Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

Chính sách kinh tế mới và công cuộc đổi mới ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (179.06 KB, 23 trang )

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Di sản lý luận mà V.I Lê nin để lại cho nhân loại là vô cùng phong phú và đa
dạng. Một trong những di sản quý báu đó là "chính sách kinh tế mới" (Novaja
ekonomicheskaja politika, gọi tắt là NEP). NEP chứa đựng trong đó sự tổng hợp
các giải pháp kinh tế - xã hội - chính trị mang tính quy luật của thời kỳ quá độ lên
CNXH. NEP không chỉ là con đờng xây dựng CNXH ở nớc Nga mà tầm vóc lịch
sử của nó đã vợt ra khỏi phạm vi nớc Nga và mang tính phổ biến trên thế giới.
Những năm gần đây, trên thế giới có nhiều biến động dữ dội, nhất là từ sự đổ
vỡ chế độ CNXH ở Liên Xô và các nớc Đông Âu. Việt Nam sau hơn một thập kỷ
khủng hoảng kinh tế - xã hội, từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
Cộng sản Việt Nam (năm 1986), đã quyết định đổi mới toàn diện đất nớc. Tinh
thần đổi mới của Đại hội VI đã đồng nghĩa với sự giải phóng tiềm năng của con
ngời Việt Nam. Quá trình đổi mới ở Việt Nam là quá trình định hớng đi lên
XHCN. Thực chất của quá trình định hớng XHCN là giữ vững độc lập dân tộc,
thực hiện dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh, con ngời hạnh phúc.
Quá trình đổi mới càng diễn ra trên quy mô rộng và càng đi vào chiều sâu,
thì chúng ta càng nhận ra rằng , trên nhiều vấn đề cơ bản chúng ta dờng nh đang
trở lại với NEP (tất nhiên không phải trở lại nguyên xi nh cũ, áp dụng một cách
máy móc những điều mà nớc Nga đã làm trớc đây vào Việt Nam ngày hôm nay).
Vấn đề đặt ra là phải nhận thức lại một cách đầy đủ hơn về NEP, từ đó tìm ra
những tiềm ẩn, những sức mạnh, những bài học cho công cuộc đổi mới ở Việt
Nam. Chính vì vậy, việc nghiên cứu NEP trong tình hình hiện nay là đề tài vừa có
ý nghĩa lý luận, vừa đáp ứng đợc những đòi hỏi đang đặt ra từ thực tiễn cuộc sống.
Xuất phát từ vị trí quan trọng của NEP, có ý nghĩa quan trọng đối với các n-
ớc đang phát triển và chậm phát triển trên con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội, từ khi
ra đời đến nay, NEP đã đợc giới khoa học ở các nớc, nhất là các nhà khoa học ở
Liên Xô cũ quan tâm nghiên cứu.
ở nớc ta trớc đây cũng có một số nhà khoa học nghiên cứu về NEP, đặc biệt
trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay) việc nghiên cứu NEP đợc quan tâm
nhiều hơn. Nét nổi bật của các công trình nghiên cứu là đã đề cập tới nhiều nội


dung của NEP dới nhiều góc độ của lịch sử, chủ nghĩa cộng sản khoa học, nhất là
dới góc độ kinh tế chính trị.
Với các lý do nêu trên bài chuyên đề Chính sách kinh tế mới và công
cuộc đổi mới ở Việt nam này muốn làm sáng tỏ về hoàn cảnh lịch sử ra đời của
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
NEP và một số vấn đề của NEP trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Qua đó rút
ra những bài học kinh nghiệm đối với công cuộc đổi mới ở nớc ta hiện nay.
Tháng 09 năm 2001
--- o0o ---
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng I
Chính sách kinh tế mới là bớc phát triển tất yếu của
công cuộc xây dựng nớc nga
I. Hoàn cảnh lịch sử ra đời của NEP
1. Các điều kiện khách quan:
Trong lịch sử của nớc Nga Xô viết từ năm 1921 - 1927, NEP đợc xuất hiện
nh một hiện tợng lịch sử - tự nhiên, trong đó đợc chứa đựng sự thống nhất biện
chứng của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan.
Trớc hết, chúng ta thấy NEP xuất hiện là do hậu quả của các cuộc chiến
tranh. Vừa ra đời, còn non trẻ nhng nớc Nga Xô viết đã phải đối đầu với hai cuộc
chiến tranh liên tiếp: Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) và cuộc
nội chiến ở nớc Nga kéo dài 4 năm (1917-1921).
Mặc dù là chiến tranh vệ quốc, song những cuộc chiến tranh đó đã gây ra
cho nớc Nga Xô viết non trẻ những sự tàn phá nặng nề cả về vật chất lẫn tinh thần.
a- Về kinh tế:
Các cuộc chiến tranh đã tàn phá một cách ghê gớm nền kinh tế quốc dân,
ảnh hởng đến đời sống vật chất của nhân dân nớc Nga. Cuối năm 1920, đất nớc
Xô - viết chuyển sang giai đoạn hoà bình xây dựng từ những điều kiện cực kỳ khó

