Tải bản đầy đủ (.pdf) (53 trang)

Khóa luận tốt nghiệp Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.09 MB, 53 trang )


1

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Khái quát chung về nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất
1.1.1. Khái niệm
Nguyên vật liệu là đối tượng lao động do doanh nghiệp mua, dự trữ để phục vụ
quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo ra sản phẩm. Nguyên vật liệu là một trong những
yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh. Đối với các doanh nghiệp sản xuất thì
giá trị nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm.
1.1.2. Đặc điểm của nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất
Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh nhất định và
bị tiêu hao toàn bộ vào trong quá trình sản xuất, không giữ lại nguyên hình thác vật
chất ban đầu. Toàn bộ giá trị nguyên vật liệu được chuyển hết một lần vào chi phí sản
xuất kinh doanh trong kỳ cũng có nghĩa là giá trị nguyên vật liệu góp phần tạo nên giá
thành của sản phẩm.
Nguyên vật liệu có 3 đặc điểm chính:
- Các nguyên vật liệu sẽ thay đổi về hình thái, không giữ nguyên được trạng thái
ban đầu khi đư vào sản xuất.
- Các nguyên vật liệu tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh (một
chu kỳ sản xuất kinh doanh).
- Toàn bộ giá trị của nguyên vật liệu được chuyển trực tiếp vào sản phẩm, là căn
cứ cơ sở để tính giá thành.
1.1.3. Vai trò của nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất
Nguyên liệu dùng vào sản xuất bao gồm nhiều loại nguyên liệu như: nguyên
liệu chính, nguyên liệu phụ Chúng là yếu tố trực tiếp tham gia một lần vào chu kỳ
sản xuất và cấu thành thực thể sản phẩm. Chất lượng của nguyên vật liệu ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng sản phẩm đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh
nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp muốn nâng cao chất lượng sản phẩm thì cần phải chú
trọng đảm bảo chất lượng của nguyên vật liệu.


Đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất thực chất là nghiên cứu một trong các yếu tố
chủ yếu của sản xuất. Thông qua việc nghiên cứu này để giúp cho doanh nghiệp thấy
rõ được ưu nhược điểm trong công tác cung cấp nguyên liệu đồng thời có biện pháp
Thang Long University Library

2

đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại và quy cách phẩm chất. Không để
xảy ra tình trạng cung cấp thiếu nguyên liệu ngừng sản xuất, thừa nguyên liệu gây ứ
đọng vốn sản xuất.
1.2. Yêu cầu trong việc quản lý nguyên vật liệu và nhiệm vụ của kế toán nguyên
vật liệu
1.2.1. Yêu cầu trong việc quản lý nguyên vật liệu
Dựa trên đặc điểm của nguyên vật liệu thì để quá trình sản xuất kinh doanh diễn
ra một cách liên tục, doanh nghiệp phải đảm bảo cung cấp cung cấp nguyên vật liệu
kịp thời về mặt số lượng, chất lượng cũng như chủng loại vật liệu. Vì vậy trong quá
trình sản xuất kinh doanh, nguyên vật liệu cần được theo dõi, quản lý chặt chẽ ở tất cả
các khâu bao gồm: thu mua, dự trữ, bảo quản và sử dụng nguyên vật liệu.
- Ở khâu thu mua nguyên vật liệu, nhà quản lý phải thực hiện đúng kế hoạch
mua hàng dựa trên số lượng, khối lượng nguyên vật liệu cần mua, kiểm tra quy cách,
chất lượng của nguyên vật liệu, dự trù về giá và chi phí mua sao cho hợp lý, đồng thời
tổ chức tốt khâu vận chuyển để tránh thất thoát.
- Tại khâu dự trữ, doanh nghiệp phải dự trữ nguyên vật liệu trong định mức
đảm bảo cho sản xuất liên tục bình thường không gây ứ đọng
- Ở khâu bảo quản, thường xuyên kiểm tra đối với từng loại nguyên vật liệu, tổ
chức tốt công tác quản lý kho hàng, bến bãi, trang bị đầy đủ các dụng cụ, phương tiện
cần thiết tránh hư hỏng, mất mát, đảm bảo việc bảo quản diễn ra theo đúng yêu cầu
của tổ chức.
- Cuối cùng, khi đưa vào sử dụng, phải đưa ra các kế hoạch và quản lí chặt chẽ
đối với nhân công lao động trực tiếp để sử dụng nguyên vật liệu đúng định mức tiêu

hao, đúng chủng loại vật liệu, góp phần giảm chi phí nguyên vật liệu, hạ giá thành sản
phẩm và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
1.2.2. Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu
Xuất phát từ yêu cầu quản lý vật liệu của doanh nghiệp thì kế toán vật liệu trong
doanh nghiệp sản xuất cần thực hiện tốt những nhiệm vụ sau đây:
- Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời số hiện có và tình hình luân chuyển của
nguyên vật liệu về giá cả và hiện vật. Tính toán đúng đắn trị giá vốn thực tế của
nguyên vật liệu nhập kho, xuất kho nhằm cung cấp thông tin kịp thời chính xác phục
vụ cho yêu cầu lập báo cáo tài chính và quản lý doanh nghiệp.

3

- Kiểm tra tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch, phương pháp kỹ thuật về
hạch toán nguyên vật liệu. Đồng thời hướng dẫn các bộ phận, các đơn vị trong Doanh
nghiệp thực hiện đầy đủ các chế độ hạch toán ban đầu về nguyên vật liệu, phải hạch
toán đúng chế độ, đúng phương pháp quy định để đảm bảo sự thống nhất trong công
tác kế toán nguyên vật liệu.
- Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu
từ đó phát hiện, ngăn ngừa và đề xuất những biện pháp xử lý nguyên vật liệu thừa, ứ
đọng, kém hoặc mất phẩm chất, giúp cho việc hạch toán xác định chính xác số lượng
và giá trị nguyên vật liệu thực tế đưa vào sản xuất sản phẩm. Phân bố chính xác
nguyên vật liệu đã tiêu hao vào đối tượng sử dụng để từ đó giúp cho việc tính giá
thành được chính xác.
- Tổ chức kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho, cung cấp
thông tin cho việc lập báo cáo tài chính và phân tích hoạt động kinh doanh.
- Tổ chức ghi chép phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển,
bảo quản, đánh giá phân loại tình hình nhập xuất và quản lý nguyên vật liệu. Từ đó
đáp ứng được nhu cầu quản lý thống nhất của Nhà nước cũng như yêu cầu quản lý của
Doanh nghiệp trong việc tính giá thành thực tế của NVL đã thu mua và nhập kho đồng
thời kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua vật tư về số lượng, chủng loại, giá

