Tải bản đầy đủ (.doc) (5 trang)

. Luật thành văn ở Mỹ có vai trò quan trọng hơn luật thành văn ở Anh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (124.32 KB, 5 trang )

MỤC LỤC
Trang
A. MỞ ĐẦU………………………………………………………….2
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ …………………………………………2
1. Án lệ là nguồn luật chính thống và chủ yếu ở Anh còn ở Mĩ thì án
lệ ít quan trọng hơn…………………………………………….……… 2
2. Luật thành văn ở Mỹ có vai trò quan trọng hơn luật thành văn ở
Anh ……………………………………………………………………..3
C. KẾT LUẬN……………………………………………………….3
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………..4
1
A. MỞ ĐẦU
Anh và Mỹ đều là 2 nước thuộc dòng họ commonlaw nhưng vai trò của luật
thành văn và án lệ ở hai quốc gia này có những điểm khác biệt nhất định.
B.GIẢi QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Án lệ là nguồn luật chính thống và chủ yếu ở Anh còn ở Mĩ thì án lệ ít
quan trọng hơn.
Trong cả hai hệ thống pháp luật Anh và Mỹ thì đều tôn trọng nguyên tắc “stare
decisis” nghĩa là tuân thủ các pháp quyết trước đây và không phá vỡ những quy
phạm pháp luật đã được thiết lập trong án lệ. Theo nguyên tắc này thì tòa án cấp
dưới chịu sự ràng buộc bởi các nguyên tắc pháp lý do các tòa án cấp trên sáng
tạo ra được ghi nhận trong các bản án trong quá trình xét xử các vụ việc trong
quá khứ.
Tuy nhiên sự tuân thủ nguyên tắc “stare decisis” ở Anh có phần khắt khe hơn rất
nhiều so với ở Mĩ.
- Án lệ ở Anh đậm nét hơn vì ở Anh nó đã trở thành một nguyên tắc đã ăn sâu
vào tiềm thức của người Anh. Việc bám sát vào tiền lệ pháp trong hoạt động xét
xử là yêu cầu nghiêm ngặt. Mức độ tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc stare decisis
của các tòa án ở Anh thể hiện ở sự không muốn phủ nhận các phán quyết trong
quá khứ của chính mình. Ngoài ra các tòa án Anh tạo ra luật và thay đổi luật
bằng các bản án của họ nhưng các thẩm phán có xu hướng ra sức biện luận trong


các bản án của mình rằng trong các vụ án đang thụ lý họ không làm gì hơn ngoài
việc “ tìm ra” các quy định pháp luật đã có và đã được động đến trong án lệ.
Ở Anh, những phán quyết của Thượng nghị viện, Tòa phúc thẩm và tòa cấp
cao ( High court) có giá trị ràng buộc đối với các tòa án cấp thấp hơn. Tuy nhiên
không phải toàn bộ các phán quyết của các tòa án này đều có giá trị ràng buộc
mà chỉ có những bản án được xuất bản mới trở thành án lệ và có giá trị ràng
buộc. Phán quyết của Tòa phúc thẩm và Tòa án cấp cao không có giá trị ràng
buộc Thượng nghị viện nhưng thông thường Thượng nghị viện rất tôn trọng
phán quyết của các tòa án này. Từ sau năm 1966 thì Thượng nghị viện Anh
không bắt buộc phải tuân thủ các phán quyết của chính mình. Phán quyết của
Tòa án hình sự trung ương, Tòa địa hạt và tòa án hình sự và gia đình không phải
là án lệ và không có giá trị ràng buộc.
Trong mỗi bản án thì cũng chỉ có phần các nguyên tắc để ra phán quyết
(ratio decidendi) là có giá trị ràng buộc, còn phần bình luận của thẩm phán
(obiter dictum) chỉ có giá trị tham khảo.
- Ở Mỹ, tiền lệ pháp được các tòa án trích dẫn thường xuyên nhưng trong các
bản án cũng dành nhiều chỗ cho quan điểm của thẩm phán về chính sách chung,
so với các thẩm phán Anh, thẩm phán Mỹ đề cập nhiều hơn đến hệ quả thực tiễn
của một phán quyết xem nó có phù hợp với nhu cầu chính sách hay không.
Có nhiều lý do giải thích cho sự khác nhau này ở Anh và Mỹ.
2
Về mặt lịch sử, nước Mỹ ban đầu vốn là thuộc địa của Anh,từ khi mới giành
được độc lập năm 1776 thì họ đã không hề muốn phụ thuộc vào vương quốc
Anh, tiền lệ pháp có nguồn gốc từ Anh nên không thực sự được ưa chuộng, đặc
biệt là trong điều kiện kinh tế xã hội có nhiều thay đổi. Mặt khác, nước Mỹ là
hợp chủng quốc, người Anh tuy chiếm phần đông nhưng không thể phủ nhận sự
tồn tại của các dân tộc khác, với bản sắc văn hóa, tôn giáo, chủng tộc khác nhau,
do đó, việc tiếp thu, chấp nhận thụ động án lệ - một thứ cứng nhắc và ra đời từ
rất lâu không phù hợp với người Mỹ.
Về mặt thực tiễn thì cấu trúc tòa án của Mỹ cũng có ảnh hưởng lớn tới án lệ của

