Tải bản đầy đủ (.pdf) (101 trang)

Hoạt động hỗ trợ sinh viên ngoại tỉnh sắp tốt nghiệp tiếp cận việc làm từ góc nhìn công tác xã hội ( Nghiên cứu nhóm sinh viên ngoại tỉnh Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.62 MB, 101 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN




NGUYỄN THỊ NHUNG




HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ SINH VIÊN NGOẠI TỈNH
SẮP TỐT NGHIỆP TIẾP CẬN VIỆC LÀM
TỪ GÓC NHÌN CÔNG TÁC XÃ HỘI
( Nghiên cứu nhóm Sinh viên Ngoại tỉnh
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội)




LUẬN VĂN THẠC SĨ




Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN





NGUYỄN THỊ NHUNG



HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ SINH VIÊN NGOẠI TỈNH
SẮP TỐT NGHIỆP TIẾP CẬN VIỆC LÀM
TỪ GÓC NHÌN CÔNG TÁC XÃ HỘI
( Nghiên cứu nhóm Sinh viên Ngoại tỉnh
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội)

Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 90 01 01


LUẬN VĂN THẠC SĨ


Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trƣơng An Quốc


Hà Nội – 2014
LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN




Nguyễn Thị Nhung

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận văn Thạc sỹ, tôi
đã nhận đƣợc sự giúp đỡ, tạo điều kiện nhiệt tình và quý báu của nhiều cá
nhân và tập thể.
Trƣớc tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Trƣơng An Quốc
đã tận tâm hƣớng dẫn trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành
Luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Xã hội học,
Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, đã tận tình giảng dạy,
hƣớng dẫn, truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập, thực hiện và
hoàn thành Luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô và các bạn sinh viên
trong Trƣờng Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội đã tạo điều kiện giúp
đỡ trong thời gian tiến hành nghiên cứu, khảo sát tại đó. Cuối cùng, tôi xin
cảm ơn sự nhiệt tình tiếp đón, trả lời của nhà tuyển dụng và Trung tâm Tâm
việt Group(347 Đội cấn- Ba đình- Hà Nội) đã giúp tôi hoàn thiện đề tài.
Mặc dù đã rất cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và
năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót hoặc có
những phần nghiên cứu chƣa sâu. Rất mong nhận đƣợc sự chỉ bảo, đóng góp
quí báu của quý thầy cô và các bạn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN




Nguyễn Thị Nhung



MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài: 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 4
2.1. Những nghiên cứu về thanh niên và sinh viên 4
2.2. Những nghiên cứu về vấn đề Hỗ trợ tiếp cận việc làm 8
3. Ý nghĩa của nghiên cứu 12
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu 12
5. phạm vi nghiên cứu 13
6. Câu hỏi nghiên cứu 13
7. Mục tiêu nghiên cứu 13
8. Giả thuyết nghiên cứu 14
9. Phƣơng pháp nghiên cứu: 14
10. Kết cấu của luận văn 16
PHẦN NỘI DUNG 17
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 17
1.1.Các khái niệm, thuật ngữ liên quan 17
1.1.1.Khái niệm sinh viên - sinh viên ngoại tình 17
1.1.2.Khái niệm Tiếp cận việc làm 18
1.1.3. Khái niệm từ góc nhìn công tác xã hội 19
1.2. Những lí thuyết sử dụng trong đề tài 20
1.2.1. Lý thuyết nhu cầu 20
1.2.2. Lý thuyết thái độ 23
1.2.3. Lý thuyết Công tác xã hội cá nhân 24

1.3. Giới thiệu địa bàn và đối tƣợng nghiên cứu 26
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HỖ TRỢ TIẾP CẬN VIỆC LÀM,
NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ NHU CẦU HỖ TRỢ CỦA SINH VIÊN NGOẠI
TỈNH SẮP TỐT NGHIỆP 27

2.1. Thực trạng công tác Hỗ trợ tiếp cận việc làm cho SVNT sắp tốt nghiệp 27
2.1.1. Thực trạng tìm kiếm việc làm và sự hỗ trợ tiếp cận việc làm 27
2.1.2. Thực trạng công tác hỗ trợ tiếp cận việc làm cho sinh viên sắp tốt
nghiệp 35
2.2 Những khó khăn và nhu cầu hỗ trợ của sinh viên ngoại tỉnh sắp tốt nghiệp
44
2.2.1. Những khó khăn trong tiếp cận việc làm 44
2.2.2 Nhu cầu về hỗ trợ tiếp cận việc làm 54
Tiểu kết chƣơng 2 58
CHƢƠNG 3: CÔNG TÁC XÃ HỘI VÀ VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ TIẾP CẬN VIỆC LÀM
CHO SINH VIÊN NGOẠI TỈNH SẮP TỐT NGHIỆP 60
3.1. ý nghĩa của việc áp dụng thực hành công tác xã hội 60
3.2.Thực hành Công tác xã hội 60
3.2.1. Tiếp cận Thân chủ 61
3.2.2. Xác định vấn đề của thân chủ 62
3.2.3. Thu thập thông tin 63
3.2.4. Chẩn đoán 64
3.2.5. Lập kế hoạch can thiệp 66
3.2.6. Triển khai kế hoạch 68
3.2.7. Lƣợng giá 73
3.3. Vai trò của NVCTXH với SVNT sắp tốt nghiệp 74
3.4. Kinh nghiệm của NVCTXH trong và sau khi tiến hành hỗ trợ 76
Tiểu kết chƣơng 3 77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 85

