Tải bản đầy đủ (.pdf) (123 trang)

Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam Luận văn ThS. Luật

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (979.57 KB, 123 trang )

MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 5
1.1 Khái quát chung về góp vốn thành lập doanh nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp 5
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp 5
1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp 6
1.1.2 Khái niệm và thỏa thuận góp vốn thành lập doanh nghiệp 8
1.1.3 Tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp 11
1.2 Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ 26
1.2.1 Khái niệm và đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ 26
1.2.1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ 26
1.2.1.2 Đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ 27
1.2.1.3 Điểm đặc trưng của quyền sở hữu trí tuệ so với quyền sở hữu các tài sản hữu
hình 34
1.2.2 Khái niệm và đặc trưng của góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở
hữu trí tuệ 39
1.2.2.1 Khái niệm góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ 39
1.2.2.2 Đặc điểm của góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ . 41
1.3 Sơ lược pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở
hữu trí tuệ 43
1.3.1 Giai đoạn trước năm 1945 43
1.3.2 Giai đoạn từ sau năm 1945 đến trước năm 1995 44
1.3.3 Giai đoạn từ năm 1995 đến trước năm 2005 47
1.3.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay 50
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP
DOANH NGHIỆP BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
53


2.1 Nội dung các quy định pháp luật hiện hành về góp vốn thành lập doanh nghiệp
bằng quyền sở hữu trí tuệ 53
2.1.1 Chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ 55
2.1.1.1 Chủ sở hữu các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ 55
2.1.1.2 Các tổ chức, cá nhân nhận chuyển quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công
nghiệp 62
2.1.1.3 Chủ thể có quyền sử dụng trước đối với một số đối tượng quyền sở hữu trí
tuệ 63
2.1.2 Chủ thể nhận góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ 64
2.1.3 Đối tượng góp vốn và điều kiện góp vốn 65
2.1.3.1 Quyền tài sản của tác giả/chủ sở hữu của bản quyền tác giả và quyền liên quan
66
2.1.3.2 Quyền sở hữu các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với
giống cây trồng 67
2.1.3.3 Quyền sử dụng các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với
giống cây trồng 69
2.1.4 Định giá quyền sở hữu trí tuệ dùng để góp vốn 72
2.1.5 Các thủ tục liên quan đến việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền
sở hữu trí tuệ 76
2.1.6 Thủ tục chuyển giao tài sản góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ và trách nhiệm
của thành viên góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ 80
2.1.7 Thủ tục xử lý quyền sở hữu trí tuệ khi chấm dứt việc góp vốn bằng quyền sở
hữu trí tuệ vào doanh nghiệp 82
2.1.8 Về chứng từ và việc hoạch toán quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình hoạt
động của doanh nghiệp 83
2.1.9 Hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ 85
2.2 Đánh giá pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí
tuệ 88
2.2.1 Những ưu điểm 88
2.2.2 Những nhược điểm 90

2.2.3 Nguyên nhân cơ bản dẫn đến nhược điểm trong pháp luật về góp vốn bằng
quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam 91
Chương 3: THỰC TRẠNG GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP BẰNG
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM
HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN
THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI VIỆT
NAM 96
3.1 Thực trạng góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt
Nam hiện nay 96
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về góp vốn thành lập
doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ 102
3.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về chủ thể góp vốn, đối tượng và điều kiện
góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ 103
3.2.2 Xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về việc xác định giá trị của
quyền sở hữu trí tuệ làm cơ sở cho việc định giá quyền sở hữu trí tuệ khi góp vốn
thành lập doanh nghiệp 104
3.2.3 Hoàn thiện các quy định về chứng từ và việc hoạch toán quyền sở hữu trí tuệ
trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp 105
3.2.4 Hoàn thiện quy định về hợp đồng thành lập doanh nghiệp nói chung và góp
vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ nói riêng 105
3.2.5 Hoàn thiện các quy định pháp luật về thủ tục góp vốn thành lập doanh nghiệp
bằng quyền sở hữu trí tuệ 106
3.2.6 Hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ 107
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và tổ chức thực hiện pháp luật về
góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ 108
3.3.1 Nâng cao năng lực quản lý và thực thi quyền sở hữu trí tuệ của các cơ quan
Nhà nước 108
3.3.2 Tăng cường việc đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp
luật về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ 110
3.4 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập doanh

nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ 111
KẾT LUẬN 115
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyết định thành lập doanh nghiệp là một trong những quyết định quan
trọng đối với bất kỳ nhà đầu tư nào, đặc biệt là những người mới khởi nghiệp.
Trong giai đoạn tiền doanh nghiệp này, việc góp vốn là một trong những vấn đề
đầu tiên mà các nhà đầu tư cần quan tâm, bởi việc góp vốn thành lập doanh
nghiệp là khởi đầu cho công việc kinh doanh cũng như là yếu tố tiền đề, cơ sở
phân chia lợi nhuận giữa các nhà đầu tư cũng như xác định phạm vi quyền hạn
của chủ thể góp vốn đối với việc đưa ra các quyết định quan trọng trong hoạt
động của doanh nghiệp.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, pháp luật nước ta đã ghi nhận nhiều
đối tượng mới được sử dụng để góp vốn thành lập doanh nghiệp, trong đó, có
quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, trên thực tế, việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ
làm vốn góp thành lập doanh nghiệp chưa được diễn ra phổ biến và còn nhiều
hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Việc quyền này chưa thực sự
được phát huy trên thực tế do những nguyên nhân chủ quan và khách quan nhất
định. Trong đó, một trong những nguyên nhân cơ bản là sự hạn chế về lý luận
cũng như thực tiễn pháp luật hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng
quyền sở hữu trí tuệ. Do đó, để khắc phục tình trạng nêu trên, cần sửa đổi, bổ
sung những quy định của pháp luật hiện hành theo hướng quy định cụ thể và
điều chỉnh thống nhất hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở
hữu trí tuệ. Để làm được điều đó, cần phải nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực
trạng từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu

quả của hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở
Việt Nam. Với mong muốn làm rõ thêm về mặt lý luận cũng như góp một phần
nhỏ trong việc thực hiện chính sách và thực thi pháp luật, tác giả đã chọn đề tài
nghiên cứu: “Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt
Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2

