Tải bản đầy đủ (.docx) (57 trang)

Lựa chọn bài tập nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao cho nữ sinh viên phổ tu khóa đại học 6 trường đại học thể dục thể thao đà nẵng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (601.03 KB, 57 trang )

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, Thể dục thể
thao đã và đang phát triển không ngừng trở thành một bộ phận không thể tách
rời trong đời sống hoạt động tinh thần của nhân loại. Tập luyện TDTT không
những nâng cao sức khỏe, phát triển cơ thể cân đối về trí tuệ, nhân cách, đạo
đức mà còn hoàn thiện sự phát triển của các tố chất vận động, đáp ứng yêu
cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Vì vậy sự ra đời và phát triển
TDTT kéo theo sự phát triển của nhân loại, là cơ sở sinh tồn cho mọi hoạt
động.
Những năm trở lại đây, cùng với sự hòa nhập cũng như sự phát triển
của thể thao thế giới, TDTT Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ đó cũng
là nhờ sự đầu tư quan tâm của Đảng và nhà nước ta cũng như sự ủng hộ
hưởng ứng rộng rãi của các tầng lớp nhân dân để thể thao Việt Nam ngày
càng lớn mạnh. Sự lớn mạnh của TDTT Việt Nam được thể hiện qua các kỳ
đại hội như: Đại hội TDTT Đông Nam Á (Sea Games), Đại hội TDTT Thế
giới (Olympic). Qua các kì đại hội TDTT Đông Nam Á thì Việt Nam luôn
giành được thứ hạng cao, khẳng định sự thành công của TDTT Việt Nam,
đồng thời nó còn tạo được vị thế của nền TDTT nước ta trong khu vực và trên
thế giới.
TDTT gồm nhiều loại hình vận động, mang lại cho con người sự phát
triển toàn diện và hài hòa giữa các mặt: Đức-Trí-Thể-Mỹ. Trong đó Bóng rổ là
một trong những môn thể thao hiện nay trên thế giới được phát triển khá phổ
biến. Bóng rổ là môn thể thao tập thể, có tính đối kháng cao; tập luyện và thi
đấu bóng rổ có tác dụng phát triển tất cả các tố chất vận động của con người
như: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo, đó còn là cơ sở để
phát triển thể lực cho các môn thể thao khác.
Trong số các môn thể thao hiện đại được thi đấu ở các đại hội Olympic
thì môn Bóng rổ là môn thể thao có lịch sử tương đối sớm. Theo các sách về
2
lịch sử thể thao Olympic và sách giáo khoa về môn Bóng rổ thì môn Bóng rổ


ra đời vào đầu tháng 12 năm 1891 tại Mỹ do một giảng viên cơ thể học và
sinh lý học của trường công nhân cơ đốc giáo ở thành phố Springfield bang
Massachusetts, tiến sĩ James Naismith sáng tạo ra. Năm 1898 Liên đoàn bóng
rổ chuyên nghiệp đầu tiên được thành lập gồm 6 thành viên. Dần dần bóng rổ
được phát triển sang các nước phương Đông như: Nhật Bản, Trung Quốc,
Philippins rồi sang châu Âu và Nam Mỹ. Trải qua hơn 100 năm, Bóng rổ đã
phát triển nhanh chóng cả về kỹ thuật, chiến thuật, phương tiện dụng cụ và
luật lệ thi đấu.
Hiện nay ở một số nước trên thế giới môn bóng rổ đang phát triển ở
một trình độ cao. Trường phái bóng rổ Châu Âu, Châu Mỹ thiên về lợi dụng
yếu tố tầm vóc, sức mạnh và sự điêu luyện về kỹ thuật cá nhân với đường nét
chiến thuật phong phú đã giành được nhiều thắng lợi. Ngược lại, với bóng rổ
Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng do còn bị hạn chế về chiều cao, thể
lực và sức mạnh nhưng bù vào đó bằng sự linh hoạt, khéo léo trong thi đấu
nên tuy còn nhiều bất lợi chưa thể đạt tới đỉnh cao song nó đang trên đà phát
triển. Vì vậy những thành tích cao ở trình độ Quốc tế, Châu Á và Khu vực
Đông Nam Á của thể thao Việt Nam nói chung và bóng rổ Việt Nam nói riêng
là mục tiêu cần vươn tới của đất nước ta trong những thập kỷ mới.
Mặc dù Bóng rổ đã ra đời từ năm 1891 tại Mỹ song lại là môn thể thao
du nhập vào Việt Nam khá muộn so với một số nước trong khu vực. Ban đầu
chủ yếu là chỉ truyền bá trong một số người Hoa và người Pháp. Sau đó phát
triển rộng ra ở các thành phố có đông người Hoa như Hà Nội, Hải Phòng,
Nam Định, Thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt là từ năm 1967 đến những năm
đầu của thập kỷ 90, thế kỷ 20 do sự phát triển chậm chạp của nền kinh tế quan
liêu bao cấp ở nước ta nên Bóng rổ cùng với phong trào TDTT ở Việt Nam bị
tụt hậu. Cho đến năm 1985 tại Đại hội TDTT toàn quốc lần I, bóng rổ được
đưa vào chương trình thi đấu, có 13 đội nam và 4 đội nữ. Một phần do tầm
3
vóc, thể lực, kỹ chiến thuật, kinh nghiệm thi đấu của các cầu thủ còn hạn chế
nên kết quả thi đấu trong các giải khu vực và quốc tế chưa cao. Tuy vậy, trong