cả, thời hạn cung cấp nguyên vật liệu một cách đầy đủ, kịp thời.
1.3. Phân loại và tính giá nguyên vật liệu
1.3.1. Phân loại nguyên vật liệu
Căn cứ vào vai trò và công dụng của vật liệu trong quá trình sản xuất, nguyên vật liệu
được chia thành các loại sau:
- Nguyên vật liệu chính: Đối với các doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu
chính là đối tượng lao động chủ yếu cấu thành nên sản phẩm. Ví dụ, mía là nguyên vật
liệu chính của doanh nghiệp sản xuất đường. Tuy nhiên, đường lại là nguyên vật liệu
chính của doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo. Do vậy, khái niệm nguyên vật liệu chính
gắn liền với từng doanh nghiệp cụ thể. Ngoài ra, nguyên vật liệu chính còn bao gồm
bán thành phẩm mua ngoài, được sử dụng với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất sản
phẩm, ví dụ như doanh nghiệp sản xuất bàn ghế có thể nhập nguyên vật liệu chính là
các loại gỗ đã được bào, mài.
- Nguyên vật liệu phụ: Cũng là đối tượng lao động như nguyên vật liệu chính
nhưng chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất được sử dụng cùng với nguyên vật
Thang Long University Library

4

liệu chính để làm thay đổi một số tính chất lí hoá của nguyên vật liệu chính (hình
dáng, màu sắc, mùi vị ) hoặc phục vụ hoạt động của các tư liệu lao động, phục vụ cho
lao động của công nhân viên chức, phục vụ cho công tác quản lý. Ví dụ như sơn là vật
liệu phụ trong doanh nghiệp sản xuất bàn ghế, làm thay đổi màu sắc bên ngoài của sản
phẩm.
- Nguyên vật liệu khác: Là những nguyên vật liệu được sử dụng để đảm bảo
quá trình sản xuất diễn ra bình thường hoặc phục vụ cho nhu cầu công nghệ, kĩ thuật
trong quá trình sản xuất.
+ Nhiên liệu: Có tác dụng cung cấp nhiệt lượng để vận hành máy móc khi tiến
hành sản xuất (dầu, khí ga, xăng,…).
+ Phụ tùng thay thế: Là các vật tư, sản phẩm dùng để thay thế, sửa chữa máy

móc, thiết bị (ốc, đinh vít, bánh răng,…).
+ Phế liệu: Là các loại vật liệu loại ra trong quá trình sản xuất mà doanh nghiệp
có thể thu hồi được như vải vụn trong doanh nghiệp dệt may, gỗ bào trong doanh
nghiệp sản xuất đồ gỗ,…
Căn cứ vào mục đích sử dụng của vật liệu đối với quá trình sản xuất nguyên vật
liệu được chia thành ba loại sau:
- Vật liệu dùng cho sản xuất là các loại vật liệu tiêu hao trong quá trình sản xuất
sản phẩm, như nguyên vật liệu chính, vật liệu dùng cho hoạt động quản lý phân
xưởng.
- Vật liệu dùng cho hoạt động bán hàng là những vật liệu phục vụ cho hoạt động
bán hàng.
- Vật liệu dùng cho hoạt động quản lý doanh nghiệp là những nguyên vật liệu bị
tiêu hao trong hoạt động quản lý.
Căn cứ vào nguồn hình thànhcủa nguyên vật liệu doanh nghiệp chia ra làm hai
loại vật liệu thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và vật liệu không thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp.
Vật liệu thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp bao gồm:
- Vật liệu mua ngoài là những vật liệu sử dụng cho sản xuất kinh doanh được
doanh nghiệp mua ở thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Đây là
nguồn cung ứng chính của doanh nghiệp .

5

- Vật liệu tự sản xuất là những vật liệu mà do doanh nghiệp tự sản xuất ra hay
thuê ngoài chế biến để sử dụng cho sản xuất ở giai đoạn sau.
- Vật liệu nhận góp vốn liên doanh,biếu tặng, cấp phát là những vật liệu do doanh
nghiệp khác liên doanh, biếu tặng hay cấp trên cấp phát theo chế độ.
- Phế liệu thu hồi là những vật liệu bị thải ra trong quá trình sản xuất, có thể sử
dụng hoặc đem bán.
Vật liệu không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp như vật liệu do doanh

nghiệp khác gửi nhờ, vật liệu thừa không rõ nguyên nhân.
1.3.2. Tính giá nguyên vật liệu
1.3.2.1. Tính giá nguyên vật liệu nhập kho
Tính giá của nguyên vật liệu nhập kho làm theo nguyên tắc giá phí. Nguyên vật liệu
nhập kho trong kỳ của đơn vị bao gồm rất nhiều nguồn nhập khác nhau. Tuỳ theo từng
nguồn nhập mà giá trị thực tế của vật liệu nhập kho được vạch rõ khác nhau.
- Đối với vật liệu mua ngoài:
Giá trị
thực tế
của NVL
Giá mua
NVL theo
hóa đơn
CKTM,
giảm giá,
trả lại
Chi
phí thu
mua
Các loại thuế
không được
hoàn lại
Trong đó:
+ Chi phí thu mua: bao gồm chi phí vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt trong định mức.
+ Các khoản thuế không được hoàn lại: như thuế nhập khẩu, thuế GTGT (nếu đơn vị
tính thuế GTGT theo cách thức trực tiếp)…
- Đối với vật liệu thuê ngoài gia công chế biến:
Giá trị thực tế của
NVL
Giá NVL thuê

ngoài GCCB
Chi phí thuê ngoài
GCCB
Chi phí vận chuyển
(nếu có)

- Đối với vật liệu tự gia công chế biến:
Giá trị thực tế của NVL
Giá thành sản xuất NVL
Chi phí vận chuyển
(nếu có)

