Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

BÀI TIỂU LUẬN-NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN TRONG TRIẾT LÝ NHÂN SINH PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (533.53 KB, 21 trang )

GV: TS. Bùi Xuân Thanh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
----------

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI

NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN TRONG TRIẾT LÝ NHÂN SINH
PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ

GIẢNG VIÊN:
SINH VIÊN:
MSSV:
LỚP:

TS. Bùi Xuân Thanh

TPHCM
Tháng 12 - 2012
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

1


GV: TS. Bùi Xuân Thanh

MỤC LỤC
CHƯƠNG I: SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY..............4
1.1. Sự ra đời của Phật giáo.....................................................................................................4


1.2. Những tư tưởng cơ bản trong triết lý nhân sinh của Phật giáo nguyên thủy....................9
CHƯƠNG II: Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH PHẬT GIÁO NGUYÊN
THỦY........................................................................................................................................15
3.1. Lời tuyên ngôn chống lại sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội................................16
3.2. Giáo dục con người giác ngộ chân lý và đạt được hạnh phúc (giải thoát).....................17
3.3. Giáo dục đạo đức, hướng thiện cho con người và xây dựng tính nhân bản sâu sắc......18

SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

2


GV: TS. Bùi Xuân Thanh

LỜI MỞ ĐẦU
Albert Einstein (1879 - 1955), nhà bác học nổi danh của thế kỷ thứ 20 đã từng phát
biểu: "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ. Tôn giáo ấy phải vượt lên
Thượng đế của cá nhân và tránh giáo điều cùng lý thuyết thần học. Bao trùm cả tự
nhiên và tâm linh, nó phải được căn cứ trên cảm nhận phát sinh từ kinh nghiệm của
tất cả mọi thứ tự nhiên và tâm linh như một sự hợp nhất đầy đủ ý nghĩa. Đạo Phật trả
lời cho những sự mô tả này. Nếu có một tơn giáo mà có thể đương đầu với những nhu
cầu của khoa học hiện đại, đấy sẽ là Đạo Phật”. Ông vẫn thường nhắc nhở các nhà
khoa học nên học hỏi ở các tôn giáo để bổ sung cho những khiếm khuyết của khoa học.
Ông nói : "Khoa học mà thiếu tơn giáo là khập khiễng. Tơn giáo mà khơng có khoa
học thì mù qng". Thật vậy, sự tiến bộ quá nhanh của khoa học kỹ thuật đã tạo ra
những khủng hoảng xã hội, mất thăng bằng về sinh thái, về văn hóa, tâm lý, đạo đức...
Cho nên, tơn giáo với cốt lõi là tình yêu, lòng từ bi và mong muốn hướng con người
đến cuộc sống tốt đẹp hơn, nhân ái hơn sẽ là chỗ đứng cho khoa học. Không ai khác
hơn, con người chính là cơ sở cho những phát minh tốt đẹp của khoa học ra đời, để
phục vụ và khoa học phải là “ngọn đuốc” để soi sáng rõ cho tôn giáo khỏi những điều

mù qng, mê tín; nếu khơng, thì những phát minh và thành tựu khoa học ấy sẽ trở nên
vơ nghĩa.
Phật giáo chính là một trường phái triết học – tôn giáo với hệ thống giáo lý đồ sộ, lâu
đời, ảnh hưởng sâu rộng và chứa đựng nhiều tư tưởng triết lý sâu sắc. Điểm nổi bật
nhất trong triết lý Phật giáo nguyên thủy chính là tư tưởng nhân sinh quan đầy tính
nhân bản mà ở đó, con người chính là trung tâm của lý luận Phật giáo. Tuy đã trải qua
bao cuộc thăng trầm biến thiên của lịch sử nhân loại, Phật giáo vẫn mãi là tiếng nói của
tình thương và độ lượng. Qua mọi miền xứ sở và thời đại khác nhau, Đạo Phật đã khéo
léo thích ứng với từng nền văn hóa khác nhau. Do vậy, để ngọn đèn chính pháp được
mãi thắp sáng và lưu truyền trong nhân loại, chúng ta phải biết sống cho tốt, phù hợp
với đạo lý mà Phật đã dạy.

SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

3


GV: TS. Bùi Xuân Thanh

CHƯƠNG I: SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN
THỦY
1.1. Sự ra đời của Phật giáo
1.1.1. Hoàn cảnh ra đời Phật giáo ở Ấn Độ
Về điều kiện thiên nhiên, Ấn Độ cổ đại là một vùng đất có điều kiện tự nhiên đa dạng.
Đất nước này vừa có dãy núi Hymalaya hùng vĩ án ngữ kéo dài trên hai ngàn km ở
phía Bắc, vừa có biển Ấn Độ Dương rộng mênh mơng; vừa có sơng Ấn chảy về phía
Nam, lại có sơng Hằng chảy về phía Tây. Vì thế, đất nước Ấn Độ bao gồm nhiều miền
khí hậu khác biệt, từ những vùng đồng bằng trù phú màu mỡ cho đến những vùng
nóng ẩm mưa nhiều, vùng lạnh giá quanh năm tuyết phủ, hay lại có những vùng sa
mạc khơ cằn, nóng bức. Yếu tố địa lý đa dạng và khắc nghiệt này chính là cơ sở để

hình thành sớm những tư tưởng tơn giáo và triết học của người Ấn Độ cổ đại.
Về kinh tế – xã hội, từ thế kỷ VI – I TCN, nền kinh tế – xã hội chiếm hữu nô lệ Ấn Độ
đã phát triển, thổ dân trên bán đảo Nam Á là người Dravidian và Sumerian đã có nền
văn minh khá cao. Đầu thế kỷ II TCN, một nhánh người Aryan thâm nhập vào bán đảo
Ấn Độ, dần dần chuyển sang định cư và sống bằng nghề nông. Đặc điểm nổi bật của
nền kinh tế – xã hội của xã hội Ấn Độ cổ, trung đại là sự tồn tại rất sớm và kéo dài của
kết cấu kinh tế – xã hội theo mơ hình “cơng xã nơng thơn”. Mơ hình này có đặc trưng
là ruộng đất thuộc quyền sở hữu nhà nước của các đế vương, gắn liền với nó là sự bần
cùng hố của người dân trong cơng xã, và quan hệ giữa gia đình thân tộc được coi là
quan hệ cơ bản, cùng với xã hội được phân chia thành các đẳng cấp. Xã hội thời kỳ
này được phân chia thành 4 đẳng cấp lớn là: tăng lữ, quý tộc, bình dân tự do và tiện nơ
(hay nơ lệ). Ngồi sự phân biệt đẳng cấp, xã hội Ấn Độ cổ đại cịn có sự phân biệt về
chủng tộc, dịng dõi, nghề nghiệp, tơn giáo. Chính sự phân chia đẳng cấp đó làm cho
xã hội xuất hiện những mâu thuẫn gay gắt dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp giữa các
đẳng cấp trong xã hội. Trong cuộc đấu tranh ấy, nhiều tôn giáo và trường phái triết học
đã ra đời, trong đó có Phật giáo.
Về văn hóa – khoa học, Ấn Độ cổ đại có một nền triết học phát triển từ rất sớm. Văn
hoá Ấn Độ cổ – trung đại được chia làm ba giai đoạn. Khoảng thế kỷ XXV-XV TCN
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