những năm gần đây môn bóng rổ đã được phát triển rộng rãi các địa phương
như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Yên Bái, Ninh Thuận, Đà Nẵng…
quan tâm và thu hút được nhiều đối tượng tham gia tập luyện.
Ở Việt Nam, bóng rổ là môn thể thao được ưa chuộng và phát triển, là
một môn nằm trong chương trình đào tạo của các trường đại học, cao đẳng và
trung học chuyên nghiệp của cả nước, đặc biệt là các tỉnh phía Nam. Hàng
năm, các giải bóng rổ vô địch quốc gia được tiến hành với sự tham gia của
nhiều đội mạnh. Bóng rổ là môn thể thao mang tính đối kháng cao, đòi hỏi
người tập phải thể hiện đầy đủ các năng lực về thể lực và đạt tới trình độ kỹ -
chiến thuật điêu luyện. Trong tập luyện và thi đấu bóng rổ, kỹ thuật tại chỗ
ném rổ một tay trên cao là phương pháp tấn công rất phổ biến từ cự ly trung
bình và xa. Nhiều VĐV trong thi đấu sử dụng kỹ thuật này, vì nó mang lại
hiệu quả cao hơn so với các kỹ thuật khác.
Tại trường Đại học TDTT Đà Nẵng, môn bóng rổ đã có trong chương
trình giảng dạy, nhưng thực tế việc sử dụng kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay
trên cao chưa được phát huy và còn nhiều hạn chế. Điều đó được thể hiện rõ
nhất trong kết quả thi kết thúc học phần hàng năm của sinh viên phổ tu còn
thấp, khả năng thực hiện kỹ thuật không được chính xác. Nguyên nhân chủ
yếu là do việc sử dụng các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả của phương pháp
tại chỗ ném rổ một tay trên cao cũng như các công trình nghiên cứu về vấn đề
này còn chưa được đề cập đầy đủ.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên, căn cứ vào điều kiện học tập
cũng như khả năng của mình, việc lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu
quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao, trong quá trình giảng dạy môn
bóng rổ cho sinh viên phổ tu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác đào
tạo của nhà trường là một việc cần thiết, từ đó tôi xác định nghiên cứu đề tài:
4
“Lựa chọn bài tập nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ một
tay trên cao cho nữ sinh viên phổ tu khóa Đại học 6 trường Đại học Thể
dục thể thao Đà Nẵng”

Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát đánh giá thực trạng việc sử dụng kỹ thuật tại chỗ
ném rổ một tay trên cao cho sinh viên phổ tu bóng rổ Trường Đại học TDTT
Đà Nẵng. Từ đó nghiên cứu lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả kỹ
thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao cho sinh viên phổ tu khóa Đại học 6
Trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
Mục tiêu nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi đề ra 2 mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng việc sử dụng kỹ thuật tại chỗ ném rổ
một tay trên cao của sinh viên phổ tu trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
Mục tiêu 2: Lựa chọn, đánh giá hiệu quả các bài tập nhằm nâng cao
hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao cho nữ sinh viên phổ tu
khóa Đại học 6 Trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
5
1.1. Vai trò ý nghĩa về đánh giá trình độ tập luyện kỹ thuật của sinh viên
trong hoạt động thể dục thể thao
Trong tập luyện TDTT, vấn đề đánh giá trình độ tập luyện kỹ thuật
chiếm một vai trò quan trọng. Việc tiến hành đánh giá trình độ tập luyện kỹ
thuật một cách khoa học sẽ cho phép giảng viên, huấn luyện viên nắm bắt
được những thông tin cần thiết để điều chỉnh quá trình tập luyện thể lực cho
phù hợp, đồng thời nâng cao hiệu quả giảng dạy.
Đánh giá trình độ tập luyện kỹ thuật của sinh viên cũng như của vận
động viên tại những thời điểm qua trọng nhất của quá trình giảng dạy và huấn
luyện là một hệ thống kiểm tra nhằm đánh giá trình độ tập luyện kỹ thuật của
sinh viên, vận động viên trong tất cả các giai đoạn của quá trình giảng dạy. Hệ
thống kiểm tra có hiệu quả giúp cho giảng viên, huấn luyện viên đánh giá
khách quan tính đúng đắn của hướng đã lựa chọn, thường xuyên theo dõi quá
trình tập luyện kỹ thuật của người tập để điều chỉnh kịp thời quá trình giảng

dạy.
Các quá trình sư phạm cho phép đánh giá mức độ phát triển về trình độ
kỹ thuật cũng như các yếu tố khác của sinh viên như trình độ thể lực, tâm lý,
chiến thuật nó được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của phương
tiện, phương pháp giảng dạy, xác định khả năng đã đạt được, trình độ tập
luyện kỹ chiến thuật của người tập. Các phương pháp chủ yếu của kiểm tra sư
phạm là quan sát sư phạm và thực nghiệm kiểm tra về những mặt khác, về
trình độ tập luyện của sinh viên.
Chính vì vậy, việc sử dụng quá trình sư phạm để đánh giá trình độ tập
luyện kỹ chiến thuật của sinh viên, vận động viên đóng một vai trò quan trọng
trong quản lý quá trình tập luyện, nó giúp cho các giảng viên, huấn luyện viên
nắm được kết quả của quá trình tập luyện kỹ thuật của sinh viên, vận động
viên và có kế hoạch điều chỉnh hợp lý nâng cao nhận thức và hoàn thiện kỹ
thuật động tác đảm bảo hiệu quả của quá trình đào tạo.
6
1.2. Cơ sở lý luận của việc giảng dạy động tác
Giảng dạy kỹ thuật động tác là một quá trình giảng dạy cho học sinh
hình thành về kỹ năng, kỹ xảo vận động mà khi tiến hành giảng dạy phải tuân
thủ theo những nguyên tắc của quá trình giáo dục và giáo dưỡng thể chất. Bất
kỳ một hoạt động giảng dạy kỹ thuật nào, dù đơn giản hay phức tạp đều tuân
thủ theo nguyên tắc hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động. Giảng dạy phải đi
từ đơn giản đến phức tạp, đi từ dễ đến khó.
Quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động của người học được
dựa trên kiến thức mà người học lĩnh hội được. Kỹ năng, kỹ xảo được hình
thành nhờ quá trình lặp đi lặp lại nhiều lần. Việc củng cố các mối liên hệ thần
kinh tạm thời được hình thành làm cho các yếu tố vận động ngày càng mở
rộng.
Trong quá trình giảng dạy kỹ thuật động tác được chia làm ba giai
đoạn, tương ứng với ba giai đoạn của quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo đó
là:

*Giai đoạn 1: Giai đoạn giảng dạy ban đầu
Ở giai đoạn này các quá trình thần kinh phản ứng trả lời còn được lựa
chọn, trong quá trình học tập thực hiện động tác có nhiều nhóm cơ thừa bị lôi
cuốn vào hoạt động, ở giai đoạn này là giai đoạn lựa chọn và phối hợp các
động tác đơn lẻ thành một động tác thống nhất, trong giai đoạn này hưng phấn
sẽ khuếch tán sang các vùng thần kinh khác. Lúc này cơ thể chưa phân biệt
được chính xác kích thích có điều kiện khác nhau, dẫn đến việc thực hiện
động tác gò bó không chuẩn xác.
Mục đích của giai đoạn này là dạy các nguyên lý kỹ thuật, hình thành
kỹ năng thực hiện động tác. Nhiệm vụ giảng dạy ở giai đoạn này :
- Tạo khái niệm chung và tâm lý tốt để tiếp thu kỹ thuật.
- Học từng phần của kỹ thuật động tác mới.
7
- Ngăn ngừa loại trừ những cử động không cần thiết và những sai lầm
lớn của kỹ thuật.
- Hình thành nhịp điệu chung của động tác.
*Giai đoạn 2: Giai đoạn dạy học đi sâu từng phần
Ở giai đoạn này các động tác tập luyện được lập đi lập lại nhiều lần, lúc
này sự khuếch tán của các quá trình thần kinh được giảm đi, hưng phấn chỉ
tập trung vào những vùng nhất định. Động tác được phối hợp tốt hơn, các
động tác thừa bị ức chế dần. Giai đoạn này động tác bắt đầu được hình thành,
nhưng chưa được củng cố vững chắc dễ bị rối loạn khi thực hiện trong điều
kiện thay đổi hay không thuận lợi.
Mục đích ở giai đoạn này là đưa trình độ tiếp thu ban đầu còn thô thiển
đối với kỹ thuật động tác lên mức tương đối hoàn thiện. Nếu ban đầu tiếp thu
chủ yếu cơ bản kỹ thuật thì giai đoạn này phải tiếp thu chi tiết kỹ thuật đó.
Nhiệm vụ giảng dạy ở giai đoạn này là:
- Hiểu rõ các quy luật vận động của động tác cần học sâu hơn.
- Chính xác hóa kỹ thuật động tác theo đặc tính không gian, thời gian
và lực của nó sao cho tương ứng với đặc điểm cá nhân người tập.

- Hoàn thiện nhịp điệu động tác, thực hiện động tác tự nhiên, liên tục.
*Giai đoạn 3: Kỹ năng, kỹ xảo được hình thành
Ở giai đoạn này động tác đã được ổn định, trở thành kỹ năng vận động
và thực hiện ngày càng tự động hóa hơn, không còn động tác thừa. Lúc này
trên võ não đã hình thành được các đường dây liên hệ tạm thời giữa các trung
tâm thần kinh. Tuy nhiên, để động tác được tự động hóa hơn thì người tập
phải lặp đi lặp lại động tác nhiều lần để dẫn đến việc hình thành kỹ năng, kỹ
xảo vận động.
Mục đích ở giai đoạn này là đảm bảo tiếp thu và vận dụng động tác
hoàn thiện trong thực tế. Nhiệm vụ giảng dạy ở giai đoạn này là:
- Củng cố kỹ xảo đã có về kỹ thuật động tác.
8
- Mở rộng biến dạng của kỹ thuật động tác để có thể thực hiện tốt trong
các diều kiện khác nhau, kể cả lúc phải biểu hiện các tố chất thể lực ở mức độ
cao nhất.
- Hoàn thiện sự cá biệt hóa kỹ thuật động tác cho phù hợp với đặc điểm
và năng lực cá nhân.
- Nếu cần cải tạo lại kỹ thuật động tác rồi tiếp tục hoàn thiện nó trên cơ
sở phát triển các tố chất thể lực.
Đối với môn bóng rổ quá trình giảng dạy, huấn luyện cũng phải tuân
theo những nguyên tắc chung của giáo dục học và lý luận giáo dục thể dục thể
thao. Trong quá trình giảng dạy, vấn đề lựa chọn và sắp xếp các bài tập theo
một trình tự nhất định, đảm bảo nguyên tắc sư phạm, phù hợp với tiến độ từng
giáo án giảng dạy, phù hợp với trình độ tiếp thu của học sinh là công việc
quan trọng hàng đầu. Kỹ thuật bóng rổ thuộc loại hoạt động không có chu kỳ,
động tác phức tạp muôn hình muôn vẻ, thay đổi nhanh, linh hoạt đáp ứng với
mọi tình huống của trận đấu, hơn nữa bóng rổ là môn thể thao mang tính đối
kháng nên kỹ thuật luôn được thực hiện trong điều kiện bị đối phương kèm
chặt. Người học bóng rổ không nắm vững kỹ thuật thì không thể thực hiện có
hiệu quả trong thi đấu. Vì vậy, trong quá trình tập luyện bóng rổ, việc tập kỹ