Có thể nói hoạt động “góp vốn nói chung” và “góp vốn thành lập doanh
nghiệp nói riêng” đã được các nhà khoa học chuyên ngành luật quan tâm nghiên
cứu. Thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này ở các góc
độ khác nhau. Như đề tài: “Góp vốn thành lập công ty theo pháp luật Việt Nam”
Luận văn thạc sỹ luật của tác giả Phạm Tuấn Anh, Khoa luật Đại học quốc gia
Hà Nội. Ở đề tài này, tác giả đã nghiên cứu khái quát những vấn đề chung về
hoạt động góp vốn thành lập công ty theo quy định của pháp luật Việt Nam trên
cơ sở liên hệ so sánh với hệ thống pháp luật của một số nước trên thế giới. Hay
đề tài “Góp vốn bằng quyền sử dụng đất tại Việt Nam – Luận văn thạc sỹ luật
học của tác giả Hồng Vân, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Theo đó, tác giả
đã nghiên cứu hoạt động góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào hoạt động sản
xuất, kinh doanh nói chung, trong đó có bao hàm cả nội dung của hoạt động góp
vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sử dụng đất. Ngoài ra còn một số bài viết
đăng trên các tạp chí như “Hoàn thiện quy định về góp vốn và xác định tư cách
thành viên công ty theo Luật doanh nghiệp năm 2005” của tác giả Nguyễn Thị
Dung, Tạp chí Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội số 9/2010; “Xác định loại
và giá trị tài sản góp vốn vào công ty” của tác giả Đỗ Quốc Quyên – Tạp chí
nghề luật, Học viện tư pháp số 5/2010. Bài viết “Một số vấn đề về góp vốn bằng
giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu” của tác giả Nguyễn Hồng Vân tạp chí Hoạt
động khoa học tháng 7/2010.
Tóm lại, cho đến thời điểm hiện tại, dường như chưa có một công trình nào
nghiên cứ một cách toàn diện, khái quát về hoạt động góp vốn thành lập doanh

nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu trên
tập trung vào hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp nói chung hoặc hoạt
động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng các quyền tài sản khác theo quy định
của pháp luật. Do vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên so với đề tài luận văn
này là không trùng lặp về mặt nội dung. Luận văn đi vào việc nghiên cứu, tổng
hợp một số vấn đề mới với hy vọng đóng góp một góc nhìn khái quát hơn cho
việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt
động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.
3

3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu, phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận khoa học
pháp lý về khái niệm góp vốn thành lập doanh nghiệp nói chung và góp vốn
thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ nói riêng, phân tích thực trạng
pháp luật và thực tiễn hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở
hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay. Từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị
nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động góp vốn thành lập doanh
nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn tập trung làm rõ
những vấn đề sau:
Một là, nghiên cứu, phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận khoa học
pháp lý về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ;
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về góp vốn thành lập doanh
nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật Việt Nam;
Ba là, đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện
pháp luật về hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí
tuệ ở Việt Nam.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đặt mục tiêu vào việc nghiên cứu khái

quát hoạt động sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn thành lập doanh nghiệp
và góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ nói chung.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của
pháp luật Việt Nam về hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền
sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật hiện hành.
6. Phƣơng pháp tiếp cận vấn đề
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, những quan điểm
cơ bản của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển
đất nước, cải cách hành chính xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư
4

pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn
được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, so
sánh, tổng hợp, thống kê.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài được trình bày thành ba
chương:
Chương 1: Khái quát chung về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở
hữu trí tuệ;
Chương 2: Các quy định của pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng
quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay;
Chương 3: Thực trạng góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí
tuệ và một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của
hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ tại Việt
Nam.














5

CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1.1 Khái quát chung về góp vốn thành lập doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Nhìn nhận từ góc độ kinh tế, “doanh nghiệp” là một thuật ngữ có nguồn
gốc từ lĩnh vực kinh tế học. Thuật ngữ “doanh nghiệp” được bắt nguồn từ tiếng
Pháp “entreprendre” có nghĩa là “đảm nhận” hay “hoạt động”. Khi tiến hành
hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu được những lợi ích kinh tế cao nhất, các
tổ chức, cá nhân sẽ phải cân nhắc, xem xét và lựa chọn mô hình kinh doanh cho
phù hợp, tùy thuộc vào ý đồ, quy mô, dự tính thời gian kinh doanh Theo đó,
kinh tế học thường nghiên cứu doanh nghiệp dưới các tiêu chí: huy động; phân
bổ, sử dụng các nguồn vốn; thuê mướn, phân công lao động; chi phí giao dịch;
tổ chức kinh doanh; hiệu quả và lợi ích cho xã hội. Theo M.Francois Peroux:
“Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức, sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các
yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân
viên doanh nghiệp thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng
hóa hay dịch vụ để nhận được khoản chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá
thành của sản phẩm ấy”. Dưới góc độ kinh tế học, doanh nghiệp được xem xét

dưới các yếu tố: chi phí để tổ chức huy động vốn; tổ chức lao động; tiến hành
kinh doanh và các chi phí để phối hợp các yếu tố đó với nhau. Có thể nói doanh
nghiệp là một trong những hình thức hoạt động mà các tổ chức, cá nhân lựa
chọn để thể hiện ý tưởng kinh doanh của mình.
Nhìn nhận từ góc độ pháp lý, doanh nghiệp được pháp luật công nhận là
một thực thể pháp lý độc lập. Doanh nghiệp có quyền và cũng phải gánh chịu
6