4


GV: TS. Bùi Xuân Thanh

gọi là nền văn minh sông Ấn, từ thế kỷ XV – VII TCN gọi là nền văn minh Vêđa, đã
cho ra đời bộ thánh kinh Vêđa và từ thế kỷ VI – I TCN là thời kỳ hình thành các
trường phái triết học tơn giáo lớn gồm hai hệ thống đối lập nhau là chính thống và
khơng chính thống. Thời kỳ này, tiêu chuẩn của chính thống và khơng chính thống là
có thừa nhận uy thế của kinh Vêđa và đạo Bàlamôn hay không. Thời kỳ VI-I TCN là

thời kỳ triết học Bàlamôn (1000-800 năm TCN) và Upanishad (800-600 năm TCN).
Trong Upanishad đã đề cập đến nhiều vấn đề có ý nghĩa triết học thực sự như mối
quan hệ giữa tinh thần vũ trụ (Brahman) và linh hồn cá thể (Atman), thuyết luân hồi,
nghiệp nhân quả, vấn đề giải thốt... Những tư tưởng đó đã đặt nền móng vững chắc để
cho các trào lưu tư tưởng mới sau này phát triển. Thế giới quan thần thoại, chủ nghĩa
duy tâm trong thánh kinh Vêđa, Upanishad và đạo Bàlamôn thống trị đời sống tinh
thần của xã hội Ấn Độ cổ đại. Về khoa học, ngay từ thời kỳ cổ đại, người Ấn Độ đã đạt
được những thành tựu về khoa học tự nhiên như có kiến thức phong phú về thiên văn,
sáng tạo ra lịch pháp, đã biết quả đất xoay tròn và tự xoay quanh trục của nó, phát
minh ra số thập phân, chữa bệnh bằng thuật châm cứu, bằng cây thuốc…
Như vậy, tất cả những đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hố, xã hội nói trên là cơ sở cho
sự nảy sinh và phát triển những tư tưởng triết học của Ấn Độ thời cổ, trung đại với các
hình thức phong phú đa dạng. Và Phật giáo ra đời vào khoảng thế kỷ VI TCN với tư
cách là một hệ tư tưởng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳng
cấp xã hội khắc nghiệt, phủ nhận uy thế của kinh Vêđa, lý giải căn nguyên nỗi khổ và
tìm đường giải thoát cho con người khỏi nỗi khổ triền miên, đè nặng trong xã hội nơ lệ
Ấn Độ. Có thể nói rằng, ngay từ lúc mới ra đời, đạo Phật với triết lý nhân sinh sâu sắc
đã trở thành một trong những ngọn cờ tiên phong của phong trào địi tự do tư tưởng và
bình đẳng xã hội Ấn Độ đương thời.Vì chống lại sự ngự trị của đạo Bàlamôn đặc biệt
là quan điểm của kinh Vêđa nên Phật giáo được xem là dịng triết học khơng chính
thống.
1.1.2. Thân thế và sự nghiệp của Đức Phật Thích Ca

SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

5


GV: TS. Bùi Xuân Thanh


Người sáng lập Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni, tên thật là Tất Đạt Đa (Siddhattha), họ
là Cù Đàm (Goutama), thuộc bộ tộc Sakya. Tất Đạt Đa là thái tử của vua Tịnh Phạn,
một nước nhỏ nằm ở Bắc Ấn Độ (nay thuộc vùng đất Nepan). Ông sinh ngày 8 tháng 4
năm 563 TCN, theo truyền thống Phật lịch là ngày 15/04 (rằm tháng tư) cịn gọi là
ngày Phật Đản.
Mặc dù ơng được sống trong cảnh cao sang quyền quý, dòng dõi đế vương, lại có vợ
đẹp con ngoan nhưng trước bối cảnh xã hội phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, với sự bất
lực của con người trước khó khăn của cuộc đời. Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ con
đường vương giả xuất gia tu đạo. Sau 6 năm tu hành, năm 35 tuổi, Tất Đạt Đa đã giác
ngộ tìm ra chân lí “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên”, tìm ra con đường giải
thốt nỗi khổ cho chúng sinh. Từ đó ông đi khắp nơi để truyền bá tư tưởng của mình.
Về sau, ơng được suy tơn với nhiều danh hiệu khác nhau: Đức Phật, Đức Thế Tơn,
Thích Ca Mâu Ni, Thánh Thích Ca… trong dân gian thường gọi là Phật hay Bụt.
Qua hơn 40 năm hoằng pháp và truyền đạt giáo lý Phật giáo khắp Ấn Độ. Ông qua đời
ở tuổi 80 và để lại cho nhân loại những tư tưởng triết học Phật giáo vô cùng quý báu.
Với mục đích nhằm giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộc sống đức
độ của con người, Phật giáo nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đơng
đảo quần chúng lao động. Nó đã trở thành biểu tượng của lòng từ bi bác ái trong đạo
đức truyền thống của các dân tộc Châu Á. Kinh điển của phật giáo rất đồ sộ gồm 5000
quyển, chia thành Tam tạng kinh (Tạng kinh, Tạng luật và Tạng luận).Tam tạng lại
chia làm hai loại là Đại thừa và Tiểu thừa. Tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo
nguyên thủy được trình bày trong tạng Kinh, chủ yếu nói về thế giới quan và nhân sinh
quan của Phật Thích Ca.
1.1.3. Phật giáo nguyên thủy và các tông phái Phật giáo
Đạo Phật có một lịch sử phát triển thăng trầm trong suốt hơn 2500 năm và nó lan toả từ
Ấn Độ ra khắp nơi. Do đó, việc hình thành các bộ phái khác nhau có phương pháp tu
học và cách giải thích khác nhau về giáo lý cho thích hợp với tình hình của mỗi xã hội

SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt


6


GV: TS. Bùi Xuân Thanh

ở mỗi thời điểm là chuyện tất yếu. Tuy vậy, bản thân giáo lý Phật giáo không hề thay
đổi theo sự phân chia tông phái này.
Sự phân chia thành bộ phái rõ nét đã bắt đầu xảy ra vào thời kỳ kết tập kinh điển lần
thứ II (khoảng 100 năm sau khi Thích Ca Mâu Ni mất). Lần phân chia đầu tiên là do sự
bất đồng về yêu cầu thay đổi 10 điều giới luật. Các điều này tuy không phải là những
thay đổi lớn lao nhưng đủ để gây ra sự tách biệt tăng đoàn thành Đại Chúng bộ
(Mahàsamghika) mà đa số là các tì kheo trẻ muốn thay đổi. Số còn lại bảo thủ các giới
luật nguyên thuỷ hình thành Thượng Tọa bộ (Theravada).
Các cuộc phân phái về sau trở nên phức tạp và đa dạng hơn. Đại Chúng bộ có trung
tâm hoạt động tại Amgotara, thuộc vùng Trung Ấn. Các cuộc phân hoá này tất cả đều
tách ra từ Đại Chúng Bộ và hình thành tổng cộng thành 9 bộ phái trong đó quan trọng
về mặt lý luận bao gồm: Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ, Kê dận bộ,
Đa văn bộ, Thuyết giả bộ, Chế đa sơn bộ, Tây sơn trụ bộ và Bắc sơn trụ bộ. Sự thay
đổi về điều kiện xã hội và địa lý và sự phân hố trong Đại Chúng bộ có thể là ngun
nhân gây ra sự chia phái của Thượng Tọa bộ thành tổng cộng 11 bộ. Các phái có sự
chuyển hố về lý luận bao gồm: Tuyết sơn bộ, Thuyết nhất thiết hữu bộ, Độc tử bộ,
Pháp thượng bộ, Hiền vị bộ, Chánh lượng bộ, Mật lâm sơn bộ, Hóa địa bộ, Pháp tạng
bộ, Ẩm quang bộ và Kinh lượng bộ.
Các bộ phái chính ngày nay:


Theravada: Theravada cịn gọi là Phật giáo nguyên thuỷ hay Phật giáo Nam
tông, tên quen gọi là Phật giáo Tiểu thừa. Tơng phái này hình thành ngay trong
thế kỷ đầu tiên sau khi Thích Ca viên tịch. Chữ Theravada có nghĩa là “lời dạy
của bậc trưởng thượng”, do đó nhiều sách cịn gọi nhóm này là Trưởng Lão bộ.

Trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ III, hội đồng tham gia kết tập đã công nhận
giáo pháp gọi là thuyết trưởng lão. Sau đó, con trai của vua Asoka (A Dục) là
Mahinda đã đem cả ba tạng kinh đến Tích Lan (Sri Lanka ngày nay). Ba tạng
kinh đã được dịch sang tiếng Pali và các tạng kinh này trở thành nguồn kinh sử
dụng của Theravada cho đến ngày nay.

SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

7


GV: TS. Bùi Xn Thanh


Mahayana: Mahayana có tên gọi khác là Phật giáo Đại thừa. Từ thế kỷ I TCN
các tư tưởng “đại thừa” đã bắt đầu xuất hiện và thuật ngữ Mahayana, hay “đại
thừa”, chỉ thực sự có khi nó được đề cập trong bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Nói chung, ý tưởng Mahayana là có xu hướng rộng rãi và tự do hơn là các phép
tắc ràng buộc của Theravada. Đến thế kỷ III, khái niệm Mahayana mới được
xác định rõ ràng qua bồ tát Long Thọ (Nagarjuna) trong Trung Luận (hay Trung
Qn Luận), chứng minh tính khơng của vạn vật. Các ý này đã được Long Thọ
khai triển dựa trên khái niệm “Vô ngã” và “Duyên sinh” đã có từ trong các kinh
điển Pali.



Vajrayana: Varayjana cịn có tên gọi là Tantra, Mật tông hay Kim cương thừa.
Tông phái này xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI. Phái này chia sẻ chung nhiều tư
tưởng với Đại thừa nhưng có nhấn mạnh trong việc thực hành. Các truyền giảng
được tập trung vào nhiều phương pháp tu học thực nghiệm mãnh liệt để đẩy

nhanh việc thăng tiến và có thể ngay trong cuộc sống hiện tại sẽ đạt đuợc giác
ngộ các thực nghiệm này thường được gọi là phương tiện. Nếu như Đại thừa có
nhiều tính chất thiên về triết lý, tư duy thì Mật tơng đi xa hơn về mặt thực
nghiệm và cũng thể hiện sự thích ứng linh hoạt của Phật giáo.



Tịnh Độ tơng: Tịnh Độ Tơng xuất hiện vào giữa thế kỷ IV từ sự truyền bá của
sư Huệ Viễn. Tư tưởng về Tịnh Độ thì có sẵn trong Phật giáo Ấn Độ nhưng tới
khi sang Trung Quốc thì nó phát triển thành một tơng phái. Tịnh Độ tông cũng
đuợc xem là một nhánh của Đại thừa song tơng này khơng có sự truyền thừa
như các tơng phái khác mà chỉ do sự đóng góp cơng sức để phát huy giáo lý
Tịnh Độ. Nguyên lý của tông phái dựa vào nguyện lực (tha lực) của Phật A Di
Đà và sự nhất tâm niệm danh hiệu Phật.



Thiền tơng: Thiền tơng (Dhyana) cịn có các tên khác là ZEN, ch’an, tên cũ là
Thiền na. Thiền là một phương tiện căn bản đã được đạo Phật sử dụng ngay từ
khởi thủy. Nhưng cho đến khi thiền sư sơ tổ của môn phái thiền Trung Hoa là
Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) du hành sang Trung Quốc (năm 520) và truyền
lại thì Thiền tông bắt đầu trở thành một tông phái riêng biệt. Đến đời thứ 6, sư

SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

8


GV: TS. Bùi Xuân Thanh


Huệ Năng (Hui-neng) đã đưa Thiền tơng phát triển và nó đã thịnh hành hơn tất
cả các tông phái Phật giáo khác ở Trung Quốc. Huệ Năng cũng là người đã hủy
bỏ thông tục truyền thừa, nghĩa là khơng có sư tổ đời thứ 7 của Thiền Tơng,
thay vào đó là hàng loạt các thiền sư có khả năng mở thành các phái thiền khác
dựa theo sự phân biệt về cung cách luyện tập và cách để đưa thiền giả đến chỗ
chứng ngộ chân lý.
1.2. Những tư tưởng cơ bản trong triết lý nhân sinh của Phật giáo nguyên thủy
Nói đến nhân sinh quan là nhắc đến những quan niệm của chúng ta về những định luật
diễn biến trong đời sống nhân loại và sự sống của con người.
1.2.1. Tư tưởng nghiệp báo, tái sinh
Nghiệp: chữ Phạn là Karma, bao gồm thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp mà gốc rễ
là do tham dục
Nghiệp báo trong một đời
Luật nhân quả? Nghiệp cũng bị chi phối bởi luật nhân quả
Nghiệp và tái sinh không những chỉ là những khái niệm của triết học Phật giáo mà có
từ trong Upanishad.
1.2.2. Triết lý Tứ Diệu Đế
Nhân sinh quan là nội dung chủ yếu của triết lý Phật giáo nguyên thủy, nó mang tính
nhân bản sâu sắc nhưng cũng chứa đầy tính chất duy tâm chủ quan, bi quan yếm thế,
khơng tưởng về đời sống xã hội và thần bí về đời sống con người. Nhân sinh quan của
Phật giáo nguyên thủy tiếp tục kế thừa những tư tưởng truyền thống được hình thành
từ trong thời kỳ Vêđa như tư tưởng nhân quả, nghiệp báo, tái sinh – luân hồi,… Tuy
nhiên, tư tưởng nổi bật tạo nên cốt lõi của quan niệm nhân sinh quan của Phật giáo
nguyên thủy là thuyết Tứ diệu đế (Tứ thánh đế – Catvary Arya Satya) với bốn bộ
phận là khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế.


