH-KT-TK nhận các tệp tờ khai
đăng ký thuế của các chi cục từ phòng hành chính và các tờ khai đăng ký thuế của các
doanh nghiệp từ phòng quản lý thu, thực hiện nhập các thông tin trên tờ khai đăng ký
thuế vào máy tính. Máy tính sẽ gán mã số thuế cho ĐTNT. Cán bộ nhập đăng ký thuế
sẽ ghi lại mã số của ĐTNT vào tờ khai đăng ký.
- Chuyển dữ liệu đăng ký thuế về Tổng cục: Phòng KH-KT-TK Cục thuế truyền dữ
liệu đăng ký thuế về Tổng cục thuế để kiểm tra sự trùng lắp mã số thuế trên phạm vi
toàn quốc.
- Kiểm tra tại Tổng cục: Tổng cục kiểm tra dữ liệu đăng ký thuế các cục thuế trên
phạm vi toàn quốc để tránh việc đăng ký trùng lắp, đồng thời kiểm tra quan hệ doanh
nghiệp chủ quản với đơn vị trực thuộc thông qua mã số thuế. Gửi trả kết quả kiểm tra
cho cục thuế .
- In giấy chứng nhận cấp mã số thuế: Phòng KH-KT-TK nhận kết quả kiểm tra từ
Tổng cục. Đối với các trường hợp được chấp thuận thì tiến hành in Giấy chứng nhận
đăng ký thuế và bảng kê danh sách mã số ĐTNT chuyển cho các phòng quản lý thu
và các Chi cục thuế để gửi tới ĐTNT. Các trường hợp không được chấp thuận, phòng
KH-KT-TK thực hiện in thông báo mã số thuế tạm để cấp cho ĐTNT, nhưng đồng
thời yêu cầu các phòng quản lý thu và các Chi cục thuế liên hệ với các ĐTNT hoàn
chỉnh tờ khai để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký thuế chính thức.
* Quy trình xử lý tờ khai, chứng từ nộp thuế


- Hướng dẫn ĐTNT lập tờ khai thuế: Phòng quản lý thu hướng dẫn và nhắc nhở các
doanh nghiệp lập tờ khai thuế TNDN theo mẫu và gửi cơ quan thuế chậm nhất ngày
25 tháng 1 hàng năm.

- Tiếp nhận tờ khai : Phòng hành chính nhận tờ khai thuế, ghi sổ theo dõi việc nhận
tờ khai theo mẫu sổ số 01/QTR, đóng dấu vào ngày nhận tờ khai và chuyển tờ khai
cho các phòng quản lý thu. Cán bộ phòng quản lý thu khi nhận tờ khai phải ký sổ
nhận tờ khai.
- Kiểm tra tờ khai ban đầu:
Phòng quản lý thu nhận tờ khai và tiến hành kiểm tra phát hiện lỗi. Tờ khai được
coi là có lỗi nếu:
 Ghi sai tên ĐTNT
 Không ghi hoặc ghi sai mã số thuế
 Khai thiếu chỉ tiêu hoặc sai mẫu tờ khai
 áp dụng thuế suất sai, tính toán sai
 Các chỉ tiêu trên tờ khai bằng ngoại tệ chưa quy đổi ra tiền Việt Nam.
Phòng quản lý có trách nhiệm liên hệ với ĐTNT để sửa lỗi tờ khai( lỗi nhẹ có thể
liên hệ qua điện thoại để sử, lỗi nặng có thể gửi trả hoặc yêu cầu ĐTNT tới cục thuế
để khai lại).
Sau khi kiểm tra tờ khai thuế, phòng quản lý thu phân loại và đóng tệp tờ khai theo
ngày kiểm tra. Đầu mỗi tệp có một tờ tổng hợp tệp tờ khai ghi rõ tệp tờ khai số, ngày,
số lượng tờ khai, phòng quản lý để gửi tờ khai cho phòng KH-KT-TK ngay trong
ngày.
- Nhập tờ khai: Phòng KH-KT-TK tiến hành nhập tờ khai vào máy tính ngay sau khi
nhận được từ phòng quản lý thu. Máy tính hỗ trợ phát hiện thêm các trường hợp lỗi:
 Tính toán số học trên tờ khai
 Số thuế còn nợ, còn được khấu trừ kỳ trước chuyển sang tháng này trên tờ
khai không khớp với số theo dõi của ngành thuế.