= -
+
-
=
+

+

=
+

Thang Long University Library

6

- Đối với nguyên vật liệu nhận vốn góp liên doanh thì giá thực tế là giá trị
nguyên vật liệu do hội đồng liên doanh đánh giá.
- Đối với nguyên vật liệu do nhà nước cấp hoặc được tặng thì giá trị thực tế được

tính là giá trị của nguyên vật liệu ghi trên biên bản bàn giao hoặc ghi theo giá trị
vật hiến tặng, thưởng tương đương với giá trị trường.
- Đối với nguyên vật liệu vay mượn tạm thời của đơn vị khác thì giá trị thực tế
được tính là giá trị hiện tại của số nguyên vật liệu đó.
- Đối với phế liệu thu hồi: được đánh giá theo giá ước tính hoặc giá thực tế (có
thể bán được).
1.3.2.2. Tính giá nguyên vật liệu xuất kho
• Phương pháp bình quân gia quyền
Theo phương pháp này, giá thực tế của vật liệu xuất dùng trong kỳ được tính
theo giá đơn vị bình quân của từng loại nguyên vật liệu đầu kỳ và từng loại nguyên vật
liệu được mua trong kỳ, giá trị trung bình có thể tính theo thời kỳ hoặc mỗi khi nhập
một lô hàng về, phụ thuộc vào tình hình của doanh nghiệp. Có 2 phương pháp tính giá
bình quân sau:
- Phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ:
Đơn giá bình quân Giá trị NVL tồn đầu kỳ+ Giá trị NVL nhập trong kỳ
cả kỳ dự trữ Số lượng NVL tồn đầu kỳ+ số lượng NVL nhập trong kỳ
Phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp có ít danh điểm nguyên vật
liệu nhưng số lần nhập, xuất của mỗi danh điểm nhiều.
Phương pháp này đơn giản, dễ làm, giảm nhẹ được việc hạch toán chi tiết
nguyên vật liệu, không phụ thuộc vào số lần nhập xuất của từng danh điểm vật tư. Tuy
nhiên, công việc tính giá nguyên vật liệu xuất kho bị dồn vào cuối kỳ hạch toán nên
ảnh hưởng đến qui trình của các khâu kế toán khác.
- Phương pháp bình quân sau mỗi lần nhập:
Đơn giá bình Giá trị thực tế NVL tồn kho sau mỗi lần nhập
quân sau mỗi lần nhập Số lượng thực tế NVL tồn kho sau mỗi lần nhập
Phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp có ít danh điểm nguyên vật
liệu và số lần nhập nguyên vật liệu mỗi loại ít.
Phương pháp này cho giá vật liệu xuất kho chuẩn xác nhất, phản ảnh đúng thời điểm
sự biến động giá cả, công việc tính giá được tiến hành đều đặn.Nhưng công việc tính
toán nhiều và phức tạp, chỉ thích hợp với những đơn vị sử dụng kế toán máy.

=
=

7

• Phương pháp nhập trước – xuất trước (FIFO)
Phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là hàng được mua trước hoặc sản
xuất trước thì được xuất trước, và hàng còn lại cuối kỳ là hàng được mua hoặc sản
xuất ở thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính
theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn
kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn
tồn kho.
Phương pháp này giúp cho chúng ta có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất
kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép
các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối sát
với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán
có ý nghĩa thực tế hơn.
Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại
không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại. Theo phương pháp này, doanh thu
hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hoá đã có được từ cách đó rất
lâu. Đồng thời nếu số lượng chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục
dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên
rất nhiều.
• Phương pháp nhập sau – xuất trước (LIFO)
Theo phương pháp này, nguyên vật liệu được tính giá thực tế xuất kho giả định
là lô nguyên vật liệu nào nhập vào kho sau sẽ được dùng trước.Vì vậy, việc tính giá
xuất của nguyên vật liệu được làm ngược lại với phương pháp nhập trước - xuất trước.
Như vậy với phương pháp này chi phí của lần mua gần nhất sẽ tương đối sát với
trị giá vốn của hàng thay thế. Việc thực hiện phương pháp này sẽ đảm bảo được yêu
cầu của nguyên tắc phù hợp trong kế toán. Tuy nhiên, trị giá vốn của hàng tồn kho

cuối kỳ có thể không sát với giá thị trường của hàng thay thế.
• Phương pháp thực tế đích danh
Nguyên vật liệu được xác định theo đơn chiếc hay từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập
vào cho đến lúc xuất dùng. Vì vậy, khi xuất nguyên vật liệu ở lô nào thì tính giá thực
tế nhập kho đích danh của lô đó.
Thang Long University Library

8

Phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp có điều kiện bảo quản riêng từng lô
nguyên vật liệu nhập kho với các loại nguyên vật liệu có giá trị cao, phải xây dựng hệ
thống kho tàng cho phép bảo quản riêng từng lô nguyên vật liệu nhập kho.
Theo phương pháp này, giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà
nó tạo ra. Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực tế của
nó.
Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe, chỉ những
doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn
định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được phương pháp
này.Còn đối với những doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì không thể áp dụng được
phương pháp này.
1.4. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp thẻ song song
Tại kho: Thủ kho dùng thẻ kho để phản ánh tình hình nhập - xuất tồn nguyên vật liệu
về mặt số lượng. Mỗi chứng từ ghi một dòng vào thẻ kho.Thẻ được mở cho từng danh
điểm nguyên vật liệu. Cuối tháng thủ kho phải tiến hành tổng cộng số nhập, xuất, tính
ra số tồn kho về mặt lượng theo từng danh điểm nguyên vật liệu.
Tại phòng kế toán: Kế toán nguyên vật liệu sử dụng thẻ hay sổ chi tiết nguyên vật liệu.
Sổ chi tiết nguyên vật liệu kết cấu như thẻ kho nhưng thêm cột đơn giá và phản ánh
riêng theo số lượng, giá trị và cũng được phản ánh theo từng danh điểm nguyên vật
liệu.
Hàng ngày khi nhận được chứng từ nhập - xuất nguyên vật liệu ở kho, kế toán kiểm tra

và hoàn chỉnh chứng từ rồi ghi vào sổ (thẻ) chi tiết.
Định kỳ phải kiểm tra số liệu trên thẻ kho và sổ chi tiết.Cuối tháng tính ra số tồn kho
và đối chiếu số liệu với sổ kế toán tổng hợp.
Đối chiếu số liệu giữa sổ chi tiết vật liệu ở phòng kế toán và thẻ kho của thủ kho bằng
cách thông qua báo cáo tình hình biến động của nguyên vật liệu do thủ kho gửi lên.
+ Ưu điểm: Việc ghi sổ thẻ đơn giản, rõ ràng, dễ kiểm tra đối chiếu số liệu và phát
hiện sai sót trong việc ghi chép, quản lý chặt chẽ tình hình biến động và số hiện có của
từng thứ nguyên vật liệu theo số lượng và giá trị.
+ Nhược điểm: Việc ghi chép giữa kho và kế toán còn trùng lặp về chỉ tiêu số lượng,
khối lượng công việc ghi chép quá lớn. Công việc còn dồn vào cuối tháng nên hạn chế
tính kịp thời của kế toán và gây lãng phí về lao động.