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Từng biết hoặc từng tìm kiếm hỗ trợ tiếp cận việc làm phân theo
giới tính 30
Bảng 2.2 Mức độ cần thiết của những kỹ năng mềm 39
Bảng 2.3 Những khó khăn gặp phải khi tìm kiếm việc làm hoặc đi làm thêm
trong thời gian đi học phân theo giới tính 48
Bảng 2.4 Khó khăn gặp phải khi mới ra trƣờng phân theo giới tính 51
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 2.1 Tìm kiếm việc làm hoặc đi làm thêm trong thời gian đi học 27
Biểu 2.2 Tìm kiếm việc làm hoặc đi làm thêm trong thời gian đi học phân
theo giới tính 28
Biểu 2.3 Từng biết hoặc từng tìm kiếm sự hỗ trợ tiếp cận việc làm 29
Biểu 2.4 Biết và tìm kiếm sự hỗ trợ tiếp cận việc làm từ các nguồn 31
Biểu 2.5 Biết về khái niệm kỹ năng mềm cho sinh viên 36
Biểu 2.6 Có nhận sự hỗ trợ kỹ năng mềm trong quá trình học tập 42
Biểu 2.7 Nguồn nhận hỗ trợ kỹ năng mềm trong quá trình học tập 43
Biểu 2.8 Những khó khăn gặp phải khi tìm kiếm việc làm hoặc đi làm thêm
trong thời gian đi học. 45
Biểu 2.9 Khó khăn gặp phải khi ra trƣờng 49
Biểu 2.10 Mức độ khó khăn gặp phải khi sắp, mới ra trƣờng 52
Biểu 2.11 Mong muốn nhận đƣợc sự hỗ trợ thông qua hình thức tham gia các
khóa đào tạo trang bị kỹ năng mềm và đƣợc cung cấp thông tin tuyển dụng để
tìm kiếm việc làm 55
Biểu 2.12 Mong muốn nhận đƣợc sự hỗ trợ thông qua hình thức tham gia các
khóa đào tạo trang bị kỹ năng mềm và đƣợc cung cấp thông tin tuyển dụng để
tìm kiếm việc làm phân theo giới tính 56



DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CTXH : Công tác xã hội
DN : Doanh nghiệp
ĐH : Đại học
HTTCVL : Hỗ trợ tiếp cận việc làm
HN& HTTCVL : Hƣớng nghiệp và hỗ trợ tiếp cận việc làm
LĐ : Lao động
NVCTXH : Nhân viên Công tác xã hội
NTD : Nhà tuyển dụng
SV : Sinh viên
SVNT : Sinh viên ngoại tỉnh
TN : Thanh niên
TC : Thân chủ
TTTV & GTVL : Trung tâm tƣ vấn và giới thiệu việc làm
VL : Việc làm


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong 10 năm trở lại đây chúng ta đã chứng kiến một quá trình đô thị
hóa với tốc độ cao chƣa từng có ở các thành phố lớn nhƣ Hà Nội, Đà Nẵng,
TP Hồ Chí Minh và các tỉnh thành lân cận. Theo một điều tra đƣợc công bố
trên báo điện tử của chính phủ 28/4/2011[37], số lƣợng dân cƣ đô thị đã
chiếm tới 28% tổng dân cƣ toàn quốc và mỗi năm có khoảng 1 triệu dân tiếp
tục tham gia vào "đại gia đình" đô thị. Đô thị hóa đã làm thay đổi diện mạo
của đất nƣớc, góp phần nâng cao mức sống của một số bộ phận dân cƣ. Tuy

nhiên bên cạnh những mặt tích cực cũng đã phát sinh nhiều vấn đề phức tạp
cần sớm đƣợc giải quyết nhƣ: vấn đề di dân nông thôn ra thành thị; tình trạng
thất học, thất nghiệp và phân hoá giàu nghèo; vấn đề nhà ở và quản lý trật tự
an toàn xã hội ở đô thị; vấn đề hệ thống cơ sở hạ tầng quá tải và ô nhiễm môi
trƣờng Trong đó vấn đề di dân từ nông thôn ra thành thị dẫn đến mật độ dân số
ở thành thị tăng cao, cùng vấn đề thất nghiệp và giải quyết việc làm cho lao động
ngoại tỉnh tại các thành phố lớn đã và đang đặt ra nhiều thách thức cho quá trình
phát triển tại các thành phố lớn trong đó có thủ đô Hà Nội - một trong hai trung
tâm chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội lớn nhất của cả nƣớc.
Theo thống kê của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) [28] lao động
di cƣ ngoại tỉnh chiếm tới 1/10 dân số của Hà Nội. Dự kiến dân số đô thị
của Hà Nội đến năm 2010 sẽ là 3,9 - 4,2 triệu ngƣời, năm 2020 là 7,9 -
8,5 triệu ngƣời. Nguyên nhân của sự gia tăng dân số này là do quá trình
đô thị hoá nhanh cùng với thu nhập thấp kém và điều kiện sống thiếu thốn
ở nông thôn, sự khan hiếm ngành nghề phi nông có thu nhập cao đã và
đang thúc đẩy lao động nông thôn ra thành phố tìm việc làm. Bên cạnh
đó, tốc độ phát triển kinh tế nhanh của các thành phố lớn nhƣ Hà Nội, TP
Hồ Chí Minh cũng kéo theo cơ hội việc làm cho ngƣời lao động, nhất là
lực lƣợng thanh niên là rất lớn.


2
Thực trạng trên khiến vấn đề lao động, việc làm nói chung, lao động di
cƣ ngoại tỉnh nói riêng trở nên bức thiết và nhận đƣợc rất nhiều sự quan tâm,
điều tra, nghiên cứu, của Đảng và Nhà nƣóc cùng các Bộ, ban ngành. Tuy
nhiên vấn đề lao động ngoại tỉnh là thanh niên(TN) mà cụ thể là nhóm đối
tƣợng sinh viên( SV) mới ra trƣờng đang cƣ trú tại các thành phố lớn trong đó
có thủ đô Hà Nội lại ít đƣợc quan tâm, xem xét. Khác với những lao động tự
do và có trình độ thấp di cƣ từ nông thôn lên thành phố, nhóm đối tƣợng sinh
viên ngoại tỉnh( SVNT) mới ra trƣờng có kiến thức và trình độ, tƣởng nhƣ