những nghĩa vụ pháp lý do hoạt động của mình gây ra. Khoản 1 Điều 4 Luật
Doanh nghiệp 2005 đã quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng,
có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định
của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Như vậy,
dưới góc độ pháp lý doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân,
có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự, hoạt động theo chế độ
hoạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động trong phạm vi vốn
đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các loại
luật và chính sách thực thi.
1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp
Tùy thuộc vào các tiêu chí phân loại khác nhau, doanh nghiệp sẽ được
phân thành các loại khác nhau. Cụ thể:
Theo tiêu chí về hình thức sở hữu và mục đích hoạt động, doanh nghiệp
được chia thành doanh nghiệp tư và doanh nghiệp nhà nước.
(i) Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế Nhà nước đầu tư vốn, thành
lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích,
nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao.
(ii) Doanh nghiệp tư là doanh nghiệp do các tổ chức, cá nhân đầu tư góp vốn,
tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh và chịu trách nhiệm vô hạn
bằng toàn bộ tài sản của mình hoặc trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số
vốn đã góp vào doanh nghiệp về mọi hoạt động của doanh nghiệp tùy
thuộc vào từng loại hình cụ thể. Doanh nghiệp tư theo quy định của pháp

luật Việt Nam có các loại hình pháp lý như sau: Doanh nghiệp tư nhân;
công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên; công ty cổ phần; công ty hợp danh.
7

Theo tiêu chí quy mô, doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp vừa và
nhỏ và doanh nghiệp lớn. Để phân biệt các doanh nghiệp theo quy mô như trên,
hầu hết ở các nước người ta dựa vào các tiêu chuẩn như: (i) tổng số vốn đầu tư
của doanh nghiệp; (ii) số lượng lao động trong doanh nghiệp; (iii) doanh thu của
doanh nghiệp; (iii) lợi nhuận hàng năm. Trong đó, tiêu chuẩn tổng số vốn và
tổng số lao động là yếu tố chính để phân loại doanh nghiệp, còn yếu tố doanh
thu và lợi nhuận được dùng kết hợp với các yếu tố trên để phân loại. Tuy nhiên,
tùy thuộc vào trình độ phát triển sản xuất ở mỗi quốc gia, tùy thuộc từng ngành
nghề cụ thể ở các thời kỳ khác nhau mà số lượng được lượng hóa theo từng tiêu
chuẩn của các quốc gia là không giống nhau.
Căn cứ vào sự liên kết, doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp độc
lập; nhóm doanh nghiệp; các doanh nghiệp đa quốc gia.
(i) Doanh nghiệp độc lập là những doanh nghiệp được thành lập và hoạt động
một cách độc lập.
(ii) Nhóm doanh nghiệp là tập hợp các doanh nghiệp có mối quan hệ gắn bó
lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ
kinh doanh khác.
(iii) Doanh nghiệp đa quốc gia là các doanh nghiệp sản xuất hay cung cấp dịch
vụ ở ít nhất hai quốc gia trở lên.
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc
dân, doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp
công nghiệp, doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ.
(i) Doanh nghiệp nông nghiệp: là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực nông nghiệp, hướng vào việc sản xuất những sản phẩm là cây và con.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của những doanh nghiệp này phụ thuộc rất

nhiều vào điều kiện tự nhiên.
8

(ii) Doanh nghiệp công nghiệp: là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực công nghiệp, nhằm tạo ra sản phẩm bằng cách sử dụng những thiết bị,
máy móc để khai thác hoặc chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm.
Trong lĩnh vực công nghiệp có thể chia thành: công nghiệp chế tạo; công
nghiệp xây dựng; công nghiệp điện tử
(iii) Doanh nghiệp thương mại: là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
thương mại, hướng vào việc khai thác các dịch vụ trong lĩnh vực phân
phối hàng hóa cho người tiêu dùng.
(iv) Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ: là những doanh nghiệp đi sâu vào khai
thác việc cung cấp các dịch vụ cho đời sống con người. Cùng với sự phát
triển kinh tế, lĩnh vực dịch vụ ngày càng được phát triển đa dạng, kéo theo
đó là những doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ đã không ngừng phát
triển nhanh chóng.
1.1.2 Khái niệm và thỏa thuận góp vốn thành lập doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp, việc góp vốn thành lập doanh nghiệp nhằm tạo cơ
sở vật chất đầu tiên cho mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Vốn (i) là điều kiện, tiền đề
đảm bảo sự tồn tại, ổn định và phát triển của doanh nghiệp; (ii) là điều kiện để
doanh nghiệp ra đời và chiến thắng trong cạnh tranh; (iii) là điều kiện để hoạt
động sản xuất, kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định; (iv) là điều kiện để
doanh nghiệp tiến hành hoạt động đầu tư và phát triển.
“Góp vốn” là hành vi pháp lý của các tổ chức, cá nhân nhằm đưa tài sản
của mình vào cùng tài sản của các chủ thể khác để cùng tiến hành hoạt động sản
xuất, kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời. Do đó, có thể hiểu “Góp vốn thành
lập doanh nghiệp là hành vi pháp lý của các tổ chức/cá nhân trong giai đoạn
“tiền doanh nghiệp” nhằm đưa tài sản của tổ chức, cá nhân vào thành tài sản
9


