Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ, THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (185.4 KB, 10 trang )

SỞ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO PHÚ YÊN
TRƯỜNG : THPT PHAN ĐÌNH PHÙNG
TỔ : VĂN
ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ, THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI PHƯƠNG
PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng
thực hiện mục tiêu học tập của học sinh (HS), nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm
của giáo viên (GV) và nhà trường, cho bản thân HS, để HS học tập ngày một tiến bộ hơn.
Nói cách khác, đánh giá là một khâu, một công cụ quan trọng trong quá trình giáo dục; có
chức năng, khả năng điều chỉnh quá trình dạy và học; là động lực để đổi mới phương pháp
dạy học (PPDH). Và kiểm tra là phương tiện và hình thức quan trọng, quyết định kết quả
đánh giá.
Trước nhu cầu bức thiết phải đổi mới PPDH như hiện nay, việc kiểm tra đánh giá (KTĐG)
phải chuyển biến mạnh theo hướng: phát triển tính tích cực, trí thông minh sáng tạo của HS;
khuyến khích HS vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học vào những tình huống thực tế, bộc
lộ những cảm xúc và thái độ của bản thân trước những vấn đề nóng hổi của đời sống cá
nhân, gia đình và cộng đồng. Nói chung là việc KTĐG phải thoát khỏi quỹ đạo dạy và học
thụ động để đi vào quỹ đạo dạy và học tích cực, chủ động, sáng tạo.
Môn Ngữ văn với mục tiêu đặc thù là phải rèn luyện cho HS biết cách tư duy hình tượng
nghệ thuật, thành thạo kĩ năng đọc – hiểu, cảm thụ tác phẩm văn chương trong hệ thống tích
hợp ngang và tích hợp dọc, nên cũng rất cần có sự đổi mới trong KTĐG. Nhưng, việc đổi
mới KTĐG như thế nào để dạy và học môn Ngữ văn tích cực hơn, có hiệu quả cao hơn và
gợi được sự hứng thú học tập đối với HS thì không phải là vấn đề đơn giản, không thể thực
hiện một cách máy móc, rập khuôn, mà đòi hỏi chúng ta phải có quá trình chuẩn bị kiến thức
cho HS một cách chu đáo, lựa chọn phương tiện, cách thức kiểm tra sao cho phù hợp với đặc
điểm tình hình học tập của HS ở từng địa phương, từng trường, từng lớp. Tất cả nhằm đảm
bảo được yêu cầu chung là: “đổi mới mạnh mẽ cách thức kiểm tra, thi với yêu cầu HS
phải học thuộc lòng nhiều sự kiện, các bài văn mẫu; tăng cường các câu hỏi đòi hỏi
HS suy nghĩ, trả lời theo cách hiểu và vận dụng của riêng mình”.
Trong hơn năm năm qua, tổ Văn trường THPT Phan Đình Phùng ( Phú Yên) đã được


hướng dẫn và thực hiện đổi mới cách thức, nội dung KTĐG, để thúc đẩy đổi mới PPDH
môn Ngữ văn. Nhìn chung chúng tôi đã đạt được một số kết quả nhất định.Quá trình thực
hiện xin được trình bày cụ thể ở phần NỘI DUNG.
II. PHẦN NỘI DUNG:
Theo quan điểm: KTĐG là một quá trình, theo một quá trình, đánh giá từng nội dung, từng
bài học, từng hoạt động giáo dục,...và đánh giá toàn diện theo mục tiêu giáo dục, tổ Văn
trường THPT Phan Đình Phùng thực hiện đổi mới KTĐG một cách cụ thể như sau:
1. Thời điểm kiểm tra:
KTĐG không chỉ ở thời điểm cuối cùng ( cuối học kì, cuối năm), mà thực hiện trong cả quá
trình học tập bộ môn. Cụ thể là sau khi học xong một tác phẩm, một số tác phẩm hoặc một
giai đoạn văn học thì thực hiện KTĐG ngay; lần kiểm tra sau luôn có yêu cầu cao hơn, nội
dung mới hơn so với lần kiểm tra trước.
Ví dụ: Dạy các thi phẩm Thơ mới Việt Nam (1932 -1945) ở chương trình lớp 11
( Vội vàng ( Xuân Diệu), Tràng giang( Huy Cận), Đây thôn Vĩ Dạ ( Hàn Mặc Tử),...),
chúng tôi KTĐG thường xuyên sau khi dạy xong từng bài bằng hình thức vấn đáp
( KT miệng) với các dạng câu hỏi tái hiện kiến thức, ví dụ như:
- Đọc thuộc khổ đầu trong bài thơ “Tràng giang” của nhà thơ Huy Cận, phân tích
ngắn gọn nội dung, ý nghĩa của khổ thơ đó.
Và sau khi dạy xong một số bài thơ nói trên, chúng tôi KTĐG bằng hình thức vấn đáp hoặc KT
viết 15 phút, với những câu hỏi có kiến thức tổng hợp, nâng cao hơn như:
- Trình bày cảm nhận của anh( chị) về nét chung và nét khác biệt về tứ thơ, cảm hứng sáng tác,
hình ảnh, ngôn ngữ thơ,... của các bài thơ: Vội vàng ( Xuân Diệu), Tràng giang( Huy Cận),
Đây thôn Vĩ Dạ ( Hàn Mặc Tử),...
2. Phương thức kiểm tra đánh giá:
a/ Kiểm tra thường xuyên: KT vấn đáp và KT 15 phút.
Ở cả 3 khối lớp: 10, 11, 12 , tổ chuyên môn chúng tôi thống nhất số lần KTĐG như sau:
- Kiểm tra vấn đáp ( KT miệng): 1 đến 2 lần trong 1 học kì.
- Kiểm tra 15 phút ( KT viết): 3 lần trong 1 học kì.
b/ Kiểm tra định kì:
- Kiểm tra viết từ 1 tiết trở lên: 3 lần trong học kì I; 2 lần trong học kì II ( theo PPCT)

