Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

thị trường vàng trang sức tại Hà Nội và xu hướng phát triển

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.98 MB, 31 trang )

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mục Lục
Lời mở đầu........................................................................................................................3
1. Nguồn cung của thị trờng vàng trang sức .................................................................4
1.1 Tình hình cung trong thị trờng vàng trang sức ............................................................4
1.1.1 Tình hình chung ngành kinh doanh vàng ở Việt Nam ............................................4
1.1.2 Tình hình cung tại thị trờng Hà Nội.........................................................................8
1.2 Các dịch vụ cung cấp tại thị trờng vàng....................................................................11
1.3 Sản phẩm, giá cả, chất lợng, quảng cáo truyền thông................................................12
1.3.1 Sản phẩm.................................................................................................................13
1.3.2 Giá cả......................................................................................................................14
1.3.3 Chất lợng................................................................................................................16
1.3.4 Quảng cáo, truyền thông.........................................................................................16
2. Nhu cầu tiêu dùng vàng trang sức ...........................................................................19
2.1 Thói quen tiêu dùng vàng trang sức của ngời Hà Nội ...............................................19
2.2 Cách tiêu dùng theo từng cách phân loại thị trờng....................................................21
2.2.1 Theo độ và nghề nghiệp..........................................................................................21
2.2.2 Theo thu nhập.........................................................................................................24
2.2.3 Các yếu tố khác......................................................................................................25
3. Xu hớng phát triển của thị trờng vàng trang sức ...................................................27
Kết luận..........................................................................................................................30
Tài liệu tham khảo.........................................................................................................31
Lời mở đầu
Cùng với sự phát triển của đời sống vật chất, nhu cầu làm đẹp dần trở thành
một nhu cầu không thể thiếu của con ngời. Từ thời nguyên thuỷ, con ngời đã biết sử
dụng các loại đá xâu chuỗi lại với nhau và đeo lên ngời làm đồ trang sức. Càng ngày ng-
ời ta càng phát hiện ra nhiều loại nguyên liệu có thể dùng để tạo ra đồ trang sức cho
mình. Trang sức vàng đợc phát hiện và trở thành biểu tợng cho sự giầu có và "đẳng cấp"
của những ngời sử dụng nó. Trớc đây, chỉ có vua chúa, quan tớng, hoàng hậu, công n-
ơng..., những ngời thuộc tầng lớp quí tộc mới đeo trang sức bằng vàng.
Ngày nay, vàng trang sức đã trở nên phổ biến, bất kì ai có nhu cầu và đủ khả


năng tài chính cũng có thể sử dụng. Tại Việt Nam trong những năm gần đây, nhu cầu
này đã phát triển mạnh mẽ và hình thành một thị trờng: thị trờng vàng trang sức; gắn
liền với nó là sự xuất hiện của các công ty chế tác và cung cấp các sản phẩm vàng trang
sức cho ngời tiêu dùng. Thị trờng này mang những nét đặc trng riêng mà không một thị
trờng nào khác có đợc. Đặc biệt, do vàng trang sức đợc làm từ vàng, hoặc các hợp kim
của vàng - một kim loại quí hiếm, gắn với tài chính thế giới cũng nh các vấn đề về tiền
tệ hay dự trữ quốc gia, nên đây là một mặt hàng đợc nhắc đến thờng xuyên cùng với các
vấn đề kinh tế vĩ mô liên quan tới tài chính. Với vàng trang sức, ngời ta có thể thay đổi
mẫu mã, kiểu dáng hay giá cả và cách kết hợp chất liệu để cho ra đời các sản phẩm khác
nhau tạo nên sự phong phú và phát triển không ngừng của thị trờng này. Khách hàng
ngày càng sành sỏi hơn, yêu cầu cao hơn, các nhà cung cấp cũng đa ra nhiều ích lợi hơn
nhằm làm tăng khả năng phục vụ khách hàng và tăng lợi nhuận của mình. Cùng với sự
biến động liên tục của giá vàng trên thế giới, thị trờng vàng trang sức hiện nay đang xuất
hiện những xu hớng mới để thích ứng với từng hoàn cảnh thực tế. Trong những ngày gần
đây, tất cả mọi ngời cùng chú ý đến sự biến động mạnh mẽ của gia vàng trên thế giới.
