Tải bản đầy đủ (.doc) (14 trang)

Định hướng chiến lược của trung ương và của chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đọan đầu chống Mỹ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (148.65 KB, 14 trang )

ơn hai mươi năm năm đã trôi qua kể từ ngày chiếc xe tăng số 834 của quân đội
nhân dân húc đổ cánh cửa dinh độc lập, lá cờ cách mạng phấp phới bay trên nóc
hang ổ Ngụy quyền, báo hiệu sự chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh tòn
thắng. Thời gian tuy lùi xa dần nhưng khổng thể làm phai mờ những hồi ức mãi mãi
tươirói về về một trong những trang sử hào hùng nhất của dân tộc Việt Nam. Một chiến
công vĩ đại của thế kỉ XX; Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đại thắng mùa xuân 1975 là sản
phẩm tất yếu của tòan bộ quá trình đấu tranh gian khổ của dân tộc Việt Nam vì độc lập tự
do và chủ nghĩa xã hội. Nó bắt nguồn tự sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự chỉ huy chiến
lực và chiến lược tài tình của bộ chỉ huy quân sự và bộ Chính trị . Có thể nói thành công
của nhân dân tabằng1 câu: “Biết mở đầu đúng đắn biết đánh lâu dài và biết kết thúc đúng
lúc”.
H
Cuộc kháng chiến chống pháp dành thằng lợi đã khảng đinh được vai trò lãnh đạo
to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cách mạng Việt nam. Trước đó Trong các
phong trào cách mạng chống Pháp của dân tộc đã có rất nhiều Các nhân Sỹ yêu nước đi
tìm đường cứu nước giai phóng dân tộc khỏi ách áp bức của chủ nghĩa thực dân, và cũng
có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra ở nhiều nơi nhưng nơi tuy có dành được những tháng lơi
nhưng cuối cùng cũng bị that bại. Chỉ đến khi Đảng cộng sản Việt nam ra đời vào 3/2/1930
sau Quá trình chuẩn bị lâu dài và công phu của đồng chí Nguyển Ai Quốc thì cách mạng
Việt Nam mới đạt được nhưng thắng lợi quyết dịnh giải phóng dân tộc ta. Nhưng trong
kháng chiên chống Mỹ mới cho thây sự trưởng thành lớn mạnh của Đảng ta trong vai trò
lãnh đạo cách mạng Việt Nam điền thằng lợi cuối cùng .
I.Hoàn cảnh lịch sử khi đất nước ta chuyển sang giai đoạn mới
Sau khi kí hiệp đ ịnh Giơ-Ne-Vơ 1954 Mặc dù pháp rất ngoan cố , g ây cho ta nhi
ều khó khăn nhưng do nhân d ân ta kiên quyết đấu tranh nên đến 16/5/1955, toàn bộ quân
viễn chinh pháp đã rút khỏi miền bắc . sau khi thực dân pháp rút đi ta tiếp quản một nền
kinh tế kiệt quệ lac hậu . Lực lựơng vũ trang nhỏ bé,trong điều kiện thù trong giăc ngoài
đang uy hiếp ngiêm trọng những thành quả của cuộc cách mạng. Tuy vậy t ình hình chính
trị xã h ội trên toàn miền bắc đã nhanh chóng ổn định . Tuy nhiên ở miền nam đế Qu ốc M
ỹ lại thực hiện âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự. Thời
hạn hai năm đã qua nhân dân ta lại tiếp tục đấu tranh một thời gian nữa Nhưng nhà cầm


quyền miến Nam vẫ từ chối hiệp thương với miến Bắc gìm phong trào yêu nước của nhân
dân ta trong biển máu .
