Tải bản đầy đủ (.doc) (14 trang)

Vận dụng phương pháp đàm thoại trong giảng dạy môn Giáo dục công dân ở trường THPT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (172.23 KB, 14 trang )

AaaA AaĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lời mở đầu:
Mối quan hệ trong quá trình dạy học đó là một nghệ thuật “ cho” và “nhận”,
truyền thụ và lĩnh hội. Vì thế câu hỏi lớn cần đặt ra ở đây là: Người “cho” truyền thụ
như thế nào, bằng cách nào để người “nhận” có thể lĩnh hội với tất cả lòng say mê,
tính tự giác, chủ động tích cực và có hiệu quả. Để đạt được điều đó đòi hỏi giáo viên-
người truyền thụ phải có sự suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng được các phương pháp phù
hợp với nội dung, đặc thù của từng bài học. Tôi thiết nghĩ rằng: Người giáo viên lên
lớp cũng giống như người nghệ sĩ khi lên sân khấu để cuốn hút được khán giả thì
ngoài năng khiếu ra còn đòi hỏi cả một nghệ thuật. Người giáo viên cũng vậy, để giờ
giảng của mình thực sự sinh động và học sinh có thể tiếp thu bài một cách có hiệu
quả thì ngoài những tri thức vốn có của mình một yếu tố không thể thiếu được là
năng lực sư phạm- hay nói cách khác là phương pháp, kĩ năng truyền thụ. Theo
phương châm của giáo dục đào tạo hiện nay “ lấy học sinh làm vị trí trung tâm trong
các giờ học”, học sinh phải là chủ thể tích cực thì việc lựa chọn phương pháp phù
hợp bài giảng, phát huy được tính chủ động, tích cưc, sáng tạo của học sinh đây là
một vấn đề không đơn giản.
2. Tính cấp thiết của đề tài:
Từ sự tác động của tình hình thực tiễn hiện nay đối với công tác giáo dục nói
chung và đối với các trường THPT nói riêng, thì một tư tưởng đã “ ăn sâu bám rễ”
vào nhận thức của học sinh đó là: môn Giáo dục công dân là môn phụ ( vì không phải
môn thi tốt nghiệp cũng không phải là môn thi Đại học) nên đã tác động đến tâm lí, ý
thức của các em: “ học cũng chẳng để làm gì, không cần thiết phải học môn Giáo dục
công dân”.Mặc dù đó là môn học giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân
cách, giáo dục đạo đức, ý thức tuân thủ pháp luật và lí tưởng cách mạng. Chính vì
vậy mà trong các giờ học thầy cứ say sưa giảng bài còn học sinh đón nhận với một
thái độ thờ ơ lạnh nhạt, thầy dạy rất nhiều nhưng học sinh tiếp nhận không được bao
nhiêu. Từ thực trạng đó đã tác động đến tâm lí giáo viên đó là làm cho giáo viên cảm
thấy mất hứng thú, dẫn đến chán nản không thiết tha với môn dạy của mình vì vậy đã
ít đầu tư, ít sáng tạo trong quá trình soạn, giảng để khai thác kiến thức trong các bài
dạy. Cho nên hiệu quả của các giờ lên lớp chưa cao.