Khổ đế: Là luận điểm khái quát về thực trạng của đời người.

SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt


9


GV: TS. Bùi Xuân Thanh

Triết lý nhân sinh Phật giáo cho rằng, bản chất cuộc đời con người là khổ:“Đời là bể
khổ, đời là cả những chuỗi bi kịch liên tiếp, bốn phương đều là bể khổ, nước mắt
chúng sinh nhiều hơn nước biển, vị mặn của máu và nước mắt chúng sinh mặn hơn
nước biển”. Đức Phật chỉ rõ: “Ba giới khơng chút nào n như là lị lửa, nỗi khổ đầy
rẫy trong đó, thật là đáng sợ” hay “ta thấy các chúng sinh đắm chìm trong bể khổ”
(Kinh Pháp Hoa). Chân lí về sự khổ trên thế gian, cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang
tính chất khổ não, không trọn vẹn, cuộc đời con người là một bể khổ. Phật xác nhận
chân tướng của cuộc đời là vơ thường, vơ ngã và vì vậy mà con người phải chịu khổ.
Nỗi khổ thế gian là khôn cùng, tuy nhiên có thể chia làm 8 nỗi khổ (bát khổ) trầm
luân bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái
biệt ly khổ (yêu thương mà phải chia ly, xa cách), sở cầu bất đắc khổ (muốn mà khơng
đạt được), ốn tăng hội khổ (ghét nhau mà phải sống với nhau), ngũ uẩn khổ (năm yếu
tố vô thường nung nấu làm khổ – sắc, thụ, tưởng, hành, thức).
Như vậy, cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức xúc của hồn
cảnh, sự khơng toại nguyện của tâm lý về bản chất. Khổ đế là một chân lý khách quan
hiện thực. Khổ hay hình thái bất an là kết quả hàng loạt nhân duyên được tạo tác từ
tâm thức. Như vậy tri nhân thực tại là một cách trực tiếp đi vào soi sáng mọi hình thái
khổ đau của con người. Để thấu hiểu triệt để cái căn nguyên của khổ đau, con người
không thể dừng lại ở sự thật của đau khổ, hay quay mặt chạy trốn, mà phải đi vào soi
sáng cái bản chất nội tại của nó.
Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ, nỗi đau khổ là vô tận, là tuyệt đối. Do đó, con người
ở đâu, làm gì cũng khổ. Cuộc đời là đau khổ khơng cịn tồn tại nào khác. Ngay cả cái
chết cũng không chấm dứt sự khổ mà là tiếp tục sự khổ mới. Phật ví sự khổ của con
người bằng hình ảnh: “Nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước biển”.



Nhân đế (hay Tập đế):

Lý luận về sự phát sinh, những nguyên nhân gây ra nỗi khổ nơi cuộc sống con người.
“Tập” là tụ hợp, kết tập lại. Phật giáo cho rằng con người cịn chìm đắm trong bể khổ
khi khơng thốt ra khỏi dịng sơng ln hồi. Mà luân hồi là do nghiệp tạo ra. Sở dĩ có
nghiệp là do lịng ham muốn, tham lam (ham sống, ham lạc thú, ham giàu sang…), do
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

10


GV: TS. Bùi Xuân Thanh

sự ngu dốt và si mê, nói ngắn gọn là do Tam độc (tham, sân, si) gây ra. Nguyên nhân
của khổ là sự ham muốn, tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãn được trở thành, thoả
mãn được hoại diệt… Các loại ham muốn này là gốc của luân hồi. Ngoài ra, nhân đế
được diễn giải một cách lôgic và cụ thể trong thuyết Thập nhị nhân duyên (12
nguyên nhân dẫn đến bể khổ). Trong 12 ngun nhân tạo ra chu trình khép kín trong
mỗi con người thì vơ minh là ngun nhân thâu tóm tất cả, vì vậy, diệt trừ vơ minh là
diệt trừ tận gốc sự đau khổ nhân sinh.
1. Vô minh (không sáng suốt): đồng nghĩa với mê tối, ít hiểu biết, khơng sáng suốt.
Khơng hiểu được đời là bể khổ, khơng tìm ra nguyên nhân và con đường thoát khổ.
Trong mười hai nhân duyên, vô minh là căn bản. Nếu không thấu hiểu Tứ diệu đế cũng
được gọi là Vô minh.
2. Duyên hành: là ý muốn thúc đẩy hành động.
3. Duyên thức: tâm từ trong sáng trở nên u tối.
4. Duyên danh – sắc: sự hội tụ các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra các cơ quan cảm
giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức).

5. Duyên lục nhập: là quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh vào các giác quan
cảm giác, lúc đó thân sẽ sinh ra sáu cửa là: nhãn, nhĩ, tỳ, thiệt, thân để thiêu hủy, đón
nhận.
6. Duyên xúc: là sự tiếp xúc của thế giới xung quanh sinh ra cảm giác. Đó là sắc,
thinh, hương vị, xúc và pháp khi tiếp xúc, đụng chạm vào.
7. Duyên thụ: là sự cảm thụ, sự nhận thức khi thế giới bên ngoài tiếp xúc với lục căn
sinh ra cảm giác.
8. Duyên ái: là yêu thích mà nảy sinh ham muốn, dục vọng trước sự tác động của thế
giới bên ngồi.
9. Dun thủ: do u thích quyến luyến, khơng chịu xa lìa, rồi muốn chiếm lấy, giữ
lấy không chịu buông ra.
10. Duyên hữu: cố để dành, tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được.
11. Duyên sinh: sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại.

SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

11


GV: TS. Bùi Xuân Thanh

12. Duyên lão tử: khi đã sinh thì xác thân phải tiêu hoại mỏi mịn, trẻ rồi già, ốm đau
rồi chết.
Thập nhị nhân duyên có nhiều cách giải thích khác nhau nhưng nhìn chung đều cho
rằng chúng có quan hệ mật thiết với nhau, cái này là nhân, làm duyên cho cái kia, cái
này là quả của cái trước, đồng thời là nhân cho cái sau. Cũng có lời giải thích là 12 yếu
tố tích luỹ đưa đến cái khổ sinh tử hiện tại mà yếu tố căn đế là ái và thủ, nghĩa là tham
lam, ích kỷ, còn gọi là ngã chấp. Mười hai nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra
cái vòng lẩn quẩn của nổi khổ đau nhân loại.
Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vơ minh, tức là si mê không thấy rõ bản

chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vơ thường và
chuyển biến, khơng có cái chủ thể, cái bền vững độc lập ở trong chúng. Chúng ta có
thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không là do lịng mình. Hay nói cách khác,
tùy theo cách nhìn của mỗi người đối với cuộc đời mà có khổ hay không. Nếu không
bị sự chấp ngã và dục vọng, vị kỷ hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trong
tâm thì cuộc đời đầy an lạc hạnh phúc.