khăn gian khổ với sự thiệt hại cha từng có về kinh tế do chiến tranh gây ra. Hậu
quả nặng nề của 7 năm chiến tranh đế quốc và nội chiến đã làm cho tình hình kinh
tế xã hội của nớc Nga Xô viết trở nên nóng bỏng biểu hiện rõ nét ở nhiều mặt sau:
* Về công nghiệp: ớc tính một phần t tài sản quốc dân của nớc Nga Xô viết bị
mất đi, trong đó nền công nghiệp bị tổn thất lớn nhất, tổng sản lợng công nghiệp
(tính triệu rúp) năm 1920 bị giảm đi hơn 4 lần so với năm 1917. Lực lợng sản xuất
giảm sút, một biểu hiện đáng lo ngại là có quá nửa số công nhân trong các ngành
công nghiệp thiếu việc làm, không phấn khởi sản xuất và đã bỏ nhà máy, hầm mỏ,
xí nghiệp của mình đi về nông thôn.
* Về nông nghiệp: Sự biến động của nền kinh tế nớc Nga đã ảnh hởng trực
tiếp đến nền sản xuất công nghiệp: diện tích gieo trồng, sản lợng ngũ cốc, sản
phẩm chăn nuôi đều bị giảm mạnh dẫn đến hậu quả tổng sản lợng nông nghiệp
năm 1921 chỉ còn lại 60% so với năm 1913. Bình quân lơng thực trên đầu ngời tr-
ớc chiến tranh thế giới là 405 kg/ngời thì đến năm 1920 giảm xuống chỉ còn lại
246 kg/ngời.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
* Về giao thông vận tải: Do chiến tranh, hệ thống giao thông của nớc Nga bị
tàn phá hết sức nghiêm trọng: 61% số đầu máy và 28% số toa xe của tàu hoả bị
tàn phá h hỏng, 4000 chiếc cầu, nhà ga, kho tàng bị phá huỷ. Năm 1920, khối lợng
vận chuyển chỉ còn 20%.
* Về tài chính - tín dụng: Nớc Nga - Xô viết bị lâm vào tình trạng rối loạn,
ngân sách bội chi quá lớn (năm 1918 bội chi 31 tỷ rúp, nhng đến năm 1920 con số
bội chi lên tới 21.937 tỷ rúp).
b- Về chính trị - xã hội:
Sự sút kém về mặt kinh tế đã dẫn đến tình trạng đời sống của nhân dân lao
động nớc Nga ngày càng trở nên khó khăn hơn.
* Trong thời kỳ nội chiến nớc Nga phải thực hiện CSCSTC, tất nhiên đã gây
ra những thiệt hại về lợi ích của giai cấp công nhân và nông dân. Mặc dù nh vậy,
nhng những sự thiếu thốn, khó khăn về vật chất cũng cha gây nên sự mỏi mệt về