Mặt khác, khi vận dụng phương pháp thuyết trình, phương pháp nêu vấn đề vào
giảng dạy còn bộc lộ một số hạn chế nhất định: Phương pháp thuyết trình là phương
1
pháp mà giáo viên bằng lời lẽ của mình truyền tải kiến thức đến học sinh, học sinh
lĩnh hội tri thức một cách thụ động nên trong các giờ học đã xảy ra tình trạng: đọc-
chép, đến nhìn- chép, rồi sang nghe- chép. Dẫn đến chất lượng các giờ học kém.
Khi vận dụng phương pháp nêu vấn đề do vốn hiểu biết của học sinh còn rất
hạn chế mà kiến thức của bộ môn lại rất trừu tượng nên nhiều khi giáo viên phát vấn
học sinh không trả lời được, xảy ra tình trạng thầy hỏi xong lại tự trả lời dẫn đến các
giờ học trở nên tẻ nhạt, nhàm chán.
Với vận dụng phương pháp đàm thoại thì việc truyền thụ và lĩnh hội tri thức
mới của giáo viên và học sinh thông qua hệ thống câu trả lời những yêu cầu, gợi ý do
giáo viên nêu ra. Trên cơ sở những tri thức đã được lĩnh hội học sinh lại nêu lên
những câu hỏi để giáo viên giải đáp những vấn đề mà học sinh còn vướng mắc. Từ
đó làm cho các giờ học trở nên sôi nổi hơn, kích thích được sự ham mê, hứng thú học
tập của học sinh. Phát huy được tính chủ động, tích cực của học sinh trong giờ học.
Đặc biệt là giúp học sinh trả lời tốt các câu hỏi trắc nghiệm trong các giờ kiểm tra.
Từ kinh nghiệm sau các giờ lên lớp cho thấy để nâng cao hiệu quả trong các giờ
học môn Giáo dục công dân, để phát huy được tư duy sáng tạo kích thích được tính
chủ động, tích cực của học sinh và để thực hiện được mục đích “ lấy học sinh làm vị
trí trung tâm trong giờ học” tôi chọn đề tài: “ Vận dụng phương pháp đàm thoại trong
giảng dạy môn Giáo dục công dân ở trường THPT”
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I. QUAN NIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI:
Trong quá trình giảng dạy môn Giáo dục công dân căn cứ vào nội dung kiến
thức của từng bài giảng, giáo viên thường phải nêu ra những câu hỏi để dẫn dắt học
sinh thu nhận kiến thức mới hoăc hiểu sâu và nắm vững kiến thức đó. Những câu hỏi
do giáo viên nêu ra nhằm gợi lại những tri thức đã có ở học sinh, kể cả kiến thức học
sinh thu nhận được qua cuộc sống hàng ngày giúp cho học sinh dần tiếp cận với tri
thức mới và với cuộc sống. Ví dụ: để giảng phần I “ Tình yêu” ( Bài 12- Công dân

với tình yêu, hôn nhân và gia đình- GDCD- Lớp 10) giáo viên có thể dưa ra câu hỏi:
Dựa vào hiểu biết của mình em hãy đọc các câu thơ, tục ngữ, ca dao hoặc hát một
đoạn bài hát về tình yêu? Từ những câu thơ, tục ngữ, ca dao nói về tình yêu em thấy
tình yêu có những biểu hiện gì? Hãy nêu những quan niệm về tình yêu mà em biết?
2
Tình yêu nam, nữ khác tình yêu quê hương đất nước như thế nào? Thông qua hệ
thống những câu hỏi đó giáo viên dẫn dắt học sinh đến việc lĩnh hội tri thức mới.
Như vậy, đàm thoại là phương pháp dạy học, trong đó việc truyền thụ và lĩnh
hội tri thức mới của giáo viên và học sinh thông qua hệ thống câu trả lời những yêu
cầu, gợi ý do giáo viên nêu ra. Trên cơ sở những tri thức đã được lĩnh hội học sinh
nêu lên những câu hỏi để giáo viên trả lời.
Trong cuộc sống và hoạt động của bản thân con người luôn luôn đặt ra những
câu hỏi: Do đâu mà như vậy? Làm thế nào? Quan hệ ra sao?...Căn cứ vào những vốn
hiểu biết con người sẽ tìm kiếm những câu trả lời thích hợp, phương thức và phương
pháp hành động phù hợp với hiện thực xung quanh và trên cơ sở đó ngày càng hiểu
biết đầy đủ hơn, chính xác hơn thế giới khách quan. Quá trình nhận thức của con
người đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ đơn giản đến phức tạp, từ
cảm tính đến lí tính, từ kinh ngiệm đến lí luận. Đó chính là những nấc thang của nhận
thức giúp con người đi sâu vào bản chất của sự vât, hiện tượng, hiểu biết chân lí. Vì
thế, nhận thức và tư duy của con người luôn luôn giải pháp những vấn đề của cuộc
sống, của hiện thực khách quan mà họ chưa được sáng tỏ. Trên cơ sở của mối liên hệ
những cái đã biết, nắm vững kiến thức đã thu nhận được. Đàm thoại chính là sự hỗ
trợ, gợi mở giúp con người có thể đi đến nhận thức cái chưa biết làm giàu thêm tri
thức của mình trên cơ sở những kiến thức đã tích luỹ được. Nó có tính phổ biến và
tính thuyết phục cao không chỉ trong việc truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học mà
cả trong cuộc sống hàng ngày.
Đối với môn học GDCD, đàm thoại sẽ giúp cho học sinh tiếp cận, hiểu và
từng bước nẵm vững kiến thức mang tính phổ biến, khái quát và trừu tượng cao,
nhưng lại rất thiết thực và gắn bó với cuộc sống, hiện tại và tương lai của học sinh.
Đồng thời, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ hình thành, phát triển năng