đây là một lợi thế cho họ để có thể tìm đƣợc một công việc tốt với thu nhập
khá để ổn định cuộc sống, tuy nhiên họ lại gặp phải nhiều rào cản nhƣ vấn đề
chỗ ở, chi phí sinh hoạt đắt đỏ, sự chu cấp từ phía gia đình không còn nhƣ khi
đi học, cùng nhu cầu tìm kiếm việc làm ngày càng trở nên bức thiết. Bên cạnh
những sinh viên may mắn có đƣợc việc làm nhanh chóng, lại có một bộ phận
không nhỏ SVNT có trình độ nhƣng gặp khó khăn trong việc tiếp cận việc
làm, trong khi thực tế hiện nay không ít các doanh nghiệp cũng gặp khó khăn
trong việc tuyển dụng lao động. Điều này đặt ra những câu hỏi và ngày càng
thu hút đƣợc sự quan tâm của dƣ luận xã hội cũng nhƣ các nhà hoạch định chính
sách trong việc giải quyết vấn đề lao động di cƣ vào thành thị nói chung cũng
nhƣ vấn đề lao động là sinh viên ngoại tỉnh sắp ra trƣờng đang cƣ trú trên địa
bàn thành phố Hà Nội và các thành phố lớn khác trong cả nƣớc nói riêng.
Ở Việt Nam và nhất là thủ đô Hà Nội, đã có nhiều văn bản, dự án, mô
hình nghiên cứu đề ra các phƣơng án giải quyết về vấn đề lao động di cƣ,
cũng nhƣ công tác hỗ trợ tiếp cận việc làm( HTTCVL) cho nhóm đối tƣợng
sinh viên ngoại tỉnh mới ra trƣờng đang cƣ trú trên địa bàn thành phố. Các
trung tâm giới thiệu việc làm, hội chợ việc làm, các hội thảo về công tác
hƣớng nghiệp và hỗ trợ tiếp cận việc làm cho thanh niên đƣợc tổ chức hàng
năm thể hiện sự quan tâm của Nhà nƣớc và chính quyền thành phố trong
việc hỗ trợ tiếp cận và giải quyết việc làm cho nhóm đối tƣợng sinh viên này.


3
Tuy nhiên, những mô hình, chƣơng trình dự án này chủ yếu là nghiên cứu
thực tiễn, điều tra thống kê số liệu, đồng thời chỉ ra nguyên nhân, hạn chế của
công tác hỗ trợ tiếp cận việc làm nên nhìn chung còn tồn tại một số nhƣợc
điểm nhƣ: hoạt động hỗ trợ tiếp cận việc làm còn tổ chức rời rạc, thiếu hiệu
quả, chƣa mang tính phổ cập rộng rãi và quan trọng là thiếu các đầu mối
chung để kết nối các tài nguyên với nhau Trong khi công tác Hỗ trợ tiếp cận
không đơn giản là mang đến cho ngƣời lao động con cá - là việc làm mà quan

trọng là trao cho họ cần câu - tức kĩ năng xin việc và trụ lại với công việc
trong quá trình lập nghiệp của bản thân.
Một thực tế là không ít SV mới ra trƣờng có trình độ, năng lực nhƣng
vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn khi tìm kiếm việc làm, thậm chí dƣờng nhƣ
họ còn chƣa sẵn sàng bƣớc vào con đƣờng lập nghiệp cho bản thân. Không ít
SVNT sắp hoặc mới ra trƣờng còn đang loay hoay với việc định hƣớng mục
tiêu nghề nghiệp và bộc lộ sự kém thích nghi với những môi trƣờng làm việc
khác nhau. Không khó để nhận thấy điểm yếu của những SV này là thiếu và
yếu các kĩ năng mềm cần thiết trong công việc nhƣ: kĩ năng phỏng vấn xin
việc, kĩ năng làm việc nhóm, giao tiếp, thuyết trình… trong khi yêu cầu của
các nhà tuyển dụng lại ngày một cao.
Bản thân tôi, với những kiến thức đã đƣợc học thì tôi nhận thấy
NVCTXH có thể tham gia vào quá trình hỗ trợ tiếp cận cho sinh viên, nhất là
những SVNT sắp ra trƣờng nên tôi đã chọn đề tài “Hoạt động hỗ trợ Sinh
viên ngoại tỉnh sắp tốt nghiệp tiếp cận việc làm từ góc nhìn Công tác Xã
hội( Nghiên cứu nhóm Sinh viên Ngoại tỉnh Trường Đại học Kinh doanh
và Công nghệ Hà Nội) với mong muốn nắm đƣợc những khó khăn trong quá
trình tìm kiếm việc làm và nhu cầu hỗ trợ tiếp cận việc làm của SVNT sắp ra
trƣờng. Đồng thời thông qua quá trình làm việc với 3 SVNT cụ thể của
Trƣờng Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội để giúp họ giải quyết
những khó khăn trong quá trình tiếp cận việc làm thì sẽ chỉ ra đƣợc vai trò của


4
NVCTXH trong hoạt động hỗ trợ nhóm SVNT sắp tốt nghiệp tiếp cận việc
làm và rút ra đƣợc kinh nghiệm, đề xuất về các giải pháp nhằm hỗ trợ cho họ
giải quyết vấn đề.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu:
2.1. Những nghiên cứu về thanh niên và sinh viên
Vấn đề thanh niên nói chung và Hỗ trợ tiếp cận việc làm cho thanh niên

nói riêng không còn là vấn đề quá mới nhƣng luôn thu hút đƣợc sự chỉ đạo,
đầu tƣ của Đảng, Nhà nƣớc, các cấp ban ngành thông qua các nghiên cứu, các
hội thảo với sự tham gia của các nhà nghiên cứu đầu ngành, các nhà hoạch
định chính sách xã hội, qua các cuộc phát động, các phong trào của TW Hội
Sinh viên Việt Nam và sự quan tâm của toàn xã hội với đối với thế hệ trẻ
của đất nƣớc.
Bài phỏng vấn Ông Đặng Cảnh Khanh nhân dịp cuốn sách “Xã hội học
thanh niên” (2006) xuất bản trên tạp chí Người đọc sách[26]. Chúng ta đang
bƣớc vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, công tác thanh
niên không thể chỉ dừng lại ở mức độ phong trào và kinh nghiệm, theo đó
Ông khẳng định ―đã đến lúc phải coi thanh niên không chỉ là đối tƣợng của
phong trào mà còn là đối tƣợng của nghiên cứu khoa học‖ [26]. Theo đó, Ông
nêu ra mô hình hoạt động đƣợc TN chấp nhận là mô hình sáng tạo, luôn biến
đổi và nhu cầu của TN hiện nay là có xu hƣớng liên kết lại với nhau. Bên
cạnh đó, những trở ngại gây ảnh hƣởng đến quá trình hội nhập của thanh niên
chính là sự chƣa thực sự mạnh dạn, thiếu tự tin vào bản thân và TN rất nhạy
bén, nhƣng lại thiếu độ chín chắn, bề dày kinh nghiệm. Vì vậy, cần có sự định
hƣớng, đề cao vai trò của Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên, Hội và
các tổ chức chính trị - xã hội khác trong việc giáo dục truyền thống, chọn lọc
những gì phù hợp với cuộc sống hiện đại, không mâu thuẫn với cái xƣa, hạn
chế các lực cản, kết hợp chăm sóc về thể chất đến giáo dục về lý tƣởng, lối
sống nhân cách để phát huy đƣợc sự năng động, nhiệt tình, sáng tạo, thúc


