Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (214.05 KB, 21 trang )

Website: Email : Tel : 0918.775.368

SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
A. TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA
I. Khái niệm :
Theo điều 2 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 12/12/1997: Chính sách
tiền tệ quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của nhà nước
nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của nhân
dân.
II. Mục tiêu :
Mục tiêu chính sách tiền tệ là mục tiêu mà ngân hàng Trung ương hoạch
định phải đạt được trong suốt q trình điều hành chính sách tiền tệ. Thơng
thường chính sách tiền tệ có hai loại mục tiêu chính: mục tiêu tiền tệ và mục
tiêu kinh tế.
1. Mục tiêu tiền tệ:
Mục tiêu tiền tệ là một hệ thống các mục tiêu về phương diện tiền tệ cần
đạt được bao gồm điều hòa khối tiền tệ, kiểm soát tổng số thanh toán bằng tiền
(MV), bảo vệ giá trị quốc nội và quốc ngoại của đồng tiền bằng cách ổn định
giá.
 Mục tiêu điều hòa khối tiền tệ: là mục tiêu nhằm giữ vững mối quan
hệ cân đối giữa tiền và hàng. Nguyên tắc chung để đạt được mục tiêu này là giữ
nguyên, tăng hay giảm khối lượng tiền tệ tùy theo tình hình các nền kinh tế tăng
trưởng hay suy thóai. Thành phần của khối tiền tệ gồm có tiền giấy, tiền cắc do
Ngân hàng Trung ương phát hành và bút tệ được sáng tạo ra từ ngân hàng
thương mại. Do vậy để điều hòa khối tiền tệ ngồi việc kiểm sóat việc phát


hành, ngân hàng Trung ương cịn phải kiểm sốt khối dự trữ của ngân hàng
thương mại với tổng số tiền gởi mà nó huy động được.


 Mục tiêu kiểm sốt tổng số thanh toán bằng tiền: việc kiểm soát khối
tiền tệ đơn thuần như trên có nhược điểm là khơng lưu ý đến tốc độ lưu thông
tiền tệ. Điều này làm cho việc kiểm sóat giá cả thiếu cơ sở vững chắc vì ngồi
yếu tố khối tiền tệ cịn có yếu tố tốc độ lưu thông tiền tệ tác động đến vật giá.
Bởi vậy cần thiết phải kiểm soát tổng số thanh toán hay tổng số lượng tiền tệ
dùng để chi trả trong các cuộc giao dịch và trong khoảng thời gian nhất định.
Tuy nhiên, trong một quốc gia nếu như tổng số thanh toán qua ngân hàng
chiếm tỷ trọng lớn trên tổng số thanh toán của các tầng lớp dân cư thì việc kiểm
sốt này tương đối dễ.Trái lại, nếu việc thanh toán giữa tầng lớp dân cư chủ yếu
dùng tiền mặt, thực hiện chi trả ngoài ngân hàng, thì việc kiểm sốt tổng số
thanh tốn bằng tiền rất khó. Do vậy, để kiểm sốt tổng số thanh tốn bằng tiền
thì vấn đề quan trọng là phải phát triển hệ thống thanh toán qua ngân hàng đủ
mạnh để thu hút dân chúng thực hiện hầu hết các khoản thanh toán qua ngân
hàng. Trong những năm gần đây, do nỗ lực của hệ thống ngân hàng không
ngừng cải thiện chất lượng dịch vụ thanh toán nên tỷ lệ thanh toán qua ngân
hàng so với tổng số thanh toán bằng tiền trong toàn nền kinh tế đã gia tăng đáng
kể.
 Bảo vệ giá trị quốc nội của đồng tiền: Giá trị quốc nội của đồng tiền
chính là sức mua đối nội của nó được đánh giá thơng qua giá cả hàng hóa trong
nước. Do đó, muốn bảo vệ giá trị quốc nội của đồng tiền, chính sách tiền tệ phải
nhằm vào mục tiêu ổn định vật giá nói chung. Mức vật giá gia tăng, sức mua
đồng tiền giảm từ đó tác hại đến giá trị quốc nội của đồng tiền.Mức vật giá
giảm, sức mua đồng tiền tăng điều này có lợi hay hại cịn tùy ngun nhân hay
hồn cảnh dẫn đến sự sụt giảm giá cả. Nếu giá cả hàng hóa giảm do năng suất
chung tăng là điều đáng mừng. Nhưng nếu vật giá chung giảm do mức cầu trên
2


thị trường giảm lại là điều đáng lo.Vì vật giá giảm sức mua của đồng tiền tuy có
tăng nhưng chỉ là tạm thời. Nếu quá trình sụt giảm giá cả kéo dài dễ dẫn đến