Diệt đế:

là lý luận về khả năng tiêu diệt được nỗi khổ nơi cuộc sống thế gian để đạt tới niết bàn.
Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ điều có thể tiêu diệt được để đạt tới trạng thái “niết
bàn”. Một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt. muốn
diệt khổ phải đi ngược lại 12 nhân duyên, bắt đầu từ diệt trừ vơ minh. Dưới góc độ
nhận thức, vơ minh có nghĩa là “ngu tối”, “không sáng suốt”, “thiếu giác ngộ chân lý”.
Vì vậy, mỗi chúng sinh phải tu dưỡng thân tâm, đoạn trừ vơ minh, để cho Phật tính
bừng sáng, nó sẽ là ngọn đèn pha dẫn bước chúng sinh đến cõi Niết bàn. Muốn diệ trừ
vơ minh phải có trí tuệ vì: “Có trí tuệ thì hết đam mê, ln ln tự thức tỉnh và tự dị
xét, khơng để lầm lỗi có thể có được, trí tuệ chân thật là chiếc thuyền chắc chắn nhất
vượt bể sinh, lão, bệnh, tử. Là ngọn đèn sáng nhất đối với hắc ám vô minh … là búa
sắt chặt cây phiền não”. Khi vô minh được khắc phục thì tam độc sẽ biến mất, luân hồi
sẽ chấm dứt… tâm sẽ thanh thản, thần sẽ minh mẫn, niết bàn sẽ xuất hiện. Theo chữ
Phạn, niết bàn gồm hai phần, “Nir” và “Vâna”. “Nir” là hình thức phủ định, nghĩa là
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

12


GV: TS. Bùi Xn Thanh


khơng, “Vâna” có nghĩa là ái dục. Cho nên, “đã diệt trừ lòng tham, đã diệt trừ nóng
giận, ốn thù, đã diệt trừ si mê, đó là niết bàn” (Kinh Tạp A Hàm) hay trong một đoạn
kinh khác, Phật lại nói “Dứt được lịng vị kỷ thì chứng được cảnh giới niết bàn”…Diệt
đế bộc lộ tinh thần lạc quan của Phật giáo ở chỗ nó vạch ra cho mọi người thấy cái
hiện tại đen tối, xấu xa của mình, để cải đổi, kiến tạo lại nó thành một cuộc sống xán
lạn, tốt đẹp hơn.
Vô minh bị diệt, trí tuệ được bừng sáng, hiểu rõ được bản chất tồn tại, thực tướng của
vũ trụ là con người, khơng cịn tham dục và kéo theo những hành động tạo nghiệp nữa,
tức là thốt khỏi vịng ln hồi sinh tử. Nói cách khác diệt trừ được vơ minh, tham dục
thì hoạt động ngũ uẩn dừng lại, tu đến niết bàn, tịch diệt khi ấy mới hết luân hồi sinh
tử.
Phật Giáo cho rằng, một khi người ta đã làm lắng dịu lịng tham ái, chấp thủ, thì những
nỗi lo âu, sợi hải, bất an giảm dần, thâm tâm của bạn trở nên thanh thản, đầu óc tĩnh
táo hơn; lúc đó nhìn mọi vấn đề trở nên đơn giản hơn, rộng lượng hơn. Đó là một hình
thức hạnh phúc, cũng nhờ vậy tâm trí khơng bị chi phối bởi những tư tưởng chấp thủ,
nhờ không bị nung núng bởi các ngọn lửa phiền muộn, lo lắng sợ hải mà tâm lý của
bạn trầm tĩnh và sáng suốt hơn, khả năng nhận thức sự vật hiện tượng sâu sắc hơn,
chính xác hơn, thâm tâm được chuyển hóa, thái độ ứng xử của bạn với mọi người xung
quanh rộng lượng và bao dung hơn. Tùy vào khả năng giảm thiểu lịng tham, vơ minh
đến mức độ nào thì đời sống của bạn sẽ tăng phần hạnh phúc đến mức độ ấy. Phật giáo
thể hiện khát vọng nhân bản, muốn hướng con người đến cõi hạnh phúc “tuyệt đối”,
muốn hướng khát vọng chân chính của con người tới chân – thiện – mỹ.


Ðạo đế:

là lý luận về con đường diệt khổ, giải thoát.Thực chất của con đường này là hoàn thiện
đạo đức cá nhân. Sự giải phóng mang ý nghĩa của sự thực hiện cá nhân, không mang ý
nghĩa của phong trào cách mạng hay cải cách xã hội. Nội dung cơ bản của nó thể hiện
trong thuyết Bát chính đạo (tám con đường đúng đắn) đưa chúng sinh đến niết bàn,

đó là: chính kiến (hiểu biết đúng), chính tư duy (suy nghĩ đúng), chính ngữ (lời nói
chân thật), chính nghiệp (hành động đúng đắn), chính mệnh (sống một cách chân
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

13


GV: TS. Bùi Xuân Thanh

chính), chính tinh tấn (thẳng tiến mục đích đã chọn), chính niệm (ghi nhớ những điều
hay lẽ phải), chính định (tập trung tư tưởng vào một điều chính đáng). Chung quy, bát
chính đạo là suy nghĩ, nói năng, hành động đúng đắn…; nhưng về thực chất, thực hành
bát chính đạo là khắc phục tam độc bằng cách thực hiện tam học (giới, định, tuệ).
Trong đó, tham được khắc phục bằng giới (chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh); sân
được khắc phục bằng định (chính tinh tấn, chính niệm, chính định); si được khắc phục
bằng tuệ (chính kiến, chính tư duy). Đây là con đường tu đạo để hồn thiện đạo đức cá
nhân. Khổ được giải thích là xuất phát Thập nhị nhân duyên, và một khi dứt được
những ngun nhân đó thì ta có thể thốt khỏi vòng sinh tử. Chấm dứt luân hồi, vòng
sinh tử đồng nghĩa với việc chứng ngộ niết bàn. Có 8 con đường chân chính để đạt sự
diệt khổ dẫn đến niết bàn gọi là “Bát chính đạo”. Bát chính đạo bao gồm:
1.Chính kiến: hiểu biết đúng đắn và gìn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ diệu đế và
giáo lí vơ ngã.
2.Chính tư duy: suy nghĩ ln có một mục đích đúng đắn, suy xét về ý nghĩa của bốn
chân lí một cách khơng sai lầm.
3.Chính ngữ: nói năng phải đúng đắn, khơng nói dối hay nói phù phiếm.
4.Chính nghiệp: giữ nghiệp đúng đắn, tránh phạm giới luật, không làm việc xấu, nên
làm việc thiện.
5.Chính mệnh: giữ ngăn dục vọng đúng đắn, tránh các nghề nghiệp liên quan đến sát
sinh.
6.Chính tinh tiến: cố gắng nổ lực đúng hướng không biết mệt mỏi để phát triển nghiệp

tốt, diệt trừ nghiệp xấu.
7.Chính niệm: tâm niệm luôn tin tưởng vững chắc vào sự giải thốt, ln tỉnh giác trên
ba phương diện Thân, Khẩu, Ý.
8.Chính định: kiên định, tập trung tư tưởng cao độ suy nghĩ về tứ điệu đế, vô ngã, vô
thường, tâm ý đạt bốn định xuất thế gian .
Theo con đường bát chính đạo nói trên, con người có thể diệt trừ vơ minh, đạt tới sự
giải thốt, nhập vào niết bàn là trạng thái hoàn toàn yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt sinh
tử luân hồi.
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

