Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

Vài nét về lịch sử làng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (117.59 KB, 11 trang )

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
độc lập-tự do-hạnh phúc
vài nét về lịch sử
làng
thổ ngoạ
tháng 01 năm 2003
1
vài nét về lịch sử làng thổ ngoạ
Theo Quảng Bình nớc non và lịch sử do cụ Nguyễn Tú su tầm và
biên soạn, Sở Văn Hoá Thông Tin Quảng Bình xuất bản năm 1948 thì vùng
đất này xa kia thuộc châu Bố Chính của nớc Chiêm Thành. Từ khi nớc Đại
Việt giành đợc chủ quyền, thoát khỏi ách nô lệ của phong kiến phơng Bắc,
do bất hoà, hai nớc Đại Việt và Chiêm Thành nhiều lần đụng độ quân sự.
Nhà Tống xâm lợc tuy đã bị Lê Hoàn đánh bại vẫn cha từ bỏ âm mu chiếm
lại Đại Việt nên đã liên kết với Chiêm Thành để tấn công Đại Việt từ hai
phía. Biết rõ âm mu nham hiểm của kẻ thù, Vua Lý Thánh Tông quyết định
phải khống chế Chiêm Thành ở Phía Nam mới cự đợc Tống ở phí Bắc. Vua
tự cầm quân tiến vào đất Chiêm. Lý Thờng Kiệt đợc cử làm Đại tớng tiên
phong kiêm chức thống soái. Thua trận, vua Chiêm Thành là Chế Củ đã
phải đầu hàng, xin dâng ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh để đợc tha
mạng. Châu Bố Chính cùng với hai châu Địa Lý, Ma Linh đợc nhập nớc Đại
Việt năm 1069.
Đến năm 1074, năm năm sau khi Chế Củ mất ngôi, triều đình Chiêm
Thành chống lại việc Chế Củ đầu hàng nhợng đất cho vua Lý, đem quân c-
ớp lại ba châu, nhng lần tiến quân nào cũng bị quân dân Đại Việt đánh bại.
Từ năm 1284 đến năm 1288, trớc nạn xâm lăng của quân Nguyên-Mông, ba
nớc Đại Việt, Chiêm Thành, Chân Lạp phải liên kết chống kẻ thù chung.
Sau ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông thắng lợi, Đại Việt và
Chiêm Thành trở nên thân thiện. Năm 1301, thợng hoàng Trần Nhân Tông
đi thăm Chiêm Thành, hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế
Mân. Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý làm lễ cới. Năm 1307, Chế Mân lâm


bệnh chết. Theo tục Chiêm Thành, hoàng hậu phải vào hoả đàn để tuẩn
táng. Vua Trần Nhân Tông sợ Huyền Trân phải chết, sai ngời tìm cách cứu
thoát. Sau sự kiện này, bang giao hai nớc Đại Việt và Chiêm Thành lại rắc
rối. Năm Hồng Đức (Lê Thánh Tông) thứ nhất (1470) Chiêm Thành đa hơn
mời vạn quân xâm phạm bờ cỏi Đại Việt. Vua Lê Thành Tông tự cầm quân
vào đánh chiêm Thành. Dẹp xong quân Chiêm, Vua xuống chiếu kêu gọi
dân phiêu tán từ các vùng phía Bắc di dân xuốg phía Nam, lập ấp ở châu Bố
Chính. Đây là đợt di dân thứ ba của nhà nớc Đại Việt, sau đợt thứ nhất thời
Lí Nhân Tông năm 1075 và đợt thứ hai thời Hồ Quý Ly năm 1403.
2
Gia phả họ Nguyễn còn lu giữ đợc cho biết , ông Nguyễn Khống (tự
Khắc Nhợng) quê làng Thổ Vợng, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, xứ
Nghệ An (nay thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) là một võ tớng theo vua
Lê Thánh Tông đi chinh phạt ChiêmThành. Chiến thắng trở về năm 1471,
thực hiện chiếu chỉ di dân của vua, ông đa một số ngời vốn là binh sỹ dới
quyền vào đây khai hoang lập ấp. Vợ ông là bà Hoàng Thị Trờng, ngời làng
Ngoạ Kiều cùng huyện với ông cũng đa các con theo chồng đi xây dựng
quê hơng mới. Tên làng Thổ Ngoạ do ông Nguyễn Khống đặt năm 1472
trên cơ sở ghép hai từ đầu của làng cũ, Thổ Vợng quê ông và Ngoạ Kiều
quê bà. Dần dần dân c làng Thổ Ngoạ ngày càng đông thêm. Ngoài họ
Nguyễn còn có họ Trần, họ Trơng, họ Đỗ... Ông Nguyễn Khống chủ trơng
phân chia điền thổ, đào giếng, lập chợ, xây dựng đình chùa, cắt đất tế lễ.
Dân làng vô cùng mến mộ ông. Khi ông mất, cả làng tôn ông là Thần
hoàng làng và thờ ông tại đình làng. Nh vậy tính đến năm 2002, làng Thổ
Ngoạ đã có lịch sử tròn 530 năm.
Dới thời phong kiến nhà Nguyễn, Thổ Ngoạ đợc gọi là một xã thuộc
tổng Thuận Bài, phủ Quảng Trạch, gồm có 11 xóm
1. Ngoạ Long (xóm Cầu )
2. Thanh Tĩnh (xóm Thanh )
3. Tiền Môn (xóm Môn )