Phòng KH-KT-TK in danh sách ĐTNT kê khai sai mà máy tính đã sửa theo máy,
lý do sai và thông báo cho phòng quản lý thu biết để báo cáo cho ĐTNT về các sai sót
trên tờ khai và các nội dung cơ quan thuế đã sửa.
- Sửa lỗi kê khai: ĐTNT liên hệ qua điện thoại hoặc trực tiếp đến cơ quan thuế để

sửa lỗi kê khai. Việc sữa lỗi kê khai thuế TNDN phải diễn ra trước ngày 28/2 của
năm. Nếu quá thời hạn này, doanh nghiệp chưa sửa xong tờ khai thì phòng quản lý
thu tiến hành ấn định thuế theo Luật định.
- ấn định thuế: Phòng quản lý thu theo dõi ĐTNT không nộp tờ khai và các ĐTNT
quá hạn sửa lỗi tờ khai để thực hiện việc ấn định thuế cho các đối tượng này. Phòng
quản lý thu lập danh sách ấn định thuế cho kỳ thuế theo mẫu và gửi phòng KH-KT-
TK để tính thuế. Đối với thuế TNDN, sau 6 tháng đầu năm, nếu ĐTNT có sự thay đổi
lớn về thu nhập chịu thuế và có đầy đủ thủ tục đề nghị thay đổi, phòng quản lý thu
kiểm tra tờ khai điều chỉnh về các chỉ tiêu kê khai và xác định có đúng đối tượng điều
chỉnh không. Sau đó, làm thủ tục chuyển tờ khai điều chỉnh đã kiểm tra cho phòng
KH-KT-TK để tính lại số thuế phải nộp của 2 quý cuối năm.
- In thông báo thuế :
+ Thông báo thuế lần một: Phòng KH-KT-TK tính nợ kỳ trước chuyển sang, tính
thuế phải nộp kỳ này dựa vào tờ khai và danh sách ấn định thuế và in thông báo thuế .
Khi nộp thuế TNDN kê khai nộp cả năm, máy tính sẽ tự động tính thuế TNDN quý 1
bằng 1/4 số thuế kê khai nộp cả năm. Số thuế TNDN các quý sau, nếu phòng quản lý
thu thấy cần điều chỉnh thì lập danh sách và số thuế phải nộp.
+ Thông báo thuế lần hai: Qua theo dõi thu nộp của ĐTNT, phòng quản lý thu lựa
chọn đề xuất danh sách ĐTNT quá hạn nộp thuế ghi trên thông báo thuế mà vẫn chưa
nộp thuế để gửi phòng KH-KT-TK phát hành thông báo thuế lần 2. Số tiền trong
thông báo thuế lần 2 gồm số tiền chưa nộp và số tiền nộp chậm.
+ Ký và gửi thông báo thuế : Thông báo thuế in xong được chuyển cho lãnh đạo cục
thuế ký. Sau đó chuyển cho phòng hành chính sao thành 2 bản, đóng dấu và gửi cho
ĐTNT 1 bản, 1 bản cho phòng quản lý thu lưu vào sổ hồ sơ của doanh nghiệp.
- Xử lý phạt :


+ Tính phạt nộp chậm: Phòng KH-KT-TK tính phạt 0,1%/ngày trên số tiền thuế nộp
chậm đối với các ĐTNT tiền thuế .Việc tính phạt nộp nộp chậm căn cứ vào số ngày
và số thuế chậm nộp. Phòng KH-KT-TK lập danh sách phạt nộp chậm theo mẫu để