tình trạng suy thối kinh tế.Tình hình này có thể khiến cho sản xuất lỗ dẫn đến
thu hẹp quy mô sản xuất và thất nghiệp trầm trọng.
 Ổn định giá trị quốc ngoại của đồng tiền: Giá trị quốc ngoại của đồng
tiền chính là sức mua đối ngoại của nó được đo lường bởi tỷ giá hối đối thả
nổi. Thực chất tỷ giá hối đối chính là giá cả của đối ngoại của đồng tiền. Bởi
vậy sự biến động tỷ giá sẽ ảnh hưởng đến sức mua đồng tiền, từ đó tác động ít
hay nhiều đến hoạt động của nền kinh tế tùy theo mức độ hướng ngoại của nền
kinh tế đó. Do vậy,chính sách tiền tệ cũng cần nhắm đến mục tiêu ổn định tỷ giá
hối đối để góp phần vào việc ổn định nền kinh tế nói chung.
2. Mục tiêu kinh tế
Mục tiêu kinh tế của chính sách tiền tệ là hệ thống các mục tiêu cuối
cùng mà nền kinh tế phải đạt được nhờ việc áp dụng chính sách tiền tệ đem lại.
Đó là các mục tiêu: tăng trưởng kinh tế; tăng mức nhân dụng và giảm thiểu
những thăng trầm chu chuyển kinh tế.
 Mục tiêu tăng trưởng kinh tế: Khối tiền tệ tăng hay giảm đều có tác
động mạnh đến lãi suất và số cầu tổng quát, từ đó tác động đến sự gia tăng đầu
tư sản xuất và cuối cùng tác động lên tổng sản lượng quốc gia, tức tác động lên
sự tăng trưởng của nền kinh tế. Bởi vậy, chính sách tiền tệ phải nhằm vào mục
tiêu tăng trưởng kinh tế thông qua việc tăng hay giảm khối lượng tiền tệ thích
hợp.
 Mục tiêu tăng mức nhân dụng: khi gia tăng đầu tư sản xuất và gia tăng
sản xuất, các xí nghiệp thu dụng thêm nhiều nhân cơng. Để đạt mục tiêu này
chính sách tiền tệ nhằm vào việc mở rộng và gia tăng khối tiền tệ để vừa làm
cho sức tiêu thụ tăng lên, vừa làm cho nhà sản xuất mở rộng đầu tư nhằm thu
hút thêm nhân công.
3


 Mục tiêu giảm thiểu những thăng trầm chu kỳ kinh tế: Trong kinh tế
thị trường, sự phát triển kinh tế thường biến chuyển qua nhiều giai đọan mang

tính chất chu kỳ, có lúc tăng trưởng, có lúc ngừng trệ và có lúc suy thối.
Những thăng trầm mang tính chất chu kỳ đó có thể giảm bớt về cường độ hoặc
rút ngắn về thời gian nhờ vào một chính sách tiền tệ thích hợp. Cụ thể là mở
rộng khối tiền tệ trong giai đoạn suy thoái để sớm chuyển sang giai đoạn phục
hưng, tiết chế khối tiền tệ thế nào để vừa chống lạm phát vừa khơng xảy ra tình
trạng ngưng trệ và sớm chuyển sang giai đoạn tăng trưởng kinh tế với một tỷ lệ
lạm phát có thể chấp nhận được.
III. Cơng cụ chính sách tiền tệ:
1. Cơng cụ trực tiếp:
Đây là công cụ tác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong lưu thông.
Công cụ trực tiếp được áp dụng phổ biến ở các nước trong thời kỳ hoạt động tài
chính được điều tiết chặt chẽ là hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng là mức dư
nợ tối đa mà NHTW buộc các tổ chức tín dụng phải tơn trọng khi cấp tín dụng
cho nền kinh tế. Bên cạnh hạn mức tín dụng, NHTW có thể điều tiết trực tiếp
các mục tiêu trung gian thông qua việc ấn định lãi suất hoặc tỷ giá.
2. Công cụ gián tiếp:
2.1 Dự trữ bắt buộc
Là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một tài khoản tiền gửi
khơng hưởng lãi tại NHTW. Nó được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm nhất
định trên tổng số dư tiền gửi tại một khoảng thời gian nào đó. Mức dự trữ bắt
buộc được quy định khác nhau căn cứ vào thời hạn tiền gửi, vào quy mơ và tính
chất hoạt động của NHTM.
2.2 Chính sách tái chiết khấu

4


Bao gồm các quy định và điều kiện cho vay của NHTW đối với các
NHTM. NHTW cho vay ngắn hạn trên cơ sở chiết khấu các chứng từ có giá
ngắn hạn: chủ yếu là tín phiếu kho bạc và thương phiếu.

Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là các hoạt động của NHTW trên thị trường mở
thông qua việc mua bán các chứng khốn (giấy tờ có giá). Các hoạt động này
ảnh hưởng trực tiếp đến dự trữ của các NHTM và ảnh hưởng gián tiếp đến các
mức lãi suất. Trong tiểu luận này nhóm sẽ nghiên cứu việc sử dụng nghiệp vụ
thị trường mở trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.
B. SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ ĐỂ THỰC THI
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA
1. Các nghiệp vụ trên thị trường mở :
Định nghĩa:
Theo Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán các giấy tờ có giá ngắn
hạn do NHTW thực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền
tệ quốc gia
Các cơng cụ tài chính được phép giao dịch trên NVTTM bao gồm các
loại giấy tờ có giá phát hành bằng đồng Việt Nam như: Tín phiếu NHNN, trái
phiếu chính phủ (tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu cơng trình
trung ương, trái phiếu đầu tư do Quỹ Hỗ trợ phát hành cơng trái) và trái phiếu
chính quyền địa phương do UBND TP.HCM và TP. Hà Nội phát hành.
Theo Quyết định 01/2007/QĐ-NHNN ngày 05/01/2007 của Thống đốc
Ngân hàng nhà nước ban hành về Quy chế nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở: Là việc Ngân hàng Nhà nước thực hiện mua,
bán ngắn hạn các loại giấy tờ có giá với các tở chức tín dụng.