4. Cảnh Tiên (xóm Bến )
5. Hội Tĩnh (xóm Chợ )
6.Hậu Tĩnh (xóm Đồng )
7. Cây Me (xóm Me )
8. Dinh Tĩnh (xóm Dinh )
9. Minh Phợng (xóm Lòi)
10. Quan Tĩnh (xóm Quan )
11. Minh Phủ (xóm Giữa)
Ngoài 11 xóm có c dân sinh sống, Thổ Ngoạ cón có một doi cồn nổi
giữa sông Gianh rộng chừng 2 km, còn gọi là cồn Két, vì ngoài các loại cây
chịu mặn nh bần , sác, giá , sú vẹt phát triển rất mạnh, ở đây còn có loại rau
két có thể ăn đợc. Hàng năm trớc đây, những tháng giáp hạt, những ngày
đứt bữa, dân làng thờng sống nhờ loại rau này. Cồn Két vừa có tác dụng bảo
vệ môi trờng sinh thái vừa nh lá chắn, giữ gìn bờ sông ven làng đỡ xói lở.
3
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Thổ Ngoạ cùng với
Thuận Bài là hai làng thuộc xã Thuận Thổ, huyện quảng Trạch. Làng Thuận
Bài theo sử cũ lu lại, gồm hai họ Trần và Ma, vốn là dòng dõi triều thần nhà
Trần. Năm 1400, Hồ Quý Ly làm cuộc đảo chính phế truất vua Trần Thiếu
Đế, lập ra triều thần nhà Hồ rồi lên làm vua, đổi tên nớc Đại Việt thành Đại
Ngu. Một trong số những tôn thất nhà Trần chống lại nhà Hồ là Trần Dụt, bị
Hồ Quý Ly đàn áp phải bỏ chạy về phơng Nam, trụ lại đây và trở thành
thần hoàng làng.
Bớc vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đơn vị xã đợc tổ
chức lớn hơn để giảm bớt đầu mối, tiện cho việc chỉ đạo của huyện trong
thời chiến. Thổ Ngoạ, Thuận Bài cùng với các làng Thọ Dơn, Nhân Thọ,
Ngoại Hải, Dơn Sa, Diên Phúc, Mỹ Hoà thành xã An Trạch. Hoà bình lập
lại năm 1954 đến cải cách ruộng đất năm1956, xã An Trạch đợc chia ra
thành ba xã gồm Quảng Thuận (Thổ Ngoạ, Thuận Bài), Quảng Thọ (Thọ
Dơn, Nhân Thọ, Ngoại Hải và ba xóm Minh Phợng, Quan Tĩnh, Minh Phủ

