Tải bản đầy đủ (.doc) (8 trang)

Phương pháp xác định giá trị theo tài sản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (90.94 KB, 8 trang )

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
M U
Trong bài viết này đã trình bày một số ý kiến về các phơng pháp xác
định giá trị DNNN thực hiện CPH. Học viên cũng cho rằng , việc cải cách
chính sách CPH chỉ mới là điều kiện cần cho quá trình CPH. Điều kiện đủ
là phải cải thiện môi trờng vĩ mô về thể chế, luật pháp, về các yếu tố tạo lập
môi trờng. Có nh vậy, quá trình CPH mới thực sự diễn ra trôi chảy và đạt đ-
ợc các mục tiêu ban đầu là nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế,
của từng doanh nghiệp Việt Nam.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Giải pháp đợc coi là có ý nghĩa đột phá nhằm nâng cao hiệu quả ,
sức cạnh tranh của doanh nghiệp, cũng là của nền kinh tế đó là cổ phần hoá
doanh nghiệp Nhà nớc. Tuy nhiên, quá trình cổ phần hoá lại đang gây rất
nhiều tranh cãi do những vớng mắc trong quá trình thực hiện và kết quả
thực tế còn rất hạn chế so với mục tiêu. Trong phạm vi bài viết này, chúng
ta thử tìm hiểu nguyên nhân làm quá trình cổ phần hoá diễn ra chậm và
kém hiệu quả , nhìn từ góc độ các phơng pháp định giá doanh nhiệp thực
hiện cổ phần hoá (CPH ) hiện đang đợc áp dụng.
Theo Thông t số 79/2002/TT-BTC ngày 12/9/2002 v/v Hớng dẫn
xác định giá trị doanh nhiệp khi chuyển doanh nhiệp Nhà nớc thành công
ty cổ phần theo Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002, hiện có 2
phơng pháp định giá doanh nghiệp : (1) Phơng pháp xác định giá trị theo tài
sản; (2) Phơng pháp dòng tiền chiết khấu.
Với phơng pháp xác định giá trị theo tài sản, đối tợng áp dụng
là các doanh nghiệp Nhà nớc (DNNN) và các đơn vị phụ thuộc của DNNN
hoạt động trong ngành nghề sản xuất , kinh doanh . Theo học viên, việc
đánh giá một số loại tài sản của doanh nghiệp theo phơng pháp này có
những u điểm và hạn chế sau:
Mặt u điểm: là phơng pháp có tính truyền thống, dựa chủ yếu trên
những số liệu thực tế, nên dễ đợc tiếp nhận. Và vì vậy đây cũng là phơng
pháp chính đợc dùng trong định giá doanh nghiệp thời gian qua.


Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Điểm cha hợp lý : chính những điểm này làm quá trình định giá gặp
nhiều vớng mắc và có những hậu quả tiêu cực. Cụ thể nh sau:
1- Đối với tài sản là hiện vật, giá trị thực tế của doanh
nghiệp đợc xác định trên cơ sở giá trị thị trờng và chất l-
ợng tài sản tại thời điểm định giá:
- Chất lợng tài sản đợc xác định bằng giá trị còn lại theo tỷ lệ % so
với nguyên giá tài sản mới mua sắm hoặc mới đầu t xây dựng. Nh vây, đối
với tài sản loại này , tỷ lệ và mức khấu hao đã áp dụng sẽ là cơ sở để đánh
giá chất lợng của tài sản. Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng tỷ lệ khấu
hao của doanh nghiệp không hoàn toàn phụ thuộc vào chu kỳ sống thực tế
của tài sản và sản phẩm đợc sản xuất ra, và nếu chỉ dựa vào đó để đánh giá
chất lợng tài sản là cha chính xác. Thêm vào đó, việc quy định phải đánh
giá lại đối với tài sản cố định hết khấu hao hoặc dụng cụ quản lý đã phân
bổ hết giá trị nhng đến thời điểm CPH vẫn đang sử dụng để tính bổ sung
vào giá trị doanh nghiệp, cũng dễ gây ra sự bất nhất trong thực hiện .
- Giá thị trờng dùng để xác định giá trị thực tế tài sản , đối với các
công trình mới hoàn thành đầu t xây dựng trong 3 năm trớc khi CPH thì sử
dụng giá trị quyết toán công trình đã đợc cơ quan có thẩm quyền phê
duyệt . Trên thực tế, nhiều công trình đã đa vào sử dụng nhiều năm nhng do
nhiều nghuyên nhân cha quyết toán đợc hoặc đã quyết toán nhng lại đang
trong quá trình thanh tra, kiện cáo . Đối với những công trình đã quyết toán
thì giá trị thực tế của công trình đang là vấn đề nổi cộm gây nhiều tranh cãi
do các vấn đề tham nhũng.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Đối với các khoản nợ phải thu, phải trả, chi phí dở dang:
Phần lớn các DNNN đợc thành lập từ rất lâu, có rất nhiều tồn đọng
về tài chính : treo gác các khoản chi phí, công nợ dây da lòng vòng , nợ quá
hạn, nợ khoanh với ngân hàng chồng chất; chứng từ lu giữ không đảm bảo.
Thực tế này gây rất nhiều khó khăn cho quá trình định giá.