của doanh nghiệp để hưởng những lợi ích nhất định từ doanh nghiệp được hình
thành.”
Xét theo phương diện kinh tế, góp vốn thành lập doanh nghiệp được hiểu
là những đóng góp mà tổng cộng những phần đóng góp ấy trở thành dấu hiệu đại
diện cho số vốn của doanh nghiệp. Thực chất đó là của “hồi môn” mà mỗi thành
viên dành cho doanh nghiệp lúc mới thành lập.
Xét theo phương diện pháp lý, hành vi góp vốn thành lập doanh nghiệp
được hiểu là việc một tổ chức, cá nhân chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền
hưởng dụng một tài sản vào doanh nghiệp để được hưởng các quyền lợi từ
doanh nghiệp sẽ được thành lập. Đó có thể là quyền hưởng lợi tức hoặc quyền
điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005 quy định: “Góp vốn là việc đưa
tài sản vào doanh nghiệp để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung
của doanh nghiệp. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do
chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công
nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ doanh nghiệp, do
thành viên góp để tạo thành vốn của Doanh nghiệp.” [13, Điều 4]
Ở đây, chúng ta cần phân biệt việc chủ thể góp vốn chuyển giao tài sản
góp vốn cho doanh nghiệp hoàn toàn khác với việc mua bán. Mặc dù, các hành
vi này giống nhau là đều có việc chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền hưởng
dụng tài sản từ chủ thể này qua chủ thể khác; và việc chuyển giao này đều đòi
hỏi phải xác định giá trị cho tài sản được chuyển giao. Tuy nhiên, chúng có điểm
khác nhau ở chỗ: trong hành vi mua bán, bên bán sẽ nhận được một khoản tiền
tương đương với giá trị của tài sản chuyển nhượng hay cho thuê. Còn đối với
việc góp vốn thành lập doanh nghiệp thì người góp vốn thay vì nhận được một
giá trị vật chất thì họ sẽ được hưởng các quyền lợi nhất định từ doanh nghiệp
10

mình góp vốn như: phần lợi tức, tư cách thành viên, cổ phần dành cho người góp

vốn Sự phân biệt ở đây rất rõ ràng thể hiện ở quyền lợi của người có tài sản
sau khi chuyển giao tài sản đó. Thêm vào đó, nếu là hành vi mua bán thì người
bán sẽ chấm dứt mọi sự ràng buộc đối với tài sản dưới hình thức “mua đứt, bán
đoạn”. Còn nếu là việc góp vốn thành lập doanh nghiệp, người góp vốn có thể
vẫn có những trách nhiệm ràng buộc đối với tài sản dùng để góp vốn và họ có
thể có cơ hội nhận lại tài sản góp vốn trong một số trường hợp theo quy định của
pháp luật. Hành vi góp vốn thành lập doanh nghiệp tuân theo một chế định pháp
lý khác so với hành vi mua bán.
Thỏa thuận góp vốn thành lập doanh nghiệp là thỏa thuận được thiết lập
giữa người góp vốn hoặc cam kết góp vốn với doanh nghiệp sẽ được thành lập
và mang lại quyền lợi cho chính doanh nghiệp được thành lập – với tư cách một
thực thể pháp lý độc lập. Theo đó, người góp vốn có nghĩa vụ phải chuyển giao
tài sản góp vốn cho doanh nghiệp và doanh nghiệp có quyền yêu cầu người góp
vốn/người cam kết góp vốn phải chịu trách nhiệm nếu người đó không thực
hiện/thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ góp vốn mà gây thiệt hại cho
doanh nghiệp. Thỏa thuận góp vốn có thể được biểu hiện bằng văn bản hoặc
không bằng văn bản. Tuy nhiên, trên thực tế thỏa thuận góp vốn thường được
các bên thể hiện dưới dạng văn bản, nó có thể là một băn bản độc lập, một bản
cam kết hay một điều khoản trong hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp.
Nhìn chung, pháp luật các nước trên thế giới đều quy định việc thành lập doanh
nghiệp phải lập thành hợp đồng và điều khoản về vốn là một điều khoản thiết
yếu trong hợp đồng thành lập doanh nghiệp. Pháp luật Malaysia và Singapore
quan niệm: “trừ khi là một doanh nghiệp có trách nhiệm vô hạn, hợp đồng thành
lập doanh nghiệp nhất thiết phải chứa đựng một điều khoản về vốn (capital
clause) mà trong đó tuyên bố về khoản vốn được phép và phân chia vốn đó
11

thành các cổ phần với số lượng ấn định trở thành giới hạn mà doanh nghiệp có
thể được phép quyên góp [27, tr155-156].
Để xác định được nghĩa vụ góp vốn của các thành viên, thỏa thuận góp

vốn bao gồm các nội dung chính như: Chủ thể góp vốn; giá trị vốn góp; tài sản
góp vốn; phương thức chuyển giao vốn góp; thời điểm góp vốn
1.1.3 Tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp
Theo Bộ Luật dân sự của nước Cộng hòa Pháp: “Doanh nghiệp do hai
hay nhiều người thành lập trên cơ sở thỏa thuận bằng hợp đồng về việc đóng
góp, sử dụng tài sản hoặc công sức của họ vào hoạt động kinh doanh chung
nhằm chia lãi hoặc thu lợi.
Trong những trường hợp do pháp luật quy định, doanh nghiệp có thể do một
người thành lập.
Các thành viên doanh nghiệp cam kết cùng chịu lỗ” [5, Điều 1832]
Theo quy định của Bộ Luật dân sự Pháp, tài sản được dùng để góp vốn ở
đây có thể là tài sản hoặc công sức của người góp vốn. Khái niệm “tài sản” theo
quy định của Bộ Luật dân sự nước Cộng hòa Pháp không được liệt kê cụ thể mà
chỉ được phân ra làm động sản hoặc bất động sản.
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 tài sản có thể dùng để góp
vốn thành lập doanh nghiệp đã được các nhà làm luật sử dụng phương pháp liệt
kê. Tài sản dùng để góp vón thành lập doanh nghiệp bao gồm vật, tiền, giấy tờ
có giá và các quyền tài sản. Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp liệt kê rất dễ
dẫn tới sự không đầy đủ, do vậy, luật doanh nghiệp 2005 đã có quy định mở là
ngoài các tài sản đã liệt kê thì các tài sản khác ghi trong Điều lệ doanh nghiệp
cũng được coi là tài sản góp vốn. Dựa vào khái niệm tài sản ta có thể phân loại
tài sản dùng để góp vốn thành lập doanh nghiệp gồm những đối tượng sau:
12

