Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ LƢƠNG
TUYỂN CHỌN MỘT SỐ GIỐNG SẮN MỚI
VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÂM CANH
CHO GIỐNG SẮN TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ LƢƠNG
TUYỂN CHỌN MỘT SỐ GIỐNG SẮN MỚI
VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÂM CANH
CHO GIỐNG SẮN TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN VIẾT HƢNG
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ bất cứ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Học viên
Nguyễn Thị Lương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ii
LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và nghiên cứu đề tài, tôi đã hoàn thành bản luận
văn nghiên cứu khoa học. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới các
thầy giáo, cô giáo trong Khoa Sau Đại học; Khoa Nông Học, Trường Đại học
Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành nghiên
cứu và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Viết
Hưng đã luôn quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm và công tâm trong
suốt quá trình tôi tiến hành nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn.
Do còn hạn chế về trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tế nên
không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự giúp đỡ, góp ý kiến bổ
sung của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi được
hoàn thiện hơn.
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng gửi tới các thầy giáo, cô giáo, bạn bè,
đồng nghiệp, gia đình sự biết ơn sâu sắc và xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2014
Học viên
Nguyễn Thị Lương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Yêu cầu nghiên cứu 2
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Tình hình sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới 3
1.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam 8
1.2. Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống sắn trên thế giới và Việt Nam 12
1.2.1. Tình hình nghiên cứu giống sắn trên thế giới 12
1.2.2. Tình hình nghiên cứu giống sắn ở Việt Nam 15
1.3. Tình hình nghiên cứu về một số biện pháp kỹ thuật thâm canh sắn ở
trên thế giới và trong nước có liên quan đến đề tài 18
1.3.1. Tình hình nghiên cứu thời vụ trồng và thu hoạch sắn 18
1.3.2. Tình hình nghiên cứu mật độ và khoảng cách trồng sắn trên thế
giới và trong nước 20
Chƣơng 2. ƢƠ U 22
2.1. Đối tượng 22
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
2.3. Nội dung nghiên cứu 22
2.4. Phương pháp nghiên cứu 22
2.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm 22
2.4.2. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 25
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv
2.5. Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 26
Chƣơng 3. 28
3.1. Kết quả nghiên cứu của 5 giống sắn mới tham gia thí nghiệm tại
trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên năm 2013 28
3.1.1. Tỷ lệ mọc mầm và thời gian mọc mầm của 5 giống sắn 28
3.1.2. Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của 5 giống sắn 29
3.1.3. Tốc độ ra lá của 5 giống sắn 31
3.1.4. Tuổi thọ lá của 5 giống sắn 32
3.1.5. Đặc điểm nông sinh học của 5 giống sắn 34
3.1.6. Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng của 5
giống sắn 38
3.1.7. Hoạch toán hiệu quả kinh tế của 5 giống sắn 46
3.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến giống sắn mới
KM414 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên năm 2013 - 2014 47
3.2.1. Ảnh hưởng của thời vụ trồng tỷ lệ mọc mầm và thời gian mọc
mầm của giống sắn KM414 47
3.2.2. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao
cây của giống sắn KM414 49
3.2.3. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tốc độ ra lá của giống sắn KM414 50
3.2.4. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tuổi thọ lá của giống sắn KM414 52
3.2.5. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến đặc điểm nông sinh học của
giống sắn KM414 53
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v
3.2.6. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất, chất lượng và các
yếu tố cấu thành năng suất của giống sắn KM414 57
3.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến giống sắn mới
KM414 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên năm 2013 66
3.3.1. Ánh hưởng của mật độ trồng đến tỷ lệ mọc mầm và thời gian
mọc mầm của giống sắn KM414 66
3.3.2. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao
cây của giống sắn KM414 67
3.3.3. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tốc độ ra lá của giống sắn KM414 69
3.3.4. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tuổi thọ lá của giống sắn KM414 70
3.3.5. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến đặc điểm nông sinh học của
giống sắn KM414 71
3.3.6. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất, chất lượng và các
yếu tố cấu thành năng suất của giống sắn KM414 75
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CIAT
: Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới
CTCRI
: Viện Nghiên cứu Cây có củ
CATAS
: Học Viện Cây trồng Nhiệt đới Nam Trung Quốc
FCRI
: Viện Nghiên cứu Cây trồng Thái Lan
FAO
: Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc
FCRI
: Viện Nghiên cứu Cây trồng Thái Lan
GSCRI