nước này. Bởi như đã phân tích ở trên thì nước Mỹ có 13 bang khi mới thành lập
và hiện nay là 50 bang. Hệ thống tòa án đồ sộ với cả 2 mảng là tòa án liên bang
và tòa án bang, trong mỗi mảng thì lại chia ra nhiều cấp xét xử và có thể có
nhiều tòa án phụ trách các lĩnh vực khác nhau. Ở Mĩ phán quyết của các tòa án
tối cao ở cấp bang và liên bang không chịu sự ràng buộc của chính mình; tòa án
bang không bị bắt buộc tuân thủ án lệ của các tòa án ở các bang khác, ví dụ một
phán quyết của tòa phúc thẩm cuối cùng (Court of Appreals) của New York
không bị bắt buộc tuân thủ án lệ của tòa phúc thẩm cuối cùng của bang
Michigan. Tuy nhiên các phán quyết phù hợp của các tòa án bang khác thường
được viện dẫn, giá trị thuyết phục phụ thuộc vào việc tòa án nào đã đưa ra quyết
định đó.
Trong một số lĩnh vực mà chỉ có liên bang mới có thẩm quyền xét xử thì đương
nhiên, các phán quyết của tòa án liên bang sẽ có giá trị như tiền lệ pháp, và các
bang sẽ phải tuân theo, ví dụ như nếu tòa án liên bang đã tuyên một đạo luật nào
đó là vô hiệu, trái với hiến pháp thì tất nhiên, các bang sẽ không được phép áp
dụng đạo luật này.
Tòa án tối cao của Mỹ cũng khẳng định rằng kết quả xét xử của một vụ việc có
thể dựa trên chính sách chung nhiều hơn là dựa vào án lệ và rằng triết lý của tòa
án thay đổi tùy theo quan điểm cá nhan của người thẩm phán về vấn đề đang
giải quyết và ở thời điểm giải quyết vụ việc.
Qua đây có thể khẳng định một lần nữa, việc áp dụng nguyên tắc stare decisis ở
Mỹ không nghiêm ngặt như ở Anh.
2. Luật thành văn ở Mỹ có vai trò quan trọng hơn luật thành văn ở Anh
* Hiến pháp :
Anh không có hiến pháp thành văn, thực chất chỉ có những văn bản luật có tính
chất như hiến pháp đó là Luật tổ chức Nghị viện, Luật tổ chức Chính phủ, Luật
kế vị ngai vàng, Charter of Liberties 1100, The Petition of Right (1628), English
Bill of Rights (1688), Scotland Act of 1998 and Associated Legislation
(1998),Government of Wales Act of 1998 and Associated Legislation
( 1998),Northern Ireland Act of 1998 and Associated Legislation,The Belfast