lực tư duy độc lập, sáng tạo, tư duy lôgic. Bởi vì để trả lời được những câu hỏi, diễn
đạt được tư tưởng của mình, học sinh phải biết vận dụng các tri thức đã có, biết khái
quát, lập luận một cách lôgic trên cơ sở các phương pháp nhận thức, tư duy khoa học,
biết sử dụng ngôn ngữ khoa học…Thông qua đàm thoại, giáo viên có thể kiểm tra,
đánh giá kết quả giảng dạy của bản thân, kết quả thu nhận tri thức của học sinh và bổ
sung những khiếm khuyết của bản thân, của học sinh trong giờ giảng, trong quá trình
giảng dạy toàn bộ chương trình.
II. NHỮNG YÊU CẦU CHUNG CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI:
3
Để sử dụng tốt phương pháp đàm thoại trong giảng dạy môn GDCD nhằm đạt
hiệu quả cao trong giáo dục và giáo dưỡng, giáo viên bộ môn cần tuân theo các yêu
cầu sau:
1/ Đàm thoại có thể dùng để giảng tri thức mới hoặc củng cố tri thức cũ, kiểm tra đánh
giá kết quả giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh. Tuỳ theo mục và nội dung của
bài lên lớp, giáo viên lựa chọn hình thức đàm thoại cho phù hợp. Điều đó không có
nghĩa là tuyệt đối không được sử dụng, kết hợp nhiều hình thức đàm thoại trong một giờ
lên lớp. Sau khi đã lựa chọn hình thức đàm thoại, phải lựa chọn những hình thức đặt câu
hỏi phù hợp với nó để xác định loại câu hỏi cần nêu ra. Loại câu hỏi rất đa dạng, chẳng
hạn như: Đúng hay không? Hoặc thế này hoặc thế khác? Tại sao? Như thế nào? Do đâu
mà có? …Trong khi đặt ra câu hỏi nên có những thay đổi nhất định để tránh sự ức chế,
tăng yếu tố kích thích hưng phấn tư duy của học sinh.
2/ Các câu hỏi đặt ra cần sắp xếp theo một hệ thống xác định, hợp lí giúp học sinh theo
dõi, lĩnh hội đầy đủ kiến thức mới. Khi chuyển từ câu hỏi này sang câu hỏi khác cần tạo
ra sự liên hệ giữa chúng để kiến thức không bị cắt rời. Ví dụ: Khi giảng phần 3. Vai trò
của thực tiễn đối với nhận thức ( Bài 7- GDCD 10). Để làm rõ được vai trò: “ thực
tiễn là cơ sở của nhận thức”. Giáo viên có thể cho học sinh đọc đoạn ca dao:
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm…