Trong khi đó tình hình thế giới, tuy các nứơc Liên Xô, Trung Quốc và các Nước
XHCN khác Vẫn còn viên trợ cho ta nhưng tình hình thế giới đã có nhiều thay đổi. Từ giữa
thập kỷ 50 trở đi trong cá nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa và trong phong trảo cộng
sản quốc tế xuất hiện sự bất động ngày càng ngiêm trọng trên nhiều vấn đề về chiến lược,
sách lược và phương thứa đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và thế lực phản đông trên
phạm vi toàn thế giới, về phương thức tiến hành cách mạng để giả phóng phần cò lại của
nhân loại dưới sự thống trị của chủ nghĩa tư bản và đế quốc. Đó là nguyên nhân chủ yếu
của những sử bất hoà và chia rẽ , là trở ngại lớn cho việc đoàn kết tập hợp các lực long
cách mạng và tiến bộ trên thế giới đấu tranh vì hoà bình tiến bộ và độc lâp dân tộc và chủ
nghĩa xã hội .
II.Định hướng chiến lược của trung ương và của chủ tịch Hồ Chí Minh trong
giai đọan đầu chống Mỹ.
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, chống Mỹ, cứu nước đã trỡ thành nhiệm vụ
hàng đầu của cả nước đó là vì:
1
1.Am mưu của đế quốc Mỹ không chỉ thôn tính miền Nam mà còn chiếm các nước Việt
Nam Campuchia và Lào.
2.Muốn giải phong miền Nam, muốn thắng được tên đế quốc đầu sỏ giàu mạnh thì phải sử
dụng mọi lực lượng, mọi hình thức, mọi biện pháp; phải đưa lực lượng cả nước ra đánh
Mĩ.
3.Miền Bắc không thể củng cố và xây dựng CNXH khi miền Nam chưa được giải phóng.
Mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ cách mạng trong thời kì đầu được biểu hiện ở mối quan hệ
giữa củng cố Miền Bắc và giữ gìn lực lượng cách mạng, tạo điều kiện tiến lên giành mục
tiêu cuối cùng là giải phóng miền Nam.
Thực tiễn cách mạnglúc này cho thấy, muốn giải phóng miền Nam, trước mắt phải giữ gìn
lực lượng cách mạng, không thể để kẻ thù tiêu diệt; đồng thơì miên Bắc phải đượp củng
cố, hậu quả của chiến tranh phải được khắc phục, mới có thể làm tròn nhiệm vụ hậu
phương cho miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế.

Trong báo cáo chin trị tạilần thứ 6 BCHTƯ Đảng (7-1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu
ra một phương hướng chiến lược được thực tiễn lịch sử chưng minh là vô cùng sáng suốt:
“ Hiện nay đế quốc Mĩ là kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương cho nên mọi việc của ta
đều nhằm chống đế quốc Mĩ”.
Người còn phân tích dự đoán tình hình chính xác cà nêu ra đinh hướng chiến lược cho cách
mạng nước ta:
“Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, âm mưu và kế hoạch của Mĩ cũng thay đổi để kéo dài
chiến tranh Đông Dương, phá hoại hiệp định Giơ nevơ, tìm cách hất cẳng Pháp để tìm
cách chiếmba nước Việt Miên Lào thành nô lệ của Mĩ và gây thêm tình hình căng
thẳngtrên thế giới. Cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mĩ.Bất kìngười nào
nước nào không thân với Mĩ đều có thể làm Mặt trận thống nhất ( dù là tạm thời với ta).
Đế quốc Mĩ cố tình phá hoại hoà bình, khả năng tiếp tục chiến tranh chưa hết, nhưng khả
năng kí hiệp định Giơnevơ đang trở thành hiện thực. Tại Hội nghị nay, pháp đã chịu cam
kếtđịnh kì rút quân khỏiba nước Đông Dương”. “Hiện nay tình hình đã đổi mới nhiệm vụ
của ta do đó cũng thay đổi cho phù hợp với tình hình mới’.
Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý cán bộ chiến sĩ cả nước; “tranh thủ lấy hoà bình không
phải là một việc dễ, nó là cuộc đấu tranh truờng kỳ gian khổ phức tạp…”.Người đưa ra ba
nhiệm vụ, 1o công tác trước mắt.:
1 – tranh thủ và củng cố hoà bình, hoàn thành thống nhất, độc lập dân chủ trong
toàn quốc.