5


Như vậy đã có điểm khác biệt và thay đổi tích cực, giấy tờ có giá được
giao dịch khơng phân biệt giấy tờ có giá ngắn hạn hay dài hạn mà chỉ quy định
về thời gian, tức là các giao dịch đối với giấy tờ có giá diễn ra trong ngắn hạn

đã được gọi là nghiệp vụ thị trường mở.
Các nghiệp vụ trên thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở của các ngân hàng trung ương chủ yếu có hai
loại: mua bán giấy tờ có giá dài hạn và mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn. Ở Mỹ,
nghiệp vụ thị trường mở chủ yếu được thực hiện đối với trái phiếu chính phủ
dài hạn. Ở Việt nam, theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam, nghiệp vụ thị
trường mở chỉ là việc mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn như tín phiếu kho bạc,
chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá ngắn
hạn khác.
 Khi NHTW mua/bán các chứng khốn, nó sẽ làm tăng/giảm ngay lập
tức dự trữ của các NHTM, dù người bán là NHTM hay khách hàng của NHTM.
Vì thế khả năng tạo tiền gửi thông qua cung ứng tín dụng của hệ thống ngân
hàng tăng/giảm xuống, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.
 Khi vốn khả dụng của từng ngân hàng cá nhân giảm/tăng do tác động
của hoạt động thị trường mở, mức cung vốn trên thị trường tiền tệ liên ngân
hàng giảm xuống/tăng lên, trong điều kiện các yếu tố liên quan không đổi, lãi
suất thị trường liên ngân hàng tăng lên (hoặc giảm xuống). Thông qua các hoạt
động arbitrage về lãi suất, ảnh hưởng này được truyền đến các mức lãi suất của
các công cụ thị trường mở và lãi suất thị trường trái phiếu. Kết quả là chi phí cơ
hội đối với người có vốn dư thừa và giá vốn đầu tư đối với người thiếu hụt vốn
tăng lên/giảm xuống, làm giảm/tăng nhu cầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng của xã
hội và do đó giảm/tăng sản lượng, giá cả và cơng ăn việc làm.
2. Sử dụng các nghiệp vụ mở thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia:
Sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để điều hành chính sách tiền tệ
6


Nghiệp vụ thị trường mở được coi là công cụ quan trọng nhất trong điều
hành chính sách tiền tệ của NHTW bởi vì:
Thứ nhất: Nó là nhân tố quyết định đầu tiên có thể làm thay đổi lãi suất

hoặc cơ sở của tiền tệ - nguồn gốc chính làm thay đổi việc cung ứng tiền của
NHTW và trực tiếp tác động đến nguồn dự trữ của các NHTM, từ đó ảnh hưởng
đến nguồn cung ứng tín dụng cho nền kinh tế.
Khi mục tiêu của NHTW là thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển NHTW
sẽ gia tăng tiền tệ trong lưu thơng
NHTW sẽ mua vào một lượng chứng khốn nhất định.
NHTM hoặc cơng chúng bán chứng khốn cho nhà nước sẽ làm cho dự
trữ của NHTM tăng lên do:


NHTM nhận được tiền của NHTW về việc mua chứng khoán.



Người dân sau khi bán được chứng khoán và chuyển tiền vào tài

khoản tiền gửi của họ tại NHTM.
Khi mục tiêu của NHTW là kiềm chế lạm phát, NHTW sẽ giảm bớt khối
lượng tiền tệ trong lưu thông
NHTW thực hiện bán chứng khoán ra.
NHTM mua chứng khoán sẽ làm giảm dự trữ của mình hoặc cơng chúng
rút tiền từ tài khoản để mua chứng khoán sẽ làm giảm dự trữ của NHTM.
Nếu muốn tăng tiền tạm thời thì NHTW sử dụng phương thức mua có kỳ
hạn bằng hợp đồng mua lại chứng khốn từ các tổ chức tín dụng.
Nếu muốn giảm tiền tạm thời thì NHTW sử dụng phương thức bán có kỳ
hạn bằng các hợp đồng mua lại chứng khoán của NHTM.
=>Việc tăng giảm liên tục hoặc tăng giảm có kỳ hạn sẽ tác động lên khả
năng mở rộng hay thu hẹp tín dụng liên tục hay tạm thời và từ đó tác động đến
lãi suất trên thị trường vốn ngắn hạn.
Thứ hai: Nghiệp vụ thị trường mở vừa linh hoạt nhưng vừa chính xác, có