Điều này đã gây ảnh hởng trực tiếp tới thị trờng trang sức. Nó gây ảnh hởng trực tiếp tới
việc chọn lựa sản phẩm, mẫu mã, giá cả và số lợng sản phẩm đợc mua.
Từ những kiến thức thực tế có đợc, em nhận thấy thị trờng vàng trang sức có
nhiều điều thú vị, em quyết định tìm hiểu sâu sắc hơn với đề tài Thị trờng vàng trang
sức tại Hà Nội và xu hớng phát triển. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Quang
đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.
2
1. Nguồn cung trong thị trờng vàng trang sức
1.1 Tình hình cung trong thị trờng vàng trang sức hiện nay
1.1.1 Tình hình chung về ngành kinh doanh vàng ở Việt Nam
Hoạt động mua bán vàng trang sức ở Việt Nam đã có từ rất lâu, nhng mãi
đến những năm 90 của thế kỉ trớc hoạt động này mới bắt đầu khởi sắc và vận động theo
cơ chế thị trờng. Bớc đi với những khó khăn chung của đất nớc trong những năm đầu mở
cửa: nguồn vốn ít, thị trờng hẹp, sức mua yếu, trang sức Việt Nam dần hình thành một
thị trờng với những tên tuổi đầu tiên nh Kim Quy hay Bảo Tín Minh Châu. Trong vòng

15 năm qua, thị trờng vàng chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của Bảo Tín Minh Châu,
SJC.., sự xuất hiện của Công ty vàng bạc đá quý Phú Quý, Bảo Tín Thanh Vân.., và sự ra
đi của một số thơng hiệu lớn nh Kim Quy...
Trong mấy năm gần đây, thị trờng vàng trang sức Việt Nam có nhiều tiến
bộ với việc giành đợc một số giải thởng của Hiệp Hội vàng Thế giới về thiết kế và chế
tác các mẫu sản phẩm trang sức (Bộ Lạc Việt của công ty SJC và bộ Chất sống của
PNJ). Tuy đây chỉ là những sáng tác ban đầu thể hiện khả năng sáng tạo của các nghệ
nhân Việt Nam trong thiết kế tạo mẫu trang sức dành cho nhóm khách hàng tiêu dùng
bậc cao trên thị trờng; nhng những kết quả đó là sự đánh giá, chứng nhận cho tiềm năng
phát triển của ngành vàng trang sức Việt Nam. Năm 2003, cả nớc có hơn 7000 doanh
nghiệp kinh doanh vàng lớn nhỏ - phần lớn tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong
đó có 10 doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài. Năm 2004, Việt Nam là nớc tiêu dùng
vàng lớn thứ 4 châu á (sau Trung Quốc, Thái Lan và ấn Độ) - theo thống kê của Hiệp
hội vàng Thế giới. Cả nớc có 2-3 công ty có số công nhân 1.500.000 đến 2.000.000 ng-
ời, một số công ty khoảng vài trăm ngời, còn lại là các công ty nhỏ, có vốn từ 2-3 tỉ đến
30-40 tỉ đồng Việt Nam. Các doanh nghiệp kinh doanh nhỏ thờng là có vốn tự tích luỹ,
cộng với vay ngân hàng (hoặc bằng hình thức làm đại lý cho Ngân hàng) để đợc tạo điều
kiện về vốn. Tuy nhiên, "ngành vàng Việt Nam còn cha phát triển tơng xứng với tiềm
năng, cha phát huy đợc thế mạnh cần thiết để đáp ứng xu thế hội nhập". Nguyên nhân có
nhiều nh nguồn vốn qúa ít ỏi trong khi để phát triển đợc ngành này cần một nguồn vốn
lớn; thứ hai là do công nghệ còn lạc hậu, kĩ thuật thô sơ không đủ điều kiện nâng cao
chất lợng sản phẩm; thứ ba là do trình độ công nhân còn yếu, năng suất lao động kém;
ngoài ra còn có các nguyên nhân khác nh chính sách thuế có nhiều bất cập gây khó khăn
cho các doanh nghiệp muốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình,... Đây
cũng chính là những nguyên nhân khiến sản phẩm vàng trang sức của Việt Nam bị cạnh
tranh ngay tại thị trờng nội địa. Khi Việt Nam hội nhập AFTA giá thuế nhập khẩu các
3
mặt hàng nói chung - có mặt hàng vàng trang sức - đều giảm, các sản phẩm của Việt
Nam sẽ không thể cạnh tranh nổi với sản phẩm của nớc ngoài do sản phẩm của Việt
Nam thua kém cả về chất lợng, mẫu mã, thậm chí giá cũng cao hơn do năng suất lao

động thấp.