trình lãnh đạo duyệt. Kết quả duyệt được đưa vào số thuế ĐTNT phải nộp cho kỳ thuế
hiện tại.
+ Phạt hành chính: Phòng quản lý thu hoặc phòng TT-XL-TT xem xét, lựa chọn
ĐTNT cần phạt hành chính trong lĩnh vực thuế, dự thảo quyết định phạt hành chính
để trình lãnh đạo cục duyệt.
Phòng KH-KT-TK nhập số tiền phạt hành chính của các ĐTNT từ phòng quản lý
thu chuyển sang để theo dõi việc nộp phạt. Số tiền phạt hành chính không đưa vào số
thuế phải nộp ghi trong thông báo thuế của kỳ thuế đó mà gửi quyết định phạt hành
chính coi như thông báo số tiền phạt ĐTNT phải nộp. Sang kỳ thuế sau, nếu ĐTNT
chưa nộp phạt thì số tiền phạt còn nợ kỳ trước sẽ được đưa vào số nợ đầu kỳ trong
thông báo thuế kỳ này.
- Lập lệnh thu: Phòng quản lý thu theo dõi tình hình nợ đọng thuế, lựa chọn và lập
danh sách các ĐTNT nợ thuế lớn, kéo dài nhiều tháng để đề xuất lập lệnh thu. Phòng
quản lý thu phối hợp với phòng KH-KT-TK để xác định số thuế nợ đọng sẽ ghi vào
lệnh thu, dự thảo lệnh thu và tờ trình lãnh đạo duyệt.
- Nộp thuế : ĐTNT căn cứ vào tờ khai tính thuế của mình để tự viết giấy nộp tiền và
nộp thuế vào kho bạc. Khi nhận được thông báo thuế, nếu chưa nộp đủ số tiền thuế
theo thông báo thì viết giấy nộp tiền nộp tiếp số tiền thuế còn thiếu vào kho bạc.
- Thu thuế tại kho bạc: Kho bạc( hoặc ngân hàng) thu tiền thuế hoặc trích chuyển tài
khoản ghi ngày nộp tiền, số tiền nộp theo đúng chương, loại, khoản, mục và xác nhận
vào giấy nộp tiền, chuyển 1 liên cho cơ quan thuế.
- Nhận giấy nộp tiền: Phòng KH-KT-TK hàng ngày ( hoặc 3-5 ngày) nhận giấy nộp
tiền từ kho bạc hoặc từ các chi cục chuyển lên đối với các doanh nghiệp nộp thuế tại
chi nhánh kho bạc huyện xã và nhập số liệu trên giấy nộp tiền vào máy tính để theo
dõi tình hình nộp thuế của ĐTNT. Cuối ngày lập nhật ký thu cung cấp cho các phòng
quản lý thu để thực hiện nhiệm vụ nhắc nhở các ĐTNT chưa nộp tiền hoặc nộp thiếu


tiền thuế bằng việc thông báo nhắc nhở, thông báo nộp thuế lần 2 hoặc trực tiếp gọi
điện thoại. Phòng KH-KT-TK và các phòng quản lý thu khai thác danh sách ĐTNT

có nghi vấn về kê khai thuế trên máy tính.
- Xử lý danh sách ĐTNT có nghi vấn: Phòng TT-XL-TT và các phòng quản lý thu
khai thác và phân tích thông tin về ĐTNT có nghi vấn về tờ khai, phân tích các thông
tin có nghi vấn.
- Kiểm tra trực tiếp ĐTNT: Phòng TT-XL-TT phối hợp với phòng quản lý thu thực
hiện kiểm tra trực tiếp tại cơ sở theo các quy trình kiểm tra quy định của ngành. Kết
quả kiểm tra được các phòng này lập danh sách theo mẫu gửi về phòng KH-KT-TK
để điều chỉnh số thuế phải nộp.
- Nhập kết quả sau kiểm tra: Phòng KH-KT-TK nhận và nhập danh sách kết quả
kiểm tra, điều chỉnh số thuế phải nộp kỳ hiện tại.
- Lập sổ thuế, báo cáo kế toán, thống kê thuế: Phòng KH-KT-TK lập sổ thuế, báo
cáo kế toán, thống kê thuế theo chế độ quy định. Thực hiện đối chiếu số thu với kho
bạc, theo dõi tiến độ thực hiện ké hoạch của các đơn vị trong ngành báo cáo lãnh đạo
cục thuế và Tổng cục thuế để phục vụ công tác chỉ đạo thu.
* Quy trình xử lý hoàn thuế :
- ĐTNT lập và gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế
- Tiếp nhận hồ sơ: Phòng hành chính nhận hồ sơ hoàn thuế và ghi vào sổ nhận hồ sơ
theo mẫu, sau đó đóng dấu ngày nhận vào đơn đề nghị xét hoàn thuế và chuyển các
phòng quản lý thu.
- Kiểm tra hồ sơ, xác định số thuế được hoàn: Phòng quản lý thu tiến hành kiểm tra
các thủ tục hồ sơ đề nghị hoàn thuế của ĐTNT. Sau khi kiểm tra hồ sơ đề nghị hoàn
thuế, nếu phát hiện hồ sơ lập không đầy đủ thì cán bộ phòng quản lý thu thông báo lại
cho ĐTNT biết để bổ sung, chỉnh sửa kịp thời.
- Lãnh đạo duyệt: Lãnh đạo xem xét, duyệt các trường hợp được hoàn thuế và ký
quyết định hoàn thuế. Quyết định hoàn thuế được chuyển tới phòng hành chính.
- Gửi và lưu các quyết định hoàn thuế : Phòng hành chính sao quyết định hoàn thuế
thành 3 bản, đóng dấu, lấy số công văn và gửi 1 bản cho ĐTNT; 1 bản cho kho bạc