14


GV: TS. Bùi Xn Thanh

Ngồi ra Phật giáo cịn đưa ra 5 đều nhằm răn đe đem lại lợi ích cho con người và xã
hội. Chúng bao gồm: bất sát (không sát sinh), bất dâm (không dâm dục), bất vọng ngữ
(khơng nói năng thơ tục, bậy bạ), bất âm tửu (không rượu trà) và bất đạo (không trộm
cướp).
Như vậy, Phật giáo ngun thuỷ có tư tưởng vơ thần, có yếu tố duy vật và tư tưởng
biện chứng của thế giới. Phật giáo khuyên con người suy nghỉ thiện và làm việc thiện
nhằm góp phần hồn thiện đạo đức cá nhân. Tuy nhiên trong triết lý nhân sinh và con
đường giải phóng của phật giáo vẫn mang nặng tính chất bi quan không tưởng và duy
tâm về xã hội. Và những tư tưởng xã hội phật giáo đã phản ánh thực trạng xã hội đẳng
cấp khắc nghiệt của xã hội Ấn Độ cổ – trung đại và nêu lên ước vọng giải thốt nổi bi
kịch cho con người lúc đó. Phật giáo cũng nói lên được tự do bình đẳng trong xã hội
nhưng triết lý nhân sinh vẫn còn mang nặng tính chất bi quan khơng tưởng và duy tâm
về xã hội.
- Ngồi ra, Phật giáo cịn khun chúng sinh thực hành Ngũ giới (không sát sinh,
không trộm cắp, không tà dâm, khơng nói dối, khơng ẩm tửu), Lục độ (bố thí, trì giới,

tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ); rèn luyện Tứ đẳng (từ, bi, hỉ, xả)… Phật giáo
phản đối chế độ đẳng cấp, tố cáo xã hội bất cơng, địi bình đẳng cơng bằng xã hội,
khun chúng sinh luôn suy nghĩ về điều thiện và làm điều thiện…

CHƯƠNG II: Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH PHẬT GIÁO
NGUYÊN THỦY
Nếu như các trường phái triết học Hy Lạp cổ đại như Milê, Êlê chủ yếu bàn về những
vấn đề thế giới quan, bản thể luận như đi tìm bản nguyên của thế giới, bản chất của thế
giới, trạng thái của thế giới… Còn những vấn đề về con người, họ lại bàn tương đối ít
thì trái lại, ở Phật giáo – một hệ thống triết học, tôn giáo – bên cạnh những tư tưởng,
quan niệm về thế giới, vấn đề nhân sinh quan không chỉ được đặt ra ngay từ đầu mà
còn là nội dung tư tưởng chủ yếu bao trùm lên toàn bộ hệ thống. Đây là một trong
những đặc điểm cơ bản khác biệt của triết học phương Đông so với phương Tây.

SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

15


GV: TS. Bùi Xuân Thanh

3.1. Lời tuyên ngôn chống lại sự bất cơng, bất bình đẳng trong xã hội
Chúng ta biết rằng Phật giáo đã ra đời trong một hoàn cảnh vô cùng phức tạp của một
đất nước mà trong đó, đời sống con người phải chịu nhiều bất cơng trong chế độ phân
chia giai cấp lâu đời của xã hội Ấn thời bấy giờ. Giai cấp Bà La Môn tập trung số
người tu của 62 đạo phái khác nhau, chủ trương công việc lễ nghi, tế tự; giai cấp này
chiếm vị trí tối cao. Kế đến là giai cấp Sát Ðế Lợi, tập trung dòng dõi vua chúa, là giai
cấp nắm quyền điều hành xã hội. Giai cấp thứ ba là Tỳ Xá, bao gồm những người bình
dân. Ða phần còn lại thuộc giai cấp Thủ Ðà La, họ làm những nghề hạ tiện, cũng gọi là
dân nô lệ. Hai giai cấp Bà La Môn và Sát Ðế Lợi thuộc giai cấp thống trị, Thủ Ðà La

và Tỳ Xá thuộc giai cấp bị trị. Bốn giai cấp này theo chế độ thế tập, cha truyền con nối.
Vì vậy, người dân nơ lệ thì cứ đời đời làm nơ lệ, tạo thành một xã hội bất cơng.
Ngay trong buổi hồng hôn tăm tối của một thực trạng như vậy, một hiền nhân thuộc
dịng dõi vua chúa đã dũng mãnh gióng tiếng chng tiên phong phá tan bóng đêm của
xích xiềng nô lệ và bức tường phi lý của phân chia giai cấp bằng một châm ngơn vĩ
đại: "Khơng có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và dòng nước mắt cùng mặn". Lời
tuyên bố hùng hồn ấy của Ðức Phật là nền tảng để hình thành một hệ thống giáo lý, mà
trong đó tính bình đẳng được thể hiện trọn vẹn cả về phương diện lý thuyết lẫn thực
tiễn.
Theo Phật giáo, mọi sai biệt trên thế giới này đều tùy thuộc vào các nhân duyên mà
sinh khởi; cũng vậy, sự khác nhau về địa vị, hoàn cảnh giàu sang hay nghèo khổ, ngu
dốt hoặc thơng minh... tất cả đều hồn toàn do hành vi tạo tác của mỗi con người chứ
không phải do tự nhiên hay được sắp đặt theo bất kỳ một thông lệ hoặc quy định nào.
Trên tinh thần này, sự phân chia giai cấp trở thành phi lý và vô nghĩa. Việc Thái tử Sĩ
Ðạt Ta từ bỏ ngôi vị đế vương, quay lưng với tất cả vinh hoa phú quý, khước từ mọi
đặc ân cao tột dành cho giai cấp vua chúa, một thân độc hành với chiếc áo thô sơ, đầu
trần chân đất, vân du đây đó... đã thể hiện tinh thần bình đẳng tuyệt vời của Ngài. Và
cũng chính Ðức Phật, con người với đời sống giản dị khiêm tốn ấy, đã thể hiện lịng
bình đẳng trong suốt cuộc đời giáo hóa chúng sinh. Ngài rải tình thương vơ biên xuống
tất cả mn lồi một cách công bằng vô phân biệt. Từ hạng người cùng đinh như gã

SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

16


GV: TS. Bùi Xuân Thanh

gánh phân, thợ cạo tóc cho đến những người giàu sang phú quý, từ những hạng người
thấp hèn ti tiện như gái giang hồ cho đến các bậc vua chúa quyền uy, Ðức Phật luôn

thương yêu, chân tình giúp đỡ, khuyên dạy để họ nhận thức được chân giá trị của cuộc
sống và tự thăng hoa tâm hồn, đạt đến an lạc hạnh phúc. Lịng bình đẳng ấy không phải
dừng lại ở nhân loại mà lan tỏa đến mn lồi vạn vật. Ngài ln dạy rằng tất cả sinh
vật đều có cùng tâm lý tham sống sợ chết, vì vậy khơng vì lý do gì mà ta nỡ cướp đi
mạng sống của kẻ khác, như vậy nghĩa là khơng bình đẳng. Tâm trạng buồn nhớ mẹ
của một chú cừu non lạc đàn chẳng khác gì sự đau buồn của một người mẹ phải chia
lìa với con thơ bởi một ngun nhân nào đó. Và vì vậy, sinh mạng của một con vật
cũng quý như bất kỳ sinh mạng của một ai. Với quan điểm này, trên bước đường du
hóa, có lần Ðức Phật đã tự tay bế một chú cừu non lạc đàn tìm về với mẹ. Và cũng
chính Ngài đã lên tiếng giải thích và vạch rõ những ngu xuẩn của bọn người vì mê tín
dị đoan, làm lễ tế thần bằng cách hiến dâng những con thú sống, để cứu lấy con vật vô
tội thốt khỏi cái chết hỏa thiêu đau đớn chỉ vì một sự tin tưởng mù quáng.
Trong giáo điển, Phật giáo quan niệm rằng tất cả mọi loài chúng sanh, từ con người
cho đến các sinh vật nhỏ bé côn trùng đều tiềm ẩn một khả năng phi thường như nhau,
đó là khả năng thành Phật (Phật tính). Nhưng do các đặc tính cố hữu ở mỗi lồi, việc
triển khai khả năng ấy tùy đó mà khó dễ, nhanh chậm khác nhau. Ðiều này có thể tóm
ý trong một câu kinh: "Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành". Ðây là nền
tảng để hình thành tính bình đẳng triệt để trong đạo đức luân lý Phật giáo.

3.2. Giáo dục con người giác ngộ chân lý và đạt được hạnh phúc (giải thoát)
Phật giáo cho con người là hơn cả vì có thể thực hiện được tất cả sự tốt đẹp để có thể
sống hài hịa. Để giáo dục đạo Phật đã đưa ra bốn chân lý kỳ diệu, với yếu tố biện
chứng, kết cấu chặt chẽ khi đưa ra lý thuyết “ngũ uẩn”, chỉ rõ căn nguyên của khổ đau
là do thâm, sân , si cùng với lý luận về thập nhị nhân duyên, đồng thời khẳng định con
đường diệt khổ đó là “trung đạo”, “bát chánh đạo”... chứa đựng sự lý đầy thuyết phục
và hướng con người đến nếp sống thiện lánh xa cái ác. Dạy con người sống cảm thông,
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

17



GV: TS. Bùi Xuân Thanh

hỷ xả với nhau một cách hịa mục. Vị tha dạy con người sống vì người khác, bao dung
độ lượng đó là phương pháp giúp con người đạt được đức hạnh. Đây là động lực nảy
sinh mọi điều tốt lành. Mục đích cuối cùng của Phật Giáo là giúp con người thoát khổ
và đạt được hạnh phúc, Phật Giáo đã chỉ ra những nguyên nhân của cái khổ, diệt trừ và
phương pháp diệt trừ khổ để có được hạnh phúc thực tại, tất là giải thốt con người
khỏi khổ đau và đạt được hạnh phúc.

3.3. Giáo dục đạo đức, hướng thiện cho con người và xây dựng tính nhân bản sâu
sắc
3.3.1. Giáo dục đạo đức, hướng thiện cho con người
Phật giáo chủ trương thuyết nghiệp báo và tái sinh, Do Vạn vật bị chi phối bởi luật
nhân quả nên mỗi chúng ta mất đi ở nơi này , thời gian này sẽ được sinh ra ở nơi khác
thời gian khác, nghiệp cũng bị chi phối bởi luật nhân quả, Chúng ta chịu sự chi phối
của nghiệp kiếp này và nghiệp kiếp trước, nếu làm việc thiện, nói lời chân chính, suy
nghĩ đứng đắn sẽ tạo ra điều tốt cho đời sau tái sinh, ngược lại sẽ có nghiệp xấu. Bản
thân mỗi người phải chịu hồn tồn những suy nghĩ, hành động và lời nói của mình
( Nghiệp), Từ đó khuyến khích con người sống lương thiện hơn, Ngũ giới của Phật
Giáo giúp mọi người biết thương yêu, không sát sanh ( Nhân), Không trộm cắp ( Nghĩa
), Không tà dâm ( Lễ ), Không uống rượu ( Trí ), Khơng Nói dối ( Tín ), là những
nguyên tắc đạo đức để những tín đồ Phật giáo rèn luyện tu dưỡng, điều chỉnh hành vi
đạo đức của mình, hình thành những đức tính tốt đẹp cho người tín đồ Phật giáo trong
đời sống hiện tại như sống đức độ, trung thực, hướng thiện...
3.3.2. Xây dựng tính nhân bản
Ðiểm căn bản nhất mà chúng ta nhận thấy được ở Phật giáo, vị giáo chủ không phải là
một thần linh, không phải là một Thượng đế đầy quyền uy thưởng phạt, mà là một con
người thật sự như bao người khác. Tên Ngài Tất Ðạt Ða, tiếng Phạn là Siddhàrtha.
Ngài thuộc giai cấp Sát Ðế Lợi, dòng dõi vua chúa, con của Vua Tịnh Phạn và Hoàng

hậu Ma Da. Ngài sinh ra, lớn lên, đi học; vợ Ngài là Công chúa Da Du Ðà La, con
Ngài là La Hầu La. Thấu rõ những nỗi thống khổ sinh, già, bệnh, chết..., chứng kiến
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