Đã có rất nhiều giải pháp đợc đa ra, kết quả là sự thành lập Câu lạc bộ Giám
đốc doanh nghiệp Vàng bạc_Đá quý TP HCM (Sai Gon Gold Club) tháng 10 năm 2004
để cùng nhau trao đổi thông tin quản lý, hợp tác đầu t, phát triển kinh doanh, tiếp cận thị
trờng. Các công ty lớn nh Tổng công ty Vàng bạc đá quý TP HCM - SJC; Công ty Cổ
phần Vàng Bạc Phú Nhuận (PNJ)... mạnh dạn đầu t tiếp thu công nghệ mới của nớc
ngoài tạo ra sự biến phát trong sản xuất nữ trang cung ứng cho thị trờng. Các công ty lớn
ở TP HCM - nơi cung ứng chính cho thị trờng nữ trang Việt Nam đang có những biến
chuyển mới trong hoạt động kinh doanh của mình. Nhờ có công nghệ mới, hoạt động
sản xuất trở nên sôi động hơn: chất lợng vàng, độ tinh xảo bóng sáng tăng lên, tạo ra
nhiều mầu mã đẹp và sản xuất có hiệu quả hơn. Với những hoạt động mới này đang
thúc đẩy sự phát triển mạnh của ngành kinh doanh vàng của Việt Nam. Vàng trang sức
sản xuất tại Việt Nam sẽ có mặt nhiều hơn trên thị trờng quốc tế. Tuy nhiên quá trình
này cần tăng tốc vì hiện nay các sản phẩm trang sức của nớc ngoài đang có xu hớng xuất
hiện ngày càng nhiều hơn ở thị trờng Việt Nam, một số thơng hiệu lớn nh Gucci,
Cartier, Tiffany bắt đầu đ ợc nhắc đến (mặc dù cha nhiều). Ngành kinh doanh vàng
Việt Nam đang chuyển biến để hội nhập, một trong số những mục tiêu đợc đặt ra là trở
thành viên của Hiệp hội vàng Thế giới (hiện nay, Việt Nam đang là quan sát viên của tổ
chức này)
Thị trờng vàng trang sức Việt Nam đợc nhắc đến với một số "đại gia" trong sản
xuất, chế tác lớn của Việt Nam là Tổng Công ty CP Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ)
và Tổng Công ty Vàng Bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), Công ty Vàng bạc Bảo Tín Minh
Châu , ngoài ra còn có một số công ty khác nh công ty vàng bạc đá quý Phú Quý, công
ty VJC, Đồng Xuân..., hầu hết đều ở thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Tín Minh Châu ở Hà
Nội). Các công ty này đã cung cấp phần lớn các sản phẩm lu hành tại thị trờng Việt Nam
thời gian qua. Công ty PNJ có thế mạnh về các loại vàng trắng, mẫu mã phong phú; đặc
biệt công ty cung cấp các sản phẩm cho mùa cới theo bộ riêng cho từng mùa với từng
chủ đề riêng rất độc đáo, gây đợc sự chú ý của công chúng. Ngoài ra còn xây dựng các
chơng trình khuyến mãi nh mua hàng đợc tặng quà hay rút thăm trúng thởng lớn. Trong
khi đó, Công ty Vàng Bạc Sài Gòn có thế mạnh về chế tác các loại vàng 70%, 75% với

nhiều kiểu dáng mẫu mã phù hợp với giới trẻ; các loại vàng miếng, vàng lá. Cùng với
việc sản xuất và chế tác các sản phẩm, các công ty này còn xây dựng hệ thống phân phối
4
tại các cửa hàng bán lẻ tại khắp các tỉnh thành trong cả nớc. Chỉ tính riêng công ty PNJ
đã có tới 5 cửa hàng bán lẻ tại Hà Nội; tơng tự, công ty SJC cũng có một số chi nhánh tại