: Viện Nghiên cứu Cây trồng Cận Nhiệt đới Quảng Tây Trung Quốc
IITA
: Viện Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới
IFPRI
: Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực thế giới
MARIF
: Viện Nghiên cứu Cây Lương thực Marlang - Indonexia
TTDI
: Viện Tinh bột Sắn Thái Lan
ĐHNLTN
: Đại học Nông lâm Thái Nguyên
NLSH
: Năng lượng sinh học
NSCT
: Năng suất củ tươi
NSSVH
: Năng suất sinh vật học
NSTL
: Năng suất thân lá
NSCK
: Năng suất củ khô
NSTB : Năng suất tinh bột
TLCK : Tỷ lệ chất khô
TLTB : Tỷ lệ tinh bột
HSTH : Hệ số thu hoạch
CTTN : Công thức thí nghiệm
TB : Trung bình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên toàn thế giới giai
đoạn 2008 -2013 3
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của những nước trồng
sắn chính trên thế giới năm 2012 4
Bảng 1.3. Tình hình xuất, nhập khẩu sắn khô toàn cầu giai đoạn
2008 - 2011 6
Bảng 1.4. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam giai
đoạn 2000 - 2012 8
Bảng 1.5. Diễn biến diện tích, sản lượng sắn của các vùng trồng sắn
của Việt Nam từ năm 2000 - 2012 8
Bảng 1.6: Diện tích và năng suất của một số giống sắn đang sử dụng
ở Việt Nam 11
Bảng 3.1. Tỷ lệ mọc mầm và thời gian mọc mầm của 5 giống sắn
tham gia thí nghiệm 28
Bảng 3.2. Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của 5 giống sắn tham gia
thí nghiệm 29
Bảng 3.3. Tốc độ ra lá của 5 giống sắn tham gia thí nghiệm 31
Bảng 3.4. Tuổi thọ lá của 5 giống sắn tham gia thí nghiệm 33
Bảng 3.5. Đặc điểm nông sinh học của 5 giống sắn tham gia thí nghiệm 34
Bảng 3.6. Các yếu tố cấu thành năng suất của 5 giống sắn tham gia
thí nghiệm 38
Bảng 3.7. Năng suất của 5 giống sắn tham gia thí nghiệm 40
Bảng 3.8. Chất lượng của 5 giống sắn tham gia thí nghiệm 42
Bảng 3.9. Kết quả hoạch toán kinh tế của 5 giống sắn tham gia
thí nghiệm 46
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
viii
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tỷ lệ mọc mầm và thời
gian mọc mầm của giống sắn KM414 47
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều
cao cây của giống sắn KM414 49
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tốc độ ra lá của giống
sắn KM414 50
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tuổi thọ lá của giống
sắn KM414 52
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến đặc điểm nông sinh học của
giống sắn KM414 tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 54
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các yếu tố cấu thành
năng suất của giống sắn KM414 57
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất củ tươi, năng
suất thân lá, năng suất sinh vật học và hệ số thu hoạch của
giống sắn KM414 60
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tỷ lệ chất khô, tỷ lệ
tinh bột, năng suất củ khô, năng suất tinh bột của giống
sắn KM414 63
Bảng 3.18. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tỷ lệ mọc mầm và thời
gian mọc mầm của giống sắn KM414 66
Bảng 3.19. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều
cao cây của giống sắn KM414 67
Bảng 3.20. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tốc độ ra lá của giống
sắn KM414 69
Bảng 3.21. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tuổi thọ lá của giống
sắn KM414 70
Bảng 3.22. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến đặc điểm nông sinh học
của giống sắn KM414 71
Bảng 3.23. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành
năng suất của giống sắn KM414 75
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ix
Bảng 3.24. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất của giống
sắn KM414 77
Bảng 3.25. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chất lượng của giống
sắn KM414 80
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ năng suất của 5 giống sắn tham gia thí nghiệm 41
Hình 3.2: Biểu đồ tỷ lệ chất khô và tỷ lệ tinh bột của 5 giống sắn
tham gia thí nghiệm 44
Hình 3.3: Biểu đồ năng suất củ khô và năng suất tinh bột của 5 giống
sắn tham gia thí nghiệm 46
Hình 3.4: Biểu đồ hoạch toán kinh tế của 5 giống sắn tham gia thí nghiệm 47
Hình 3.5: Biểu đồ ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất củ tươi, năng
suất thân lá và năng suất sinh vật học của giống sắn KM414 61
Hình 3.6: Biểu đồ ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tỷ lệ chất khô, tỷ
lệ tinh bột của giống sắn KM414 64
Hình 3.7: Biểu đồ ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất củ khô,
năng suất tinh bột của giống sắn KM414 65
Hình 3.8: Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất của
giống sắn KM414 78
Hình 3.9: Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ trồng đến tỷ lệ chất khô và tỷ
lệ tinh bột của giống sắn KM414 81
Hình 3.10: Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất củ khô
và năng suất tinh bột của giống sắn KM414 82
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) là một trong những cây lương thực
dễ trồng, có khả năng thích ứng rộng, và trồng được trên những vùng đất
nghèo, không yêu cầu cao về điều kiện sinh thái, phân bón, chăm sóc. Nó
được trồng rộng rãi từ 30
0
Bắc đến 30
0
Nam và được trồng ở trên 100 nước
nhiệt đới thuộc ba châu lục lớn là châu Phi, châu Mỹ và châu Á (Phạm Văn
Biên và Hoàng Kim,1991)[1].
Sắn là cây lương thực rất quan trọng bởi có giá trị lớn trên nhiều mặt.