7


thể sử dụng ở bất kỳ quy mơ nào.
Khi có yêu cầu thay đổi về dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ dù ở mức nhỏ như
thế nào đi nữa, nghiệp vụ thị trường mở cũng có thể đạt được bằng cách mua
hay bán một lượng nhỏ chứng khoán và ngược lại.
Với tính linh hoạt của nghiệp vụ thị trường mở, NHTW có thể sử dụng
nó để nới lỏng hoặc thắt chặt tiền tệ bất cứ mức độ nào qua việc mua hoặc bán
chứng khoán với số lượng phù hợp.
C. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT :
1. THỰC TRẠNG
Ngày 30/3/2007, NHNN Việt Nam vừa tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt
động nghiệp vụ thị trường mở năm 2006 và triển khai giải pháp điều hành năm
2007.
Theo đánh giá của nhiều ngân hàng thương mại, năm 2006, NVTTM đã
được điều hành linh hoạt, góp phần hạn chế những bất cập của thị trường. Đặc
biệt, hoạt động NVTTM đã phát huy vai trị điều tiết vốn khả dụng của các tổ
chức tín dụng, đáng chú ý là sự gia tăng mạnh về số phiên giao dịch, doanh số
giao dịch, và xu hướng mua bán 2 chiều ngày càng thể hiện rõ.
Theo báo cáo của Ban điều hành NVTTM, năm 2006, NHNN đã thực
hiện 133 phiên chào bán giấy tờ có giá. Tổng doanh số bán ra đạt khoảng
87.400 tỷ đồng, tăng mạnh so với các năm 2005 và 2004 (năm 2004: 950 tỷ
đồng, năm 2005: 1.800 tỷ đồng). Việc chào bán giấy tờ có giá chủ yếu được
thực hiện đối với tín phiếu NHNN theo phương thức bán hẳn. Cũng trong năm
2006, tổng doanh số giao dịch 2 chiều mua/bán giấy tờ có giá lên tới khoảng
124.234 tỷ đồng, tăng khoảng 21% so với năm 2005 và tăng 101% so với năm
2004. Doanh số giao dịch bình quân một phiên khoảng 767 tỷ đồng, tăng 18%
so với năm 2005 và 52% so với năm 2004.
Bên cạnh sự gia tăng mạnh mẽ về doanh số giao dịch, số lượng tổ chức

8


tín dụng tham gia giao dịch trong năm 2006 cũng tăng lên đáng kể với 19 tổ
chức, tăng 26% so với năm 2005 (14 tổ chức). Các phiên chào bán có sự tham
gia chủ yếu của các ngân hàng thương mại nhà nước. Đối với các phiên chào
mua, ngoài sự tham gia của các ngân hàng thương mại nhà nước cịn có sự tham
gia đặt thầu của một số ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh
và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
2. DIỄN BIẾN THỰC TẾ TRONG NĂM 2007
Trong 6 tháng đầu 2007, Ngân hàng Nhà nước đã mua vào dự trữ 7 tỷ
USD và một lượng tiền tương đương 112 nghìn tỷ đồng được “bơm” ra lưu
thông.
(Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng
thuộc Ngân hàng Nhànước)
Theo một số chuyên gia nhận định số ngoại tệ này được hình thành chủ
yếu từ đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán và kiều hối.
Vậy tại sao Ngân hàng Nhà nước phải mua số ngoại tệ đó? PGS.TS
Nguyễn Văn Lịch, Viện trưởng Viện Thương mại nói: “Cứ cho rằng hàng giữ ở
mức như cũ và tiền thì nhiều hơn, đương nhiên, tiền sẽ bị giảm giá. Vì lý do e
ngại, Chính phủ đã mua toàn bộ số ngoại tệ này và một lượng nội tệ tương
đương được đưa ra lưu thơng”.
Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước, ông Phùng Khắc Kế, cho biết: “Nhà
đầu tư nước ngồi đưa tiền vào khơng phải mục đích mua hàng hố mà họ mua
chứng khốn đầu tư vào doanh nghiệp. Do nguyên tắc, họ không được dùng
tiền ngoại tệ mà phải chuyển đổi ra VND. Tuy nhiên, số tiền đó khơng đi ra
ngồi lưu thơng một cách trực tiếp”.
Cũng theo ông Phùng Khắc Kế, sau khi đã chuyển đổi thành VND, trong
khi nhà đầu tư chưa sử dụng để mua cổ phiếu, Ngân hàng Nhà nước đã áp
dụng các biện pháp nghiệp vụ thị trường mở thơng qua các giấy tờ có giá như

9


trái phiếu cơng trình, trái phiếu chính phủ... để hút tiền về. Trong trường hợp
cần thiết, nếu những giấy tờ có giá của Chính phủ khơng đủ khả năng hút hết
số tiền về thì Ngân hàng Nhà nước sẽ phát hành tín phiếu, hối phiếu để thu
tiền về.
Tuy nhiên, nếu sử dụng cơng cụ tín phiếu, hối phiếu ngân hàng thì số tiền
sau khi hút về hồn tồn khơng thể mang đi đầu tư chỗ khác được, mặc dù
Ngân hàng Nhà nước vẫn phải chịu lỗ để chi trả lãi suất cho nhà đầu tư đã mua
những giấy tờ có giá của ngân hàng.
Vào thời điểm tháng 10/2007, khi lạm phát có xu hướng vượt trên hai
con số, Ngân hàng nhà nước cũng đã bán ra nhiều giấy tờ có giá để thu hút
tiền về. Nghiệp vụ bán giấy tờ có giá được NHNN thực hiện liên tục, có ngày
giao dịch đến 02 phiên.
3. NHẬN XÉT
Trong 6 tháng qua Nhà nước đã mua vào 7 tỷ USD, một lượng ngoại tệ
bằng cả 10 năm trước đây. Như thế chỉ với riêng việc mua này đã làm tổng
lượng cung tiền ít nhất phải thêm hơn 112 ngàn tỷ đồng (đó là chưa tính đến hệ
số nhân, hệ số tạo ra tiền của hệ thống ngân hàng thương mại có thể phát sinh
liên quan đến bất cứ sự mua sắm tài sản nào của NHNN, và chưa kể lượng tăng
cung tiền khác). Chưa nói đến thâm hụt ngân sách khơng nhỏ cũng là nhân tố có
thể gây lạm phát. Tăng tổng cung tiền là nguyên nhân chủ yếu của lạm phát ở
nước ta vì tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ vẫn tăng.
Có thể thấy về cơ bản lạm phát (ở mọi nơi) chủ yếu là do Nhà nước gây
ra, ở ta cũng vậy. Và theo một ý nghĩa nào đấy lạm phát do Nhà nước gây ra
cũng là một loại “thuế” trá hình mà tất cả người dân đều phải chịu, nhưng người
dân lại nghĩ là do khách quan gây ra.