tinh thần, bởi vì quần chúng lao động sẵn sàng lao động quên mình để góp phần
vào việc tiêu diệt bọn phản cách mạng và giữ vững chính quyền của nhân dân, bảo
vệ những thành quả cách mạng tháng Mời vĩ đại.
* Bên cạnh những hậu quả do chiến tranh gây ra, bản thân nớc Nga khi lên
chủ nghĩa xã hội với một nền kinh tế tơng đối lạc hậu: là sự quyện chặt giữa t bản
độc quyền hiện đại với những tàn tích phong kiến. Biểu hiện của quan hệ tiền t
bản chủ nghĩa chính là nền nông nghiệp chiếm vị trí chủ yếu trong nền kinh tế
quốc dân. ở nớc Nga lúc này, nông dân chiếm 82,4% dân số, sản phẩm nông
nghiệp chiếm 51,4% tổng thu nhập quốc dân.
2. Điều kiện chủ quan.
Bên cạnh các điều kiện và nguyên nhân khách quan, về mặt chủ quan, thì
thời gian này ngay cả V.I. Lênin trong nhận thức về CNXH cũng đã vấp phải
những sai lầm: do đã không nhận thức rõ các quy luật khách quan, nên việc xác
định các chủ trơng chính sách có phần không phù hợp, nóng vội và đốt cháy giai
đoạn. Cụ thể, trong những năm tháng sau cách mạng tháng Mời do hoàn cảnh
khách quan mà nớc Nga phải áp dụng CSCSTC đã hình thành quan niệm về khả
năng quá độ trực tiếp đi lên CNXH. Từ quan niệm này đã xuất hiện hàng loạt chủ
trơng, biện pháp không thích hợp nh: quốc hữu hoá ngay tất cả các xí nghiệp, xoá
bỏ thơng nghiệp t nhân, cấm buôn bán, thực hiện ngay việc sản xuất và phân phối
theo kiểu cộng sản chủ nghĩa dẫn đến cuộc khủng hoản kinh tế - xã hội. Cuộc
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khủng hoảng này đã đặt vận mệnh của nớc Nga Xô - viết non trẻ vào tình trạng
"nghìn cân treo đầu sợi tóc".
Chúng ta có thể nhận thấy rằng: Những điều kiện khách quan kết hợp với
nhân tố chủ quan chính là tiền đề trực tiếp dẫn đến sự ra đời của NEP. NEP chính
là phản ánh tiến trình phát triển hợp qui luật của đời sống xã hội.
II- Sự ra đời của chính sách kinh tế mới.
NEP là một khái niệm không có nghĩa nh một vài chính sách kinh tế cụ thể,
ở đây nó mang ý nghĩa bao trùm. Đó chính là đờng lối xây dựng chủ nghĩa xã hội

ở một số nớc kinh tế còn lạc hậu nh nớc Nga.
Khi dùng khái niệm NEP, V.I. Lênin còn có ý định để phân biệt NEP với
CSCSTC. ở đây ngời muốn nhấn mạnh yếu tố kinh tế trong quan hệ với các yếu tố
khác.
NEP vừa là giải pháp trớc mắt để chống khủng hoảng đồng thời là một nội
dung mới có tính chiến lợc lâu dài. Từ các biện pháp mang tính mang tính chất
trực tiếp đi lên CNXH ở trong CSCSTC đã đợc thay bằng các biện pháp gián tiếp
thông qua những hình thức kinh tế quá độ, từ việc xoá bỏ thơng nghiệp chuyển
sang khôi phục thơng nghiệp và thực hiện trao đổi hàng hoá thông qua lu thông, sử
dụng lại đồng tiền.
Việc mở ra và đẩy mạnh sản xuất hàng hoá dới CNXH, tiến hành trao đổi
hàng hoá hai chiều đã có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, công
nghiệp và nhằm cải thiện đời sống của nhân dân. Việc đi lên CNXH thông qua con
đờng chủ nghĩa t bản nhà nớc và hợp tác xã là một bớc phát triển mới sáng tạo về
t duy lý luận của V.I.Lênin.
Vì vậy, khi tiếp cận với các nội dung của NEP, hãy xuất phát từ cách nhìn
nhận theo quan điểm hệ thống, có nghĩa là phải nhìn rõ các mối quan hệ tác động
và ảnh hởng lẫn nhau. Nếu đem tách riêng từng nội dung, từng vấn đề ra thì không
thể nhận thức đợc một cách đầy đủ về NEP, thậm chí có thể hiểu sau nội dung của
nó.
III. nội dung và mục tiêu của chính sách kinh tế mới
1. ổn định kinh tế
Bớc vào thời kỳ hoà bình xây dựng, nhân dân nớc Nga phấn đấu để thực hiện
mục tiêu mà NEP đã nêu ra: Quyết tâm bảo vệ và xây dựng thành công CNXH ở
nớc Nga. Nhằm làm cho nớc Nga trở thành một nớc có nền kinh tế phát triển, nền
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quốc phòng vững mạnh, đời sống nhân dân đợc ngày càng ấm no hạnh phúc. Đó là
mục tiêu lớn, bao trùm suốt thời kỳ quá độ. Mục tiêu đó lại đợc thể hiện trong các
bớc đi cụ thể mà NEP đã vạch ra:

+ Thực hiện tốt chính sách thu thuế lơng thực
+Khôi phục, phát triển hàng hoá trong nông nghiệp
+Khôi phục và tổ chức lại nền sản xuất công nghiệp
+ Củng cố mở rộng thơng nghiệp XHCN
+Củng cố nền tài chính Xô viết và ổn định tiền tệ
2. ổn định chính trị
Chính trị là sự biểu hiện tập trung của nền kinh tế với t cách là một yếu tố
của kiến trúc thợng tầng. Chính trị sẽ do cơ sở kinh tế quyết định về nội dung, tính
chất, mục tiêu, nguyên tắc Do tình hình kinh tế - xã hội của nớc Nga sau chiến
tranh đòi hỏi phải có chính sách đúng đắn, phù hợp hơn nên V.I.Lênin đã chuyển
sang thực hiện NEP. Đặc trng của nó là chính sách thuế lơng thực, ra sức phát
triển thơng nghiệp và phát huy tính chủ động của t nhân trong việc xây dựng và
quản lý nền sản xuất xã hội, giải quyết khó khăn của đất nớc. Xuất phát từ cái cốt
lõi là giai cấp vô sản phải giành đợc chính quyền về tay mình, cho nên, từ đấu
tranh kinh tế đến các hình thức đấu tranh khác cũng chỉ tập trung lại và là sự biểu
hiện của cuộc đấu tranh chính trị. Bởi chính trị không thể không chiếm vị trí hàng
đầu so với kinh tế. Sau khi giai cấp công nhân giành đợc chính quyền, trọng tâm
chính trị chuyển dần vào lĩnh vực kinh tế, chính trị ở ngay trong kinh tế. V.I.
Lênin còn nhấn mạnh:" Chính trị chủ yếu của chúng ta lúc này là xây dựng nớc
nhà về mặt kinh tế để tích góp đợc nhiều lúa mì hơn, để sản xuất đợc nhiều than
hơn, để sử dụng đợc lúa mì và than đó có hợp lý hơn sao cho không còn ngời đói".
3.kích thích vật chất và tinh thần.
Nếu trong CSCSTC lợi ích của ngời lao động, trớc hết là lợi ích vật chất, cha
đợc quan tâm một cách thích đáng. Chủ nghĩa bình quân đã không kích thích đợc
tính năng động của ngời lao động, cha khai thác hết tiềm năng của các lực lợng
sản xuất. Để khắc phục tình trạng này, trong NEP, V.I. Lênin đã nêu bật vai trò
của các loại lợi ích, lợi ích vật chất, lợi ích cá nhân có vai trò hết sức quan trọng.
Chúng là động lực thúc đẩy con ngời hoạt động:
1. Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy con ngời hoạt động ở mọi quy mô mọi
cấp độ của xã hội.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Các quan hệ kinh tế biểu hiện tập trung thành quan hệ lợi ích kinh tế đợc
phản ánh thành nội dung chi phối đời sống chính trị, t tởng của xã hội.
3. Lợi ích kinh tế là cơ sở, là nền tảng cho việc hình thành và giải quyết các
lợi ích khác nhau của con ngời. Tuy nhiên, không đợc tuyệt đối hoá lợi ích kinh tế
(vật chất), biến nó thành cái duy nhất. Mặt khác, nếu không thấy lợi ích kinh tế,
hoặc hạ thấp vai trò của nó, sẽ phủ nhận nguyên tắc khuyến khích vật chất, triệt
tiêu động lực của con ngời, triệt tiêu động lực phát triển xã hội.
Dới chế độ xã hội mới, không chỉ có các lợi ích kinh tế đóng vai trò động lực
mà các nhân tố kích thích tinh thần trong lao động cũng có một ý nghĩa quan trọng.
4. Kích thích vật chất và tinh thần điều quan trọng là quan tâm và chú ý thoả
đáng đến lợi ích cá nhân ngời lao động. Nếu không thực hiện tối loị ích cá nhân
ngời lao động thì sẽ khó mà thực hiện các lợi ích khác. Lợi ích cá nhân ngời lao
động trở thành lợi ích trực tiếp và xuất phát để thực hiện các lợi ích khác trong sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
--- o0o---
Ch ơng II
chính sách kinh tế mới đối với
công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam.
I. Đặc điểm của hai dân tộc khi vận dụng nep
Thắng lợi của công cuộc đối mới trên đất nớc ta mới chỉ là bớc đầu. Trớc mắt
cũng nh lâu dài, để thực hiện công cuộc đổi mới thắng lợi hoàn toàn, Đảng ta,
nhân dân ta còn phải trải qua nhiều gian khổ, gay go và quyết liệt. Nớc Nga - Xô
Viết và Việt Nam vốn là hai dân tộc: cách xa về địa lý, dân số, phong tục tập
quán, truyển thống văn hoá.v.v.. Nhng trong lịch sử đấu tranh cách mạng giải
phóng dân tộc, đặc biệt trong công cuộc kiến thiết xây dựng đất nớc - xây dựng
chủ nghĩa xã hội, dới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, cả hai dân tộc, lại có
những điểm tơng đồng và khác biệt.
1. Những điểm t ơng đồng