tỉnh, thành phố để làm thủ tục hoàn thuế ; 1 bản gửi phòng quản lý thu để theo dõi

việc thực hiện hoàn thuế, sau đó lưu vào hồ sơ của ĐT NT.
Lập danh sách ĐTNT được hoàn thuế . Phòng quản lý thu căn cứ vào quyết định
hoàn thuế để lập danh sách kết quả hoàn thuế theo mẫu, lãnh đạo phòng quản lý thu
ký xác nhận danh sách. Trong thời gian phòng KH-KT-TK tính thuế, in thông báo
thuế, hàng ngày, phòng quản lý thu phải chuyển danh sách kết quả hoàn thuế cho
phòng KH-KT-TK để điều chỉnh số thuế phải nộp trong kỳ của các đối tượng được
hoàn thuế. Sau thời điểm kết thúc in thông báo thuế, phòng quản lý thu sẽ tập hợp các
trường hợp được quyết định hoàn thuế phát sinh trong thời gian này vào một bản
danh sách, đến đầu kỳ phát hành thông báo thuế tiếp theo sẽ chuyển cho phòng KH-
KT-TK dể điều chỉnh thuế cho kỳ tới.
- Kho bạc hoàn thuế : Trong thời hạn 5 ngày, kể từ khi nhận được quyết định hoàn
thuế của cơ quan thuế, kho bạc thực hiện thủ tục hoàn thuế .
- Nhập chứng từ hoàn thuế : Phòng KH-KT-TK nhập số thuế được hoàn từ danh
sách kết quả hoàn thuế, điều chỉnh số thuế phải nộp của kỳ hiện tại.
* Quy trình xử lý miễn thuế, giảm thuế, tạm giảm thuế :
- Lập, gửi hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm, tạm giảm thuế: ĐTNT thuộc diện được
miễn, giảm, tạm giảm thuế theo luật thuế phải lập hồ sơ đề nghị miễn, giảm, tạm giảm
thuế theo đúng quy định để gửi cơ quan thuế.
- Tiếp nhận hồ sơ: Phòng hành chính nhận hồ sơ đề nghi miễn thuế, giảm, tạm giảm
thuế và ghi vào sổ nhận hồ sơ theo mẫu, đóng dấu ngày nhận vào đơn đề nghi xét
miễn, giảm, tạm giảm thuế và chuyển cho các phòng quản lý thu.
- Kiểm tra, xác định số thuế được miễn, giảm, tạm giảm: Sau khi tập hợp đủ hồ sơ
theo đúng quy định, phòng quản lý thu xác định số thuế miễn, giảm hoặc tạm giảm.
- Duyệt hồ sơ, ký quyết định miễn, giảm hoặc tạm giảm thuế: Lãnh đạo duyệt, ký
quyết định miễn thuế, tạm giảm thuế hoặc giảm thuế theo thẩm quyền, sau đó gửi
phòng hành chính.
- Gửi quyết định miễn, giảm hoặc tạm giảm thuế: Phòng hành chính sao quyết định
thành 3 bản, đóng dấu, lấy số cơ quan thuế và gửi 1 bản cho ĐTNT; 1 bản cho phòng