Tiền và giấy tờ có giá. Tiền theo kinh tế học, là giá trị đại diện cho giá trị
thực của hàng hóa và là phương tiện lưu thông trong đời sống của con người.
Giấy tờ có giá là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản
của một chủ thể nhất định xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác.
Giấy tờ có giá bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, công trái, séc,
giấy ủy nhiệm chi, sổ tiết kiệm Việc góp vốn bằng tiền có tính chất giống với

việc bỏ tiền ra mua quyền lợi trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, những người góp
vốn ban đầu chính là những người tạo ra quyền lợi ấy [3, tr53]. Việc góp vốn
thành lập doanh nghiệp bằng tiền hoặc giấy tờ có giá được coi là hoàn tất khi
thành viên góp vốn chuyển giao tiền mặt hoặc giấy tờ có giá cho doanh nghiệp
được thành lập. Trong trường hợp khi đã cam kết góp vốn bằng tiền mà người
góp vốn không góp hoặc góp không đúng hạn, thì khoản tiền đã cam kết góp
được coi là khoản nợ của người đó với doanh nghiệp và người góp vốn đó phải
chịu lãi suất đối với khoản tiền này kể từ ngày cam kết góp vốn và phải bồi
thường nếu có thiệt hại do việc không góp vốn này gây ra. Như Bộ Luật dân sự
nước Cộng hòa Pháp quy định: “Thành viên phải góp một số tiền vào doanh
nghiệp mà không đóng góp thì đương nhiên trở thành người có nghĩa vụ thanh
toán lãi của số tiền đó, kể từ ngày phải đóng góp và bồi thường thiệt hại, nếu
có” [5, Điều 1843-3].
Hiện vật, đây là việc người góp vốn sử dụng một tài sản hữu hình để góp
vốn thành lập doanh nghiệp. Mặc dù, về nguyên tắc, mọi tài sản là vật đều có thể
được sử dụng để góp vốn thành lập doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong hành vi góp
vốn thành lập doanh nghiệp sẽ xuất hiện sự chuyển giao tài sản từ chủ thể góp
vốn sang cho doanh nghiệp. Do đó, để đảm bảo được yêu cầu này, thì tài sản là
vật sử dụng để góp vốn thành lập doanh nghiệp phải là vật đưa được vào giao
lưu dân sự. Nó phải đáp ứng đầy đủ ba yêu cầu: (i) vật có thực phải là một bộ
13

phận của thế giới vật chất; (ii) vật có thực phải đem lại lợi ích cho con người;
(iii) vật có thực là những vật mà con người có thể chiếm giữ được. Trong việc
thực hiện quyền sở hữu đối với vật, chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp
bằng vật có thể lựa chọn việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở
hữu hoặc chỉ góp vốn bằng quyền sử dụng đối với vật.
Thứ nhất, góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu vật. Quyền
sở hữu là hình thức thống trị hoàn toàn đối với vật. Nói cách khác quyền đó cho
phép sử dụng vật, thu lợi và định đoạt vật theo ý muốn chủ quan của chủ sở hữu.

Do đó, góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu là việc thành viên
góp vốn chuyển quyền sở hữu đối với vật góp vốn của mình sang cho doanh
nghiệp nhận góp vốn. Cách góp vốn này có biểu hiện gần giống với việc mua
bán vật. Theo quy định của Bộ luật dân sự nước Cộng Hòa Pháp có quy định:
“Mỗi thành viên phải chịu trách nhiệm đối với doanh nghiệp về những cam kết
đóng góp bằng hiện vật, bằng tiền hoặc công sức lao động. Việc góp vốn bằng
hiện vật được thực hiện bằng cách chuyển quyền đối với vật và giao vật cho
doanh nghiệp sử dụng. Nếu góp vốn bằng quyền sở hữu, người góp vốn phải
đảm bảo đối với doanh nghiệp như người bán đảm bảo đối với người mua.” [5,
Điều 1843–3]. Về mặt nguyên lý, doanh nghiệp được xác định như một người
mua, trở thành chủ sở hữu của tài sản góp vốn. Là chủ sở hữu, doanh nghiệp
phải chịu tất cả những rủi ro có thể xảy ra đối với vật góp vốn khi người góp vốn
đã bàn giao vật góp vốn cho doanh nghiệp. Trong một số trường hợp, doanh
nghiệp còn phải gánh chịu các khoản nợ của những vật đóng góp. Ví dụ: Khi vật
được sử dụng để góp vốn là một cửa hiệu cùng toàn bộ các khoản nợ cho doanh
nghiệp. Khi đồng ý nhận góp vốn doanh nghiệp phải đứng ra trang trải một
khoản nợ, các nghĩa vụ dân sự có liên quan đến quá trình khai thác cửa hiệu,
phải thanh toán những khoản nợ do việc trước đó người góp vốn đã mua hàng
14

hóa để bán tại cửa hiệu; phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự trong việc bảo hành
đối với những mặt hàng mà doanh nghiệp đã bán ra cho khách hàng và có trách
nhiệm bảo hành Như vậy, hành vi này giống như một kiểu góp vốn phức hợp,
vừa là bán vì phải trả các khoản nợ, vừa là góp vốn xét theo các phương diện
còn lại. Trong khoa học pháp lý, hình thức góp vốn này còn được gọi là hành vi
góp vốn có đền bù. Tất nhiên theo cách góp vốn này, người góp vốn chỉ được
hưởng quyền lợi tương đương với giá trị còn lại, sau khi đã khấu trừ những
khoản nợ, những nghĩa vụ dân sự đã được người nhận góp vốn chi trả thay. Đối
với người góp vốn thì mức độ hưởng quyền lợi tùy thuộc vào giá trị vật mà họ
đã đưa vào cho doanh nghiệp sử dụng. Vấn đề đặt ra là phải xác định giá trị vật