9

Phương pháp ghi thẻ song song áp dụng thích hợp với những doanh nghiệp có chủng
loại nguyên vật liệu ít, tình hình nhập - xuất nguyên vật liệu phát sinh hàng ngày
không nhiều, trình độ kế toán và quản lý không cao.Sơ đồ hạch toán chi tiết nguyên
vật liệu theo phương pháp sổ song song.
Sơ đồ 1.1.Kế toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp thẻ song song












Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Quan hệ đối chiếu
1.5. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu
1.5.1. Chứng từ kế toán và tài khoản sử dụng
1.5.1.1. Chứng từ sử dụng
Hạch toán tổng hợp vật liệu là việc ghi chép sự biến động về mặt giá trị của
nguyên vật liệu trên các sổ kế toán tổng hợp. Trong hệ thống kế toán hiện hành,
nguyên vật liệu thuộc nhóm hàng tồn kho nên hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu có
thể tiến hành theo một trong hai phương pháp sau: Phương pháp kê khai thường
xuyên, phương pháp kiểm kê định kỳ.
Thẻ kho
Phiếu nhập kho Phiếu xuất kho
Sổ kế toán chi tiết
nguyên vật liệu
Bảng tổng hợp
Nhập – Xuất – Tồn kho
nguyên vật liệu
Kế toán tổng hợp

Thang Long University Library

10

Chứng từ kế toán nguyên vật liệu được Nhà nước ban hành theo quyết định
15/2006/QĐ-BTC, ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính bao gồm:
- Phiếu nhập kho (mẫu 01-VT)
- Phiếu xuất kho (mẫu 02-VT)
- Biên bản kiểm nghiệm vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hoá (mẫu 03-VT)

- Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ (mẫu 04-VT)
- Biên bản kiểm kê vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hoá (mẫu 05-VT)
- Bảng kê mua hàng (mẫu 06-VT)
- Hoá đơn Giá trị gia tăng (mẫu 01GTKT-3LL)
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (mẫu 03 PXK-3LL)
1.5.1.2. Tài khoản sử dụng
Tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kế toán áp dụng luật thuế GTGT,
kế toán sử dụng các tài khoản sau:
- TK 152 “Nguyên liệu, vật liệu ”
Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá hiện có và tình hình biến động của các
loại nguyên liệu, vật liệu theo giá thực tế, có thể mở chi tiết theo từng loại, nhóm,
thứ… tuỳ theo yêu cầu quản lý và phương tiện tính toán.

TK 152 có kết cấu như sau:
TK 152

- Phản ánh giá thực tế nguyên vật liệu tồn
kho cuối kỳ. (Phương pháp kiểm kê định
kì)
- Phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm
tăng giá thực tế nguyên vật liệu trong kỳ
(mua ngoài, tự sản xuất, nhận góp vốn,
phát hiện thừa, đánh giá tăng…).
- Kết chuyển giá thực tế nguyên vật liệu tồn
đầu kỳ. (Phương pháp kiểm kê định kì)
- Phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm
giảm nguyên vật liệu trong kỳ theo giá thực
tế (xuất dùng, xuất bán, xuất góp vốn, thiếu
hụt…)
Giá thực tế của nguyên vật liệu tồn kho




- TK 151 “Hàng mua đang đi đường”
Tài khoản này dùng để theo dõi các loại nguyên vật liệu mà doanh nghiệp đã
mua hay chấp nhận mua, đã thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng cuối tháng
chưa về nhập kho (kể cả số đang gửi kho người bán).

11


Kết cấu của TK 151 như sau:
TK 151
- Kết chuyển giá thực tế nguyên vật liệu
đang đi đường đầu kỳ. (Phương pháp kiểm
kê định kì)
- Phản ánh giá trị nguyên vật liệu đang đi
trên đường
- Kết chuyển giá thực tế nguyên vật liệu
đang đi đường đầu kỳ. (Phương pháp kiểm
kê định kì)
- Phản ánh giá trị nguyên vật liệu đang đi
trên đường trước khi nhập kho hay chuyển
giao cho bộ phận sử dụng hoặc giao cho
khách hàng.
Giá trị nguyên vật liệu đang đi trên đường



- TK 611 “Mua hàng” (tiểu khoản 6111 – Mua nguyên liệu, nguyên vật liệu): Tài

khoản này dùng để theo dõi tình hình thu mua, tăng, giảm nguyên vật liệu theo
giá thực tế (giá mua và chi phí thu mua).
TK 611 có kết cấu như sau:
TK 611
Phản ánh giá thực tế của nguyên vật liệu
tồn kho đầu kỳ và tăng thêm trong kỳ
Phản ánh giá thực tế nguyên vật liệu xuất
dùng, xuất bán, thiếu hụt… trong kỳ và tồn
kho cuối kỳ


Ngoài ra, trong quá trình kế toán, kế toán còn sử dụng một số tài khoản khác có liên
quan như 152, 151, 133, 331, 111, 112
1.5.2. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu tại doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo
phương pháp kê khai thường xuyên
Phương pháp kê khai thường xuyên hàng tồn kho là phương pháp ghi chép phản ánh
thường xuyên liên tục có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn kho các loại vật liệu trên
các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất.


Thang Long University Library

12

Sơ đồ 1.2.Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu tại doanh nghiệp kế toán hàng tồn
kho theo phương pháp kê khai thường xuyên

TK 111, 112, 331, 141 TK 621
Nhập kho NVL mua ngoài Xuất dùng NVL phục vụ sản xuất
TK 151 TK 133 TK 627, 641, 642, 241

Nhập kho NVL đi đường NVL xuất dùng cho SXC,
TK 154 bán hàng, quản lí
Nhập kho NVLđể gia công TK 111, 112, 331
TK 411 CKTM, giảm giá, trả lại hàng
Nhận vốn góp liên doanh bằng NVL TK 133

TK 222 TK 154
Nhận lại vốn góp liên doanh bằng NVL Xuất NVL thuê ngoài gia công

TK 3381, 632 TK 222
NVL thừa khi kiểm kê, khi mua NVL mang đi góp vốn liên doanh
TK 811, 711
TK 412 CL tăng CL giảm
Chênh lệch đánh giá tăng NVL
TK 632
Xuất bán NVL
TK 621, 627 TK 1381, 632

NVL xuất dùng không hết nhập lại kho NVL thiếu khi kiểm kê, khi mua

TK 711 TK 412
NVL được biếu tặng, tài trợ Chênh lệch giảm do đánh giá NVL

TK 152

13

1.5.3. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kì
Phương pháp kiểm kê đình kỳ là phương pháp không thực sự thường xuyên,
liên tục tình hình nhập xuất tồn kho trên tài khoản kế toán mà chỉ theo dõi, phản ánh

giá trị tồn kho đầu kỳ và giá trị tồn kho cuối kỳ căn cứ vào số liệu kiểm kê định kỳ
trong kho. Việc xác định giá trị nguyên vật liệu xuất chung trên các tài khoản kế toán
tổng hợp không căn cứ vào các chứng từ nhập xuất kho mà căn cứ vào giá trị tồn kho
cuối kỳ mua nhập trong kỳ, kết quả kiểm kê cuối kỳ để tính.Chính vì vậy phương pháp
kiểm kê định kỳ được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất có quy mô nhỏ ít
chủng loại vật tư với quy cách mẫu mã rất khác nhau giá trị thấp và được xuất thường
xuyên.