5
đẩy thế hệ thanh niên tham gia tích cực vào quá trình xây dựng và phát triển,
đƣa đất nƣớc ngày một đi lên.
Nhƣ vậy, có thể thấy, con ngƣời nói chung, thanh niên nói riêng là một
nguồn lực, nguồn vốn, vì vậy cần phải có sự đầu tƣ, đối tƣợng thanh niên có
thể đƣợc nghiên cứu, tiếp cận trên rất nhiều góc độ và đặt ra rất nhiều vấn đề

cần làm rõ.
Cũng liên quan đến thanh niên nhƣng là một cách nhìn cụ thể và sâu
sắc hơn khi đặt vấn đề TN trong trong bối cảnh của việc học nghề và đào tạo
nghề, diễn đàn “Văn hóa nghề - Thước đo nguồn nhân lực” [30], do Báo
Ngƣời Lao Động khởi động từ tháng 7 năm 2008, với mục đích góp phần
nâng cao văn hóa nghề, xây dựng hình mẫu ngƣời lao động trong giai đoạn
mới đã thu hút hàng trăm ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà nghiên
cứu, nhà quản lý doanh nghiệp, cho thấy nâng cao văn hóa nghề cho ngƣời
lao động đã và đang trở thành vấn đề có tầm quốc gia. Thành công của diễn
đàn là đã trang bị cho thế hệ thanh niên - lực lƣợng lao động chính của đất
nƣớc một cách nhìn tổng quan nhất về việc định hƣớng giá trị nghề nghiệp, sự
cần thiết phải phát huy tính sáng tạo, thông minh, cần cù, chịu khó, nhanh
nhẹn, thích nghi nhanh với môi trƣờng lao động công nghiệp và khắc phục
những yếu kém nhƣ thái độ tùy tiện, thiếu tác phong, kỷ cƣơng làm việc,
khiếu nại, đình công, thậm chí vi phạm pháp luật, sẵn sàng bỏ việc, nghỉ việc
mà không ý thức đƣợc hậu quả, thiệt hại cho nhà sản xuất.
Bên cạnh đó, với mục đích góp phần vào việc định hƣớng lối sống
trong thế hệ TN nói chung và sinh viên nói riêng, TW Hội Sinh viên Việt
Nam cũng đã tổ chức phát động và tiến hành rất nhiều mô hình giải pháp
trong công tác Đoàn, Hội và phong trào sinh viên từ 2003-2008. Trong đó có
thể kể đến các phong trào, mô hình điển hình nhƣ: Diễn đàn “Sinh viên Việt
Nam - góc nhìn mở” thông qua công cụ blog trên mạng xã hội thế hệ trẻ Việt
Nam - Cyworld Việt Nam, đã thu hút sự tham gia của đông đảo sinh viên và


6
những ngƣời quan tâm tham gia đánh giá, chia sẻ về môi trƣờng sinh hoạt,
học tập, nghiên cứu khoa học, làm việc của SV; vấn đề định hƣớng nghề
nghiệp, các kĩ năng học tập, nghiên cứu và lập nghiệp; về kí túc xá và nhà trọ
SV, sinh viên và công tác Đoàn Hội, vấn đề tình yêu, tình bạn, hoài bão,

của SV trong giai đoạn hiện nay. Diễn đàn còn khuyến khích những đề xuất,
ý tƣởng nhằm hỗ trợ sv học tập, rèn luyện tốt, phấn đấu trở thành công dân
toàn cầu, mang bản sắc văn hóa Việt Nam, vì mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Bên cạnh các mô hình giải pháp về công tác giáo dục, là các mô hình
giải pháp về phong trào nhƣ mô hình “Talkshow - kĩ năng SV” hay “Tập
huấn kĩ năng xã hội SV” [19]. Đƣợc tổ chức nhằm cải thiện và nâng cao kĩ
năng xã hội nhƣ: kĩ năng quản lý thời gian, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm
việc nhóm cho SV ngay từ khi còn ngồi trên giảng đƣờng đại học, góp phần
làm tăng vốn sống, sự tự tin, bản lĩnh cho SV, cung cấp thêm kiến thức về các
vấn đề thời sự trong cuộc sống , giúp SV có cơ hội tiếp xúc với các cá nhân,
tổ chức, doanh nghiệp, tạo cơ hội việc làm cho SV, giúp những SV mới ra
trƣờng dễ tìm kiếm việc làm hơn qua các kĩ năng phỏng vấn, làm hồ sơ xin
việc, quản lí thời gian nâng cao hiệu quả học tập, nghiên cứu đáp ứng đƣợc
yêu cầu của các nhà tuyển dụng sau khi ra trƣờng.
Số liệu điều tra xã hội học trên một số trƣờng đại học của Văn phòng
hƣớng nghiệp VaLa (Hội Khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam) vào năm
2009, đăng trên web: cand.com (7/12/2009)cho thấy 30% tỷ lệ sinh viên đƣợc
điều tra cho biết, sẽ không theo nghề đang học; 40% SV hoài nghi về nghề
nghiệp đang học; 80% SV sau khi ra trƣờng không có việc làm sau 3 tháng;
50% SV không có việc làm sau 6 tháng. Những con số trên phản ánh áp lực
của mỗi SV khi lựa chọn sai nghề. Áp lực của mỗi gia đình cũng nhƣ toàn xã
hội khi lực lƣợng lao động trẻ không phát huy đƣợc năng lực của bản thân để