Sắn là nguồn lương thực đáng kể cho con người, hiện nay nhiều nước trên thế
giới đã sử dụng sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn làm nguồn lương thực
chính, nhất là các nước ở châu Phi. Tinh bột sắn còn là một thành phần quan
trọng trong chế độ ăn của hơn một tỷ người trên thế giới. Sắn cũng là thức ăn
cho gia súc, gia cầm quan trọng tại nhiều nước trên thế giới, ngoài ra sắn còn
là hàng hóa xuất khẩu có giá trị để làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp
chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng phủ sinh học và
phụ gia dược phẩm… Đặc biệt trong thời gian tới, sắn là nguyên liệu chính
cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol).
Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng sau lúa và ngô. Năm
2012 diện tích sắn toàn quốc là 550,6 nghìn ha, năng suất bình quân 177,0
tạ/ha, sản lượng là 9745,5 nghìn tấn (FAOSTAT, 2013)[35]. Cả nước hiện
có hơn 60 nhà máy chế biến tinh bột sắn, trong đó có 41 nhà máy đã đi vào
hoạt động với tổng công suất 2,2 - 3,8 triệu tấn sắn củ tươi/năm. Tổng sản
lượng tinh bột sắn của Việt Nam hiện đạt 600 - 800 nghìn tấn, trong đó có
khoảng 70% dành cho xuất khẩu và 30% tiêu thụ trong nước (Trần Ngọc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
2
Ngoạn, 2007)[22].
Cây sắn ở Việt Nam ngày càng có nhu cầu cao trong công nghiệp chế
biến tinh bột, thức ăn gia súc, thực phẩm, dược liệu và trở thành cây hàng hóa
xuất khẩu của nhiều tỉnh, công nghiệp chế biến ngày càng đa dạng hóa sản
phẩm, đáp ứng nhu cầu của người dân ngày càng tốt hơn.
Để đáp ứng nguồn nguyên liệu hiện nay thì giống tốt cho năng suất cao,
chất lượng tốt và thích ứng rộng đồng thời áp dụng một số biện pháp kỹ thuật
như thời vụ, mật độ trồng thích hợp là rất quan trọng. Thí nghiệm tiến hành
nghiên cứu biện pháp kỹ thuật cho giống sắn KM414 vì kế thừa kết quả của
các nghiên cứu trước đó về giống sắn KM414 cho thấy đây là giống sắn có
tiềm năng cho năng suất và chất lượng tốt.
Chính vì vậy, các nhà khoa học trên thế giới và trong nước đang rất quan
tâm đến công tác chọn lọc và cải tạo giống sắn mới có năng suất cao, chất lượng
tốt nhằm đáp ứng nhu cầu hiện nay cũng như sau này. Xuất phát từ thực tế đó,
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tuyển chọn một số giống sắn mới và nghiên
cứu một số biện pháp thâm canh cho giống sắn tại Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Thông qua nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển năng suất và
chất lượng của các giống sắn tham gia nghiên cứu để chọn được 1 - 2 giống
sắn có triển vọng nhất nhằm tăng hiệu quả kinh tế cho người sản xuất.
- Nghiên cứu, xác định một số biện pháp kỹ thuật canh tác (thời vụ và
mật độ trồng) hợp lý đối với cây sắn để nâng cao năng suất, chất lượng và
tăng hiệu quả kinh tế cho người sản xuất.
3. Yêu cầu nghiên cứu
- Xác định được giống sắn mới có đặc điểm sinh trưởng, phát triển
tốt, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng cao phục vụ
cho sản xuất.
- Xác định được mật độ trồng hợp lý nhất đạt năng suất và chất lượng
cao cho giống sắn mới KM414.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
3
- Xác định được thời vụ trồng thích hợp đối với giống sắn mới KM414
cho năng suất và chất lượng cao.
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam
1.1.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới
1.1.1.1. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới
Trên thế giới sắn là cây quan trọng được xếp đứng thứ năm sau cây ngô,
lúa gạo, lúa mì và khoai tây.
Diện tích sắn trên toàn thế giới năm 2013 đạt 20,732 triệu ha, năng suất
bình quân 13,347 tấn/ha, sản lượng 276,722 triệu tấn (FAOSTAT, 2014)[36].
Diện tích, năng suất và sản lượng sắn thế giới trong giai đoạn 2008 – 2013
được thể hiện ở bảng 1.1:
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lƣợng sắn trên toàn
thế giới giai đoạn 2008 -2013
Năm
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Diện tích (triệu ha)
18,861
19,094
19,293
20,060
19,991
20,732
Năng suất (tấn/ha)
12,270
12,320
12,470
12,780
12,830
13,347
Sản lượng (triệu tấn)
231,540
235,289
240,659
256,404
256,529
276,722
Nguồn: FAOSTAT, 2014[36]
Qua số liệu bảng 1.1 ta thấy:
Sản lượng sắn của toàn thế giới trong năm 2013 là khoảng 276,722 triệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
4
tấn. Từ năm 2008 đến năm 2013 diện tích sắn đã tăng 1,871 triệu ha, năng
suất tăng 1,077 tấn/ha nên sản lượng sắn đã tăng 45,182 triệu tấn.