Agreement (1998),The Human Rights Act (1998) .
Ngay từ khi ra đời thì nước Mỹ đã rất coi trọng luật thành văn. Hiến pháp năm
1789 là văn kiện pháp lý có tính chất tối cao, đây có thể coi là bản hiến pháp đầu
3
tiên và là bản hiến pháp nổi tiếng nhất trong lịch sử với trên 200 năm tồn tại.
Bản hiến pháp này dựa trên nền tảng học thuyết tam quyền phân lập của
Montesquieu và học thuyết về kiềm chế đối trọng quyền lực.
Ở Anh không hề có sự phân biệt về tầm quan trọng của những văn bản mang
tính hiến pháp so với pháp luật thông thường nên cũng không có cơ quan bảo
hiến, còn ở Mỹ, Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất nên Tòa án tối
cao Mỹ là cơ quan có chức năng bảo hiến.
Một điểm chứng minh vai trò của luật thành văn trong nguồn luật của Mĩ đó là
cơ quan lập pháp của Mỹ thường xuyên tiến hành luật hóa các phán quyết của
tòa án, các án lệ điển hình , hoạt động pháp điển hóa ở Mỹ được tiến hành
thường xuyên hơn so với ở Anh. Một lĩnh vực nếu cùng có luật thành văn và án
lệ điều chỉnh thì tất nhiên luật thành văn sẽ được ưu tiên áp dụng.
Một điểm nữa khiến cho luật thành văn ở Mỹ trở nên quan trọng đó là vì tốc độ
làm luật của các luật gia Mỹ thực sự rất đáng khâm phục. Đầu năm 2002 những
vụ bê bối tài chính của các công ty hàng đầu của Mỹ trong nhiều lĩnh vực như
Worldcom ( công ty trong lĩnh vực viễn thông), Enron (trong lĩnh vực năng
lượng), đã là động lực cho sự ra đời của Đạo luật Sarbanes–Oxley 2002
còn có tên khác là Luật Bảo vệ nhà đầu tư và sửa đổi chế độ kế toán ở Công ty
Cổ phần, gọi tắt là SOX hoặc SarbOx, được Quốc hội Mỹ ban hành ngày
30/7/2002 ( Tác giả của đạo luật này là 2 nghị sĩ Paul Sarbanes và Michael
Oxley). Tuy là một nước nằm trong dòng họ pháp luật commonlaw nhưng có rất
nhiều chế định luật thành văn của Mỹ là khuôn mẫu và là chuẩn mực của nhiều
bộ luật hiện hành của các nước trên thế giới, đó là những bộ luật điều chỉnh
những vấn đề mới phát sinh trong khoảng vài chục thập kỷ trở lại đây, ví dụ như
Luật sở hữu trí tuệ, luật về tội phạm công nghệ thông tin,…
* Điểm khác biệt trong nguồn luật thành văn giữa Anh và Mỹ đó là ở Anh có

thêm luật của liên minh châu Âu, điều này là do yếu tố điều kiện kinh tế xã hội
quy định. Như chúng ta đã biết thì năm 1973, Anh trở thành thành viên của cộng
đồng châu Âu ( EEC) mà ngày nay đã đổi tên thành liên minh châu Âu. Khi gia
nhập liên minh này thì tất nhiên, luật thành văn của Anh không chỉ bao gồm luật
trong nước mà còn có cả luật của Liên minh châu Âu mà nước này đã ký kết và
được nghị viện Anh phê chuẩn. Phán quyết của tòa án châu Âu cũng có thể trở
thành nguồn luật quan trọng, là tiền lệ pháp của các tòa án vương quốc Anh.
C. KẾT LUẬN
Qua những phân tích trên đây có thể thấy được những điểm khác biệt căn bản
trong vai trò của luật thành văn và án lệ ở Anh và ở Mỹ. Dù cùng là những nước
nằm trong dòng họ common law, pháp luật Mỹ có nguồn gốc từ pháp luật
Anh nhưng sau khi du nhập vào Mỹ thì nó đã có những biến dạng;điều này được
quy định bởi các nhân tố về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử và địa lý
của nước Mỹ.
4
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình luật so sánh trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân
năm 2008.
2. Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, Nxb Tp Hồ Chí
Minh năm 2003.
3. Luật so sánh (bản tiếng Việt), Micheal Bogdan năm 2002.
4. Truyền thống pháp luật Mỹ trong hệ thống pháp luật châu Âu (Trích trong
sách “ Truyền thống pháp luật Mỹ trong hệ thống pháp luật phương Tây,
phương pháp điều chỉnh của pháp luật, các án lệ và các văn bản, tài liệu”
của tác giả Gary F. Bell, do Nhà xuất bản Foundation phát hành tại New
york năm 1996, trang 19-23)
CÁC WEBSITE:
1. />2. />5

×