7
làm giàu cho mình, cho đất nƣớc, mà ngƣợc lại, còn có thể tạo ra rất nhiều
vấn đề xã hội khác.
Có thể thấy rằng, vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên và nạn thất
nghiệp ở mỗi quốc gia có liên quan mật thiết với nhau. Báo cáo phát triển thế

giới của WB năm 2007[23], đã đƣa ra thống kê về tỷ lệ thất nghiệp chung ở
các khu vực trên thế giới trong đó nêu lên một thực trạng đáng lo ngại khi
giới trẻ chỉ chiếm khoảng 25% trong tổng số lao động của thế giới nhƣng
chiếm tới 47% trong tổng số ngƣời thất nghiệp. Ở các nƣớc đang phát triển tỷ
lệ thất nghiệp của thanh niên ở thành thị cao hơn nông thôn [23,tr.140]. Theo
đó, nhiều thanh niên vẫn gặp phải nhiều trở ngại lớn khi họ chuyển sang đi
làm. Những trở ngại chủ yếu là bắt đầu đi làm quá sớm, không tham gia đƣợc
vào thị trƣờng lao động, gặp khó khăn khi muốn chuyển việc và nâng cao tay
nghề. Những điều này sẽ gây hậu quả lâu dài đối với việc trau dồi kỹ năng,
kết quả làm việc sau này trên thị trƣờng lao động và đến phát triển kinh tế.
Báo cáo cũng khẳng định giới trẻ khó tìm đƣợc việc làm khi đƣa ra kết quả
nghiên cứu điều tra từ 60 nƣớc đang phát triển: ―sau khi học xong, thanh niên
mất trung bình khoảng 1,4 năm làm các công việc tạm thời hoặc ngắt quãng
rồi.mới tìm đƣợc việc làm ổn định thất bại ban đầu trong tìm việc làm có
thể dẫn đến tinh trạng thất nghiệp lâu dài đối với thanh niên, đặc biệt ở những
nền kinh tế non yếu‖. Báo cáo cũng phân tích ―tình trạng thất nghiệp kéo dài
có thể làm thanh niên nhụt chí, không còn muốn ở trong lực lƣợng lao động
nữa, dẫn đến tình trạng nhiều thanh niên không đi học, cũng chẳng đi làm‖
[23,tr.145], một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp cao
ở thanh niên là ―thiếu khả năng tiếp cận thông tin, dẫn đến khó có thể tìm việc
một cách hiệu quả, và làm cho tình trạng không việc làm ở thanh niên kéo
dài‖ [23, tr. 151].


8
2.2. Những nghiên cứu về vấn đề Hỗ trợ tiếp cận việc làm
Có thể thấy, để công tác Hỗ trợ tiếp cận việc làm cho SV thực sự có
hiệu quả thì quá trình định hƣớng nghề nghiệp, trang bị kỹ năng lập nghiệp
cho thanh niên và sinh viên là hết sức cần thiết và quan trọng trƣớc tình hình
đất nƣớc tiến hành CNH-HĐH và hội nhập quốc tế nhƣ hiện nay. Tuy nhiên,

theo một thống kê không chính thức thì có khoảng 15-20% học sinh, sinh
viên ra trƣờng thƣờng gặp phải những khó khăn trong quá trình tìm kiếm việc
làm hay phải lựa chọn việc làm không phù hợp, Một thực trạng nữa đang diễn
ra là sinh viên ngoại tỉnh sau khi học xong đại học và cao đẳng tại các thành
phố lớn có xu hƣớng muốn trụ lại thành phố để tìm kiếm cơ hội việc làm và
lập nghiệp, trong đó có thủ đô Hà Nội. Một thực tế là họ không phải không có
đủ trình độ, năng lực làm việc mà thực chất họ đang gặp phải những khó
khăn trong việc định hƣớng quá trình lập nghiệp tìm kiếm việc làm phù hợp
với ngành học và nguyện vọng của bản thân.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nƣớc đã ban hành nhiều chính
sách pháp luật hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm nói chung và việc làm choTN,
SV nói riêng, tạo điều kiện cho họ từng bƣớc cải thiện thu nhập, ổn định cuộc
sống. Tính chung từ năm 2006 đến nay, cả nƣớc đã tạo việc làm cho gần 5,6
triệu lao động (năm 2006 là 1,65 triệu lao động, năm 2007 là 1,68 triệu và
năm 2008 là 1,61 triệu, năm 2009 ƣớc đạt 1,50 triệu lao động) trong đó lao
động thanh niên chiếm khoảng 40% - số liệu từ Hội thảo chính sách việc làm
cho thanh niên, tháng 12/2011 [ 24 ].
Hội thảo “chính sách việc làm cho thanh niên” diễn ra đầu tháng 12/
2011 [ 24] tại Hà Nội, do Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội tổ chức cùng
sự tham gia của Cục Việc làm, Ban Thanh niên Công nhân và Đô thị, Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh; đại diện Sở Lao động - Thƣơng binh và Xã hội và Tỉnh
đoàn một số tỉnh đã tổng kết đƣa ra những khái quát chung nhất về tình
hình lao động - việc làm, đánh giá kết quả thực hiện chính sách, đồng thời


9
phân tích những khó khăn, vƣớng mắc, tìm ra giải pháp để đẩy mạnh công tác
giải quyết việc làm cho thanh niên trong thời gian tới. Giải pháp đang đƣợc
thực hiện là Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội phối họp với Trung
ƣơng Đoàn TNCSHCM và các Bộ, ngành có liên quan triển khai các hoạt