Sơ đồ 1.3.Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu tại doanh nghiệp kế toán hàng tồn
kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ



TK 151,152 TK 151, 152
Kết chuyển NVL đầu kỳ Kết chuyển NVL cuối kỳ


TK 111,112, 331,311 TK 621, 627, 642
Mua NVL Kết chuyển NVL dùng cho SXKD

TK 133
TK 111, 112, 331
CKTM, giảm giá, trả lại hàng mua
TK 133



TK 611
Thang Long University Library


14

1.6. Các hình thức ghi sổ sử dụng trong kế toán nguyên vật liệu
Trong kế toán nguyên vật liệu có 4 hình thức ghi sổ:
- Nhật ký chung
- Chứng từ ghi sổ
- Nhật ký – Chứng từ
- Nhật ký – Sổ cái
Trong đó hình thức Nhật ký – Chứng từ
Sơ đồ 1.4. Kế toán nguyên vật liệutheo phương pháp Nhật ký - Chứng từ


















Bảng phân bổ số 2
Sổ chi tiết

NVL
Bảng tổng hợp
N-X-T NVL
Nhật kí
chứng từ số
5, 6
Nhật ký chứng từ số 7
Sổ cái TK 152 (TK 611)
Báo cáo tài chính
Bảng kê số 3
Sổ chi tiết
TK 331
Nhật kí
liên quan
Chứng từ gốc
Phiếu nhập kho, xuất kho
Bảng kê số 4,5,6
Chứng từ gốc
Phiếu nhập kho, xuất kho
Bảng kê số 4, 5, 6
Sổ cái TK 152 (TK 611)

15

Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối kỳ
Quan hệ đối chiếu
Hình thức Nhật ký chung
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký chung: Tất cả các nghiệp vụ kinh tế,

tài chính phát sinh đều phải được ghi vào sổ Nhật ký, mà trọng tâm là sổ Nhật ký
chung, theo trình tự thời gian phát sinh và theo nội dung kinh tế (định khoản kế toán)
của nghiệp vụ đó. Sau đó lấy số liệu trên các sổ Nhật ký để ghi Sổ Cái theo từng
nghiệp vụ phát sinh.
Sơ đồ 1.5.Kế toán nguyên vật liệu theo hình thức Nhật ký chung













Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối kỳ
Quan hệ đối chiếu
Chứng từ kế
toán
(Hóa đơn, PNK, PXK…)
Sổ Nhật ký chung Sổ chi tiết NVL
Sổ cái TK 152 (TK 611)
Bảng tổng hợp N_X_T
NVL
Bảng cân đối số phát sinh

Báo cáo tài chính
Thang Long University Library

16

CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN CỒN RƯỢU HÀ NỘI
2.1. Khái quátchungvề Công ty Cổ phần cồn rượu Hà Nội
2.1.1. Thông tin chung về công ty
- Tên công ty: Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội.
- Tên tiếng anh: Ha Noi Liqour Joint Stock Company.
- Tên giao dịch: HALICO
- Hình thức sở hữu: Công ty Cổ phần.
- Trụ sở: 94 Lò Đúc, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
- Điện thoại: (04)3976 3763
- Email:
- Website: www.halico.com.vn
- Mã số thuế: 0100102245
- Vốn điều lệ: 200.000.000.000 VND (năm 2011)
Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội trực thuộc Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải
khát Hà Nội tiền thân là Nhà máy Rượu Hà Nội do Hãng Rượu Fontaine của Pháp xây
dựng từ năm 1898. Nhà máy Rượu Hà Nội được thành lập tại số 94 Lò Đúc. Đây là
nhà máy lớn nhất trong 5 nhà máy được công ty Fontaine của Pháp xây dựng ở Đông
Dương. Năm 2006, theo quyết định số 1626/QĐBCN ngày 16/11/2006 của Bộ trưởng
Bộ công nghiệp, Công ty TNHH NN MTV Rượu Hà Nội chuyển thành công ty Cổ
phần Cồn Rượu Hà Nội. Công ty chính thức hoạt động dưới hình thức cổ phần từ ngày
06/12/2006. Công ty có con dấu riêng, tài khoản riêng tại Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn Hà Nội, giấy phép đăng ký kinh doanh số 0104000163 cấp ngày
07/01/2004.Qua thời gian trên 100 năm xây dựng và phát triển, với công nghệ sản xuất
rượu, cồn được kết hợp giữa phương pháp lên men cổ truyền và những tiến bộ của

khoa học kỹ thuật hiện đại. Ngày nay, Halico đã trở thành một Công ty sản xuất cồn
rượu lớn nhất Việt Nam. Cùng với đội ngũ cán bộ công nhân viên lành nghề giàu kinh
nghiệm kết hợp với đội ngũ nhân viên trẻ, sáng tạo, năng động bên cạnh đó là việc sử
dụng các thành tựu khoa học về công nghệ mới nhất, Halico đã tạo ra những sản phẩm

17

có chất lượng tinh khiết và ổn định, bảo đảm vệ sinh công nghiệp, an toàn thực phẩm
và giữ gìn sự bề vững của môi trường.
Các sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng của Halico như: Lúa mới, Nếp mới, Vodka,
Ba Kích, … được khách hàng trong và ngoài nước mến mộ và để lại những ấn tượng
khó phai về hương vị nồng đượm, dịu êm thấm đẫm nền văn minh lúa nước Việt Nam.
Trong suốt quá trình hoạt động và phát triển Halico đã nhận được rất nhiều giải thưởng
khác nhau của các tổ chức trong nước và quốc tế trao tặng. Với truyền thống và bề dầy
kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất cồn, rượu; Halico đã, đang và sẽ là Công ty đi đầu
trong việc sản xuất những sản phẩm chất lượng phục vụ cho thị trường trong nước và
đặc biệt là việc giới thiệu sản phẩm Việt Nam chất lượng cao cùng thương hiệu“Halico
- Men say hồn Việt” ra thị trường quốc tế.
2.1.2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
Sơ đồ 2.1. Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty















Giám Đốc
Phó Giám Đốckinh doanh Phó Giám Đốcsản xuất
Phòng
Tổ
chức,
LĐTL
Phòng
Kế
hoạch
tiêu
thụ
Phòng
Hành
chính
Phòng
Kế
toán
tài
chính
Phòng
KCS
Phòng
Kỹ
thuật
cơ điện
Phòng