18


GV: TS. Bùi Xuân Thanh

những lầm than cơ cực của dân chúng trước những bất công của xã hội Ấn thời bấy
giờ, Ngài đã từ bỏ gia đình, vợ con, một mình ra đi tìm phương giải quyết. Sau những
tháng năm học đạo cùng với những đạo sĩ nổi tiếng bấy giờ, kết quả ấy cũng không
giúp được cho vị đạo sĩ trẻ tuổi thông minh Tất Ðạt Đa giải quyết những vấn đề bức
xúc trong lòng. Cuối cùng, Ngài đã tự quyết định tự mình tham cứu. Suốt 49 ngày
tham thiền nhập định dưới cội bồ đề Ngài đã thấu đạt được chân lý, rõ được chân
tướng của vạn pháp, Ngài đã giác ngộ thành đạo, hiệu là Thích Ca Mâu Ni.
Sự kiện trên đây đã hình thành một khái niệm về tính nhân bản của Phật giáo, con
người là trung tâm điểm của Phật giáo, hay nói một cách khác, khơng có nhân loại thì
Phật giáo khơng hiện hữu trên cuộc đời này.
Trong quan niệm Phật giáo, con người là chủ nhân của mọi hành vi của chính bản thân
mình ở cả ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai, là vị Thượng đế duy nhất toàn quyền
thưởng phạt cho chính cuộc đời mình; ngồi mình ra, khơng bất cứ ai hoặc thần linh
nào khác có khả năng đưa mình lên thiên đàng hay vất mình xuống địa ngục.
Tính nhân bản của đạo Phật là làm cho con người trở nên Người hơn, phát huy tất cả
mọi tính người cao đẹp và thải trừ mọi bản năng thấp kém và hèn hạ (tham, sân, si, sát,
đạo, dâm, vọng...). Con đường thành Phật khơng gì khác hơn là con đường làm viên
mãn những đức tính vốn đã tiềm ẩn yếu ớt nơi con người bình thường: trí sáng suốt,
lịng nhân ái, sự ghét ác thích thiện, sự tự chế, sự kiên định, lịng hy sinh... và xóa bỏ
hẳn tất cả những gì làm cho con người bị ràng buộc, bị tha hóa, bị hạ thấp, bị trĩu nặng,
bị mất phẩm cách của bản năng thú vật (tính ích kỷ, lòng ghen tỵ, sự giận dữ, sự si mê,

sự tham lam chiếm đoạt mất hết lương tri...). Cuộc đời này trở nên hỗn loạn khổ đau
cũng vì những tính tiêu cực đó.
Tính nhân bản của đạo Phật là chống lại những gì làm hạ thấp con người và hun đúc
cho con người mọi đức tính cao đẹp để thực hiện trọn vẹn định mệnh và ý nghĩa làm
người của nó: thốt khỏi mọi ràng buộc thấp kém để trở thành một mẫu mực chânthiện-mỹ của vũ trụ, một mẫu mực của Trời và Người. Bởi thế đạo Phật cho là thiện, là
tốt những gì làm cho con người tiến hóa, hướng thượng, làm cho con người thực hiện

SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

19


GV: TS. Bùi Xuân Thanh

được tính Người, tức là tính Phật; và xem là ác, là xấu tất cả những gì làm sa đọa, tha
hóa con người, dù chúng đến từ đâu, dưới bất cứ hình thức nào.
Phật giáo ln ln đề cao nỗ lực và ý chí của con người. Tinh tấn là một trong những
đức tính quyết định việc thành tựu đạo quả Bồ đề, bến bờ giác ngộ chẳng bao giờ có
dấu chân của biếng lười và bạc nhược. Với những tâm hồn khát khao tự do tuyệt đối,
dốc hết sức bình sinh cùng với sự hiểu biết chánh pháp một cách chân chính, mỗi
chúng ta chắc chắn sẽ đạt được kết quả tốt đẹp trên bước đường tu tập. Bằng ngược lại,
cho dù ngàn vị Phật dang tay tế độ cũng không làm sao đưa ta thốt khỏi biển trần lao
đầy thống khổ này.
Ðiều đáng nói nhất về khả năng của con người mà Phật giáo ln nhấn mạnh chính là
trí tuệ. Ðó là khả năng tối cao của nhân loại, là di sản vô cùng quý báu mà bất kỳ ai
nếu biết vận dụng và phát huy đúng đắn đều có thể tận diệt mọi khổ đau, đạt đến bến
bờ hạnh phúc. Ðức Phật đã tuyên bố: "Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật".
Tóm lại, đối với Phật giáo, con người vốn là một chúng sanh ưu việt, có rất nhiều tiềm
năng phi thường; nếu chúng ta khéo triển khai thì khơng gì khơng thực hiện được trên
cõi đời này. Như vậy, ta có thể nói rằng Phật giáo là Phật giáo của con người, xuất phát

từ Ðức Phật Thích Ca, Ngài là đấng Giác Ngộ nhưng Ngài là một con người; Ngài đã
cất tiếng nói và có một đời sống rất người, và vì con người mà khai thị chân lý, hướng
dẫn con người đến đời sống thực sự an vui.

KẾT LUẬN:
Phật giáo ngun thuỷ có tư tưởng vơ thần, có yếu tố duy vật và tư tưởng biện chứng
của thế giới nhưng triết lý nhân sinh vẫn còn mang nặng tính chất bi quan khơng tưởng
và duy tâm về xã hội.
Phật giáo Việt Nam là Phật giáo được bản địa hóa khi du nhập từ Ấn Độ và Trung
Quốc vào Việt Nam. Phật giáo được du nhập vào Việt Nam khoảng đầu công nguyên
theo con đường Hồ Tiêu (đường thủy) và con đường Đồng Cỏ (đường bộ). Với những
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

20


GV: TS. Bùi Xuân Thanh

giá trị tốt đẹp của Phật giáo, nhân dân ta nhanh chóng tiếp nhận và hình thành nên Phật
giáo Việt Nam. Sự hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam trải qua các thời kỳ
gắn liền với các triều đại phong kiến. Thời kỳ du nhập và hình thành (thế kỷ II – V),
tiếp theo là thời kỳ phát triển (thế kỷ VI – IX). Phật giáo Việt Nam cực thịnh và trở
thành quốc giáo vào triều đại Lý – Trần (thế kỷ X – XIII) sau đó suy thối vào thời nhà
Hậu Lê đến thế kỷ XIX. Từ thế kỷ XX là thời kỳ phục hưng của Phật giáo Việt Nam.
Phật giáo Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ trong sự phát triển đi lên của cả
dân tộc. Hiện nay phần lớn các nhà sư, các chủ trì điều có học thức cao từ trình độ đại
học đến bậc tiến sĩ và có khả năng vượt xa hơn nữa. Các vị sư này không những thấu
hiểu Phật giáo Việt Nam mà cịn được du học nền văn hóa Phật giáo ở các nước lân
cận. Được sự hỗ trợ từ phía Đảng và nhân dân về cơ sở vật chất và kinh phí đầu tư.
Hiện nay nước ta đã có các trường Đại Học cho các bậc tu sĩ. Đây là một điều rất đáng

mừng trong thời kỳ mở cửa hội nhập nền văn hóa, kinh tế với các nước bạn bè năm
Châu. Từ đó cho thấy Phật giáo Việt Nam thực sự lớn mạnh về mặt tổ chức và trở
mình đổi mới để xứng đáng với lòng tin của đảng và nhân dân.

SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt

21



×