được đem góp vốn. Lúc này, các bên cùng với chuyên gia đánh giá tài sản cùng
nhau xác định giá trị của những vật đăng ký góp vốn. Điều nguy hiểm thường
gặp ở đây là có thể xảy ra trường hợp các bên thỏa thuận định giá quá cao giá trị
của tài sản góp vốn so với giá trị thực tế của chúng. Trường hợp này, dễ xảy ra
bởi nguyên do, các thành viên doanh nghiệp muốn tạo uy tín cho doanh nghiệp
mình nên đã định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế, làm tăng giả tạo số
vốn của doanh nghiệp và tăng thêm lòng tin của các ngân hàng; các nhà cung
cấp nguyên vật liệu cho doanh nghiệp cũng như các đối tác của doanh nghiệp.
Để tránh việc định giá sai giá trị tài sản vì mục đích nêu trên, luật pháp của
nhiều nước đã đặt ra những nguyên tắc nhất định khi xác định giá trị của tài sản
góp vốn.
Ví dụ: Theo Bộ luật Dân sự Pháp, việc đóng góp bằng hiện vật vào doanh
nghiệp cần phải có sự tham gia của một ủy viên kiểm tra góp vốn; việc đánh giá
cao một cách gian lận những đóng góp bằng hiện vật có thể bị quy thành tội
phạm để hạn chế các thành viên thổi phồng tài sản đóng góp. Riêng đối với
doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn mà việc tham gia của ủy viên kiểm tra góp
15

vốn không bắt buộc thì các thành viên doanh nghiệp phải liên đới chịu trách
nhiệm trong thời hạn năm năm trước người thứ ba về giá trị mà họ tự tính cho
những hiện vật đã góp.
Một lần nữa, việc góp vốn ở đây lại được xem như là hành vi bán chác và
người góp vốn phải đảm bảo với doanh nghiệp về tài sản mà mình đóng góp như
người bán phải đảm bảo hàng đối với người mua. Ở đây cần có sự đảm bảo
mang tính chất loại trừ: Người góp vốn không được ngăn cản doanh nghiệp
hưởng dụng tài sản đã đóng góp và phải đảm bảo về những khuyết tật ở hiện vật
mình đóng góp; nghĩa là người góp vốn phải chịu trách nhiệm về những khuyết
tật trong hiện vật mình đóng góp vào doanh nghiệp đã làm cho hiện vật không
sử dụng được đúng với tác dụng của nó.
Thứ hai, góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền hưởng dụng. Nếu

coi quyền sở hữu đối với vật được hợp thành bởi ba quyền; quyền chiếm hữu;
quyền sử dụng; quyền định đoạt thì quyền hưởng dụng bao gồm hai thành tố:
quyền chiếm hữu và quyền sử dụng. Nghĩa là chủ thể có quyền hưởng dụng chỉ
có quyền nắm giữ, sử dụng tài sản để thu lợi mà không có quyền định đoạt đối
với tài sản. Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền hưởng dụng là việc chủ
thể góp vốn chuyển giao quyền nắm giữ và quyền sử dụng vật cho doanh nghiệp
khai thác và thu lợi từ vật nhưng giữ lại cho mình quyền định đoạt đối với vật.
Do đó, người ta thường tách việc góp vốn bằng quyền hưởng dụng đối với vật ra
khỏi việc góp vốn bằng vật. Tài sản góp vốn là quyền hưởng dụng thì phần vốn
góp chính là giá trị được tính bằng quyền hưởng dụng đối với tài sản. Thành
viên góp vốn bằng quyền hưởng dụng phải giao tài sản cho doanh nghiệp đúng
số lượng, chất lượng, chủng loại, tình trạng và đúng thời điểm, địa điểm đã thỏa
thuận và cung cấp những thông tin cần thiết về việc sử dụng tài sản đó.
16

Nếu như người góp vốn bằng quyền sở hữu có vai trò giống như người
bán, thì người góp vốn bằng quyền hưởng dụng có vai trò tương tự người cho
thuê tài sản. Đây là hướng quy định khá phổ biến trong pháp luật các quốc gia
và trên thế giới. Bộ luật dân sự Pháp quy định: “Nếu góp vốn bằng quyền hưởng
dụng, người góp vốn phải đảm bảo với doanh nghiệp như người cho thuê đối với
người thuê. Tuy nhiên, nếu vật để hưởng dụng là vật cùng loại hoặc vật được
thay thế trong thời gian hoạt động của doanh nghiệp, thì người góp vốn chuyển
cho doanh nghiệp quyền sở hữu vật với điều kiện được trả lại đúng số lượng,
chất lượng và giá trị tương đương. Trong trường hợp này, người góp vốn phải
bảo đảm theo những điều kiện quy định tại đoạn trước.” [5, 1843-3]
Trên cơ sở Bộ luật Dân sự Pháp, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 quy định:
“người góp vốn bằng quyền hưởng dụng phải thực hiện những nghĩa vụ của
người cho thuê tài sản” [Điều thứ 1027, đoạn 2]. Với tinh thần này, Hoàng Việt
Trung Ký Hộ Luật (Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936) tại Điều thứ 1439, đoạn 2
cũng có quy định tương tự. Điều 127 của Bộ luật Dân sự 1972 của Việt Nam