- Kiểm tra tổng hợp cuối HK I và cuối năm.
2
Như vậy,có sự phối hợp đan xen giữa KT thường xuyên và KT định kì trong năm học.
3. Mục tiêu và yêu cầu đề KTĐG:
a/ Mục tiêu:
- Đánh giá đúng thực chất trình độ, năng lực đọc – hiểu, cảm thụ, bày tỏ thái độ, cảm xúc
của HS trước một vấn đề văn chương.
- Góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn.
- Giảm áp lực thi cử, đảm bảo sự công bằng, khích lệ tinh thần học tập chủ động, sáng tạo
và gây sự hứng thú để HS thích học môn Ngữ văn hơn và học tốt hơn.
b/ Yêu cầu:
- Ra đề căn cứ vào chuẩn kiến thức và kĩ năng của từng bài học, từng nhóm bài, từng giai
đoạn văn học,...; không hình thức “ đối phó” cũng không gây áp lực nặng nề cho HS.
- Nội dung, yêu cầu, cách diễn đạt đề kiểm tra phải rõ ràng, chính xác, khách quan, công
bằng, tích hợp cả 3 phân môn: Đọc văn, Làm văn, Tiếng Việt.
- Đề KTĐG đảm bảo các tiêu chí: tính toàn diện, độ tin cậy, tính khả thi, phân hóa đối
tượng HS và đạt hiệu quả cao.
- Đối với những đề KT tự luận , chúng tôi thường xây dựng dạng đề mở, có phần liên hệ
thực tế để khuyến khích tính sáng tạo của HS.
4. Mức độ nhận thức trong đề KTĐG:
Tổ chuyên môn chúng tôi đã thống nhất: khi ra đề KTĐG, cần chú trọng 3 lĩnh vực cơ
bản: nhận thức, hoạt động (vận dụng) và cảm xúc, thái độ của HS. Từ đó, xây dựng các đề
KTĐG với mức độ từ đơn giản đến phức tạp: nhận biết -> thông hiểu -> vận dụng ->
phân tích -> tổng hợp -> đánh giá. Cụ thể như sau:
- Đề KTĐG vấn đáp (KT miệng): chủ yếu ở 2 mức độ: nhận biết -> thông hiểu ( vì thời
gian KT có hạn).
- Đề KTĐG 15 phút: ở 3 mức độ : nhận biết -> thông hiểu -> vận dụng.
- Đề KT viết từ 1 tiết trở lên: Mức độ nhận thức từ đơn giản đến phức tạp vớ 6 mức độ:
nhận biết -> thông hiểu -> vận dụng -> phân tích -> tổng hợp -> đánh giá .
Ví dụ: Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính trong bài thơ “ Tây Tiến” của Quang Dũng.