thuật là khâu quan trọng có tính chất cơ bản.
1.3. Đặc điểm chung của phương pháp giảng dạy Bóng rổ
Quá trình giảng dạy bóng rổ nhằm trang bị cho học sinh những kiến
thức, kỹ năng và kỹ xảo thường xuyên phát triển và hoàn thiện chúng, cũng
như nhằm hình thành hệ thống những kiến thức về các vấn đề kỹ thuật, chiến
lược, chiến thuật, luật thi đấu và phương pháp huấn luyện.
Nhằm rút gọn thời gian giảng dạy, người ta có thể chia động tác thành
những yếu lĩnh động tác riêng lẻ để tự nghiên cứu, song không phá hủy sự
9
thống nhất hữu cơ của động tác. Để làm được điều này cần tuân thủ tính liên
tục và tính đồng thời trong giảng dạy.
Trong quá trình hình thành các kỹ xảo vận động người ta chia ra làm ba
giai đoạn:
- Giai đoạn hình thành kỹ năng ban đầu.
- Giai đoạn chính xác hóa các hệ thống của động tác.
- Giai đoạn hoàn thiện và củng cố kỹ xảo.
Trong mỗi giai đoạn giảng dạy, việc đề ra những nhiệm vụ sư phạm là
cần thiết để cho người tập nắm bắt được vấn đề sau:
- Nắm chắc tư thể chuần bị, giai đoạn bắt đầu thực hiện động tác.
- Biết rõ bộ phận nào của cơ thể tham gia vào thực hiện những động tác
đó và bộ phận đó vận động theo các hướng, biên độ, phối hợp với nhau như
thế nào theo thời gian và không gian.
- Thực hiện động tác với các biên độ tối ưa theo nhịp độ thích hợp.
- Giữ đúng cấu trúc động tác và tiếp thu tốt các chi tiết động tác.
- Chuyển sang hoàn thiện các động tác.
1.4. Nguyên lý kỹ thuật động tác tại chỗ ném rổ một tay trên cao
Trước hết việc tập luyện phải mang tính tự giác, tích cực, đó là yếu tố
chủ quan có tác dụng quyết định đến kết quả tập luyện, nó phụ thuộc vào lòng
ham muốn, ý trí nghị lực của bản thân người tập, sự tự giác tích cực trong tập
luyện giúp người tập chủ động nghiên cứu kỹ thuật trước – trong và sau khi

học, có ý thức áp dụng những điều đã học vào thực tế và dễ dàng vượt qua
những khó khăn trong quá trình tập luyện. Việc tập luyện phải thường xuyên
và có hệ thống, phải tập theo trình tự từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó,
từ những động tác đã nắm bắt được đến những động tác mới. Khi tập cần
tránh chạy theo các động tác mới mà bỏ qua các kỹ thuật cơ bản trong bóng
10
rổ, bởi vì kỹ thuật cơ bản tuy đơn giản những rất quan trọng, việc nắm chắc
và vận dụng thành thạo nó giúp người tập nâng cao hiệu quả trong thi đấu,
đồng thời tạo tiền đề vững chắc cho việc đi sâu nắm bắt các kỹ thuật phức tạp
hơn. Mặt khác, muốn ném rổ chính xác cần có kỹ thuật hợp lý, ổn định và biết
cách điều khiển đúng đắng hoạt động luân phiên giữa căng và thả lỏng cơ
bắp, cách dùng sức và tính linh hoạt của bàn tay cũng như sự ra sức cuối cùng
của các ngón tay, quỹ đạo bay của bóng, chiều xoáy của bóng.
Khi tập cần phát triển khả năng quan sát, cũng như các môn bóng khác,
tập bóng rổ không chỉ đơn thuần là việc nắm được các động tác như: Dẫn
bóng, chuyền bóng, bắt bóng và ném rổ mà còn phải vận dụng được nó trong
thi đấu, vì vậy vấn đề nâng cao khả năng quan sát trong tập luyện cũng là một
yếu tố quan trọng.
11
1.4.1. Nguyên lý kỹ thuật động tác tại chỗ ném rổ một tay trên cao

Hình 1.1

Hình 1.2 Hình 1.3

Tư thế chuẩn bị
: Hai chân rộng bằng
vai, trước – sau, chân cùng tay ném
đặt trước, trọng tâm động tác dồn vào
chân trước (Hình 1.1).

Hai tay cầm bóng trước ngực, tay ném bóng đặt ở trên, hơi sau bóng;
tay kia đỡ ở cạnh bên của bóng (Hình 1.2).
Mắt quan sát hướng ném (Hình 1.3)
12
Hình 1.4


Hình 1.5

Khi ném bóng: Hai tay đưa bóng từ
trước ngực đưa lên trên trán trước mắt
bên tay ném (cách trán khoảng 20cm)
theo đường xiên, các ngón tay bám vào
bóng, lòng bàn tay ngửa theo hướng
bóng (Hình 1.4).
Đồng thời hạ thấp trọng tâm (góc giữa
cẳng chân và đùi khoảng 120
0
), sau đó
duỗi đùi đến cẳng chân thông qua thân
người đến cánh tay, cẳng tay, khi tay gần
thẳng hết thì gập khớp cổ tay, các ngón
tay miết theo bóng, ra sức cuối cùng là
hai ngón trỏ và giữa (góc bóng ra
khoảng 70-75
0
), bàn tay xòe tự nhiên,
các ngón tay hướng về hướng ném
(Hình 1.5).
Kết thúc động tác: Trọng tâm dồn về