các thành phố lớn trên khắp cả nớc. Trong số này, Bảo Tín Minh Châu là công ty t nhân
đầu tiên thành công và trở thành cây đại thụ trong ngành; một công ty đợc coi là chịu
chơi, sẵn sàng đầu t công nghệ mới, tung ra thị trờng những sản phẩm mang đặc trng
của mình. Bảo Tín Minh Châu cũng là một công ty rất có uy tín, giá vàng niêm yết tại
công ty đợc dịch vụ trả lời giá cả thị trờng qua điện thoại sử dụng và trở thành giá chung
cho thị trờng Hà Nội. Các công ty khác đang tìm cách thu hút nguồn vốn đầu t để mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và vơn ra ngoài biên giới.
Về phía ngời tiêu dùng, đánh giá về thị trờng vàng trang sức Việt Nam, cụ thể
là về dịch vụ cung cấp vàng trang sức hiện nay, ở mức trung bình. Lí do là mẫu mã cha
phong phú, chất lợng không đảm bảo (cả về màu sắc lẫn tuổi vàng), đôi khi thái độ phục
vụ không tốt, các dịch vụ phụ trợ (khuyễn mãi, rửa hay si bóng đồ trang sức ) kém.
Ngời tiêu dùng ít dùng sản phẩm do Việt Nam sản xuất mà vẫn thích các sản phẩm nhập
từ nớc ngoài (vàng ý, vàng ý cao cấp ), tuy đắt nh ng mẫu mã đẹp; những ngời không
có đủ tiền mua vàng ý thì dùng vàng tây (70%, 75%) do các công ty ở TP HCM sản
xuất. Hiện nay thị trờng xuất hiện một số sản phẩm của Thái Lan, Trung quốc, Đài Loan
mẫu tơng đối đẹp mà giá rẻ khoảng 300.000đ-400.000đ một món, rất thu hút ngời tiêu
dùng.
Nhìn nhận một thực tế, ngành kinh doanh vàng trang sức của Việt Nam còn t-
ơng đối yếu. Các sản phẩm cha đáp ứng đợc hết nhu cầu của khách hàng. Khách hàng
thờng xuyên đi xem và muốn có thêm nhiều mẫu mã để lựa chọn, trong khi hầu hết mẫu
mã đợc chế tác và bày bán trên thị trờng Việt Nam là những mẫu đợc copy của nớc
ngoài, một số ít là do các công ty t nhân thiết kế, còn rất nghèo nàn, trùng lặp, thiếu
sáng tạo. Đấy là cha kể vấn đề chất lợng vàng (tuổi vàng) cha đạt tiêu chuẩn quốc tế
(theo thông tin từ báo "Sài Gòn tiếp thị", báo 24h.com, cùng một số báo tạp chí, trang
web khác). Thị trờng trong nớc còn cha đáp ứng đợc nên việc xuất khẩu mặt hàng này

gặp rất nhiều khó khăn. Theo một số nguồn tin từ các báo, tạp chí cho biết thị phần vàng
trang sức của Việt Nam tại thị trờng Mỹ (xuất khẩu qua cửa khẩu)_ thị trờng nhập khẩu
vàng trang sức lớn nhất thế giới_chỉ chiếm 0.0001% tức là khoảng 6000USD (số liệu
thống kê năm 2001). Chất lợng vàng của Việt Nam không thể cạnh tranh đợc trên thị tr-
ờng Mỹ. Trong mấy năm gần đây, các công ty có nhiều tiến bộ trong đầu t công nghệ
mới trong sản xuất vàng nữ trang. Kết quả ban đầu tơng đối khả quan với việc một số
doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập đợc vào một số thị trờng lớn trên thế giới nh Mỹ,
5
Đức... tuy số lợng còn nhỏ. Đây sẽ là động lực khuyến khích các doanh nghiệp khác
nâng cao hiệu quả sản xuất cả về số lợng và chất lợng để đủ sức cạnh tranh với thế giới.