động: ―Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực và chất lƣợng việc làm của
thanh niên‖ và Đề án ―Hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai
đoạn 2008 - 2015” nhằm góp phần đƣa tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50%
vào năm 2010, trong đó có 32% lao động qua đào tạo nghề; Nâng cao nhận
thức của thanh niên về dạy nghề, lập nghiệp; Xây dựng và hoàn thiện
chính sách thu hút lao động, chú trọng các chính sách đối với thanh niên có
trình độ cao, thanh niên làm việc trong các lĩnh vực mới phù hợp với xu
hƣớng hội nhập, thanh niên nông thôn đến làm việc tại các khu công
nghiệp, khu chế xuất.
Hội thảo “định hướng nghề nghiệp, việc làm cho sinh viên”do ĐHQG
TP.HCM tổ chức 23/12/2009 [ 25] với gần 50 chuyên gia, đại diện các trƣờng
ĐH và các doanh nghiệp đã thảo luận và bàn bạc nhằm đƣa ra các giải pháp
hƣớng nghiệp cho sinh viên. Tại hội thảo nhiều doanh nghiệp đã phản ánh về
năng lực sinh viên mới ra trƣờng không đáp ứng nhu cầu, gây lãng phí lớn.
Theo đó, công tác đào tạo của các trƣờng không gắn với thực tiễn. Theo Ông
Nguyễn Đức Nghĩa- phó giám đốc ĐHQG TP.HCM, việc định hƣớng nghề
nghiệp giúp ngƣời học phát huy năng lực cao nhất. Tuy nhiên, hiện việc nhận
thức về ngành nghề trong xã hội vẫn chƣa rõ ràng, khiến công tác này gặp
nhiều khó khăn. Bà Lê Thị Thanh Mai, phó ban ĐH và sau ĐH- ĐHQG
TP.HCM, nhận định‖ thực tế thị trƣờng lao động luôn đòi hỏi kĩ năng mềm
của sinh viên, đạo đức nghề nghiệp…nhƣng phần lớn sinh viên lại rất thiếu.
Vì thế, cần đội ngũ hỗ trợ sinh viên gắn kết những kiến thức với đòi hỏi của
thị trƣờng lao động.



10
Ghi nhận thực tế của phóng viên Thông tấn xã Việt Nam trong bài viết
“Hội chợ việc làm - cầu nỗi giữa doanh nghiệp và người lao động” đăng
18/6/2005 trên vietbao.com[27]. Theo đó "Mô hình Hội chợ việc làm”

đƣợc tổ chức thƣờng niên tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nƣớc, trong thời
gian từ 2 đến 3 ngày, diễn ra từ tháng 6 đến tháng 8 - thời điểm mà khóa
học của các trƣờng phổ thông trung học, đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp, dạy nghề vừa bế giảng, và thị trƣờng lao động bƣớc vào
thời gian sôi động nhất. Mô hình đƣợc Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã
hội khởi xƣớng từ năm 2000.
Các chƣơng trình đƣợc tổ chức thƣờng niên nhƣ ―Ngày hội việc làm -
hƣớng nghiệp‖ ở TP Hồ Chí Minh, ―Ngày hội thanh niên thủ đô với nghề
nghiệp‖ tại TP Hà Nội. Đây cũng là hai trong những tỉnh, thành phố trong cả
nƣớc luôn đi đầu và có nhiều đổi mới trong hoạt động tổ chức và đạt đƣợc
những thành công đáng kể qua đó góp phần đa dạng hóa các hoạt động và
biện pháp tạo việc làm, từng bƣớc cân bằng cung cầu lao động, đồng thời
thúc đẩy thị trƣờng lao động phát triển. Các chƣơng trình góp phần giới thiệu
việc làm cho ngƣời lao động, sinh viên sau khi ra trƣờng và ngƣời lao động
đƣợc tiếp cận với thông tin thị trƣờng lao động, phát huy tính chủ động trong
việc tự tạo việc làm mới. Gắn giới thiệu việc làm với tƣ vấn hƣớng nghiệp,
định hƣớng nghề nghiệp, phân luồng cho sinh viên.
Bên cạnh đó là hoạt động của các trung tâm giới thiệu và hỗ trợ tiếp
cận việc làm đƣợc thành lập theo nghị định số 19-2005CP ngày 28/2/2005
của Chính phủ. Theo đó, ở Việt Nam có 2 kênh tham gia về hoạt động về giới
thiệu việc làm là các Trung tâm (TT) giới thiệu việc làm hoạt động mang tính
chất xã hội, bao gồm các TT đƣợc thành lập theo Bộ Luật Lao động. Hiện
nay cả nƣớc có khoảng 170 TT bao gồm các TT thuộc Sở TBXH của tỉnh
thành, của các ban ngành đoàn thể nhƣ Phụ nữ, Thanh niên, mặt trận tổ quốc,
tổng liên đoàn lao động, bộ quốc phòng và các đơn vị đƣợc thành lập theo


11
luật Doanh nghiệp (DN) với con số ƣớc đoán khoảng 4.000 đơn vị tham
gia. Gồm các DN theo Luật Nhà nƣớc, Luật DN và các bộ ngành khác