Vật tư
Phòng
Kỹ
thuật
công
nghệ
Giám đốc
Phó Giám đốc kinh doanh Phó Giám đốc sản xuất
Phòng
Tổ
chức,
LĐTL
Phòng
Kế
hoạch
tiêu
thụ
Phòng
Hành
chính
Phòng
Kế
toán
tài
chính
Phòng
KCS
Phòng
Kỹ
thuật

cơ điện
Phòng
Vật tư
Phòng
Kỹ
thuật
công
nghệ
Xí nghiệp
cồn
Xí nghiệp
rượu mùi
Xí nghiệp
phục vụ
Thang Long University Library

18

Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội là một đơn vị hạch toán độc lập, có đầy đủ tư cách
pháp nhân, là một đơn vị sản xuất kinh doanh bao gồm cả sản xuất kinh doanh thương
mại và xuất nhập khẩu trực tiếp. Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo mô
hình trực tuyến dưới sự quản lý của giám đốc, các phòng ban, các xí nghiệp có quan hệ
ngang nhau thông qua sự chỉ đạo trực tiếp của ban Giám đốc.
- Giám đốc là người trực tiếp điều hành mọi hoạt động và sắp xếp bổ nhiệm các thành
viên vào các vị trí phù hợp theo nhu cầu sản xuất từng giai đoạn, công việc của công
ty, là người chịu trách nhiệm trước Hội đồng thành viên về việc thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của mình và là người đại diện của Công ty theo pháp luật về mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh.
- Phó Giám đốc kinh doanh: Là người được giám đốc ủy quyền hoặc phần công chịu
trách nhiệm trong lĩnh vực kinh doanh trong toàn công ty. Tham mưu giúp giám đốc

xác định phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ, chiến lược kinh doanh nhằm không
ngừng nâng cao hoạt động kinh doanh của công ty đạt hiệu quả kinh tế cao.
- Phó Giám đốc kỹ thuật sản xuất: Là người được giám đốc ủy quyền hoặc phân công
chịu trách nhiệm về công tác quản lý kỹ thuật công nghệ, chất lượng sản phẩm, chất
lượng nguyên vật liệu đầu vào, nghiên cứu khoa học kỹ thuật, thiết kế, phân tích, xác
định năng suất kế hoạch, quản lý máy móc, thiết bị, quản lý công tác đào tạo, huấn
luyện đội ngũ kỹ thuật.
- Phòng tổ chức, lao động – tiền lương có nhiệm vụ thực hiện công tác tổ chức,
xây dựng phương án về quy hoạch cán bộ theo chủ trương của công ty và cấp trên,
đồng thời thực hiện công tác nhân sự: bổ nhiệm, miễn nhiệm, đề bạt, đào tạo, tuyển
dụng… và xây dựng phương án về quản lý lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, và các chế độ chính sách của Nhà nước đối với người lao động.
- Phòng hành chính có nhiệm vụ tổ chức và thực hiện công tác nội dung chính
trong công ty, các chính sách an ninh, xã hội, pháp chế,… thường trực công tác thi
đua, quản lý thiết bị văn phòng toàn công ty, quản lý hành chính cửa hàng giới thiệu
sản phẩm.
- Phòng tài chính kế toán có nhiệm vụ theo dõi mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty. Phòng kế toán là tham mưu đắc lực cho lãnh đạo công ty, thông
qua quản lý mua sắm, xuất nhập vật tư, thiết bị, tập hợp chi phí và tính giá thành sản
phẩm, tình hình tiêu thụ và kết quả. Ngoài ra còn tham mưu cho Giám đốc nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh.

19

- Phòng kế hoạch tiêu thụ có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch tiêu thụ ngắn hạn và
dài hạn, xây dựng kế hoạch sản xuất sản xuất kinh doanh phù hợp với kế hoạch giá
thành sản phẩm, xây dựng và quản lý các quy chế bán hàng, hệ thống phân phối, đại lý
và các phương thức hoạt động tiếp thị, bán hàng… Ngoài ra phòng còn có chức năng
nghiên cứu và phát triển thị trường trong và ngoài nước, triển khai và tổ chức thực
hiện tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa cho khách hàng trong và ngoài nước.

- Phòng kỹ thuật công nghệ: có nhiệm vụ phát minh, nghiên cứu mới những công
nghệ sản xuất đem lại hiệu quả cao, chỉ đạo kỹ thuật sản xuất rượu, cồn, bao bì,…
quản lý, giám sát, hướng dẫn việc thực hiện các quy trình công nghệ, định mức kinh
tế, kỹ thuật, đào tạo công nhân kỹ thuật công nghệ,…
- Phòng vật tư có nhiệm vụ lập kế hoạch mua vật tư về số lượng và giá trị cho
sản xuất trên cơ sở kế hoạch tiêu thụ, cung ứng các vật tư, nguyên, nhiên vật liệu, phụ
tùng, máy móc, thiết bị,… đồng thời quản lý các kho thành phẩm, kho vật tư, quản lý
xe vận tải của công ty.
- Phòng kỹ thuật cơ điện có nhiệm vụ quản lý toàn bộ tài sản, máy móc, thiết bị
điện, nước, môi trường trong công ty, xây dựng, tổ chức và thực hiện kế hoạch sửa
chữa thiết bị, nhà xưởng hàng quý, hàng năm.
- Phòng KCS có chức năng quản lý, kiểm tra, giám sát về chất lượng vật tư, hàng
hóa, nguyên, nhiên vật liệu,… theo tiêu chuẩn cơ sở và tiêu chuẩn Việt Nam. Đồng
thời tham gia công tác nghiên cứu sản phẩm mới, đề tài ứng dụng khoa học kỹ thuật,
đào tạo công nhân kỹ thuật…
- Xí nghiệp cồn là xí nghiệp sản xuất chính, có nhiệm vụ sản xuất cồn tinh chế từ
nguyên liệu tinh bột. Bao gồm các bộ phận: Tổ vận hành lò hơi, tổ vận chuyển, tổ nấu
tinh bột, tổ đường hóa lên men, tổ chưng cất, tổ vận hành máy nén, máy bơm, tổ phân
tích quản lý,…
- Xí nghiệp sản xuất rượu mùi là xí nghiệp sản xuất chính, sản xuất rượu pha chế
từ nguyên liệu cồn và các hương liệu chiết xuất từ hoa quả. Bao gồm các bộ phận: tổ
vận chuyển, tổ chế biến và pha chế, tổ máy rửa chai và chiết rượu, đóng nút chai, tổ
dán nhãn, tổ đai két. Hoạt động của xí nghiệp mang tính thời vụ.
- Xí nghiệp phục vụ là xí nghiệp sản xuất phụ để phục vụ cho 2 xí nghiệp sản
xuất chính. Nhiệm vụ chính là sản xuất bao bì, bảo dưỡng sửa chữa máy móc, thiết
bị,… nhằm đảm bảo cho quy trình sản xuất được diễn ra thường xuyên và liên tục.