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất, sản lƣợng sắn của những nƣớc
trồng sắn chính trên thế giới năm 2012
Vùng trồng
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lƣợng
(triệu tấn)
Toàn thế giới
19,991
12,83
256,529
Châu Phi
13,379
10,93
146,217
Nigeria
3,850
14,03
54,000
Cộng hòa Congo
2,200
7,27
16,000
Angola
1,062
10,07
10,636
Ghana
0,868
16,75
14,547
Mozambique
0,762
13,18
10,051
Châu Mỹ
2,621
12,40
32,503
Brazil
1,703
13,74
23,414
Paraguay
0,183
13,99
2,560
Colombia
0,212
10,74
2,274
Peru
0,092
12,11
1,119
Haiti
0,155
4,19
0,652
Châu Á
3,974
19,53
77,608
Indonesia
1,119
21,36
23,922
Thái Lan
1,250
18,0
22,500
Việt Nam
0,551
17,69
9,746
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
Ấn Độ
0,221
36,48
8,076
Trung Quốc
0,280
16,29
4,56
Campuchia
0,208
21,69
4,500
Nguồn: FAOSTAT, 2013[35]
Qua số liệu bảng 1.2 ta thấy:
Hiện nay cây sắn được trồng tại 105 quốc gia, năm 2012 toàn thế giới có
19.991 nghìn ha sắn, trong đó có 66,92% diện tích sắn được trồng ở châu Phi,
châu Á chiếm 19,88 %, châu Mỹ chiếm 13,11 %.
Châu Phi có tổng diện tích trồng sắn năm 2012 là 13,379 triệu ha, năng
suất củ tươi bình quân 10,93 tấn/ha, sản lượng 146,217 triệu tấn [33]. Ở Châu
Phi nước có diện tích sắn lớn nhất là Nigeria với 3,850 triệu ha, năng suất đạt
14,03 tấn/ha, sản lượng 54,000 triệu tấn. Sắn là nguồn lương thực chính của
người dân tại nhiều nước ở vùng này. Châu Phi là nơi tình trạng suy dinh
dưỡng tăng lên gấp đôi trong hai thập kỷ qua nên cây sắn hiện được coi là giải
pháp an toàn lương thực hàng đầu.
Năm 2012 tổng diện tích sắn trồng ở châu Mỹ là 2,621 triệu ha, năng
suất củ tươi bình quân 12,40 tấn/ha, sản lượng 32,503 triệu tấn. Brazil là
nước có diện tích trồng sắn lớn nhất châu Mỹ với 1,703 triệu ha - sản lượng
23,414 triệu tấn.
Châu Á cùng với châu Phi và châu Mỹ là một trong ba vùng sắn quan
trọng của thế giới. Diện tích sắn châu Á hiện có 3,974 triệu ha, sản lượng
77,608 triệu tấn, năng suất sắn ở châu Á hiện đạt bình quân 19,53 tấn/ha
(FAOSTAT, 2013)[35]. Thái Lan là nước có diện tích trồng sắn lớn nhất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
6
châu Á với 1,250 triệu ha - sản lượng 22,500 triệu tấn. Sản xuất sắn tại
châu Á tăng ở mức cao của 3%/năm trong thời gian cuối những năm 70 và
đầu 80, những năm 90 sản xuất sắn phát triển chậm lại. Sản xuất sắn được
phát triển khá nhanh trở lại ở 3,3%/năm trong suốt 10 năm qua (Reinhardt
Howeler và Keith Fahrne 2008).
1.1.1.2. Tình hình xuất, nhập khẩu sắn trên thế giới
Bảng 1.3. Tình hình xuất, nhập khẩu sắn khô toàn cầu
giai đoạn 2008 - 2011
Thị trƣờng sắn
2008
2009
2010
2011
1. Xuất khẩu
Sản lượng (triệu tấn)
4.152
7.960
6.291
6.682
Giá trị (triệu $)
794.385
1.283.330
1.501.385
2.071.351
2. Nhập khẩu sắn toàn cầu
Sản lượng (triệu tấn)
4.409
7.189
6.380
5.855
Giá trị (triệu $)
923.249
1.100.307
1.355.669
1.614.908
Nguồn: Cassava FAO Food Outlook December 2012[37]
Qua bảng số liệu 1.3 ta thấy:
Xuất khẩu sắn khô trên thế giới năm 2011 là 6,682 triệu tấn, đạt
2.071.351 triệu đô-la Mỹ. So với năm 2008 lượng sắn xuất khẩu năm 2011
tăng 2,530 triệu tấn. Nhập khẩu sắn khô trên toàn thế giới là 5,855 triệu tấn
đạt 1.614.908 triệu đô-la Mỹ, tăng 1,446 triệu tấn so với năm 2008.