5. Hình thức KTĐG:
Hai hình thức KTĐG cơ bản ( vấn đáp, tự luận) được tất cả các GV trong tổ chuyên môn thực
hiện đồng bộ ở cả 3 khối lớp 10, 11, 12 như sau:
a/ Hình thức KT vấn đáp ( KT miệng): vận dụng kiểm tra thường xuyên ở mỗi tiết học ( có thể ở đầu ,
3
giữa, hoặc cuối tiết học).
b/ Hình thức KT tự luận:
- Vận dụng ở 3 lần KT 15 phút trong 1 học kì.
- Vận dụng ở các lần KT từ 1 tiết trở lên ( 3 lần KT trong HK I; 2 lần KT trong HK II).
c/ Riêng đề KTĐG tổng hợp cuối học kì I và cuối năm của khối lớp 12:
Xây dựng theo cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT ( tạo điều kiện cho HS làm quen
với cấu trúc của đề thi TN THPT):
- Phần chung cho tất cả các thí sinh: (5 điểm)
+ Câu 1: (2 điểm)- Tái hiện kiến thức đã học.
+ Câu 2: (3 điểm)- Bài văn ngắn, kiểu bài NL xã hội
- Phần riêng – Phần tự chọn: (5 điểm)
Gồm 2 câu: 1 câu theo chương trình chuẩn, 1 câu theo chương trình nâng cao;
kiểu bài NL văn học, thí sinh chỉ được làm 1 trong 2 câu.
Ví dụ: Đề KTĐG HK I - khối lớp 12 ( Ban cơ bản và ban KHTN) của trường ta, năm
học 2009 - 2010:
I. Phần chung cho tất cả các thí sinh: (5 điểm)
Câu 1 (2 điểm):
Hãy nêu những nét chính của phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.
Câu 2 (3 điểm):
Hãy viết một bài văn ngắn ( không quá 400 từ) trình bày những suy nghĩ của mình
về truyền thống của dân tộc qua câu tục ngữ “ Lá lành đùm lá rách”.
II. Phần riêng – Phần tự chọn: (5 điểm)
Học sinh chỉ được làm một trong hai câu ( câu 3a hoặc câu 3b)
Câu 3a : (5điểm)
Phân tích hình ảnh con sông Đà trong tác phẩm “ Người lái đò sông Đà” của

nhà văn Nguyễn Tuân (Sách Ngữ văn lớp 12 – Tập I – NXB Giáo dục 2008)
Câu 3b : (5 điểm)
Cảm nhận của anh /chị về đoạn thơ sau, trích trong bài: “Đàn ghi ta của Lor- ca”
của nhà thơ Thanh Thảo:
“...Không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh đáy giếng
4
đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lor-ca bơi sang ngang
Trên chiếc ghi ta màu bạc”
( Sách Ngữ văn 12, tập I, NXB Giáo dục, 2008, trang 165)
Đối với môn Ngữ văn, chúng tôi có thể áp dụng kiểm tra theo hướng trắc nghiệm khách quan đối
với bài KT 15 phút,một lần trên một học kì, nhằm phát huy được độ “nhạy” trong việc huy động
kiến thức của học sinh . Kết quả kiểm tra đánh giá giúp các thầy cô giáo kịp thời điều chỉnh nội
dung kiến thức và phương pháp giảng dạy phù hợp.
6. Dạng đề “mở” đối với môn Ngữ văn:
a, Thực tiễn vận dụng:
So với các môn khác, Ngữ văn là môn học có nhiều nét đặc thù. Việc cải tiến, đổi mới trong
đề thi, kiểm tra sẽ có tác động đáng kể tới phương pháp dạy - học của giáo viên và học sinh. Thời
gian qua, dạng đề “mở” đã xuất hiện ngày càng nhiều trong các tiết kiểm tra môn Ngữ văn ở các
cấp học, nhất là bậc THCS và THPT. Đặc biệt, đề thi “mở” đã “góp mặt” trong những kỳ thi
quan trọng như: Thi tuyển vào lớp 10, Thi tốt nghiệp THPT, Thi tuyển sinh và ĐH, CĐ.
Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2010 vừa qua, câu 2 -phần chung cho tất cả thí sinh
( NL xã hội) được ra theo hướng “mở”:
Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về
lòng yêu thương con người của tuổi trẻ trong xã hội hiện nay.
Hoặc ở kỳ thi tuyển sinh vào các trường đại học khối C năm 2010, hầu hết các câu ở cả hai phần:

phần chung và phần riêng của đề thi đều thuộc dạng đề “mở”:
PHẦN CHUNG:
Câu II (3,0 điểm) (Phần chung)
“Như một thứ a-xit vô hình, thói vô trách nhiệm ở mỗi cá nhân có thể ăn mòn
cả một xã hội”.
Từ ý kiến trên, anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về
tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con người trong cuộc sống hiện nay.
PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)
Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
5

×