1. Bớc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cả nớc Việt Nam và nớc Nga
đều mới thoát ra khỏi cuộc chiến tranh kéo dài với sự tàn phá hết sức nặng nề.
2. Cả hai nớc bớc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đều nằm trong tình
hình kinh tế cha phát triển. ở nớc Nga, theo V.I. Lênin, chủ nghĩa t bản mới phát
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
triển ở mức trung bình. Còn ở Việt Nam, chủ nghĩa t bản chỉ mới có mầm mống:
một số nhà t bản dân tộc vốn liếng cha đáng kể, còn một cơ sở sản xuất nhỏ do
bọn t bản nớc ngoài để lại nằm trong tình trạng thiếu thốn, què quặt.
3. Tuy có khác nhau về mức độ, nhng trong thời kỳ quá độ lên CNXH, ở nớc
Nga - Xô Viết (năm 1921) cũng nh khi bớc vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam
(năm 1986), đời sống nhân dân đều gặp rất nhiều khó khăn, tình hình xã hội thiếu
sự ổn định, nhiều hiện tợng tiêu cực nảy sinh.
4. ở nớc Nga bớc vào thời kỳ quá độ lên CNXH và ở Việt Nam bắt đầu công
cuộc đổi mới đất nớc theo định hớng XHCN. Mặc dù ở hai thời điểm lịch sử khác
nhau, thời gian cách xa nhau hơn sáu thập kỷ, nhng trong nhận thức, lý luận cung
nh trong chỉ đạo thực tiễn của những ngời cộng sản cả hai nớc đều có những điểm
sai lầm chủ quan.
2. Những nét khác biệt:
Trên cơ sở phân tích những nét khác biệt để làm sáng tỏ sự sáng tạo của
Đảng ta trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và NEP nói riêng.
Do có sự khác biệt, nên việc vận dụng bao giờ cũng phải sáng tạo, không thể vận
dụng nguyên xi, máy móc, cứng nhắc, rập khuôn.
a. Các đặc điểm bên trong mỗi n ớc:
Mặc dù, nớc Nga, nh Lênin đã nhận xét khi bớc vào thời kỳ quá độ lên
CNXH, tuy chủ nghĩa t bản đã phát triển ở mức trung bình, là một nớc mà sự phát
triển kinh tế kém nhất Châu Âu, song so với Việt Nam, điểm xuất phát đi lên
CNXH của nớc Nga vẫn cao hơn nhiều.
Mặt khác, muốn đạt đến một nền sản xuất lớn, hiện đại ở trình độ cơ khí hoá,
hoá học hoá, tự động hoá, một nền khoa học kỹ thuật tiên tiến, v.v trớc hết phải có