Thời gian qua, ngành vàng trang sức Việt Nam đã giành đợc những thành quả
nhất định. Cùng với việc đợc Hiệp hội vàng Thế giới đánh giá là có tiến bộ trong sản
xuất nữ trang và phát triển thị trờng, tổ chức đợc một số chơng trình nhằm quảng bá về
hình ảnh của ngành hiện nay nh tổ chức các cuộc hội chợ Mỹ nghệ và kim hoàn (ở TP
HCM và Hà Nội ), các cuộc trình diễn thời trang trang sức, đặc biệt là cuộc thi Nữ
hoàng trang sức vào cuối năm 2004. Đây là cuộc thi do Hiệp hội vàng trang sức Việt
Nam phối hợp với Tạp chí Thời trang Mỹ nghệ và Kim hoàn tổ chức. Cuộc thi đã thu hút
nhiều thí sinh tham gia, cùng với nhiều nhà thiết kế mẫu. Cuộc thi đã trình diễn cho
khán giả những mẫu trang sức đẹp và mới nhất thời kì đó. Thông qua cuộc thi này, công
chúng hiểu biết nhiều hơn về Hiệp hội vàng trang sức Việt Nam, Tạp chí Thời trang Mỹ
nghệ và Kim hoàn (vốn lâu nay chỉ đợc những ngời trong ngành biết đến), đồng thời tạo
đợc mối quan tâm thiết thực hơn từ phiá ngời tiêu dùng_không chỉ dùng trang sức mà
còn tìm cách tạo ra sự mới mẻ độc đáo đầy tính thẩm mỹ của trang sức.
Vơng miện "Nữ hoàng trang sức"
Hiện nay, thu nhập của ngời dân ngày càng tăng lên, nhu cầu tiêu dùng vàng
trang sức tăng lên mang đến nhiều cơ hội tốt cho các doanh nghiệp. Tuy còn nhiều vấn
đề cần bàn về chính sách của nhà nớc dành cho ngành vàng, nhng với những nỗ lực của
mỗi công ty, doanh
6
nghiệp để tạo ra những nét mới, thị trờng vàng trang sức Việt Nam đang là một thị trờng

có tiềm năng, đang phát triển và tiến bộ. Hi vọng ngày càng có nhiều sáng kiến cũng nh
những kết quả mới tốt đẹp của ngành vàng trang sức Việt Nam.
1.1.2 Tình hình cung trên thị trờng vàng trang sức Hà Nội
Trên địa bàn Hà Nội hiện nay, có khoảng trên 400 doanh nghiệp kinh doanh
vàng trang sức bán lẻ lớn nhỏ, cung cấp kịp thời các sản phẩm đến ngời tiêu dùng tại các
khu vực khác nhau. Mỗi doanh nghiệp có một mô hình và quan điểm kinh doanh riêng,
tạo nên sự phong phú đa dạng của ngành kinh doanh này. Các cửa hàng quy mô trung
bình tại Hà Nội có số vốn khoảng 2.53 tỉ đồng, có từ 2- 3 công nhân chế tác hoặc gia
công sản phẩm, hoạt động chính của họ là bán hàng và trao đổi ngoại tệ. Các công ty
này thuê một số lợng nhân viên không nhiều, tính cả nhân viên và giám đốc là khoảng 8-
10 ngời.