2 – tăng cường lực lượng quân đội nhân dân, xây doing một quân đội nhân dân
mạnh mẽ và thích hợp với yêu cầu tình thế mới.
3 – tiếp tục thực hiện người cày có ruộng;ra sức phục hồi sản xuất, chuan bị điều
kiện thống nhất nước nhà”.
Tại hội nghị trung ương ấy đồng chí Trường Chinh đọc báo cáo Để hoàn thành
nhiệm vụ đẩy mạnh công tác trước mắt. Báo cáo phân tích rõ hơn việc xây dựng lực lượng
vũ trang: “… một ngày nào mà quân đội ngoại quốc chứ rút hết khỏi đông dương thì hoà
bình chưa được củng cố. Hơn nữa dù quân đội ngoại quốc rút hết khỏi Đông Dương mà
trên thế giới vẫ còn bọn đế quốc thì hoà bình của nhân dân vẫn chưa được bảo đảm. Vì vậy
phải luôn luôn tăng cường lực lượng, củng cố quốc phòng, ngăn ngừa bọn can thiệp Mỹ và

hiếu chiến pháp dùng bọn tay sai của chúng mà phá hoại hiệp định đình chiến hoặc trực
tiếp khiêu khích xâm lược”.
2
Báo cáo đặc biệt chú vấn đề chuyển hướng công tác ở miền Nam, làm cho cas1n
bnộ, đồng bào chiến sĩ ta hiểu rõ điều chỉnh khu vực đòng quân là cần thiết, từ đó mà tự
giác thgi hành mệnh lean điều chỉnh, không bi quan, tiêu cực. Sau khi đã rùt quân địch sẽ
tìm cách tiền công phá hoại tổ chức của ta, phá hoại, đảm phán. Khinh ngiệm ở triều tiên
đã chỉ rõ điếu đó. Do vậy cuộc đấu tranh đòi pháp và nguỵ thừa nhận quyền tự do, dân chủ
của nhân dân ta sẽ vô cùng khó khăn, và dù chúng có thừa nhận quyền tự do dân chủ đó, ta
cũng phgải đối phó với tình hình chúng đàn áp, khủng bố.
Hội nghị 6 BCHTƯ Đảng lao động Việt Nam đã nhất ttrí với chủ trương trên
“Ngày nay do tình hình và sách lược đầu tranh cốt để thực hiện mục đích trước mắt, Đây là
một sự thay đổi quan trọng về phương trâm và sách lược cách mạng, nhưng mục đích của
cách mạng vẫ là một” . Nhuững định hướng của cách mạng do chủ tịch Hồ Chí Minh và
trung ương Đảng đề ra tại hội nghị trung ương lần sáu có ý ngỹa rất quan trong đối với
cách mạng nước ta trong thời đại mới.
Ngày 5-9-1954 BCH ra nghi quyết cụ thể hoá và và bổ xung ngỵ quyết hội ngỵ lần
6. Nghị quyết vạch ra 5 đặc điểm của giai đoạn mới trong đáo quan trong nhất là “nam bắc
tạm thời chia làm hai vùng”. Nghị quyết nhận định đế quốc Mỹ và tay sai đang âm mưu
phá hoại hiệp định giơnevơ, nhằm “biến Việt Na m thành Triều tiên thứ hai”. Cách mạng
miền Nam chuyen hướng từ đấu tranh vũ trraqng sang đấu tranh chính trị. Do đó phương
trâm hoạt động ở vùng địch tạm chiếm là kết hợp chặt chẽ công tác hợp pháp và công tác
không hợp pháp; Trong đó lấy công tac không hợp pháp lá chính; đồng thời lợi dụng kha
năng không hợp pháp để tuyên truyền giáo dục quần chúng đông đổng đảo, tổ chức lãnh
đạo quần chúng đấu tranh. Tuyệt đối không bộc lộ lực lượng, xong cũng không dựa vào
công tác bí` mật mà thủ tiêu công tác, cần mởp rông công tác ở thành thị, giữ vững và phát
triển công tác ở nông thôn. Phải làm cho0 cán bộp hiểu đubg1 mức những khó khăn của
vùng địch tạm chiếm đóng, đồng thời chấp nhẫn khả năng thuận lợi mới. Nghị quyết ban
chấp hành đã được truyền đạt đến Xứ uỷ nam bộ và Khu uỷ quân khu V. Thực hiện nghị
quyết, các đảng bộ đã chỉ đạo việc chuyển hướng , ổn định tổ chức, chôn giấu vũ khí, rút

vào bí mật để giữ gìm lực lượng.