Qua phân tích tình hình sản xuất sắn trên thế giới ta thấy rằng, sắn sẽ
đóng vai trò kinh tế quan trọng và ngày càng đa dạng trong việc phát triển hệ
thống lương thực của nhiều quốc gia trong hai thập kỷ tiếp theo. Cây sắn có
hệ thống cố định Cacbon cho phép cây tiếp tục quang hợp có hiệu quả trong
thời gian thiếu nước kéo dài (Trần Ngọc Ngoạn, 2007)[22].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
Ngoài ra, sắn hiện nay đang được sử dụng như một nguyên liệu phù hợp
để sản xuất ethanol trên toàn châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh.
Trung Quốc hiện là nước nhập khẩu sắn nhiều nhất thế giới để làm
cồn sinh học (bio ethanol), tinh bột biến tính (modify starch), thức ăn gia
súc và dùng trong công nghiệp thực phẩm dược liệu. Trong năm 2009
Trung Quốc đã nhập khẩu 6.019.424 tấn sắn lát khô, trung bình hàng tháng
Trung Quốc nhập khẩu 501.618 tấn sắn lát khô, tháng thấp nhất là 259.886
tấn, tháng cao nhất là 616.875 tấn. Trong đó nhập khẩu từ Thái Lan là
3.862.662 tấn, Việt Nam là 2.010.560 tấn, Indonesia là 143.072 tấn và số
lượng còn lại là nhập khẩu ở một số nước khác. Để hạn chế việc nhập khẩu
sắn từ các nước khác và chủ động nguồn cung cấp sắn cho ngành công
nghiệp thực phẩm, thức ăn gia súc và làm cồn sinh học ở trong nước, Trung
Quốc có nhiều chính sách để tiếp tục mở rộng diện tích và nâng cao năng
suất sắn trong nước như: giới thiệu các giống sắn mới tốt hơn và nâng cao
kỹ thuật trồng rừng kết hợp với trồng sắn.
Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực thế giới (IFPRI), đã tính toán
nhiều mặt và dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn toàn cầu với tầm nhìn
đến năm 2020. Năm 2020 sản lượng sắn toàn cầu ước đạt 275,10 triệu tấn,
trong đó sản xuất sắn chủ yếu ở các nước đang phát triển là 274,7 triệu tấn,
các nước phát triển khoảng 0,40 triệu tấn. Mức tiêu thụ sắn ở các nước đang
phát triển dự báo đạt 254,60 triệu tấn so với các nước đã phát triển là 20,5
triệu tấn. Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làm lương thực thực
phẩm dự báo nhu cầu là 176,3 triệu tấn và thức ăn gia súc 53,4 triệu tấn. Tốc
độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắn làm lương thực, thực
phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1,98% và 0,95%. Châu Phi vẫn là
khu vực dẫn đầu sản lượng sắn toàn cầu với dự báo sản lượng năm 2020 sẽ
đạt 168,6 triệu tấn. Trong đó, khối lượng sản phẩm sử dụng làm lương thực
thực phẩm là 77,2%, làm thức ăn gia súc là 4,4%. Châu Mỹ La tinh giai đoạn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
1993-2020, ước tốc độ tiêu thụ sản phẩm sắn tăng hàng năm là 1,3%, so với
châu Phi là 2,44% và châu Á là 0,84 - 0,96%. Cây sắn tiếp tục giữ vai trò
quan trọng trong nhiều nước châu Á, đặc biệt là các nước vùng Đông Nam Á
nơi cây sắn có tổng diện tích đứng thứ ba sau lúa và ngô và tổng sản lượng
đứng thứ ba sau lúa và mía. Giải pháp chính để tăng tổng sản lượng bằng
cách áp dụng giống mới và các biện pháp kỹ thuật tiên tiến. [43].
1.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam
Ở Việt Nam sắn là một trong bốn cây trồng có vai trò quan trọng trong
chiến lược an toàn lương thực quốc gia sau lúa và ngô. Diện tích, năng suất,
sản lượng sắn được thể hiện ở bảng 1.4.
Bảng 1.4. Diện tích, năng suất và sản lƣợng sắn ở Việt Nam
giai đoạn 2000 - 2012
Năm
2000
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
D. tích (1.000 ha)
234,9
425,5
475,2
495,5
555,7
508,8
496,2
558,4
550,6
N. Suất (tấn/ha)
8,66
15,78
16,37
16,53
16,9
16,81
15,08
17,73
17,69
S. lượng (1000 tấn)
2.034
6.716
7.783
8.193
9.396
8.557
8.522
9.897
9.745
Nguồn: , 2013[27]
Qua bảng số liệu 1.4, 1.5, 1.6 ta có nhận xét
Trong vòng 10 năm từ năm 2000 - 2012 diện tích trồng sắn tăng từ 234,9
nghìn ha lên 550,6 nghìn ha và năng suất tăng từ 8,66 tấn/ha lên 17,69 tấn/ha.
Sản lượng tăng gấp 5 lần từ 2.034 nghìn tấn lên 9.745 nghìn tấn.