Trong đó, doanh thu trong một ngày đợc gọi là có hiệu quả ở khoảng trên dới
10 triệu đồng, cha kể những ngày ế ẩm do giá vàng cao hoặc thời tiết xấu không có
khách đến xem hàng. Sau khi tính giá gốc, lợi nhuận thu đợc mỗi ngày là khoảng
800.000đ-1.200.000đ. Con số này là cao nhất trong trờng hợp các sản phẩm bán đợc là
trang sức vàng nhập hoặc vàng tây, nếu là vàng mỹ nghệ 9999 thì con số này là khoảng
300.000đ-400.000đ. Nh vậy, lợi nhuận của ngành vàng không lớn: lãi suất kinh doanh
vàng nguyên chất khoảng 1%-2% (giá vàng mua vào bán ra chênh lệch từ 20.000đ-
30.000đ_tuỳ từng cửa hàng), vàng 70% - 75% (nói chung) có lãi suất cao hơn (con số cụ
thể không đợc cung cấp). Tại Hà Nội , một số doanh nghiệp lớn thờng đợc nhắc đến nh
Công ty vàng bạc Bảo Tín Minh Châu, các chi nhánh của Công ty PNJ, công ty kinh
doanh Mỹ nghệ Vàng bạc Đá quý trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam , một số công ty mới có vốn lớn nh công ty Vàng bạc Đá quý
Phú Quý , trong đó Công ty Vàng bạc Bảo Tín Minh Châu là một công ty lớn có thị
phần chiếm trên dới 20% thị trờng Hà Nội , các công ty khác hầu nh là các cửa hàng có
đăng kí kinh doanh với t cách pháp nhân của một công ty, tuy nhiên hoạt động kinh
doanh còn nhỏ lẻ và cha có khả năng phát triển mạnh.
Có rất nhiều doanh nghiệp đã bớc vào kinh doanh vàng trang sức vì nhìn thấy
khả năng tiềm tàng với nhu cầu đang phát triển hiện nay. Mô hình kinh doanh của họ
hầu hết là cung cấp các sản phẩm trang sức đơn chiếc, chế tác một số sản phẩm do

khách hàng yêu cầu, cung cấp các dịch vụ nh khắc chữ, si bóng..., ngoài ra còn có dịch
vụ thu đổi ngoại tệ (đây là dịch vụ tăng thêm mà bất cứ cửa hàng vàng bạc nào cũng
cung cấp do nó đem lại một nguồn thu tơng đối ổn định, ngoài ra đây cũng là một cách
quảng bá các sản phẩm của cửa hàng mình với khách trao đổi ngoại tệ).
Nguồn hàng chính cung cấp cho các cửa hàng này thờng là từ thành phố Hồ
Chí Minh (các sản phẩm vàng tây 70%, 75%) do Việt Nam chế tác, một số nhập khẩu từ
nớc ngoài đối với các sản phẩm trang sức cao cấp (vàng ý, ý cao cấp), các sản phẩm mĩ
nghệ vàng ta, vàng công nghệ thờng lấy từ các xởng chế tác tại Hà Nội. Loại sản phẩm
bày bán nhiều nhất là dây, hoa tai và nhẫn. Chỉ riêng ba loại sản phẩm này chiếm tới
60%-70% lợng các sản phẩm đợc bày bàn tại các cửa hàng; các sản phẩm khác (gồm
kiềng, mặt, lắc tay, lắc chân, vòng) chiếm tỉ lệ không đáng kể. Các sản phẩm nh vàng ý,
ý cao cấp không nhập trực tiếp từ Italia, mà nhập qua n ớc thứ ba nơi có chi nhánh hay
7
đại lý của các hãng sản xuất. Các sản phẩm mới vào Việt Nam nh Thái Lan, Hàn Quỗc,
Trung Quốc nhập vào qua biên giới và số l ợng không nhiều, chỉ phục vụ cho một
nhóm khách hàng trung bình, có nhu cầu về sản phẩm nhiều mẫu mã và giá rẻ (đặc biệt
là giới học sinh sinh viên, những ngời mới đi làm).