một đội ngũ chuyên gia giỏi về chuyên môn, giỏi về quản lý mới đủ sức để vận
hành nền sản xuất đa lại năng suất lao động cao. Nhng ở nớc Nga trớc đây, khi b-
ớc vào thời kỳ quá độ lên CNXH, đội ngũ chuyên gia này thiếu nghiêm trọng. Tr-
ớc tình hình đó, Lênin đã phải dùng biện pháp thuê chuyên gia các nớc t bản với
mức lơng rất cao. Song, làm việc cũng rất khó khăn, vì nằm trong sự bao vây của
các nớc t bản. Điều quan trọng trên đây lại đợc khẳng định trong lời nói của Ngời:
Sẵn sàng đổi một tá những ngời cộng sản tồi để lấy một chuyên gia t sản giỏi.
Còn ở nớc ta bớc vào giai đoạn đổi mới đất nớc, chúng ta đã có thuận lợi hơn
nhiều so với nớc Nga trớc đây. Mặc dù, trong cuộc chiến tranh kéo dài, nhng Đảng
ta cũng đã dự đoán trớc ngày thắng lợi, do đó có sự chuẩn bị trớc đội ngũ cán bộ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
để sau này xây dựng đất nớc. Vì vậy đến nay, nớc ta đã có một đội ngũ cán bộ kỹ
thuật, cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật lành nghề khá đông đảo.
b. Thế giới và thời đại:
Ngoài những nét khác biệt có tính chất bên trong của mỗi nớc, chúng ta còn
thấy có những nét khác biệt về tình hình thế giới cũng nh sự phát triển chung của
mỗi thời đại (bên ngoài). Đây cũng là một trong những nhân tố ảnh hởng không
nhỏ đên việc xây dựng đất nớc của mỗi quốc gia, dân tộc.
Nớc Nga- Xô Viết xây dựng CNXH trong một thời điểm mà cả thế giới cha
ai làm. Chủ nghĩa đế quốc lại có âm mu cấu kết cấu với bọn phản động trong nớc
hòng bóp chết ngay từ đầu CNXH còn non trẻ. Chẳng những chúng muốn tiêu diệt
cách mạng nớc Nga mà còn ngăn chặn sự phát triển của CNXH trên toàn thế giới.
Đối với Việt Nam hiện nay, mặc dù hệ thống XHCN trên thế giới đã bớc vào
một giai đoạn biến đổi sâu sắc (sự sụp đổ của CNXH ở các nớc Đông Âu, đặc biệt
là Liên Xô). Về một phơng diện nào đó, chúng ta không tránh khỏi sự xao xuyến,
nếu nh không muốn nói là dao động trong nhận thức, trong t tởng, trong niềm tin
về CNXH. Không chỉ ở trong một bộ phận của nhân dân, mà ngay cả không it
những ngời cộng sản. Thế nhng, so với nớc Nga - Xô Viết trớc đây, dẫu sao những
thành tựu của CNXH vẫn còn in đậm trong nhân dân, trong những ngời cộng sản

chân chính.
ii. Sự vận dụng chính sách kinh tế mới ở Việt Nam.
Sự vận dụng NEP vào công cuộc đổi mới của nớc ta đợc thể hiện trên những
vấn đề cơ bản sau đây:
Quá trình đổi mới ở Việt Nam là quá trình định hớng XHCN. Thực chất của
quá trình định hớng XHCN là giữ vững độc lập dân tộc, thực hiện dân giàu nớc
mạnh, xã hội công bằng, văn minh, con ngời hạnh phúc.
Có một điều lý thú là khi sự nghiệp đối mới càng phát triển, thì chúng ta
càng nhận ra rằng, trên nhiều vấn đề cơ bản, chúng ta dờng nh đang trở lại với
NEP của Lênin.
NEP đã có tác dụng chuyển nền kinh tế theo hớng phát triển kinh tế nhiều
thành phần, phát triển quan hệ hàng hoá - tiền tệ, đặc biệt là quan hệ trao đổi hàng
hoá giữa công nghiệp và nông nghiệp. Thực hiện chế độ hạch toán kinh tế, dùng
động lực kinh tế, lợi ích kinh tế , lợi ích ngời lao động là chủ yếu để phát triển
kinh tế. Xây dựng các hình thức quản lý kinh tế mềm dẻo hơn, phát huy tính năng
động sáng tạo của cơ sở với việc tiến hành kế hoạch hoá thống nhất nền kinh tế.
Website: Email : Tel : 0918.775.368

×