Dựa trên tinh thần nghị quyết này BCH ra chỉ thị nêu rõ những điều khiện thuận lợi
của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, đồng thời dự kliến khả năng không thuận lợi cho
cách mạng miề n Nam là Mỹ và tay sai sẽ phá hoại cuộc tổng tuyển cử thống nhất nước
nhà. Chỉ thị vạch rõ ba nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền nam: Một là đấu tranh đòi
đối phương thi hành hiệp định đình chiến. Hai là, chuyển hướng công tác cho phù hợp với
tình hình mới, name vữnh phương châm chính sách mới, sắp xếp cán bộ bố trí lực lượng,
vừa che dấu lực long vừa lợi dụng khả năng công khai hợp pháp đấu tranh với địch. Ba là
tập trung mọi lực lượng dân tộc, dân chủ, hoà bình, đấu tranh đánh đổ chính quyền Ngô
Đình Diệm thân Mỹ, lập tra một chính quyền hoà bình, thống nhất tự do dân chủ, cải thiện
dân sinh.
Đến cuối năm 1954, ở Miền Nam về cơ bản đã sắp xếp song tổ chức cán bộ từ Xứ
uỷ đến cơ sở. Chi bộ được phân nhỏ để bám sát quần chúng và tránh địch khủng bố. Các tổ
chức đảng gồm 60000 đảng viên ruát vào hoạt động bí mật.
Tháng 3-1955 và tháng 8-1955, BCHTU ban chấp hành trung ương đảng họp hôi
nghị lần thứ bảy và lần thứ tám(khoá II) ở miền nam thực dân pháp thực dân pháp đã bị
Mỹ hất cảng. Mỹ và tay sai công khai chống lại hiệp định Giơnevơ , Chính sách của chíng
phủ páhp là chính sách đầu hàng Mỹ. Muốn chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hoà
bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độpc lập và dân chủ thì “điều coat yếu là phải ra
3
sức củng cố miền bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh công cuộc đấu tranh nân dân,
dưỡng lực lượng cơ bản của ta, xây dựng chô dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh củng cố
hoa bình, thực hiện thống nhất, “bất kể trong tình huống nào miề bắc cũng phải được củng
cố”.
Chủ trương của các hội nghị 6, 7, 8 của BCHTƯ của BCT trong những năm 1954-
1955 đã soi đường cho cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và cách mạng XHCN ở
miền bắc trong giai đoạn mới. Thực tiển cách Mang5 ở hai miền đã phàt triển và nảy sinh
nhiều vấn đề mới đòi hỏi đảng r\ta phải đi sâu phân tích, giải quyết cụ thể và đồng bộ
đường lối cách mạng ở cả hai miền. Tháng 1-1956, BCT thông qua văn kiện mấy vấn đề
về đường lối cách mạng Việt Nam văn kiện đã đạt cơ sở cho cho việc hoạch định đường

lối cải tạo và xây dựng chủ nghĩa XH trong những năm sau.