Bảng 1.5. Diễn biến diện tích, sản lƣợng sắn của các vùng trồng sắn
của Việt Nam từ năm 2000 - 2012
Năm
Vùng
Diện tích (1.000ha)
Sản lƣợng (1.000 tấn)
2000
2005
2010
2012
2000
2005
2010
2012
ĐB sông Hồng
9,9
8,5
7,3
6,7
87,9
92,4
108,8
105,1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
Vùng núi trung du phía bắc
82,1
89,4
104,6
117,0
678,5
986,8
1.260,1
1 486,5
Vùng ven biển Trung bộ
83,8
133,0
155,0
174,9
645,9
1.855,9
2.607,6
3 027,5
Vùng Tây Nguyên
38,0
89,4
133,2
149,5
351,5
1.446,6
2.179,5
2 542,0
Vùng Đông Nam Bộ
16,1
98,8
90,1
96,0
154,3
2.270,5
2.283,3
2 485,1
ĐB Sông Cửu Long
7,7
6,4
6,0
6,5
68,2
64,0
82,3
99,3
Nguồn: [27]
Đất trồng sắn ở Việt Nam tập trung ở các tỉnh miền núi phía Bắc, ven
biển Trung bộ và Vùng Tây Nguyên. Ở Việt Nam khoảng 60% diện tích của
sắn được trồng trên đất đồi núi, 40% diện tích còn lại được trồng trên các loại
đất khác. Sắn ưa đất có độ pH từ 4,5 - 6,0. Tại miền Bắc Việt Nam, sắn được
trồng chủ yếu ở khu vực có địa hình đồi núi và khoảng 68% của diện tích
trồng sắn là đất đá và 12% có đất cát pha tương ứng. Trong khi đó sắn ở miền
Nam Việt Nam được trồng chủ yếu trên đất cát màu xám, các loại đất này
phẳng và nghèo chất dinh dưỡng, các khu vực ven biển miền Trung và Đông
Nam, chiếm khoảng 60% diện tích sắn toàn miền Nam. Trong khi đó hơn
30% diện tích sắn được trồng ở Tây Nguyên và Đồng Nai, Bình Phước của
khu vực Đông Nam trên đất đỏ màu vàng với địa hình đồi núi.
Năm 2009 diện tích trồng sắn đã đạt 508,8 nghìn ha, trong đó có
khoảng 78% tổng diện tích được phân bố ở vùng ven biển miền Trung,
Tây Nguyên và Đông Nam. Có thể thấy rằng việc sản xuất sắn tại Việt
Nam đã được chuyển dần sang vùng ven biển miền Trung và khu vực
Đông Nam Bộ trong những năm gần đây; ở miền Đông Nam bộ như Tây
Ninh, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Thuận (chiếm 20,52%); tỉnh Duyên
hải Nam Trung bộ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên (chiếm
30,33%)[3]. Vùng Tây Nguyên là một trong ba vùng sản xuất nhiều sắn ở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
10
Việt Nam có diện tích và sản lượng tăng đáng kể vào giai đoạn 2005 -
2011. Sản lượng sắn và diện tích sắn ở nhiều tỉnh đã tăng lên, điều này
được kích thích bởi việc xây dựng các nhà máy chế biến sắn mới có quy
mô lớn. Sản lượng sắn trong từng khu vực có liên quan chặt chẽ đến diện
tích gieo trồng và năng suất, mà chủ yếu phụ thuộc vào việc áp dụng các
giống sắn mới năng suất cao ở mỗi tỉnh và thông qua các kỹ thuật thực
hành sản xuất bền vững. Trong khi hai mươi năm trước đây, tại Việt Nam
không có các nhà máy sản xuất tinh bột sắn quy mô lớn, hiện nay có 60
nhà máy chế biến sắn hoạt động với tổng công suất chế biến từ 3.200.000
- 4.800.000 tấn củ tươi/năm. Tổng sản lượng tinh bột sắn tại Việt Nam
được khoảng 800.000 - 1.200.000 tấn, trong đó 70% được xuất khẩu và
30% được sử dụng trong nước. [3]
Trong thập niên 1980 và 1990 sản lượng sắn tại Việt Nam đã suy giảm.
Nhưng trong mười năm qua (2000-2011), sản lượng sắn tăng từ 1.986.300 tấn
trong năm 2000 lên 9.897.900 tấn trong năm 2011.
Kết quả này đạt được thông qua hai yếu tố đó là mở rộng diện tích và
trồng các giống sắn cao sản mới. Năm 2000 có diện tích trồng sắn từ
237.600 ha, năm 2009 là 508.800 ha, tăng so với năm 2000 là 322.800ha và
đánh dấu sự gia tăng năng suất từ 8,36 tấn/ha trong năm 2000 lên 17,73 tấn
/ha vào năm 2011.
Việt Nam đã đạt tiến bộ kỹ thuật nhanh nhất châu Á về chọn tạo và
nhân giống sắn. Tiến bộ này là do nhiều yếu tố mà yếu tố chính là đạt
được nhiều thành tựu trong lĩnh vực chọn tạo và nhân giống sắn lai. Năng
suất và sản lượng sắn của nhiều tỉnh đã tăng lên gấp đôi do trồng các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
giống sắn mới có năng suất cao và áp dụng kỹ thuật canh tác sắn thích
hợp, bền vững.