Cộng hòa cũng quy định như vậy. Các quy định trên cho thấy, người góp vốn
bằng quyền hưởng dụng cũng có nghĩa vụ như người cho thuê đối với người
thuê tài sản. Thành viên góp vốn bằng quyền hưởng dụng phải đảm bảo tài sản
trong tình trạng như đã thỏa thuận, phù hợp với mục đích sử dụng trong suốt
thời gian góp vốn. Thành viên góp vốn bằng quyền hưởng dụng phải đảm bảo
quyền sử dụng tài sản ổn định cho doanh nghiệp. Trong trường hợp có tranh
chấp về quyền sở hữu đối với tài sản mà doanh nghiệp không được sử dụng tài
sản thì doanh nghiệp có quyền yêu cầu thành viên góp vốn bồi thường thiệt hại.
Trong trường hợp thành viên góp vốn bằng quyền hưởng dụng chậm giao tài sản
thì doanh nghiệp có thể gia hạn giao tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu
có). Nếu tài sản đó không đúng chất lượng thỏa thuận thì doanh nghiệp có quyền
17

yêu cầu thành viên góp vốn sửa chữa và yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu có).
Tài sản góp vốn là quyền hưởng dụng thì rủi ro đối với tài sản sẽ thuộc về thành
viên góp vốn, vì họ vẫn là chủ sở hữu đối với tài sản đó. Chẳng hạn nếu tài sản
đã bị thất thoát thì việc góp vốn sẽ bị coi là vô hiệu và người góp vốn sẽ bị khai
trừ nếu không có vốn đóng góp khác. Tuy nhiên, cũng cần phải nói một cách
chính xác là khi vật đóng góp là vật có thể tiêu phí được – những tài sản thuộc
loại không thể tư nhân hóa được – văn tự góp vốn bằng chuyển giao cho doanh
nghiệp sở hữu những tài sản đã đóng góp vào doanh nghiệp, doanh nghiệp có
trách nhiệm và nghĩa vụ trả lại tài sản đó với số lượng, chất lượng và giá trị
tương đương. Như vậy, việc góp vốn bằng quyền hưởng dụng phần nào giống
với việc góp vốn bằng quyền sở hữu, chừng nào mà doanh nghiệp còn sử dụng
tài sản đó. Vậy là trong khi người góp vốn bằng quyền sở hữu, cho dù có gắn bó
bao nhiêu với tài sản mình đem góp vốn vào doanh nghiệp, cũng không bao giờ
được đảm bảo là sẽ được động chạm đến tài sản trước đây của mình. Tuy nhiên,
trong trường hợp nếu hoàn trả lại vốn góp người góp vốn bằng quyền hưởng
dụng có ngày được hưởng dụng lại tài sản đã góp mà mình là chủ sở hữu. Mặc
dù có lợi nhưng trên thực tiễn việc góp vốn bằng quyền hưởng dụng cũng ít

được thực hiện.
Như vậy, góp vốn bằng quyền hưởng dụng là việc cá nhân hay tổ chức
chuyển quyền hưởng dụng tài sản của mình cho doanh nghiệp để được hưởng
các quyền lợi đối với doanh nghiệp, trong đó thành viên đem góp vốn vẫn là
người chủ sở hữu tài sản và doanh nghiệp có quyền thu hoa lợi từ tài sản đó.
Quyền sử dụng đất. Đất đai với tư cách là bất động sản theo bản chất.
Thông thường có thể xếp việc góp vốn bằng đất đai vào góp vốn bằng hiện vật.
Tuy nhiên, đối với nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống
nhất quản lý, nghĩa là không một con người hay tổ chức cá thể nào có quyền sở
18

hữu về đất đai. Nhà nước chỉ trao cho các tổ chức, cá nhân quyền sử dụng đất
đối với từng mảnh đất cụ thể. Quyền sử dụng đất lại được quy định bởi nhiều
chế độ pháp lý khác nhau tùy theo từng loại đất. Do vậy, phải xếp việc góp vốn
bằng quyền sử dụng đất thành một hình thức góp vốn riêng.
Ở Việt Nam, quyền sử dụng đất được coi là một tài sản đặc biệt. Luật đất
đai năm 1993; Bộ Luật dân sự năm 1995; Luật đất đai năm 2003 và Bộ Luật dân
sự Việt Nam 2005 khẳng định quyền sử dụng đất là một tài sản. Điều 118 Bộ
luật dân sự 1995 ghi nhận “Quyền sử dụng đất hợp pháp của hộ gia đình là tài
sản chung của hộ” [10, Điều 118]. Điều 108, Bộ Luật dân sự 2005 tiếp tục nghi
nhận: “Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng
rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng
nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản
khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ.”[12, Điều 108].
Theo quy định nêu trên, Nhà nước ta ghi nhận quyền sử dụng đất là một
quyền tài sản. Do đó, quyền sử dụng đất là một trong các quyền tài sản có thể
được sử dụng để góp vốn thành lập doanh nghiệp. Trong đó, phải kể đến những
nhóm quyền sử dụng đất sau:
Loại thứ nhất, Quyền sử dụng đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử
dụng đất hoặc được chuyển nhượng, thừa kế hợp pháp. Những chủ thể được Nhà

nước trao quyền sử dụng đất trong trường hợp này được phép góp vốn thành lập
doanh nghiệp bằng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, để có thể đem quyền sử dụng
đất trong những trường hợp này để góp vốn thành lập doanh nghiệp thì quyền sử
dụng đất này cần phải thỏa mãn một số điều kiện theo quy định của Luật Đất đai
năm 2003 và quy định của Luật doanh nghiệp 2005.
Loại thứ hai, quyền sử dụng đất được Nhà nước giao không thu tiền sử
dụng đất. Quyền sử dụng đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất tại
19