Hoạt động của các TT này thƣờng mang tính kinh doanh. Bên cạnh các
đơn vị giới thiệu viêc làm trực thuộc Bộ LĐ-TB Xã hội, còn có các trung
tâm GTVL thu lệ phí của ngƣời lao động để đảm bảo trang trải cho hoạt
động của mình Các TT này hiện đang hoạt động khá hiệu quả, là cầu nối
giữa lao động trong đó có bộ phận không nhỏ là các SVNT với các doanh
nghiệp và nhà tuyển dụng.
Nhƣ vậy, thông qua những khái quát chung nhất về công tác HTTCVL
cho thanh niên nói chung và sinh viên ngoại tỉnh đang cƣ trú nói riêng tại các
thành phố lớn trong đó có thủ đô Hà Nội đã trình bày ở trên, có thể thấy rằng
trong những năm qua, công tác Hƣớng nghiệp mặc dù đã đạt đƣợc nhiều khởi
sắc nhờ sự chung tay góp sức của Đảng, Nhà nƣớc, các cấp ban ngành và
nhận đƣợc sự quan tâm của toàn xã hội song vẫn còn tồn tại hạn chế đòi hỏi
phải có những nghiên cứu cụ thể hơn trong việc nâng cao hiệu quả công tác
HTTCVL trƣớc quá trình CNH-HĐH của đất nƣớc. Vì vậy đề tài “Hoạt động
hỗ trợ Sinh viên ngoại tỉnh sắp tốt nghiệp tiếp cận việc làm từ góc nhìn
Công tác Xã hội( Nghiên cứu nhóm Sinh viên Ngoại tỉnh Trường Đại học
Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội)‖ là rất có ý nghĩa. Nó có thể giúp cho
chúng ta nắm đƣợc những khó khăn trong quá trình tìm kiếm, tiếp cận việc
làm và nhu cầu hỗ trợ tiếp cận việc làm của SVNT sắp ra trƣờng. Đồng thời
thông qua quá trình làm việc với 3 SVNT cụ thể của Trƣờng Đại học Kinh
doanh và Công nghệ Hà Nội để giúp họ giải quyết những khó khăn trong quá
trình tiếp cận việc làm thì sẽ chỉ ra đƣợc vai trò của NVCTXH trong hoạt
động hỗ trợ nhóm SVNT sắp tốt nghiệp tiếp cận việc làm và rút ra đƣợc kinh
nghiệm, đề xuất về các giải pháp nhằm hỗ trợ cho nhóm đối tƣợng giải quyết
vấn đề. Từ đó mở ra một hƣớng giải quyết mới, hiệu quả hơn trong việc giải
quyết một lƣợng lớn đội ngũ lao động trên địa bàn thành phố, qua đó giảm


12
thiểu tình trạng thất nghiệp và góp phần ổn định an ninh trật tự, kinh tế - xã

hội trên địa bàn thành phố Hà Nội.
3. Ý nghĩa của nghiên cứu
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ một số lý thuyết Xã hội
học và CTXH nhƣ: lý thuyết công tác xã hội cá nhân, lý thuyết nhu cầu, lý
thuyết nhận thức hành vi…
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu nhằm giúp cho chúng ta nắm đƣợc những khó khăn trong
quá trình tìm kiếm việc làm và nhu cầu hỗ trợ tiếp cận việc làm của SV ngoại
tỉnh sắp ra trƣờng. Từ đó mở ra một hƣớng giải quyết mới, hiệu quả hơn trong
việc giải quyết một lƣợng lớn đội ngũ lao động trên địa bàn thành phố, qua đó
giảm thiểu tình trạng thất nghiệp và góp phần ổn định an ninh trật tự, kinh tế -
xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Đối với bản thân nhà nghiên cứu: qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu
thực tế nhà nghiên cứu có cơ hội áp dụng những lý thuyết và phƣơng pháp đã
đƣợc học vào thực tiễn cuộc sống, đặc biệt là những kỹ năng thực hành
CTXH. Từ đó giúp nhà nghiên cứu nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng và
có thêm nhiều kinh nghiệm trong những nghiên cứu tiếp theo và quá trình
công tác của bản thân
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
Khách thể: Sinh viên ngoại tỉnh sắp ra trƣờng đang học tập tại trƣờng
ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội( Phố Vĩnh Tuy, quận hai bà trƣng, TP
Hà Nội).
+ Số lƣợng: 130 sinh viên
+ Cơ cấu: ngẫu nhiên
Đối tƣợng nghiên cứu:


13
+ Những khó khăn trong quá trình tìm kiếm, tiếp cận việc làm, nhu cầu

hỗ trợ tiếp cận việc làm của SV ngoại tỉnh sắp tốt nghiệp
+ Vai trò của CTXH với hoạt động hỗ trợ tiếp cận việc làm cho SVNT
sắp tốt nghiệp
5. phạm vi nghiên cứu
Không gian: Phạm vi nghiên cứu là Trƣờng ĐH Kinh Doanh Và Công
Nghệ Hà Nội, quận hai Bà Trƣng, TP Hà Nội.
Thời gian: nghiên cứu đƣợc thực hiện từ tháng 4 năm 2014 đến tháng
10 năm 2014.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Những khó khăn trong quá trình tiếp cận
việc làm, nhu cầu hỗ trợ tiếp cận việc làm và Vai trò của CTXH với hoạt động
hỗ trợ tiếp cận việc làm cho SVNT sắp tốt nghiệp của Trƣờng Đại học Kinh
doanh và Công nghệ Hà Nội.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Những khó khăn trong tiếp cận việc làm của SVNT sắp tốt nghiệp đại
học là nhƣ thế nào?
Nhu cầu về hỗ trợ tiếp cận việc làm của SVNT sắp tốt nghiệp đại
học ra sao?
Công tác xã hội đóng vai trò gì trong hoạt động hỗ trợ tiếp cận việc
làm của SVNT sắp tốt nghiệp đại học?
7. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu, nắm đƣợc những khó khăn trong tiếp cận việc làm của
SVNT sắp tốt nghiệp của Trƣờng Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Tìm hiểu, mô tả nhu cầu về Hỗ trợ tiếp cận việc làm của SVNT sắp tốt
nghiệp của Trƣờng Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Thông qua việc vận dụng thực hành CTXH với trƣờng hợp SVNT cụ
thể của Trƣờng Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội từ đó chỉ ra vai trò