Diện tích canh tác giống sắn mới toàn quốc hiện đạt trên 500.000 ha, chủ
yếu là KM94, KM140, KM98-5, KM98-1, SM937-26, KM98-7. Sắn lát và
tinh bột sắn có nhiều lợi thế cạnh tranh cao trên thị trường sắn hiện nay. Do
đó sự kết hợp giữa phát triển sản xuất và chế biến sắn làm tinh bột, thức ăn
gia súc và làm cồn sinh học đã tạo ra nhiều việc làm, tăng xuất khẩu, thu hút
đầu tư nước ngoài và góp phần vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa một số khu
vực nông thôn.
Bảng 1.6: Diện tích và năng suất của một số giống sắn
đang sử dụng ở Việt Nam
Giống
Diện tích
thu hoạch
năm 2008
Năng suất
củ tƣơi
(tấn/ha)
Tỷ lệ
tinh
bột %
Năng
suất tinh
bột
(tấn/ha)
Sản lƣợng
củ tƣơi
(1000 tấn)
1000ha
%
Trung
bình
Tối đa
KM94
420
75,54
16,9
33,0
28,7
9,5
7.098
KM140
30
5,4
20,0
35,0
28,7
10,0
600
KM98-5
25
4,5
20,6
34,5
28,5
9,8
515
KM98-1
18
3,24
20,3
32,2
27,6
8,9
365
SM937-26
15
2,7
19,8
32,2
28,9
9,3
297
KM98-7
8
1,44
17,0
31,6
27,5
8,7
136
HL23
6
1,08
13,5
16,5
25,3
4,2
81
XVP
15
2,7
12,0
15,1
26,5
4,0
180
Giống khác
19
3,4
6,5
14,9
25,4
3,8
124
Tổng số
556
100
9.396
Nguồn: Nguyễn Văn Bộ, Hoàng Kim tổng hợp năm 2009[14]
Tại Việt Nam cây sắn được coi là cây trồng chính cung cấp nguồn nhiên
liệu cho sản suất năng lượng sinh học. Bộ Công thương đã hoàn thiện việc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu cho năng lượng sinh học [3]. Khi
chương trình NLSH của Nhà nước vận hành, các nhà máy sản xuất ethanol sẽ
tiêu thụ một khối lượng sắn rất lớn. Dự kiến năm 2012, sản xuất ethanol sẽ
tiêu thụ 16% sản lượng sắn, năm 2015 chiếm 35%, năm 2020 chiếm 41%, đến
năm 2025 chiếm 48% (Nguyễn Thế Hùng, 2001)[9].
Việt Nam là nước xuất khẩu lớn thứ hai về các sản phẩm sắn sau Thái
Lan với 2,00 - 4,00 triệu tấn sắn lát khô và tương ứng khoảng 0,4 - 0,8 tấn
tinh bột sắn xuất khẩu. Đại lục Trung Quốc vẫn là nước nhập khẩu sắn lớn
nhất của Việt Nam và chiếm 90% thu nhập xuất khẩu của ngành công nghiệp.
Hàn Quốc và Đài Loan là nước đứng thứ hai và thứ ba trong tốp các nhà nhập
khẩu lớn nhất. Nhu cầu nhập khẩu tăng vọt, là nhu cầu từ Trung Quốc, sử
dụng để sản xuất ethanol.
1.2. Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống sắn trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình nghiên cứu giống sắn trên thế giới
Trước đây, sắn được coi là một cây màu lương thực vì vậy thường được
phát triển trên diện rộng. Sắn là cây trồng của người nghèo và được sản xuất
bởi người nông dân nghèo nên có thời gian sắn bị lãng quên ở cộng đồng các
nước phát triển.
Đến năm 1970, với sự thành lập chương trình nghiên cứu sắn của CIAT
ở tại các nước Colombia và IITA (International institute for Tropical
Agriculture) ở Nigieria.
Trên thế giới sắn được trồng chủ yếu bằng hom nên có lợi thế về mặt
duy trì các tính trạng tốt qua các thế hệ sinh sản vô tính (dòng vô tính) song
lại có khó khăn là hệ số nhân giống của sắn rất thấp (trung bình là 1:7). Quá
trình chọn tạo giống sắn cần phải có ít nhất 6 năm để xác định được dòng sắn
triển vọng (Trần Ngọc Ngoạn, 1995, Trần Ngọc Ngoạn và cs, 2004)[20], [21].
Nguồn gen và cơ cấu giống sắn phù hợp cho mỗi vùng sinh thái có ý nghĩa
quan trọng hàng đầu trong công tác cải tiến giống sắn. Sự phong phú, đa dạng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
13
về nguồn gen và phương pháp chọn, tạo vật liệu giống sắn triển vọng là cơ sở
để tạo ra giống tốt.