chân trước, thân người ngả trước.
13
1.4.2. Những yếu tố để ném rổ chính xác
Việc tập luyện kỹ thuật ném rổ sẽ quyết định đến sự thành bại của
những lần thi đấu hay kiểm tra trong quá trình học tập. Để ném rổ được tốt ta
cần tập trung chú ý phải nắm vững, thực hiện đúng kỹ thuật cơ bản:
- Tư thế ném rổ phải được định hình, phải thường xuyên tập luyện để
hình thành thói quen trong mọi trường hợp, mọi vị trí, mọi cự ly, mọi góc độ
để nâng cao hiệu quả ném rổ.
- Độ xoáy của bóng là một trong những nguyên nhân quyết định độ
chuẩn xác của ném rổ. Hướng bóng và tốc độ xoáy của bóng được quyết định
bởi động tác tay: gập cổ tay, miết các ngón tay vào bóng khi bóng ra tay.
- Biết sử dụng đường bay của bóng ở từng cự ly.
- Điểm ngắm, góc độ ném rổ, thời cơ ném rổ.
- Phải có thể lực tốt, ý chí phẩm chất và tinh thần trách nhiệm cao.
- Cần có kỹ thuật toàn diện: di chuyển, chuyền, bắt, dẫn bóng.
- Có sự kết hợp của đồng đội với khả năng cá nhân.
1.5. Đặc điểm tâm – sinh lý của đối tượng nghiên cứu
Ở lứa tuổi này các em đã kết thúc giai đoạn dậy thì, thời kỳ này là sự
tăng trưởng của cơ thể đạt đến trình độ hoàn thiện. Các tố chất và các chức
năng căn bản đã hoàn chỉnh trong quá trình phát triển. Giai đoạn này đa số
các em sẽ có sự thay đổi về tính cách tâm sinh lý trong cơ thể và đây được
xem là giai đoạn mà bản thân các em luôn tự phấn đấu để đi tới mục đích cao
nhất là tự hoàn thiện bản thân mình. Trong thời kỳ này, các em có một cơ thể
cân đối và dồi dào sức khỏe. Hay nói cách khác đây là thời kỳ phát triển rực
rở nhất của sức mạnh tinh thần và thể chất.
14
1.5.1. Đặc điểm về mặt tâm lý
Trong tâm lý học người ta định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạn phát
triển từ lúc dậy thì và kết thúc khi bắt đầu vào tuổi người lớn từ 14 – 25 tuổi.

Lứa tuổi này được chia làm 2 giai đoạn :
- Từ 14 – 18 tuổi là giai đoạn đầu của thanh niên (còn gọi là thanh niên
mới lớn)
- Từ 18 – 25 tuổi là giai đoạn 2 của thanh niên.
Trong giới hạn của đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu đặc điểm tâm lý của
thanh niên giai đoạn 2 ( từ 18 – 25 tuổi ).
Xét về nội dung và tình cảm của hoạt động, lứa tuổi này phức tạp hơn
nhiều so với lứa tuổi thiếu niên ở giai đoạn trước. Ở lứa tuổi này không những
đòi hỏi về mặt học tập mà còn đòi hỏi về tính năng động, sáng tạo ở mức cao
hơn nhiều. Đồng thời cũng đòi hỏi muốn nắm được chương trình học tập một
cách sâu sắc hơn thì cần phải tư duy về mặt lý luận, khi tuổi trưởng thành
càng lớn thì kinh nghiệm sống càng phong phú, họ càng ý thức được rằng
mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc sống. Do vậy ý thức học tập của
các em lứa tuổi này phát triển cao, các em hứng thú học tập gắn liền với hứng
thú nghề nghiệp. Hứng thú này sẽ giúp các em định hướng trong quá trình học
tập của mình. Các em được thúc đẩy bởi động cơ học tập và đã nhận thức
được ý nghĩa xã hội của môn học, của nghề nghiệp mình lựa chọn, đó cũng là
điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy và huấn luyện.
Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ: Tri giác có mục đích đã đạt được ở
mức độ cao, quan sát đã trở nên có mục đích, có hệ thống toàn diện hơn. Ở
lứa tuổi này ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ động trong hoạt động trí tuệ,
đồng thời vai trò của trí nhớ logic, trừu tượng ngày một tăng thêm rõ rệt. Do
cấu trúc của vỏ não phức tạp và chức năng của vỏ não phát triển chặt chẽ hơn,
có căn cứ hơn và nhất quán hơn. Đây là cơ sở để hình thành thế giới quan.
15
Sự phát triển tự ý thức là đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách
của thanh thiếu niên trong giai đoạn này. Đặc điểm quan trọng là sự tự ý thức
của lứa tuổi này nó xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống, học tập, địa vị trong
xã hội, mối quan hệ với thế giới xung quanh buộc các em phải ý thức được
nhân cách của mình. Các em không chỉ nhận thức được cái tốt của mình trong

hiện tại mà còn nhận thức được địa vị của mình trong xã hội, trong tương lai.
Các em có được phẩm chất nhân cách bộc lộ trong lao động, biết yêu lao
động, tính cần cù, dũng cảm, tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng, ý chí cao,
biết khắc phục những khó khăn để đạt được mục đích đã định. Đây chính là
đặc điểm ổn định thuận lợi cho ta rèn luyện các tố chất thể lực, huấn luyện kỹ
chiến thuật. Không những thế các em còn biết đánh giá hành vi của mình và
còn biết đánh giá những phẩm chất mạnh yếu của người khác.
1.5.2. Đặc điểm về mặt sinh lý
Thời kỳ này là sự tăng trưởng của cơ thể đạt đến trình độ hoàn thiện,
các tố chất và chức năng căn bản đã được hoàn thiện trong quá trình phát
triển. Đây là giai đoạn mà các em phát triển nhất về sức mạnh tinh thần và thể
chất.
- Hệ xương: Vẫn phát triển cho tới 24 – 25 tuổi bộ xương mới hoàn
thiện, các cơ tăng khối lượng và đạt 43 – 44% trọng lượng toàn thân. Sự cốt
hóa bộ xương điều đó có ý nghĩa chấm dứt sự phát triển chiều dài. Quá trình
đó xảy ra do các màng xương được phát triển dày lên bao bọc xung quanh
sụn.
- Hệ thần kinh: Được phát triển một cách hoàn thiện khả năng tư duy,
phân tích tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển thuận lợi tạo điều kiện
tốt cho việc hình thành phản xạ có điều kiện. Ngoài ra, do hoạt động mạnh
của hệ thần kinh chiếm ưu thế. Giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng đã
có ảnh hưởng đến hoạt động có thể lực, cho nên phải sử dụng các bài tập sao
cho phù hợp.
16
- Hệ cơ: Thành phần quan trọng của bộ máy vận động là cơ. Sự phát
triển của cơ phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của xương. Khối lượng của
cơ cũng tăng dần theo độ tuổi. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này xảy ra không
đều (cơ chân phát triển nhanh hơn cơ tay). Riêng các bắp cơ lớn phát triển
nhanh (cơ đùi, cơ cánh tay), các cơ co phát triển nhanh hơn cơ duỗi. Trên cơ
sở nắm vững các đặc điểm phát triển của hệ xương, hệ cơ chúng ta cần phải