14
của nhân viên CTXH và tính cấp thiết của việc áp dụng các kĩ năng CTXH

trong hoạt động hƣớng nghiệp cho sinh viên ngoại tỉnh sắp tốt nghiệp
Đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm giúp cho SVNT sắp tốt
nghiệp của Trƣờng Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội giải quyết
đƣợc những khó khăn trong quá trình tiếp cận việc làm.
8. Giả thuyết nghiên cứu
Đề tài đặt ra 3 giả thuyết nhƣ sau:
Những khó khăn trong tiếp cận việc làm của SVNT sắp tốt nghiệp là
khá nhiều.
Tiếp cận việc làm là một nhu cầu cấp thiết hiện nay của Sinh viên ngoại
tỉnh sắp tốt nghiệp
CTXH đóng vai trò quan trọng, có tác dụng hỗ trợ giải quyết khó khăn,
nhu cầu tiếp cận việc làm. Giúp khắc phục điểm yếu và nâng cao khả năng
tƣơng tác của sinh viên trong quá trình tìm kiếm việc làm.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu:
9.1. Phƣơng pháp phân tích tài liệu:
Trong quá trình làm luận văn, phƣơng pháp này đƣợc sử dụng xuyên
suốt và rất cần thiết, nhằm đƣa ra những số liệu chính xác đƣợc thống kê từ
nhiều nguồn tài liệu khác nhau nhƣ các sách chuyên ngành CTXH, các sách
nghiên cứu về tâm lí, các trang báo in, báo mạng, các website, các bản báo
cáo…để có thể lựa chọn đƣợc cách giả quyết phù hợp và hiệu quả nhất.
- Phân tích những số liệu về SV Trƣờng ĐH Kinh Doanh Và Công
Nghệ Hà Nội, quận hai Bà Trƣng, TP Hà Nội: Số lƣợng, độ tuổi, quê quán,
giới tính…
- Thu thập và hệ thống hóa các đề tài khoa học có liên quan.
- Thống kê những mô hình hỗ trợ tiếp cận việc làm cho SV.




15

9.2. Phƣơng pháp nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu
Đây là phƣơng pháp thu thập thông tin thông qua quá trình đặt câu hỏi
và trả lời trực tiếp giữa NVCTXH với SV.
Mục đích của phƣơng pháp này là tìm hiểu rõ hơn về những đối tƣợng
SV đƣợc chọn để can thiệp. Qúa trình can thiệp với TC, NVCTXH cần sử
dụng những kĩ năng chuyên sâu nhƣ: Kỹ năng quan sát, lắng nghe, thấu hiểu,
khuyến khích TC để từ đó thấu hiểu hơn về tâm lý, suy nghĩ, những khó khăn
và nguyện vọng của TC.
Có 3 SV đƣợc lựa chọn để phỏng vấn thông qua hình thức quan sát và
thảo luận
Nội dung chính của buổi phỏng vấn xoay quanh những chủ đề nhƣ:
Thông tin cá nhân, trình độ học vấn, nhu cầu trang bị kĩ năng khi tìm việc và
làm việc, nhu cầu tìm kiếm thông tin tuyển dụng…
9. 3. Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng: sử dụng bảng hỏi
Nghiên cứu đƣợc thực hiện với 130 SV của Trƣờng ĐH Kinh doanh
Và Công nghệ Hà Nội, quận hai Bà Trƣng, TP Hà Nội ,thông qua phƣơng
pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Nhân viên CTXH đã tìm hiểu và nắm đƣợc các
sinh viên thuộc 3 nhóm nghành cơ bản là Kinh tế- Kinh doanh, Kỹ thuật-
Công nghệ, và Ngoại ngữ, cũng nhƣ lớp nào là lớp của các sinh viên năm 3,
năm 4. Trên cơ sở đó thì NVCTXH sẽ đƣa bảng hỏi cho bất kì bạn sinh viên
nào thuộc nhóm đó.
Nội dung chủ yếu của Bảng hỏi nhằm tìm hiểu những khó khăn và nhu
cầu của SVNT sắp và mới ra trƣờng trong quá trình tìm kiếm việc làm và
cách qiải quyết của nhóm SV này với vấn đề đó ra sao.
9.4. Phƣơng pháp quan sát
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, nhà nghiên cứu tiến hành quan
sát mọi mặt để thấy đƣợc những khó khăn của SV. Những quan sát này góp


16

phần làm sáng tỏ thêm những kết quả nghiên cứu định lƣợng đã thu thập
đƣợc.
10. Kết cấu của luận văn
Luận văn này ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu
tham khảo, Phụ lục, nội dung chính chia làm 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thực trạng công tác hỗ trợ tiếp cận việc làm, những khó khăn và
nhu cầu hỗ trợ của sinh viên ngoại tỉnh sắp tốt nghiệp
Chương 3: Công tác xã hội và vai trò của nhân viên công tác xã hội với hoạt
động hỗ trợ tiếp cận việc làm cho sinh viên ngoại tỉnh sắp tốt nghiệp



















17

PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1.Các khái niệm, thuật ngữ liên quan
1.1.1.Khái niệm sinh viên - sinh viên ngoại tình
Theo quy chế công tác học sinh, sinh viên trong các trƣờng đào tạo
của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004) thì ―ngƣời đang học trong hệ đại học và
cao đẳng là sinh viên‖. Một tài liệu của Trung ƣơng Hội sinh viên Việt Nam
(1998) thì định nghĩa là: ―sinh viên Việt Nam là công dân Việt Nam đang
theo học tại các trƣờng đại học, cao đẳng trong và ngoài nƣớc‖.
Nhìn chung thì sinh viên là tất cả những ai đã tốt nghiệp trung học phổ
thông hoặc tƣơng đƣơng, đang học tập trong các trƣờng đại học và cao đẳng
thuộc một hình thức đào tạo, là đội ngũ trí thức có trình độ. Ở họ khả năng tự
nhận thức phát triển rất cao mà đối tƣợng nhận thức lại chính là bản thân chủ
thể. Chủ thể tự thu thập, xử lý những thông tin về chính mình, chỉ ra đƣợc
mức độ nhân cách tồn tại của bản thân, từ đó có thái độ, hành vi, hoạt động
nhằm tự điều chỉnh, tự giáo dục phát triển mình.
Sinh viên ngoại tỉnh có hàm ý là những sinh viên hiện đang sinh sống và
học tập tại các trƣờng đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội mà không
có hộ khẩu thƣờng trú tại đây. Do không phải sinh ra và lớn lên tại đây nên họ
gặp phải rất nhiều khó khăn trong đời sống sinh hoạt và học tập nhƣ vấn đề nhà
ở, tâm lý, tình cảm khi sống xa gia đình, việc thích nghi và làm quen với môi
trƣờng sống mới, chi phí sinh hoạt đắt đỏ so với số tiền đƣợc gia đình chu cấp
hàng tháng Vì vậy, đây là nhóm đối tƣợng rất cần nhận đƣợc sự hỗ trợ, giúp đỡ
của xã hội nói chung và của nhân viên công tác xã hội nói riêng.

×