Hội Nghị BCT tháng 6-1956 nhận định khả năng giằng co, kéo dài tìmh trạng chgia
cắt đang tồn tại ở miền nam; Hình thức đấu tranh trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh
chính trị chứ không phải là đấu tranh vũ trang. Nói như vậy không có nghĩa là tuyệt đối
không dùng vũ rang tự vệ trong mọi hoàn cảnh nhất định hoặc không tận dụng những lực
lượng vũ trang của giáo phái chống Diệm, cần củng cố những lực lượng vũ trang và bán vũ
trang hiện có, xây dựng căn cứ làm chổ dựa. Nghị quyết hội Ngị đã khảng định Một hướng
mới: đấu tranh chính trị khết hợp với đấu tranh vũ trang tự vệ. Nghị quyế xác định trên
thực tế ngay từ khi Diệm tấn công các giáo phái, ta vận dụng danh nghĩa giáo phái để tổ
chức lực lượng vũ trang cách mạng, bảo vệ cơ sở và căn cứ cách mạng , bảo vệ các cơ
quan lãnh đạo. Đây là mộpt bổp sung quan trọng về đường lối. Nhưng thực tiễn không
dừng lại ở đó, khi Mỹ diệm đã đưa lưỡi lê vào chương trìngh Nghị sự, thực tiễn cách mạng
lại đặt ra những vấn đề mới, bức thiết hơn, vừa có tính trước mắt, vừa có tính lâu dài đòi
hỏi Đảng ta phải giải đáp nhằm tìm con đường đánh dổ Mỹ- diệm, dành quyền làm chủ
cho nhân dân ở miền nam.
Đáp ứng yêu cầu cấp thiết đó, đồng chí lê Duẩn đã dự thảo bản Đề cương cách
mạnh miền Nam, trong đó phân tích tình hình chính trị, xã hội miền Nam, vạch rõ xu thế
phát triển đó và nêu ra phương hướng của cách mạnh miền Nam là dùng bạo lực cách
mạng đánh đổ chính quyền Mỹ-Diệm. Đề cương khảng định: “Để chống lại Mỹ-Diệm,
Nhân dân Miền Nam cchỉ rõ con đường cứu nước và tự cứu mình, đó là con đường cách
mạng… ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác”;
Vận dụng kinh nghiệm cách mạng tháng tám, đề cương nêu ra phương hướng “dựa vào lực
lượng cách mạng chíng trị của quần chúng làm căn bản” để đánh đổ chính quyền Mỹ-
Diệm.
Đề cương nêu ra 6 bài học chủ yếu của cách mạng thàng tám về vũ trang lý luận
cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trên bước đường sắp tới: có thực lực bean trong; nắm
thời cơ bên ngoài; có Đảng do chủ nghĩa Mác-Lênin lãnh đạo; có liên minh công nông ; có
mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi; lợi dụng những mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù. Ý
nghĩa loch sử quan trọng của đề cương là ở chỗ, nó góp phần choẩ bị cơ sở lý luận và cơ sở
chính trị cho nghị quyết hội nghị lần thứ 15 của trung ương (5-1959) và Nghị quyết Đại

hội toàn quốc lần thứ III của Đảng(9-1960). Nghị quyết 15 khảng định: “ Con đường phát
triển của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa dành chính quyền về tay nhân
dân…Con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quấn
chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc
và phong kiến, dựng lean chíng quyền cách mạng của nhân dân”. Nghị quyết quyết 15 đã
4
mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lean, dẫn đến cuộc tổng khởi nghĩa oanh liệt năm
1960, làm xoay chuyển tình thế ở miền Nam.
Trong cách mạng việc dự kiến khả năng phát triển của tình hình để chủ động đối
phó là cực kỳ quan trọng, nhưng cần phải theo dõi sát thực tiễn để kịp điều chỉnh đường lối
và hành động cho phù hợp. Thực tiễn những năm 1954-1960 và những năm sau đó của
cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra cơ bản đúng như dự kiến của trung Ương Đảng và
Chủ Tịch Hố Chí Minh. Tuy nhiên trong thời kỳ 1954-1960 ta có sai lầm trong chỉ đạo
chiến lược, chậm chỉ đạo chuyển hướng đấu tranh, chỉ nhấn mạnh đấu tranh chính trị trong
khi địch đã dùng bạo lực phản cách mạng thẳng tay giết hại cán bộ, nhân dân.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ chứng tỏ nguồng gốc thắng lợi là do
nhân dân cả nước đã đồng tâm nhất trí, dốc sức vào mục tiêu chủ yếu: Giải phóng miền
Nam theo đúng chiến lược của trung ương Đảng và chủ Tịch Hồ Chí Minh. Thắng lợi vĩ
đại của cuộc kháng chiến chống không thể nào có được, nếu Đảng không hoạch định đúng
đường lối kháng chiến sáng suốt ngay từ đầu và tổ chức thực hiện thắng lợi chiến lược ấy
trong quá trình cách mạng.
III. Lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù trong cuộc kháng chiến chống My, cứu nước.
Nước ta đất không rộng người không đông phải chống lại đế quốc đầu sỏ là Mỹ, có
tiềm lực về kinh tế và quân sự khồng lồ và còn lôi kéo đực một số nước chư hầu tham gia
vào cuộc chiến tranh ở Việt nam. Trong điều kiện ấy đảng ta coi việc triệt để lợi dụng mâu
thuẫn nội bộ kẻ thù và triệt để lợi dụng mâu thuẫn đó. Nghị quyết của bộ chính trị tháng 2
năm 1962 chỉ rõ : “… Mâu thuẫn nội bộ địch Mỹ-Pháp , tay sai thân Mỹ và bọn thân pháp,
giữa bọn Mỹ với nhau bọn thân Mỹ với gia đỉnh họ Ngô …đều có thể lợi dụng được…
mâu thuẫn đó củng có lúc,có mặt dịu đi, cũng có lúc gay gắt thêm.. ta sử ụng đúng đắn các
mâu thuẫn ấy có lợi cho cách mạng”.

Đồng chí lê duẩn tổng kết . chung thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng, quyết
ntâm giải phóng dân tộp giai phóng nhân dân, biết giựa chắc vào sức mạnh quần chúng,
nhửng đức tính ấy kết hợp với sự sáng tạo và nhạy cảm về chính trị, đó là những cái cần
thiết để có thể lợi dụng một cách sáng tạo và có hiệu quả nguyên tắc chiến lực lợi dung
mâu thuẫn nội bộ địch nhằm không ngừng đưa cách mạng tiền lên những vị trí mới . đảng
ta đã xác dịnh rõ yêu cầu của nguyên tắc chiến lược này là phân hoá làm suy yếu kẻ thù,
làm cho mâu thuẫn nội bộ kẻ thù sâu sắc, biến một bộ phận kẻ thù thành đồng minh của
cách mạng làm cho lực lượng cách mạng thêm đông đảo, mặc khác lực lượng cách mạng
càng mạnh, cách mạng càng thắng lợi thì càng có điều kiện khoét sâu và lợi dụng mâu
thuẫn nội bộ kẻ thù.
Mâu thuẫn nội bộ kẻ thù là mặt trận đấu tranh cách mạng quan trọng nhưng cũng
rất phức tạp. Nay trong thời kỳ 1954-1959, thời kỳ tạm ổn định của Mỹ Ngụy, Mâu thuẫn
trong nội bộ chúng vẫn bộc lộ và cách mạng đã lợi dụng được để chống chính sách khủng
bố của chúng bảo vệ giữ gìm lực lượng, Mỹ hất cẳng pháp, đưa Ngô đình Diệm về thay
bảo Đại. Chính quyền gia đình trị của Diệm không những làm cho các tầng lớp nhân dân
phẫn mà còn làm cho các giáo phái, một bộ phận trong gia cấp chủ tư sản mại bản – nhất là
số thân pháp cũ chống lại diệm . Lợi dụng mâu thuẫn giữa Mỹ và Pháp, giữa lực lượng
giáo phái do Pháp xây dưng với chính quyền Diệm, Đảng đưa người vào hoạt động trong
các lực lượng vũ trang Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên , hướng đánh lại quân đội Diệm
chỉa mũi nhọn đấu trính chị quần chúng, đồng thời hạn chế sự cứp bóch nhân dân của các
lực lượng vũ trang giáo phái, khi vũ trang giáo phái bị tan rã cán bộ ta đã vận động từng
lực lượng này về với cách mạng.
5

×