Thang Long University Library

20


2.1.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và các chính sách kế toán được áp dụng tại
Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội
2.1.3.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán
Sơ đồ 2.2. Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội

















(Nguồn: Phòng Kế toán tài chính)
Ghi chú:
Quan hệ chỉ huy
Quan hệ hợp tác
Phó phòng Kế toán
(kiêm kế toán tiêu thụ)
Kế toán trưởng
(kiêm kế toán tổng hợp)

Kế toán
nguyên
vật liệu
Kế toán
TSCĐ
và tiền
lương
Kế toán
thanh
toán
Kế toán
chi phí
và tính
giá thành
Thủ
quỹ
Các nhân viên thống kê tại
các xí nghiệp
Kế toán trưởng
(kiêm Kế toán tổng hợp)
Phó phòng Kế toán
(kiêm Kế toán tiêu thụ)
Kế toán
nguyên
vật liệu
Kế toán
TSCĐ
và tiền
lương
Kế toán

thanh
toán
Kế toán
chi phí
và tính
giá thành
Thủ
quỹ
Các nhân viên thống kê tại
các xí nghiệp

21

- Kế toán trưởng là người điều hành mọi hoạt động của phòng kế toán, chịu
trách nhiệm với cấp trên về chấp hành pháp luật, thể lệ, chế độ kế toán tài chính hiện
hành. Kế toán trưởng là người cung cấp các thông tin về tình hình tài chính một cách
chính xác, kịp thời và toàn diện để ban Giám đốc đưa ra quyết định kinh doanh hợp lý.
Cuối niên độ kế toán Kế toán trưởng phải lập báo cáo tài chính.
- Kế toán tổng hợp làm nhiệm vụ mở sổ theo dõi tổng hợp các khoản chi
phí dựa trên phiếu chi, giấy thanh toán tạm ứng, chi phí nguyên vật liệu kết chuyển
vào các tài khoản có liên quan nhằm tính giá thành phẩm, xác định kết quả kinh doanh,
phân bổ kết quả kinh doanh, phân bổ tiền lương cho cán bộ công nhân viên.
- Phó phòng kế toán kiêm kế toán tiêu thụ thành phẩm là người có thể thay
mặt Kế toán trưởng khi được ủy nhiệm đưa ra các quyết định chỉ đạo, quản lý hoạt
động hạch toán kế toán. Bên cạnh đó, phó phòng kế toán chịu trách nhiệm tổ chức kế
toán phần hành tiêu thụ toàn công ty. Hàng ngày, căn cứ vào hóa đơn bán hàng, kế
toán tiêu thụ ghi vào bảng kê chi tiết theo từng hóa đơn, khách hàng, từng loại hàng
bán về số lượng và giá trị. Cuối tháng, căn cứ vào bảng kê chi tiết, kế toán ghi vào
bảng kê chi tiết 8,9 và tập hợp vào nhật ký - chứng từ số 8, đồng thời xác định tổng
doanh thu, giá vốn hàng bán để tính kết quả lãi (lỗ) trong kỳ kinh doanh của công ty

(hàng tháng).
- Kế toán nguyên vật liệu chịu trách nhiệm theo dõi tình hình nhập, xuất,
tồn vật tư, phân loại vật liệu, sau đó ghi sổ chi tiết xuất, nhập, vật tư.
- Kế toán tài sản cố định và tiền lương hàng tháng căn cứ vào nguyên giá
TSCĐ hiện có và thời gian dự kiến sử dụng của TSCĐ và tỷ lệ trích khấu hao do nhà
nước quy định tiến hành tính toán số khấu hao cho các đối tượng, theo dõi và phân bổ
tiền lương và bảo hiểm xã hội cho cán bộ công nhân viên trong công ty.
- Kế toán thanh toán hàng ngày căn cứ vào phiếu thu, chi tiền mặt, căn cứ
vào các chứng từ mua, bán chịu hàng hóa vật tư, các khoản phải trả, phải nộp khác, kế
toán ghi sổ chi tiết các tài khoản theo hóa đơn tương ứng với từng đối tượng khách
hàng hay nhà cung cấp. Cuối tháng căn cứ sổ chi tiết vào các nhật ký – chứng từ số
1,2,5,10, bảng kê số 1,2,11.
- Kế toán giá thành có nhiệm vụ tập hợp chi phí sản xuất ở các phân xưởng
và tính giá thành các sản phẩm.
- Thủ quỹ là người có nhiệm vụ trực tiếp quản lý thu, chi tiền mặt khi có
chứng từ hợp lệ, cuối ngày đối chiếu với sổ quỹ của kế toán thanh toán, số dư trên tài
Thang Long University Library

22

khoản 111 (tài khoản tiền mặt) phải trùng khớp với tiền mặt tại quỹ để đảm bảo rằng
việc ghi sổ và kiểm kê là trùng khớp.
- Các nhân viên thống kê ở các xí nghiệp thành viên có nhiệm vụ theo dõi
các khoản thu, chi về tài chính, sản xuất cũng như bán hàng sau đó chuyển lên phòng
kế toán.
2.1.3.2. Các chính sách kế toán áp dụng
- Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội kế toán nguyên vật liệutheo Quyết định
15/2006_QĐ/BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính.
- Phương pháp kế toán hàng tồn kho: Kê khai thường xuyên
- Phương pháp tính giá hàng tồn kho: Bình quân cả kỳ dự trữ

- Phương pháp ghi sổ kế toán: Nhật ký chứng từ
- Phương pháp khấu hao TSCĐ: Phương pháp khấu hao đường thẳng
- Phương pháp tính thuế GTGT: Phương pháp khấu trừ
- Niên độ kế toán: 1 năm (từ 01/01 đến 31/12)
- Kỳ kế toán: 1 tháng
- Đơn vị tiền tệ ghi chép: Việt Nam đồng











23

2.2. Thực trạng kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Cồn rượu HN
2.2.1. Phân loại và tính giá nguyên vật liệu
2.2.1.1. Phân loại nguyên vật liệu
Tại Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội, sản phẩm chính của công ty là cồn và
rượu được sản xuất từ các nguyên vật liệu chính mua ngoài như gạo, ngô, sắn lát, sắn
bột, đạm, đường, hoa quả tươi, hương liệu các loại,… và các sản phẩm của xí nghiệp
cồn phục vụ cho xí nghiệp rượu mùi. Các loại nguyên vật liệu chính mua ngoài này
được phản ánh trên tài khoản 152.1: “Nguyên vật liệu chính”.
Nguyên vật liệu phụ chủ yếu có nguồn gốc từ nhiều nguồn bên ngoài, cả trong
nước lẫn ngoài nước nên giá cả có phần biến động hơn. Các nguyên vật liệu phụ bao
gồm: phẩm màu, hóa chất, muối, axit chanh,… Các nguyên vật liệu phụ mua ngoài