của Thổ Ngoạ) , Quảng Phúc (Dơn Sa, Diên Phúc, Mỹ Hoà)
Tuy về mặt hành chính, ba xóm thuộc làng Thổ Ngoạ trở thành
những đơn vị của xã Quảng Thọ, nhng phong tục, tập quán vẫn không thay
đổi, quan hệ dòng tộc, bà con huyết thống, nghĩa xóm tình làng vẫn gắn
bó với Thổ Ngoạ nh xa.
Tám xóm cũ của làng Thổ Ngoạ ở xã Quảng Thuận cha có sự điều
chỉnh. Xóm Thanh Tĩnh đợc chia ra thành xóm Chùa và xóm Đình. Xóm
Hội Tĩnh cũng tách đôi thành xóm Hội và xóm Chợ. Theo số liệu của xã
Quảng Thuận, đến năm làng Thổ Ngoạ thuộc xã Quảng Thuận có 1100
hộ với hơn 5000 nhân khẩu. Dân làng không theo một tôn giáo nào ngoài
việc thờ cúng ông bà tổ tiên. Làng có chùa thờ Phật Thích Ca, hàng năm có
tổ chức lễ Phật đản, hàng năm tháng bảy xá tội vong nhân, nhng không
có s sải, không có tăng ni phật tử.
Ngời Thổ Ngoạ từ xa sinh sống chủ yếu dựa vào hai nghề chính là
làm ruộng và làm nón. ở đây đất chật ngời đông. Ruộng đất đã ít lại hoàn
toàn phụ thuộc nớc trời. Làm ruộng nh đánh bạc, một năm đợc mùa, ba năm
mất mùa vì hạn hán. Loại nhất đẳng điền, thợng gia hạ điền, trên lúa
dới cá đều nằm trong tay phú nông, điạ chủ, cờng hào chức sắc. Nông dân
phần đông phải làm ruộng rẽ hoặc cày thuê cuốc mớn cho nhà giàu, vì suất
4
đất công đợc chia theo suất đinh đã ít laị quá xấu, nhiều năm thu hoạch
không đủ nộp thuế.
Làm nón trở thành nguồn sống chính của nhiều gia đình, vì nghề này
đòi hỏi vốn liếng không bao nhiêu (chỉ cần mấy cái khuôn bằng tre, mấy bộ
vành lá), từ trẻ con 5-7 tuổi đến ngời già còn sáng mắt, đàn bà hay đàn ông
đều làm đợc và làm quanh năm, bất kể ngày đêm, ma nắng. Không ai giàu
nhờ làm nón, nhng có nghề làm nón thì chí ít trong nhà cũng đủ tiền đong
gạo, mua rau da mắm muối, không lo đói. Làng Thổ Ngoạ có nghề nón từ
lúc nào và tổ làng nghề là ai đến nay cũng cha rõ. Theo truyền miệng thì
ngày xa có một ông trong làng thấy làm ruộng không đủ ăn, quanh năm cơ

cực, nghe nói trong kinh đô Huế có nghề làm nón dễ kiếm ăn, đã lặn lội vào
trong đó học nghề. Nhng vì muốn dấu nghề, không ai chịu dạy cho ông.
Thế là, đêm đêm ông trèo lên mái nhà nọ, vạch một lỗ tranh lợp, gián mắt
nhìn xuốngqua ánh đèn dầu, xem trong nhà làm nón. Nắm đợc bí quyết
nhà nghề từ cái khuôn, lên vành, rập ba lớp lá, đến từng mũi kim khâu lá,
cặp, sòi, ông về truyền lại và mở nghề làm nón từ trong nhà, dần dần ra cả
làng.
Văn hoá làng nghề ở Thổ Ngoạ đã có những nét đặc sắc. Làm ruộng
thì ngoài lễ hạ điền (xuống ruộng) nh những nơi khác, còn có ngày hội
tháo khoán. Bàu Rôộc là khu đồng sâu, cá nhiều. Hàng năm, cứ khi thu
hoạch xong lúa vụ Mời, làng tổ chức một ngày tháo khoán cho mọi ngời
tự do nơm bắt cá. Nhà nào cũng nô nức mua sắm hoặc tự làm, tự sửa chữa
mấy cái nơm cho chắc chắn để chờ ngày tháo khoán. Trong ngày này có
ngời may mắn nơm đợc hàng chục con cá tràu (cá quả), cá gáy (cá chép), có
con nặng vài kilôgam. Ngày tháo khoán thực sự trở thành ngày hội làng.
Làm nón thì đã có những bạn chùm. Mỗi bạn thờng gồm 10-15 ngời,
phần lớn là những thanh nữ mời tám, đôi mơi. Theo quy định, mỗi ngày
đêm, cả bạn đến một nhà. Trong bạn, theo kết quả bốc thăm, mỗi ngời mấy
cái nón, cả bạn đợc mấy chục cái để cả lại cho nhà chủ bán lấy tiền mua
sắm. Cứ thế, hết nhà nay đến nhà khác, khắp lợt này lại bốc thăm đợt khác.
Bạn chùm đến làm cho nhà ai, nhà đó lo bữa ăn tra, thờng là khoai lang
luộc, bánh tráng nớng, canh bầu nấu với tôm và rau hao. Các bạn chùm vui
nhất là ban đêm. Tối đến các bạn chùm ngồi quanh ngọn đèn toạ và đặt mấy
chiếc chõng lèo bằng tre, có mấy ấm nớc chè khô, mấy cái bát uống nớc to
nh bát cơm, sẵn sàng đón bạn trai đến chơi, hò đối đáp. Trai làng sau ngày
5

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×