lựa chọn, áp dụng và dựa vào các bài tập chuyên môn phù hợp với sự phát
triển của chúng. Có như vậy mới đem lại hiệu quả cao trong công tác giảng
dạy và huấn luyện.
Nếu không chú trọng những đặc điểm này không những kìm hãm sự
phát triển mà còn ảnh hưởng đến cơ thể người tập.
- Hệ tuần hoàn: Phát triển hoàn thiện, nam khoảng 70 – 75 lần/phút,
nữ 75 – 80 lần/phút. Sau vận động huyết áp và mạch đập tương đối nhanh cho
nên phù hợp với những bài tập chạy dai sức và những bài tập có khối lượng,
cường độ tương đối lớn.
- Hệ hô hấp: Đã hoàn thiện hơn, vòng ngực trung bình của nam
khoảng 75 - 85 cm, nữ khoảng 80 - 85 cm, diện tích tiếp xúc của phổi khoảng
120 -150cm, dung lượng phổi khoảng 4 – 5 lít, tần số khoảng 10 – 20
lần/phút.
Như vậy, hoạt động thể dục thể thao ở lứa tuổi này rất thuận lợi vì khối
lượng của tim và mạch máu đều đạt tới mức tiêu chuẩn, hoạt động của tim ổn
định. Hệ thần kinh phát triển đầy đủ. Hệ thống tín hiệu thứ 2 đã đạt đến mức
hoàn chỉnh, ngôn ngữ bên trong và ngôn ngữ bên ngoài rất phong phú. Trong
khi hệ thần kinh phát triển đầy đủ thì cấu trúc tế bào của não lại trở nên phức
tạp hơn nhiều so với thời kỳ trước, số lượng các sợi thớ cơ liên tiếp tăng lên,
các quá trình hưng phấn và ức chế cũng như mối liên hệ giữa chúng được
hoàn thiện.
17
Tóm lại: Từ những đặc điểm tâm sinh lý nói trên đây là thời kỳ phát
triển mạnh mẽ nhất về thể chất và tinh thần, là giai đoạn thuận lợi nhất cho
việc hình thành kỹ năng kỹ xảo và phát triển các tố chất thể lực cho lứa tuổi
này. Các điều kiện về mặt sinh lý đó là sự phát triển hoàn thiện các toàn bộ
các hệ thống chức năng của cơ thể. Về mặt tâm lý đặc điểm nổi bật nhất là sự
nhận thức được vai trò địa vị của mình trong xã hội, nhận thức được nghề
nghiệp mình đã chọn. Từ đó các em có sự nỗ lực rèn luyện ý chí, khắc phục
khó khăn để đạt được mục đích của mình đã định.

18
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu
Qua quá trình nghiên cứu, phân tích tổng hợp từ các tài liệu chung và
chuyên môn có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài. Để có cơ sở cho
việc giải quyết các nhiệm vụ, chúng tôi đã đọc và tham khảo một số tài liệu và
một số sách báo giúp xác định những cơ sở lý luận của kỹ thuật và lấy số liệu
chính xác, phân tích đánh giá thực trạng và lựa chọn các bài tập phù hợp có
cơ sở khoa học vận dụng vào thực tiễn. Phương pháp này được sử dụng xuyên
suốt trong quá trình nghiên cứu.
Các tài liệu về khoa học cơ bản như: Triết học, Chính trị, Kinh tế, Giải
phẫu, Sinh lý, Sinh cơ, Sinh hóa, Toán tin
Các tài liệu về khoa học cơ sở và chuyên ngành như: Giáo trình Bóng
rổ, Lý luận và phương pháp giáo dục thể dục thể thao, Tâm lý học thể dục thể
thao, Sinh lý học thể dục thể thao, Học thuyết huấn luyện Ngoài ra đề tài
còn tìm hiểu các thông tin trên mạng Internet, báo, tạp chí.
2.1.2. Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm
Để đảm bảo đề tài mang tính khoa học và thực tiễn, chúng tôi sử dụng
phương pháp phỏng vấn gián tiếp thông qua phiếu hỏi đối với các thầy giáo
trong bộ môn bóng rổ của nhà trường, huấn luyện viên bóng rổ có kinh
nghiệm. Bên cạnh đó còn tiến hành tọa đàm trực tiếp, việc sử dụng phương
pháp này nhằm thu nhập thêm thông tin cần thiết.
2.1.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp này nhằm thu thập và xử lý những thông tin ban đầu từ
các giảng viên, HLV, các chuyên gia có trình độ và kinh nghiệm trong giảng
dạy huấn luyện môn bóng rổ. Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi
19
trong các công trình nghiên cứu khoa hoc. Từ những thông tin chúng tôi gửi