được phản ánh trên tài khoản 152.2: “Nguyên vật liệu phụ”.
Bên cạnh đó, các loại nhiên liệu như dầu mỡ, sơn các loại… được tập hợp trên
tài khoản 152.3: “Nhiên liệu”.
Các loại phụ tùng thay thế như dây điện, bóng điện, đinh vít… được phản ánh
trên tài khoản 152.4: “Phụ tùng thay thế”
Cuối cùng là các nguyên vật liệu khác có tính chất bổ sung cho sản phẩm hoàn
thành như: các loại chai, các loại can, các cỡ hộp, nút chai, giấy gói, tem, nhãn, thùng
carton… được phản ánh trên tài khoản 152.7: “Nguyên vật liệu khác”.
Nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội do phòng vật tư phụ
trách, đảm nhiệm việc cung ứng. Phòng có nhiệm vụ theo dõi tình hình sản xuất, căn
cứ vào đó để lập kế hoạch thu mua nguyên vật liệu đảm bảo cho việc sản xuất được
vận hành đúng tiến độ.
2.2.1.2. Tính giá nguyên vật liệu
* Tính giá nguyên vật liệu nhập kho
+ Thông thường nguyên vật liệu do công ty mua về được giao tận kho công ty,
chi phí vận chuyển, bốc dỡ do phía đối tác chịu trách nhiệm. Trong một số trường hợp
thỏa thuận chi phí này do phía công ty Cổ phần Rượu Hà Nội chịu. Tùy theo yêu cầu
của nhà cung cấp và thỏa thuận giữa hai bên để lựa chọn hình thức thanh toán. Để đáp
ứng yêu cầu hạch toán hàng ngày của công ty thì giá nguyên vật liệu mua ngoài được
tính theo công thức sau:
Thang Long University Library

24

Giá thực tế
NVL mua
ngoài
Giá mua ghi
trên hóa đơn
Thuế NK, thuế

TTĐB (nếu có)

Trả lại,
CKTM, giảm
giá
Chi phí thu
mua
+ Nhập kho do phân xưởng sản xuất không sử dụng hết nhập trở lại kho
Giá thực tế NVL nhập kho = Số lượng NVL thực tế nhập kho x Đơn giá bình quân
Ví dụ: Ngày 3 tháng 12 năm 2013, công ty mua gạo của công ty Cổ phần Gạo Thái
Bình với số lượng 9.270 kg, đơn giá chưa thuế 36.320đ/kg, thuế GTGT 10%, chi phí
vận chuyển 1.860.000đ do bên bán chịu.
- Giá mua chưa thuế: 336.686.400
- Chi phí vận chuyển: 0
- Giá thực tế NVL: 336.686.400
* Tính giá nguyên vật liệu xuất kho, công ty tính giá theo phương pháp bình quân cả
kỳ dự trữ:
Giá thực tế vật liệu xuất trong kỳ = Số lượng vật liệu x Đơn giá bình quân
Giá đơn vị bình quân =
Giá thực tế vật liệu tồn đầu kỳ + nhập trong kỳ
Số lượng thực tế vật liệu tồn đầu kỳ + nhập trong kỳ
Ví dụ: Tính giá mặt hàng gạo trong tháng 12/2013
Ngày 1/12/2013, tồn là 5.810kg, đơn giá 35.250đ/kg
Ngày 3/12/2013, nhập 9.270kg, đơn giá 36.320đ/kg
Ngày 3/12/2013, xuất kho 14.795kg phục vụ sản xuất
Ngày 9/12/2013, nhập 13.845kg, đơn giá 35.250đ/kg
Ngày 12/12/2013, xuất kho 12.945kg phục vụ sản xuất
Ngày 13/12/2013, nhập 14.995kg, đơn giá 35.000đ/kg
Ngày 15/12/2013, nhập 11.495kg, đơn giá 33.200đ/kg
Ngày 21/12/2013, xuất kho 16.095kg phục vụ sản xuất

Ngày 29/12/2013, xuất kho 5.220kg phục vụ sản xuất
=
+
+
-

25

Giá đơn vị bình quân =
5.810*35.250 + 9.270*36.320 + 13.845*35.250 +
14.995*35.000 + 11.495*33.200
5.810 + 9.270 + 13.845 + 14.995 + 11.495

= 34.972
Giá thực tế vật liệu xuất kho ngày 3/12 = 14.795*34.972 = 517.416.658
Giá thực tế vật liệu xuất kho ngày 12/12 = 12.945*34.972 = 452.717.718
Giá thực tế vật liệu xuất kho ngày 21/12 = 16.095*34.972 = 562.880.778
Giá thực tế vật liệu xuất kho ngày 29/12 = 5.220*34.972 = 182.555.928
2.2.2. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu tại công ty
2.2.2.1. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu nhập kho
Hàng tháng, phòng kế hoạch tiêu thụ kết hợp với phòng vật tư sẽ tiến hành lập
kế hoạch sản xuất sản phẩm trong tháng rồi trình duyệt giám đốc. Khi được phê duyệt,
căn cứ vào kế hoạch sản xuất và mức dự trữ nguyên vật liệu, phòng vật tư sẽ lập kế
hoạch thu mua số lượng nguyên vật liệu thích hợp.Phòng vật tư có nhiệm vụ tìm kiếm
các nhà cung cấp đáp ứng đủ số lượng cũng như chất lượng nguyên vật liệu hoặc cũng
có nhiều nhà cung cấp đến chào giá trực tiếp cho công ty. Từ đó, một hay một vài nhà
cung cấp sẽ được lựa chọn để mua nguyên vật liệu.
Khi nguyên vật liệu được mua về, thủ kho cùng đội kiểm tra của phòng KCS sẽ
kiểm tra nguyên vật liệu về số lượng, quy cách sản phẩm. Nếu đạt yêu cầu, thủ kho sẽ
xác nhận số lượng thực nhập và tiến hành nhập kho. Sau đó, phiếu nhập kho được lập

thành 3 liên có đầy đủ chữ ký của những người có liên quan. Một liên lưu tại phòng
vật tư, một liên giao cho nhà cung cấp để làm thủ tục thanh toán, một liên giao cho thủ
kho để vào thẻ kho sau đó thủ kho chuyển lên cho kế toán nguyên vật liệu để ghi sổ kế
toán.
Căn cứ vào phiếu nhập kho, kế toán, thủ kho và bên cung ứng cùng tiến hành
kiểm nhập vật tư vào kho. Sau đó, thủ kho ghi số thực nhập trên cột thực nhập của
phiếu nhập kho.



Thang Long University Library

×