Trên thế giới, việc nghiên cứu giống sắn được thực hiện chủ yếu ở Trung
tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới - CIAT tại Colombia, Viện Quốc tế Nông
nghiệp Nhiệt đới - IITA tại Nigeria, cùng với các Trường, Viện Nghiên cứu
quốc gia ở những nước trồng và tiêu thụ nhiều sắn; CIAT, IITA đã có những
chương trình nghiên cứu rộng lớn đồng thời kết hợp chặt chẽ các chương trình
sắn của mỗi quốc gia để tiến hành thu thập, nhập nội, chọn tạo và cải tiến
giống sắn. Mục tiêu của chiến lược cải tiến giống sắn được thay đổi tuỳ theo
sự cần thiết và khả năng của từng chương trình quốc gia đối với công tác tập
huấn, phân phối nguồn vật liệu giống ban đầu đã được điều tiết bởi các
chuyên gia chọn tạo giống sắn của CIAT.
CIAT là nơi bảo tồn nguồn gen giống sắn đứng hàng đầu của thế giới.
Hiện tại CIAT cũng thu thập, bảo quản được 5.782 mẫu giống sắn và đăng ký
tại FAO gồm 5.138 mẫu giống sắn thu thập tại vùng Nam Mỹ và Trung Mỹ,
24 mẫu giống sắn ở Bắc Mỹ, 384 mẫu sắn lai của CIAT, 163 mẫu giống sắn
vùng châu Á, 19 mẫu giống sắn vùng châu Phi (Lường Văn Duy, 2007)[5].
Trong số 5.728 mẫu giống sắn này có 35 loài sắn hoang dại được thu thập
nhằm sử dụng lai tạo ra giống sắn kháng sâu bệnh hoặc giàu protein. Nguồn
gen giống sắn nêu trên đã được CIAT bảo tồn và đánh giá cẩn thận về khả
năng cho năng suất, giá trị dinh dưỡng, thời gian sinh trưởng, khả năng chống
chịu sâu bệnh hại cũng như thích ứng với sự thay đổi của môi trường. Từ đó
chọn ra những cặp bố mẹ phục vụ cho công tác cải tiến giống sắn để trao đổi,
giữ gen đối với các nước.
Tại châu Mỹ Latinh, chương trình chọn tạo giống sắn của CIAT đã phối
hợp với CLAYUCA và những chương trình sắn quốc gia của các nước Brazil,
Colombia, Mehico… giới thiệu cho sản xuất ở các nước này những giống sắn
tốt như SM1433-4, CM3435-3, SG337-2, CG489-31, MCol72, AM273-23,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
MBRA383… Do vậy đã góp phần đưa năng suất và sản lượng sắn trong vùng
tăng lên một cách đáng kể.
Viện Nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới quốc tế IIAT (International
Institute Tropical Agriculture) đặt tại Nigieria đã qua thu thập, đánh giá, bảo
quản 1.286 mẫu giống, vật liệu đã chọn lọc và đưa vào sản xuất một số giống
sắn chống chịu virus có năng suất cao hơn giống địa phương 2 đến 3 lần
(Phan Kim Sơn, 2008)[26].
Ở châu Phi, CIAT phối hợp với IITA và các nước Nigeria, Congo,
Ghana, Tanzania, Mozambique, Angola, Uganda cùng nhiều tổ chức quốc tế
như FAO, Bill Gates Foundation để nghiên cứu nhằm phát triển các giống
sắn mới ngắn ngày, chất lượng cao (giàu carotene, vitamin, protein…) thích
hợp ăn tươi và có khả năng kháng bệnh virus (một loại bệnh dịch hại nghiêm
trọng đối với cây sắn ở châu Phi) (Trần Ngọc Ngoạn, 2007)[22].
Ở châu Á, các nhà chọn tạo giống sắn tham dự hội thảo được tổ chức tại
Thái Lan vào tháng 11/1987 đã nhất trí xác định mục tiêu của các chương
trình cải tiến giống sắn quốc gia là chọn tạo ra những giống sắn có năng suất
củ tươi và tỷ lệ tinh bột cao nhằm đáp ứng nhu cầu chế biến công nghiệp.
Mục tiêu cải tiến giống sắn của những quốc gia (Ấn Độ, Indonexia, Srilanca)
có nhu cầu cao về sử dụng sắn làm lương thực là chọn tạo những giống sắn
ngắn ngày có năng suất cao, chất lượng tốt, hàm lượng axit Cyanhydric
(HCN) trong củ thấp, thích hợp tiêu thụ tươi, dạng cây đẹp, có khả năng
chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận và sâu bệnh.
Tại Hội thảo Sắn Quốc tế lần thứ Tám tổ chức tại thủ đô Viên Chăn, Lào
ngày 20 - 24 tháng 10 năm 2008. Các nhà khoa học đã xác định tương lai mới
cho sắn ở châu Á là làm thực phẩm, thức ăn gia súc và nhiên liệu sinh học có
lợi cho người nghèo, mục tiêu là chọn tạo được những giống mới đáp ứng
được yêu cầu sử dụng củ và lá sắn làm thức ăn gia súc, phát triển mới trong