đi phỏng vấn các chuyên gia, trên cơ sở đó sẽ thu thập, tham khảo những
nguồn kiến thức, các suy nghĩ và ý tưởng về vấn đề có liên quan đến đề tài.
Trong đề tài này, để giải quyết các vấn đề cơ sở lý luận khoa học và
thực tiễn của việc lựa chọn bài tập nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật tại chỗ
ném rổ một tay trên cao cho sinh viên phổ tu khóa Đại học 6 trường Đại học
Thể dục thể thao Đà Nẵng, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn các chuyên gia
đang giảng dạy và huấn luyện Bóng rổ ở các trường Đại học Thể Dục Thể
Thao, các Câu Lạc Bộ và các nhà khoa học nghiên cứu lĩnh vực Bóng rổ.
Thông qua việc quan sát, ghi chép sư phạm nhằm tìm ra những điểm
mạnh, yếu trong quá trình học tập cũng như thu thập các thông tin về hiệu quả
của từng nội dụng, phương pháp các bài tập. Qua đó có đầy đủ các cở sở khoa
học để lựa chọn các bài tập; phương pháp luyện tập; số buổi tập; số lượng bài
tập trong một buổi nhằm giải phục vụ trong quá trình nghiên cứu.
2.1.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu của để tài, chúng tôi sử dụng
phương pháp kiểm tra sư phạm nhằm kiểm tra đánh giá trình độ tập luyện của
nhóm sinh viên thực nghiệm và nhóm đối tượng đối chứng.
2.1.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sau khi lựa chọn và xác định được các bài tập, chúng tôi tiến hành thực
nghiệm sư phạm trên đối tượng là sinh viên phổ tu nữ khóa Đại học 6 trường
Đại học TDTT Đà Nẵng, được chia làm hai nhóm:
- Nhóm đối chứng (nhóm A): Tiến hành tập luyện theo các bài tập
thông thường của bộ môn.
- Nhóm thực nghiệm (nhóm B): Tiến hành tập luyện các bài tập đã
được chúng tôi lựa chọn.
20
Trước khi tiến hành thực nghiệm, chúng tôi tiến hành kiểm tra lần 1 để
lấy số liệu ban đầu. Trong quá trình thực nghiệm chúng tôi tiếp tục tiến hành
kiểm tra lần 2 để so sánh kết quả trước và sau thực nghiệm nhằm làm sáng tỏ
hiệu quả của các bài tập

2.1.6. Phương pháp toán thống kê
Để xử lý số liệu thu được trong quá trình thực nghiệm, chúng tôi đã sử
dụng phương pháp toán học thống kê. Từ đó có cơ sở để đánh giá hiệu quả
của việc áp dụng các bài tập.
Các công thức được sử dụng trong đề tài:
- Công thức 1 : Tính giá trị trung bình

n
x
X
i

=
(n = 1, 2, 3 )
- Công thức 2 : Tính phương sai

1
)(
2
2

−∑
=
n
XX
i
σ

)30(


n
- Công thức 3: Tính độ lệch chuẩn

x
2
σσ
=
- Công thức 4 : So sánh hai số trung bình

BA
BA
nn
XX
t
22
σσ
+

=
(n≤ 30);
21
Trong đó:
2
)()(
22
1
2
−+
−∑+−∑
=

=
BA
B
iB
A
iA
n
i
nn
XXXX
σ
- Công thức 5: Tính hệ số tương quan

∑ ∑

−−
−−
=
22
)()(
))((
yyxx
yyxx
r
(n < 30)
- Công thức 6: Chỉ số để tính nhịp độ tăng trưởng

%100
5,0).(
)(V

W
12
12

+

=
VV
V
Trong đó: W là nhịp độ tăng trưởng (%)
V là chỉ số trung bình của lần kiểm tra
2.2. Tổ chức nghiên cứu
2.2.1. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 06 năm 2014 đến tháng 05 năm 2015.
Để tiến hành nghiên cứu hợp lý và để đảm bảo được yêu cầu của nhiệm vụ
nghiên cứu, chúng tôi chia thời gian nghiên cứu thành 3 giai đoạn .
- Giai đoạn 1: Từ tháng 06/2014 đến tháng 09/2014.
+ Lựa chọn đề tài nghiên cứu, xác định nhiệm vụ và phương pháp nghiên
cứu, xây dựng và thông qua đề cương nghiên cứu.
- Giai đoạn 2: Từ tháng 09/2014 đến tháng 01/2015.
+ Đọc tài liệu liên quan đề tài, phỏng vấn, thu thập tài liệu.
+ Giải quyết mục tiêu 1.
22
- Giai đoạn 3: Từ tháng 01/2015 đến tháng 05/2015.
+ Giải quyết mục tiêu 2, hoàn thành đề tài nghiên cứu.
+ Viết báo cáo tóm tắt.
+ Thông qua hướng dẫn khoa học.
+ Chuẩn bị bảo vệ luận văn trước hội đồng khoa học.
2.2.2. Đối tượng nghiên cứu
+ Chủ thể nghiên cứu: Các bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật tại chỗ