10



Thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính là bộ đầu tiên
đã quyết định dùng những liệu pháp “sốc” cắt giảm thuế nhập khẩu đối với
hàng loạt mặt hàng.
Như trên đã phân tích, NHNN phải là cơ quan chủ chốt trong việc ổn
định giá cả, chống lạm phát. Thế nhưng hình như vai trị của NHNN chưa thực
sự được coi trọng. Thực ra NHNN đã có các biện pháp mạnh để giảm lượng
cung tiền như bắt các ngân hàng thương mại phải tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Tuy nhiên các hoạt động thị trường mở dường như chưa phát huy được
tác dụng. NHNN mua vào (bất cứ thứ gì, kể cả USD) đều làm tăng lượng cung
tiền, nay muốn giảm lượng cung tiền, thì ngồi việc hạn chế hệ số tạo tiền của
các ngân hàng thương mại (bằng tăng dự trữ bắt buộc, bằng chính sách lãi suất),
những hoạt động thị trường mở như việc bán ra (trái phiếu chính phủ, trái phiếu
NHNN, v.v.) của NHNN để thu tiền về là cũng hết sức quan trọng. Rất tiếc việc
bán ra này để thu tiền về chưa hoạt động hiệu quả.
Thay vào đó Chỉ thị lại yêu cầu Bộ Tài chính phát hành ngay trái phiếu
Chính phủ, trái phiếu KBNN và tín phiếu kho bạc. Đúng là việc làm này sẽ thu
được tiền về, nhưng không phải cho NHNN (để rút bớt tiền khỏi lưu thông), mà
là cho Kho bạc Nhà nước để đưa vào lưu thơng bằng cách “giải ngân nhanh, có
hiệu quả” số tiền này vào đầu tư (chắc chắn cho các tập đoàn hay cơng trình),
như thế trừ thời gian trễ từ khi thu được tiền đến khi giải ngân, lượng cung tiền
không thay đổi nên khơng có tác động gì đến chống lạm phát cả, mà cùng với
giảm thuế có thể cịn mang nguy cơ ngân sách càng thâm hụt, hiệu quả sử dụng
thấp, có thể gây ra tác động lạm phát trong tương lai.
Việc giảm thuế nhập khẩu, đẩy mạnh sản xuất, khắc phục dịch bệnh, v.v.
để làm tăng tổng lượng hàng hóa và dịch vụ có tác động làm tăng cung hàng và
dịch vụ cũng là tốt để kiềm chế lạm phát, song vẫn phải lưu ý nhiệm vụ chính là
của NHNN.
11



Ở nước ta, NHNN nằm trong bộ máy hành pháp, Thống đốc là thành viên
chính phủ, và vai trị của NHNN trong chống lạm phát chưa thật sự được coi
trọng (80% công việc này phải là của NHNN), nên không rõ kết quả của việc ổn
định giá theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ sẽ ra sao. Việc cố gắng đạt mục
tiêu tăng trưởng về số lượng bằng mọi giá, việc vẫn giành quá nhiều nguồn lực
tài chính ưu ái cho các DN quốc doanh hoạt động không mấy hiệu quả (dẫu có
được gọi là tập đồn), và có chính sách gây lạm phát có thể dẫn đến những hậu
quả khơn lường.
Như vậy: Để kiểm sốt tốt lạm phát ở nước ta, cần xác định trách
nhiệm chính vẫn thuộc về ngân hàng nhà nước. Ngân hàng nhà nước phải
phát huy tối đa vai trị của mình thơng qua các cơng cụ của chính sách tiền tệ
nói chung (đã trình bày ở trên) cũng như công cụ nghiệp vụ thị trường mở nói
riêng.
4. ĐỀ XUẤT
Xây dựng nghiệp vụ thị trường mở thực sự là một kênh đầu tư hấp dẫn đối
với các thành viên tham gia
Mặc dù thị trường mở được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, tức là
những người kinh doanh chứng khốn khơng bị bắt buộc mua hoặc bán theo
một giá ấn định, nhưng NHTW có thể thực hiện được yêu cầu của mình bằng
việc điều chỉnh giá sao cho nó trở nên hấp dẫn đối tác. Khi muốn thu hút ngay
một lượng tiền trong lưu thông để kìm chế lạm phát thì lãi suất giấy tờ có giá
phải cao, phải hấp dẫn để có thể thu hút thành viên tham gia. Mặt khác cần phải
phát triển thị trường thứ cấp nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng.
Đa dạng hàng hóa trên thị trường mở
Theo điều 8 quyết định 01/2007/QĐ - NHNN giấy tờ có giá được giao
dịch qua nghiệp vụ thị trường mở:

12



Các loại giấy tờ có giá được Ngân hàng Nhà nước chấp nhận giao dịch
qua nghiệp vụ thị trường mở phải có đủ các điều kiện sau đây:
* Có thể mua, bán được và nằm trong danh mục các loại giấy tờ có giá
được giao dịch qua nghiệp vụ thị trường mở;
* Được phát hành bằng đồng Việt Nam;
* Được lưu ký tại Ngân hàng Nhà nước trước khi đăng ký bán;
* Giấy tờ có giá được mua hẳn hoặc bán hẳn có thời hạn cịn lại tới đa là
90 ngày.
Theo điều 8 quyết định số 85/2000/QĐ-NHNH14 ngày 09/03/2000 của
Thống đốc NHNN
Các loại giấy tờ có giá được giao dịch thơng qua thị trường mở
* Tín phiếu Kho bạc.
* Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước.
* Các loại giấy tờ có giá ngắn hạn khác do Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước quy định cụ thể trong từng thời kỳ.
Ở VN các cơng cụ tài chính chủ yếu giao dịch trên NVTTM bao gồm các
loại giấy tờ có giá phát hành bằng đồng Việt Nam như: Tín phiếu NHNN, trái
phiếu chính phủ (tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu cơng trình
trung ương, trái phiếu đầu tư do Quỹ Hỗ trợ phát hành cơng trái) và trái phiếu
chính quyền địa phương do UBND TP.HCM và TP. Hà Nội phát hành.
Thực tế NHTW các nước sử dụng nhiều loại giấy tờ có giá khác nhau để
giao dịch trong nghiệp vụ thị trường mở:
• Trái phiều, tín phiếu kho bạc
• Tín phiếu NHTW
• Chứng chỉ tiền gửi
• Thương phiếu

13



• Hối phiếu của các ngân hàng
• Hợp đồng mua lại (Repo)
Như vậy hầu hết các NHTW thường thực hiện các nghiệp vụ thị trường
mở bằng chứng khoán kho bạc do có tính thanh khoản cao và dễ trao đổi trên
thị trường nên dễ được các bên chấp nhận trong giao dịch.
Đối với nhiều nước trên thế giới NHTW cho phép sử dụng cả các trái
phiếu với thời hạn còn lại dưới 1 năm được giao dịch trong nghiệp vụ thị trường
mở nhưng chỉ với mục tiêu điều chỉnh vốn khả dụng của các ngân hàng và kiểm
soát lãi suất ngắn hạn trên thị trường tiền tệ.
Mặc dù đã có quyết định 01 và 01 cũng đã quy định về các loại giấy tờ có
giá sử dụng trong nghiệp vụ thị trường mở nhưng trên thực tế các giao dịch vẫn
tập trung ở một số loại giấy tờ có giá quen thuộc, do đó để phát huy hiệu quả
nghiệp vụ thị trường mở để thực thi tốt nhất chính sách tiền tệ NHN cần phải đa
dạng hóa hơn nữa hàng hóa trong thị trường mở.
Phát triển thị trường đấu thầu tín phiếu, trái phiếu kho bạc và thị trường
mở, đẩy mạnh hoạt động đại lý phát hành chứng khoán của chính phủ, tăng số
lượng và chủng loại chứng khốn có độ an tồn và có tính thanh khoản cao.
Về cách thức thực hiện
Trên cơ sơ lý thuyết NHNN có thể phát hành tiền, đưa tiền vào lưu thông
bằng các cách:
Cho các NHTM vay;
Mua vào các trái phiếu chính phủ;
Mua vào ngoại tệ và cho ngân sách vay (ở VN).
Do đó, để giảm cung tiền cơ sở, lượng tiền do NHTƯ phát hành, NHTƯ
cần thực hiện các nghiệp vụ trên theo hướng ngược lại. Tăng hay giảm cung
tiền cơ sở liên quan đến việc mua bán trái phiếu chính phủ trên thị trường mở
chứ không liên quan đến việc phát hành trái phiếu chính phủ. Việc phát hành
14



trái phiếu chính phủ, "đẩy nhanh tốc độ giải ngân các dự án đầu tư" khơng hề có
tác động rút bớt tiền từ lưu thông về, (theo nghĩa là giảm cung tiền). Đó khơng
phải là nghiệp vụ thị trường mở của NHNN.
Để giảm cung tiền, NHNN có thể bán ra các trái phiếu chính phủ đang
nắm giữ (nếu có). Lượng trái phiếu này có được khi phát hành tiền, hoặc phát
hành các cơng cụ nợ của chính NHNN. Để giảm cung tiền, khi thu được tiền về,
khác với trường hợp phát hành trái phiếu của chính phủ là tiền được đưa đi đầu
tư, NHNN phải cho chúng "nằm chơi trong những két sắt lạnh lẽo" của mình.
Những đồng tiền dư thừa chỉ ngừng đe doạ gây ra lạm phát khi chúng "nằm
chơi trong két sắt".
Tóm lại, phát hành trái phiếu chính phủ khơng phải là giải pháp giảm
cung tiền, chống lạm phát. Cho nên, việc NHNN, Chính phủ hi vọng và thực
hiện giải pháp này sẽ không thể mang lại kết quả như mong đợi.
NHTW phải có khả năng kiểm soát và dự đoán sự biến động của lượng
vốn khả dụng trong hệ thống ngân hàng.
Nâng cao năng lực dự báo vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng theo
định kỳ tháng, quý và dài hạn hơn để có quyết định hướng giao dịch phù hợp với
điều kiện thị trường và hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng.
Trong thời gian qua việc dự báo vốn khả dụng để đưa ra kiến nghị cho
nghiệp vụ thị trường mở vẫn cịn nhiều khó khăn, kết quả dự báo vốn khả dụng
chủ yếu mang tính ngắn hạn;
Để thực hiện được các giải pháp này cần phân tích kinh tế vĩ mô, phối
hợp thu thập thông tin, tổ chức họp các thành viên vào đầu tháng, tiếp tục hoàn
thiện hệ thống thông tin, nhất là thông tin về thị trường liên ngân hàng.
Mở rộng thành viên tham gia
Trong thời gian qua chủ yếu việc giao dịch lệ thuộc nhiều vào 04 NH
Quốc doanh. Tham gia giao dịch trên thị trường này thời gian qua, các ngân
15