quản lý thu để theo dõi việc thực hiện. Sau đó lưu vào hồ sơ của ĐTNT; 1 bản lưu tại
phòng hành chính.
- Lập danh sách miễn, giảm, tạm giảm thuế : Phòng quản lý thu căn cứ vào quyết
định miễn, giảm, tạm giảm thuế để lập danh sách kết quả miễn, giảm, tạm giảm thuế
theo mẫu, lãnh đạo phòng quản lý thu ký xác nhận danh sách.
- Điều chỉnh số thuế phải nộp: Phòng KH-KT-TK nhận danh sách kết quả quyết định
miễn, giảm, tạm giảm thuế, nhập số thuế được miễn, tạm giảm hoặc giảm để điều
chỉnh số thuế phải nộp từng kỳ của ĐTNT.
- Lưu hồ sơ: Phòng quản lý thu tổ chức lưu hồ sơ, quyết định, các biên bản kiểm tra
và quyết định xử lý về giảm, tạm giảm thuế vào hồ sơ của từng doanh nghiệp.
* Quy trình xử lý quyết toán thuế :
- ĐTNT lập và gửi quyết toán thuế: ĐTNT trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày kết
thúc năm dương lịch, phải lập và gửi quyết toán thuế cho cơ quan thuế.
Đối với ĐTNT chia, tách, sát nhập, giải thể…phải lập và nộp quyết toán thuế cho
cơ quan thuế thời hạn 45 ngày kể từ khai có quyết định sát nhập, chia, tách, giải thể…
Phòng quản lý thu giải đáp vướng mắc về thủ tục lập quyết toán thuế cho các
ĐTNT theo đúng quy định.
- Nhận quyết toán thuế: Phòng hành chính nhận quyết toán thuế và ghi vào sổ nhận
quyết toán thuế theo mẫu, sau đó đóng dấu ngày nhận vào quyết toán thuế và chuyển
các phòng quản lý thu.
- Kiểm tra số liệu quyết toán thuế:
+ Kiểm tra ban đầu: Phòng quản lý thu nhận quyết toán thuế, kiểm tra phát hiện
các chỉ tiêu kê khai sai trong quyết toán thuế như : Ghi sai tên ĐTNT, không ghi hoặc
ghi sai mã số thuế, khai thiếu chỉ tiêu trong quyết toán hoặc sai mẫu, các chỉ tiêu về
tiền kê khai bằng ngoại tệ. Đối với các lỗi này, cán bộ phòng quản lý thu liên hệ với
ĐTNT để chỉnh sửa và các thông tin chỉnh sửa phải được ghi lại bằng phiếu điều
chỉnh theo mẫu.
+ Kiểm tra xác minh số liệu quyết toán thuế: Đối với các bản quyết toán thuế kê
khai không rõ ràng, đầy đủ chứng từ chứng minh số liệu, phòng quản lý thu kiểm tra



tính chính xác của các số liệu kê khai trên quyết toán; kiểm tra đối chiếu số liệu trên
bản quyết toán với các bản phụ lục chi tiết kèm theo; đối chiếu với số theo dõi thu
nộp của cơ quan thuế và số liệu liên quan trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Phòng quản lý thu phối hợp với phòng TT-XL-TT lập kế hoạch kiểm tra các đối
tượng này tại cơ sở để trình lãnh đạo duyệt.
- Xác định kết quả quyết toán thuế: Phòng quản lý thu xác định số thuế còn thừa
hoặc thiếu sau quyết toán thuế của từng ĐTNT. Đói với trường hợp ĐTNT nộp thừa
tiền thuế, phòng quản lý thu phải xác định hình thức xử lý là trừ số thuế thừa này vào
số thuế phải nộp của kỳ thuế tới hay yêu cầu ĐTNT lập thủ tục đề nghị hoàn thuế
theo mẫu, lãnh đạo phòng quản lý thu ký xác nhận và gửi phòng KH-KT-TK để điều
chỉnh số thuế phải nộp của ĐTNT. Phòng quản lý thuế lập danh sách ĐTNT nộp
chậm hoặc không nộp quyết toán, trình lãnh đạo quyết định phạt hành chính. Chuyển
danh sách ghi số tiền phạt hành chính cho phòng KH-KT-TK để theo dõi thu nộp.
- Điều chỉnh số thuế phải nộp : Phòng KH-KT-TK nhận và nhập danh sách kết quả
quyết toán thuế từ phòng quản lý thu chuyển sang, điều chỉnh số thuế phải nộp vào
tháng hoặc quý hiện tại.
- Lưu hồ sơ quyết toán
* Quản lý hồ sơ doanh nghiệp
- Phòng quản lý thu có nhiệm vụ tạo lập và quản lý hộ sơ các doanh nghiệp.
- Phòng KH-KT-TK có nhiệm vụ tổ chức lưu giữ các tờ khai, bảng kê, chứng từ nộp
thuế của ĐTNT theo từng sắc thuế, kỳ thuế và theo phòng quản lý thu.
- Chế độ thông tin, báo cáo : các bộ phận theo phần công việc của mình, định kỳ
tháng, quý lập một số báo cáo lãnh đạo Cục và sao gửi các phòng liên quan tới công
tác quản lý thu thuế thuộc Cục.
III. Kinh nghiệm quản lý thu thuế TNDN ( Thuế thu nhập công ty) của một số
nước trên thế giới
Để đảm bảo quản lý tốt thuế thu nhập Công ty, ở tất cả các quốc gia đều muốn xây
dựng một chính sách thuế thu nhập Công ty hoàn chỉnh, tốt nhất. Nhưng thuế thu
nhập Công ty thực chất là đánh vào lợi nhuận của công ty mà phần lợi nhuận đó chủ