ném rổ một tay trên cao.
+ Khách thể nghiên cứu: Nữ sinh viên phổ tu khóa Đại học 6 trường
Đại học TDTT Đà Nẵng.
2.2.3. Địa điểm nghiên cứu
Trường Đại học Thể dục Thể thao Đà Nẵng
2.2.4. Thiết bị dụng cụ nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài để có số liệu cụ thể chính xác, chúng
tôi đã sử dụng các thiết bị sau:
- Sân tập bóng rổ.
- Đồng hồ bấm giây.
- Bóng rổ, bóng nhồi và các dụng cụ chuyên dùng dành cho bóng rổ.
23
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đánh giá thực trạng việc sử dụng kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay
trên cao của sinh viên phổ tu trường Đại học TDTT Đà Nẵng
3.1.1. Thực trạng chương trình và giáo trình môn học Bóng rổ
Mục tiêu của môn học là góp phần thực hiện mục tiêu Đào tạo sinh
viên theo chuyên ngành GDTC, trở thành cán bộ có năng lực giảng dạy –
huấn luyện các kỹ thuật động tác, biết vận dụng phương pháp trọng tài và tổ
chức thi đấu. Có năng lực tổ chức tập luyện trong các trường học các cấp và
làm cán bộ chuyên môn ở các sở, ngành. Nguồn cán bộ phải là người giỏi về
kiến thức chuyên môn, đáp ứng khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động sản
xuất của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi ra
trường, sinh viên sẽ nắm vững cơ sở lý luận, khả năng thực hành phương
pháp giảng dạy, huấn luyện, tổ chức thi đấu, trọng tài bóng rổ và khả năng
xây dựng, quản lý câu lạc bộ.
- Về tri thức: Trang bị cho người học nắm vững những cơ sở lý luận
của môn bóng rổ, năng lực thực hành kỹ - chiến thuật động tác; phương pháp
tổ chức thi đấu và trọng tài; đảm nhiệm được nhiệm vụ giảng dạy ở các

trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp, trong các trường năng
khiếu, các cơ sở, trung tâm thể dục thể thao.
- Về kỹ năng: Vận dụng sự hiểu biết những kiến thức cơ bản về bóng
rổ, ứng dụng vào thực tiễn việc giảng dạy và huấn luyện trong các trường học
thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở trung tâm thể dục thể thao. Hình
thành năng lực sư phạm nghề nghiệp, biết xây dựng kế hoạch giảng dạy, huấn
luyện cũng như tổ chức thi đấu và phương pháp trọng tài môn bóng rổ.
- Về thái độ: Hình thành phẩm chất cơ bản của người cán bộ thể dục
thể thao cơ sở trong thời kỳ đổi mới với tác phong mẫu mực, có tinh thần
24
trách nhiệm với xã hội về nghề nghiệp, yêu thích môn học, kính trọng, yêu
quý các thầy cô giáo.
Chương trình môn học gồm 45 giờ, bao gồm 01 học phần tương ứng
với 03 đơn vị học trình. Nội dung chương trình gồm cả lý thuyết và thực
hành, được tổ chức giảng dạy thông qua các hình thức:
- Lên lớp lý thuyết: 06 giờ.
- Lên lớp thực hành: 33 giờ.
- Thi, kiểm tra: 06 giờ.
Chương trình môn học Bóng rổ được xây dựng và chỉnh sửa hàng năm
để phù hợp với nhu cầu xã hội, kết quả được trình bày ở bảng 3.1.
Bảng 3.1: Bảng phân phối chương trình môn học Bóng rổ trường Đại học
TDTT Đà Nẵng.
TT Nội dung
Thời gian và hình thức giảng dạy Tổng

thuyết
Thảo
luận
Thực
hành

Phương
pháp
Kiểm
tra, thi
1 Bài giảng lý thuyết 06 06
2 Bài giảng thực hành 33 33
3 Thi, kiểm tra 06 06
TỔNG CỘNG 45
Qua bảng 3.1 cho thấy: Chương trình được phân bổ dưới 3 hình thức
lên lớp: Lý thuyết, thực hành và thời gian thi kiểm tra. Các phần được thiết kế
tương đối hợp lý về mặt thời lượng cũng như nội dung, theo đó chương trình
được bám sát với mục tiêu đào tạo, với việc chú trọng trang bị kỹ năng thực
hành của chuyên môn và những kiến thức về cơ sở lý luận trong dạy học động
25
tác cho sinh viên. Để đáp ứng được yêu cầu học tập và nâng cao hiệu quả thực
hiện các kỹ thuật ném rổ nói riêng và kết quả học tập môn Bóng rổ nói chung,
cần lựa chọn bài tập chuyên môn trong quá trình giảng dạy các kỹ thuật ném
rổ nhằm giúp người học nắm chắc kỹ thuật, tránh được những sai lầm đồng
thời bổ sung và hoàn thiện các tố chất thể lực. Từ đó rút ngắn quá trình hình
thành kỹ năng – kỹ xảo vận động cho người học. Nâng cao hiệu quả thực hiện
kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao cho sinh viên.
3.1.2. Thực trạng việc sử dụng các bài tập bổ trợ kỹ thuật tại chỗ
ném rổ một tay trên cao của bộ môn Bóng rổ
Theo chương trình của nhà trường, sinh viên phổ tu học môn Bóng rổ
được học kỹ thuật chuyền bóng bằng hai tay trước ngực, hai người di
chuyển chuyền bóng ném rổ, hai bước ném rổ và tại chỗ ném rổ một tay trên
cao.
Thời gian quy định cho từng loại kỹ thuật, phương pháp giảng dạy rõ
ràng. Song vẫn còn tồn tại một số vấn đề như tỷ lệ thời gian tập các kỹ thuật
chưa đảm bảo. Vì vậy phải bố trí xen kẽ những bài tập bổ trợ kỹ thuật tại

chỗ ném rổ một tay trên cao cho phù hợp để tạo điều kiện cho sinh viên tiếp
thu kỹ thuật động tác.
Để tìm hiểu về thực trạng giảng dạy chúng tôi đi sâu tìm hiểu việc
ứng dụng các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ một
tay trên cao cho sinh viên phổ tu, kết quả được trình bày ở bảng 3.2.
Bảng 3.2: Thực trạng sử dụng các bài tập đối với chương trình phổ tu
môn bóng rổ.
TT Bài tập Khối lượng Quãng nghỉ

×