hàng thương mại cổ phần, chi nhánh Ngân hàng nước ngồi và Ngân hàng liên
doanh có quy mơ nhỏ đa số vẫn cịn đứng ngồi cuộc, nên phần nào hạn chế
hiệu quả của thị trường.
Vì vậy Ngân hàng nhà nước cần tạo điều kiện cho các Ngân hàng có quy
mơ nhỏ hơn có điều kiện được tham gia nghiệp vụ thị trường mở.
Đa dạng kì hạn giao dịch
Thời điểm cuối năm 2007, NHNN đã tăng cường hơn khối lượng chào
bán trong từng phiên, đa dạng hóa kỳ hạn. Cụ thể tháng 08/2007 đối với tín
phiếu NHNN đã bổ sung thêm 03 kỳ hạn dài hơn là 182 ngày (6 tháng), 273 ngày
(9 tháng) và 364 ngày (12 tháng). Tháng 11/2007 NHNN tiếp tục tăng cường
chào bán và đa dạng hóa các kỳ hạn tín phiếu (28, 56, 84, 112, 140, 182 và 364
ngày) trong đó các kỳ hạn 84, 182, 364 ngày được chào bán trong tất cả các
ngày làm việc.
=> Tuy nhiên đa phần các kỳ hạn giao dịch chủ yếu phổ biến từ 06
tháng trở lại vì vậy cần tiếp tục đa dạng các giao dịch khác nhau trong một
phiên giao dịch để các NHTM có điều kiện lựa chọn tham gia đặt thầu phù
hợp với nhu cầu điều tiết vốn khả dụng của mình.
Cải tiến về cơng nghệ
Tốc độ đường truyền từ các thành viên tham gia đến Cục tin học NHNN
còn chậm, do vậy hay xảy ra tình trạng quá tải vào lúc cao điểm khi các NH
cùng truy cập. Việc thay đổi địa chỉ IP của máy chủ của Cục tin học NHNN
khơng có thơng báo trước cho các NH thành viên tham gia khiến cho việc giao
dịch của các NHTM bị động và phải mất nhiều thời gian mới kịp giờ giao dịch.
Chương trình phần mềm vẫn chưa thực hiện đăng kí giấy tờ có giá qua mạng
mà vẫn phải thực hiện bằng văn bản (phải mang bản gốc lên Sở GD NHNN
trước 10h sáng của ngày giao dịch).

16



Các giao dịch qua mạng chưa được đơn giản hoá. NHNN cũng cho rằng,
hạn chế khác nữa của NVTTM còn do cơ sở hạ tầng thông tin, đường truyền
chưa đáp ứng được so với yêu cầu thực tế. Vì thế, thời gian giao dịch cịn kéo
dài, có lúc bị tắc nghẽn
=> Tiếp tục nâng cấp các thiết bị và tốc độ đường truyền cũng như hoàn
thiện phần mềm thị trường mở để các thành viên tham gia thực hiện nhanh
chóng, dễ dàng hơn, tiết kiệm được thời gian.
Cục Công nghệ tin học ngân hàng có trách nhiệm: Cài đặt chương trình
phần mềm và đảm bảo hạ tầng mạng truyền thông cho nghiệp vụ thị trường mở
hoạt động ổn định, an tồn và bảo mật; Quy định mã số, mã khố, khoá ký chữ
ký điện tử cho những người tham gia nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng
Nhà nước và các thành viên tham gia nghiệp vụ thị trường mở..
Đơn giản hóa thủ tục hành chính: Hiện tại các thủ tục về đăng ký, lưu ký
giấy tờ có giá, thủ tục về lập hợp đồng vẫn còn khá phức tạp. Mặc dù các thủ
tục giao dịch NVTTM đã tiếp tục được cải tiến và hồn thiện song do vẫn cịn
một số thủ tục phức tạp, ảnh hưởng đến hoạt động của các thành viên tham gia.
Hợp đồng mua/bán giấy tờ có giá đã được kí bằng chữ kí điện tử rồi nhưng vẫn
phải kí bằng văn bản, đóng dấu và Fax lên NHNN. Thời gian để rút được giấy
tờ có giá ra khỏi NHNN phải chờ đợi lâu (khoảng 5-7 ngày nếu rơi vào thứ 7,
CN), do công văn của NHNN được gửi đến Trung tâm Giao dịch chứng khoán
TP HCM bằng đường thư thường trong khi TT GDCK TP HCM chờ bản gốc
của NHNN gửi tới mới hoàn tất thủ tục báo có cho khách hành của mình.
=> Đơn giản hơn các thủ tục hành chính, tiếp tục xem xét hoàn thiện các
qui định về nghiệp vụ thị trường mở.
Phối hợp hiệu quả hơn giữa các bộ phận chức năng như Sở giao dịch
NHTW, NHTW, Vụ tín dụng, Vụ chính sách - tiền tệ, Vụ kế tốn – tài chính…