3. Đối với các khoản đầu t tài chính ngắn hạn và dài hạn là các
khoản đầu t góp vốn mua cổ phần của doanh nghiệp khác.
Theo quy định, phải xác định lại giá trị cổ phần và giá trị vốn góp
theo giá trị vốn chủ sở hữu thể hiện trong báo cáo tài chính của doanh
nghiệp nhận vốn. Tuy nhiên, quy định lại không đề cập đến yêu cầu về tính
xác thực của báo cáo tài chính này trong khi nó là yếu tố quyết định tính
chính xác giá trị khoản đầu t của doanh nghiệp thực hiện CPH.
4.Việc xác định giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo quy định, các doanh nghiệp có lợi thế kinh doanh nh vị trí địa
lý , uy tín, tính chất độc quyền về sản phẩm , mẫu mã, thơng hiệu và có tỷ
suất lợi nhuận sau thuế cao hơn lãi suất trái phiếu Chính phủ 10 năm , thì
phải tính thêm giá trị lợi thế kinh doanh vào giá trị thực tế của doanh
nghiệp. Những quy định này còn rất chung chung , và trong điều kiện của
doanh nghiệp hiện nay ( hoạt động tài chính nói chung, hoạt động kế toán
nói riêng của doanh nghiệp vẫn cha đạt một chuẩn mực nhất định, tình
trạng lãi giả lỗ thật hay lỗ giả lãi thật còn phổ biến); cũng nh môi trờng vĩ
mô với hệ thống thị trờng cha hoàn chỉnh ( thị trờng bất động sản chính
thức, thị trờng khoa học-công nghệ, thị trờng tài nguyên...), quyền sở hữu
trí tuệ cha đợc đảm bảo , giá trị thơng hiệu cha có căn cứ nào để xác định ,
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thì việc tính giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp CPH còn là một
thách thức. Đây cũng chính là một nguyên nhân chủ yếu khiến giá trị
doanh nghiệp theo tính toán và giá trị thực tế đợc xã hội thừa nhận có sự
chênh lệch lớn.
5.Về giá trị quyền sử dụng đất .
Đợc xác định trên cơ sở khung giá chuyển quyền sử dụng đất hiện
hành do cấp có thẩm quyền công bố . Tuy nhiên, khi thị trờng bất động sản
chính thức cha phát triển thì các mức giá đa ra đều cha thể phản ánh đúng
giá trị thực của loại tài sản này.
Phơng pháp thứ (2) là xác định giá trị doanh nghiệp theo dòng

tiền chiết khấu. Phơng pháp này áp dụng cho việc xác định giá trị
các DNNN hoạt động trong ngành dịch vụ thơng mại, dịch vụ t vấn,
thiết kế xây dựng, dịch vụ tài chính, kiểm toán, tin học và chuyển
giao công nghệ: có tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu
bình quân 5 năm liền kề của doanh nghiệp trớc CPH cao hơn lãi suất
trái phiếu Chính phủ 10 năm.
Theo phơng pháp này giá trị thực tế của doanh nghiệp và giá trị thực
tế phần vốn Nhà nớc tại doanh nghiệp đợc xác định trên cơ sở :(1) Báo cáo
tài chính của doanh nghiệp trong 5 năm liền kề ; (2) Phơng án hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong 3-5 năm sau khi chuyển thành
công ty cổ phần;(3) Lãi suất Chính phủ kỳ hạn 10 năm ở thời điểm gần nhất
và hệ số chiết khấu dòng tiền của doanh nghiệp .

×