yếu chịu sự ảnh hưởng rất lớn của các khoản chi phí. Do đó, cần phải xác định chính
xác các khoản chi phí được khấu trừ, đó là:
- Các khoản chi phí được khấu trừ phải là các khoản chi phí có liên quan tới việc tạo
ra thu nhập của công ty.
- Các khoản chi phí được khấu trừ phải là các khoản chi phí thực sự có chi ra.
- Các khoản chi phí được khấu trừ phải là các khoản chi phí có mức trả hợp lý.
- Các khoản chi phí được khấu trừ phải là các khoản chi phí có tính thu nhập hơn tính
vốn. Những khoản chi phí có tính vốn được hiểu là những khoản chi phí có liên quan
đến cơ cấu vốn.
Tuy nhiên có những nguyên tắc chung để xác định các khoản chi phí được khấu
trừ, song trên thực tế nhiều khoản chi phí không nằm trong phạm vi các nguyên tắc
trên , nhưng với xu hướng phát triển cần phải xem xét khi đánh thuế thu nhập Công
ty. Đó là các khoản chi phí sau :
- Các khoản lợi tức cổ phần phải trả. Cổ tức tượng trưng cho phần được chia từ lợi
nhuận của công ty sau khi đã chịu thuế. Do đó, cổ tức mà cổ đông nhận được tiêu
biểu cho thu nhập đã bị đánh thuế rồi. Nếu cổ đông bị đánh thuế trên lợi tức cổ phần
thì họ đã phải chịu thuế hai lần cho cùng một thu nhập của họ. Đã có nhiều nước áp
dụng chính sách cho phép lợi tức cổ phần được hưởng mức thuế đặc biệt để loại bỏ
hay giảm đi yếu tố đánh thuế hai lần.
Phương án đầu tiên và cũng là phương án đơn giản nhất đó là miễn thuế lợi tức cổ
phần. Như vậy công ty sẽ phải trả thuế trên lợi nhuận của công ty, khi công ty chia lợi
nhuận đã chịu thuế ra thành cổ tức và các cổ đông sẽ không phải trả thêm thuế nữa.
Đây là phương pháp đang được sử dụng ở Hồng Kông nhưng ít được các quốc gia
khác áp dụng. Tại Việt Nam, thuế TNDN không đánh trên phần cổ tức thu được do
doanh nghiệp góp cổ phần ( vì đã nộp ở đơn vị nhận vốn) để tránh đánh thuế hai lần.
Phương án thứ hai là áp dụng chế độ miễn thuế từng phần. Tức là một phần cổ tức
phải chịu thuế và phần còn lại không phải chịu thuế. Một số quốc gia đã áp dụng
phương án này như ở Đài Loan: 80% lợi tức cổ phần của một công ty nhận được từ

các cổ phần của họ trong một công ty khác được miễn thuế, 20% còn lại phải chịu

×