Từ đó giáo viên phải xây dựng được một hệ thống các câu hỏi mà giữa chúng có sự
liên hệ chặt chẽ, chẳng hạn như: Vì sao người nông dân nói trên phải quan sát thế giới
xung quanh mình? Việc quan sát các sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh như
trời, đất, mây, mưa, nắng, ngày, đêm đem lại cho họ điều gì? Suy cho cùng những hiểu
biết mà người nông dân nói trên có được bắt nguồn từ đâu? Con người đã phải làm gì để
có được những hiểu biết đó? Từ đó cho biết vì sao nói thực tiễn là cơ sở của nhận thức.
3/ Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, chính xác cả về nội dung và từ ngữ. Những câu hỏi
dài, mập mờ, không chính xác sẽ làm cho học sinh khó hiểu, hoặc không hiểu và do đó
sẽ khó trả lời hay trả lời không đúng nội dung định hướng của giáo viên.
4/ Câu hỏi phải phù hợp với nội dung bài giảng, gần gũi với thực tế hay những nội dung
kiến thức học sinh đã tích luỹ được. Câu hỏi đòi hỏi trả lời bằng những kiến thức học
4
sinh chưa đựơc trang bị, tích luỹ sẽ làm cho các em không đủ khả năng trả lời dẫn đến
chán học.
5/ Câu hỏi đặt ra phải phù hợp với đặc điểm, tâm sinh lí, thực tế xã hội (Tình hình,
phong tục, tập quán, tôn giáo…của địa phương), trình độ học sinh. Khi nêu ra các câu
hỏi cần tính đến các loại học sinh khác nhau trong một lớp để một mặt kích thích sự phát
triển trí tuệ ở học sinh trung bình và khá, mặt khác có thể giúp học sinh yếu kém phát
huy tính tích cực, do đó động viên sự hăng hái học tập của học sinh. Muốn vậy cần có sự
đầu tư thoả đáng của giáo viên vào việc đặt câu hỏi chính, dự kiến những cách trả lời
của học sinh, đặt ra các câu hỏi phụ nhằm gợi mở cho học sinh.
6/ Môn GDCD, một môn học có chức năng hệ tư tưởng, thường bị định kiến không tốt
về mặt chính trị, tư tưởng. Cho nên cần khuyến khích học sinh tự do đặt ra, tranh luận,
giải quyết những vấn đề thuộc nội dung bài học và thực tiễn đang diễn ra xung quanh.
Chính việc tranh luận của học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo viên sẽ giúp cho cả giáo
viên và học sinh lí luận và thực tiễn đúng đắn và đầy đủ, rút bớt con đường nhận thức
chân lí.
Khi đặt ra và giải đáp câu hỏi của mình, có thể học sinh sẽ phải mắc sai sót.
Với bất kì câu hỏi hay câu trả lời nào của học sinh, giáo viên phải thể hiện sự trân trọng,
chăm chú. Đối với những câu hỏi và câu trả lời tốt cần khuyến khích, khen ngợi kịp thời.

Nhưng với những câu trả lời có sai sót, kể cả sai về cách nhìn nhận đánh giá cũng không
vội vàng phê phán mà cần nhẹ nhàng và nghiêm túc phân tích để học sinh tự nhìn nhận
vấn đề đúng, sai của bản thân họ.
7/ Cần hết sức tránh những câu hỏi mà học sinh trả lời không cần suy nghĩ . Đối với
những câu hỏi mà học sinh chỉ cần trả lời “có” hoặc “không”, không nên quan niệm rằng
đó là những câu hỏi đơn giản, học sinh dễ trả lời. Đôi khi, để trả lời “có” hoặc “không”,
học sinh đã phải vận dụng không ít kiến thức đã tích luỹ được.
III. CÁC HÌNH THỨC ĐÀM THOẠI:
Căn cứ vào mục đích sử dụng những câu hỏi do giáo viên đưa ra nhằm giúp học
sinh tiếp cận và thu nhận kiến thức, có thể chia đàm thoại theo những hình thức cơ
bản: Đàm thoại có chủ đích và đàm thoại tự do.
1. Đàm thoại có chủ đích:
5

×