quy định này được chia làm hai trường hợp theo chủ thể được giao đất đó là: Cá
nhân, hộ gia đình được giao đất không thu tiền sử dụng đất và tổ chức được giao
đất không thu tiền sử dụng đất. Theo quy định tại Điều 113, Luật đất đai 2003
thì quyền sử dụng đất Nhà nước giao cho cá nhân, hộ gia đình không thu tiền sử
dụng đất có thể là đối tượng của hợp đồng thế chấp, chuyển nhượng, góp vốn để
hợp tác sản xuất, kinh doanh với các tổ chức, cá nhân trong nước , được giao
kết và thực hiện trong khuôn khổ pháp luật dân sự và luật đất đai. Còn theo quy
định tại Khoản 2, Điều 109, Luật đất đai 2003 thì “ Tổ chức được Nhà nước giao
đất không thu tiền sử dụng đất không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng
cho, cho thuê quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử
dụng đất.”[14, Điều 109]
Như vậy, quyền sử dụng đất được giao cho cá nhân, hộ gia đình không thu
tiền sử dụng đất thì được quyền góp vốn để hợp tác sản xuất, kinh doanh, nhưng
quyền sử dụng đất được giao cho cá tổ chức không phải trả tiền sử dụng đất thì
không được đem ra góp vốn.
Loại thứ ba, quyền sử dụng đất thuê. Các chủ thể được Nhà nước cho thuê
đất không có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuê mà chỉ có quyền góp
vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê trong thời hạn thuê
đất theo quy định tại Điều 111 và Điều 114 Luật đất đai 2003. Tuy nhiên, nếu
các chủ thể nêu trên được Nhà nước cho thuê đất trước ngày Luật đất đai 2003
có hiệu lực thi hành mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả

trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít
nhất là năm năm thì có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong thời hạn
thuê.
Việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất đòi hỏi quyền sử dụng đất phải
thuộc trường hợp pháp luật cho phép được dùng để góp vốn như một loại tài
20

sản. Quyền sử dụng đất mà các bên đem góp vốn phải được định giá, các bên có
thể thỏa thuận định giá và cùng chịu trách nhiệm về thỏa thuận định giá đó hoặc
thuê tổ chức định giá chuyên nghiệp.
Ở Việt Nam, quyền sử dụng đất là tài sản phải đăng ký do vậy sau khi
thỏa thuận góp vốn bằng quyền sử dụng đất thì đến thời điểm góp vốn, bên góp
vốn bằng quyền sử dụng đất phải chuyển quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp
và doanh nghiệp là chủ thể đăng ký để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Kể từ thời điểm doanh nghiệp hoàn thành việc đăng ký quyền sử dụng
đất thì việc góp vốn thành lập doanh nghiệp của thành viên/cổ đông được hoàn
thành.
Như vậy, ở Việt Nam với việc chỉ có một hình thức sở hữu về đất đai là
sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý và không công nhận sở hữu tư nhân về đất
đai, thì quyền sử dụng đất được đưa ra như một tài sản đặc thù và việc góp vốn
bằng quyền sử dụng đất với tư cách là một bất động sản cũng có những đặc thù
riêng.
Sản nghiệp thương mại. Sản nghiệp thương mại là một tập hợp tài sản bao
gồm các tài sản có và tài sản nợ của thương nhân phục vụ cho hoạt động thương
mại. Luật thương mại năm 1997, định nghĩa về sản nghiệp thương mại: “Sản
nghiệp thương mại là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng
hợp pháp của thương nhân, phục vụ cho hoạt động thương mại như: trụ sở, cửa
hàng, kho tàng, trang thiết bị, hàng hóa, tên thương mại, biển hiệu, nhãn hiệu
hàng hóa, mạng lưới tiêu thụ hàng hóa và cung ứng dịch vụ [11, Điều 5].
Tài sản có thuộc sản nghiệp là tập hợp tất cả những tài sản thuộc về chủ

sở hữu, hay đúng hơn đó là tập hợp tất cả những quyền tài sản có cùng một chủ
thể. Tuy nhiên, các quyền tài sản đó chỉ được xem là các yếu tố của một sản
nghiệp khi các quyền đó có thể được định giá bằng tiền. Các quyền tài sản tạo
21

thành một tập hợp – sản nghiệp – và tập hợp này tồn tại độc lập với các quyền
tài sản đó. Tài sản có thể được mua bán, sử dụng, hao mòn, thậm chí biến mất
nhưng sản nghiệp vẫn được duy trì. Do đó, một chủ nợ không có bảo đảm chỉ có
quyền yêu cầu kê biên và bán đấu giá bất kỳ tài sản nào của người mắc nợ ở thời
điểm kê biên mà sẽ không có quyền này đối với những tài sản đã chuyển
nhượng trước khi đến hạn đòi. Mặt khác, cần chú ý rằng sản nghiệp không chỉ là
tài sản hiện có mà nó còn bao gồm cả những tài sản sẽ có của chủ sở hữu.
Tài sản nợ thuộc về sản nghiệp là tất cả những nghĩa vụ tài sản của một
doanh nghiệp. Hay nói một cách đơn giản hơn đã là những gì còn lại của khối tài
sản sau khi đã trừ đi các giá trị của các nghĩa vụ tài sản.
Trong sản nghiệp thương mại phải kể đến các yếu tố sau: mạng lưới tiêu
thụ hàng hóa và cung ứng dịch vụ; tên thương mại; biển hiệu; nhãn hiệu; bí mật
kinh doanh và các quyền tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ
Mạng lưới tiêu thụ hàng hóa và cung ứng dịch vụ là kết quả của những nỗ
lực phát huy tài năng và sự khéo léo của thương nhân nhằm thu hút khách hàng
để tiêu thụ hàng hóa mà mình sản xuất. Sự phát triển của mạng lưới tiêu thụ
hàng hóa hay cung ứng dịch vụ lệ thuộc rất nhiều vào yếu tố khách quan (tình
hình kinh tế, xã hội của quốc gia và khu vực; thị hiếu và nhu cầu của người tiêu
dùng, thời điểm kinh doanh, tốc độ đô thị hóa, điều kiện tự nhiên, môi trường )
cũng như yếu tố chủ quan (sự nhạy bén, chính sách maketing, uy tín và thương
hiệu ) [8, tr.168]
Tên thương mại là tên dùng trong giao dịch của thương nhân. Tên thương
mại là một yếu tố của sản nghiệp thương mại và có thể chuyển nhượng. Ở các
nước có nền kinh tế thương mại phát triển, có một số tên thương mại được định
giá rất cao.

×