17



Vào ngày thông báo, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước gửi thông báo
mua hoặc bán giấy tờ có giá cho các thành viên qua mạng máy vi tính. Vào
ngày đấu thầu, các tổ chức tín dụng căn cứ vào thơng báo mua hoặc bán giấy tờ
có giá của Ngân hàng Nhà nước để nộp đơn dự thầu đăng ký mua hoặc bán với
Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng qua mạng máy vi tính.
Thớng đớc Ngân hàng Nhà nước giao cho Giám đốc Sở Giao dịch Ngân
hàng Nhà nước tổ chức thực hiện xét thầu với sự chứng kiến của thành viên
trong Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở. Đồng thời, việc xét thầu được
thực hiện theo nội dung thông báo của Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở,
Quy chế này và Quy trình nghiệp vụ thị trường mở. Khi có kết quả đấu thầu,
Ngân hàng Nhà nước thông báo kết quả đấu thầu cho các tổ chức tín dụng tham
gia đấu thầu qua mạng máy vi tính.
Vụ Tín dụng có trách nhiệm: Phối hợp với các đơn vị có liên quan chủ
trì thực hiện Quy chế này; Cung cấp thông tin về hoạt động tái cấp vốn cho Ban
Điều hành nghiệp vụ thị trường mở; Trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy
định danh mục các loại giấy tờ có giá, tỷ lệ chênh lệch giữa giá trị giấy tờ có giá
tại thời điểm định giá và giá thanh toán, tỷ lệ giao dịch của các loại giấy tờ có
giá qua nghiệp vụ thị trường mở trong từng thời kỳ.
Vụ Chính sách tiền tệ có trách nhiệm: Quản lý, theo dõi và cung cấp kết
quả dự báo vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng cho Ban Điều hành nghiệp
vụ thị trường mở theo quy định tại Quy chế quản lý vốn khả dụng; Đề xuất với
Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở về khới lượng các loại giấy tờ có giá
cần mua, cần bán, phương thức mua hoặc bán, thời hạn cần mua hoặc bán và dự
kiến các mức lãi suất áp dụng khi mua, bán giấy tờ có giá; Phối hợp với Vụ Tín
dụng, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước tham mưu cho Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước quy định về danh mục các loại giấy tờ có giá, tỷ lệ chênh lệch giữa

18



giá trị giấy tờ có giá tại thời điểm định giá và giá thanh toán, tỷ lệ giao dịch của
các loại giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở trong từng thời kỳ.
Trách nhiệm của Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước gồm có: Xem xét,
cơng nhận tở chức tín dụng là thành viên tham gia nghiệp vụ thị trường mở;
Thực hiện các giao dịch mua, bán giấy tờ có giá với các tổ chức tín dụng; Ban
hành Quy trình nghiệp vụ thị trường mở; Phới hợp với Vụ Tín dụng và Vụ
Chính sách tiền tệ tham mưu cho Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về
danh mục các loại giấy tờ có giá, tỷ lệ chênh lệch giữa giá trị giấy tờ có giá tại
thời điểm định giá và giá thanh toán, tỷ lệ giao dịch của các loại giấy tờ có giá
qua nghiệp vụ thị trường mở trong từng thời kỳ; Tham mưu cho Ban Điều hành
nghiệp vụ thị trường mở xác định cơ cấu, thời hạn cần mua, bán của các loại
giấy tờ có giá; Thực hiện thanh toán và hạch toán kế toán theo quy định; Tổng
hợp, theo dõi và báo cáo các thông tin về nghiệp vụ thị trường mở gửi Ban Điều
hành nghiệp vụ thị trường mở, Vụ Tín dụng và Vụ Chính sách tiền tệ; Quản lý
và cung cấp thông tin về nghiệp vụ thị trường mở cho tổ chức tín dụng qua
trang tin nghiệp vụ thị trường mở.
Vụ Kế toán-Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn quy trình hạch toán kế
toán liên quan đến nghiệp vụ thị trường mở .

19


KẾT LUẬN
Trước đây, các NHTMCP đôi khi bị phụ thuộc vốn vào các NHTMQD
dẫn đến dễ phản ứng dây chuyền khi các NHTMQD đồng thời bị thiếu vốn do
khách hàng đồng loạt rút tiền, đặc biệt là vào những thời điểm nhạy cảm trong
năm khi mà thị trường vốn có biến động lớn.
Thông qua kênh giao dịch NVTTM , NHNN phải làm sao phát huy vai

trò là “người cho vay cuối cùng” trên thị trường, hỗ trợ vốn kịp thời cho các
NHTM, đặc biệt trong dịp giáp Tết Dương lịch và Tết Âm lịch khi nhu cầu chi
tiêu của người dân lớn.

20


MỤC LỤC
Cục Cơng nghệ tin học ngân hàng có trách nhiệm: Cài đặt chương trình phần mềm và đảm bảo
hạ tầng mạng truyền thông cho nghiệp vụ thị trường mở hoạt động ổn định, an toàn và bảo
mật; Quy định mã số, mã khoá, khoá ký chữ ký điện tử cho những người tham gia nghiệp vụ
thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước và các thành viên tham gia nghiệp vụ thị trường mở..
.......................................................................................................................................................17

21



×