Ngoài các sản phẩm đợc nhắc tới ở trên, thị trờng Hà Nội còn dành một phần
cho các sản phẩm của các hãng nổi tiếng thế giới. Có nhiều công ty vàng trang sức nớc
ngoài đã vào Việt Nam nhằm đối tợng những ngời giàu có và sành tiêu dùng đồ trang
sức, nhằm giới thiệu sản phẩm của mình tại thị trờng Việt Nam. Các thơng hiệu vàng nổi
tiếng thế giới có mặt tại Việt Nam nh Dorgay Pais, Trias, Gucci, Cartier, Tiffany... đợc
phân phối tại các trung tâm lớn hay một số hiệu bán lẻ, chiếm một thị phần rất nhỏ. Sự
hiện diện của các hãng nớc ngoài tại Việt Nam cũng nh tại Hà Nội thực tế ít đợc ngời
tiêu dùng biết đến mà chỉ thờng đợc biết là các loại vàng nh vàng ý, vàng ý cao cấp,
vàng Nga... tuy các nhãn hiệu này cũng đợc giới thiệu trên một số tạp chí, báo thời
trang, báo điện tử về trang sức... Có thể do giá của các sản phẩm này tơng đối cao so với
khả năng tiêu dùng của đa số khách hàng nên ít đợc các cửa hàng bày bán, tầm ảnh hởng
của các hãng này tại thị trờng Hà Nội rất nhỏ bé (mới chỉ thấy sự xuất hiện của sản
phẩm trang sức Dorgay Paris tại Hà Nội Tower trên phố Hai Bà Trng). Các cửa hàng

vàng nhập một số mẫu của các hãng này nhằm làm phong phú thêm cho các mặt hàng
của mình, chờ đón cơ hội thị trờng và một bộ phận khách hàng chơi sang. Các sản
phẩm này sẽ hứa hẹn nhiều tiềm năng trong thời gian tới.
Hiện nay có rất nhiều trung tâm mua bán, siêu thị mọc lên và là cơ hội để trng
bày và bán sản phẩm. Vàng trang sức đợc bày bán nhiều nhất tại ba trung tâm là Tràng
Tìên Plaza (đờng Tràng Tiền, Quận Hoàn Kiếm), Hà Nội Tower (đờng Hai Bà Trng,
Hoàn Kiếm) và Vincom (đờng Bà Triệu, quận Hai Bà Trng). Tại đây hầu hết là các sản
phẩm cao cấp, mẫu mã đẹp, giá bán cao. Những trung tâm nh thế này đã gây đợc sự chú
ý của ngời dân bởi quy mô và sự đảm bảo về chất lợng của các sản phẩm đợc bày bán.
Ngoài ra còn có một số trung tâm khác nh BigC (Khu đô thị Trung Hoà Nhân Chính),
Star Bowl (đờng Phạm Ngọc Thạch)... tuy lợng hàng còn ít nhng cũng đã tạo cơ hội cho
khách hàng đợc ngắm và chọn mua một số sản phẩm trang sức mà mình thích khi đi siêu
thị. Tuy nhiên, với nhiều ngời thì các trung tâm mua bán, các siêu thị vẫn là những nơi
có giá tơng đối cao và họ chỉ đến ngắm, đến xem cho biết. Do vậy, một số công ty cho
trng bày sản phẩm tại đây phần nhiều để quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và tên tuổi của
mình.
Ngoài các trung tâm, các hiệu vàng trang sức thờng tập trung tại những khu dân
c đông đúc, có nhu cầu mua sắm và làm đẹp, nh khu phố Cầu Gỗ, phố Hàng Bạc, Hàng
Bông; khu phố Trần Nhân Tông (nơi "đại bản doanh " của cửa hàng vàng trang sức Bảo
Tín Minh Châu), Khâm Thiên, đờng Giảng Võ... Tại những khu này, hoạt động mua bán
vàng trang sức, trao đổi, thanh toán diễn ra khá sôi nổi và thờng xuyên. Đặc biệt, có một
số cửa hàng luôn luôn đông khách, điển hình nh cửa hàng Bảo Tín Minh Châu tại số 29
Trần Nhân Tông. Tại cửa hàng này, lợng khách hàng có mặt trung bình 25-30ngời/1h.
Trên phố cổ, hoạt động mua bán còn sôi nổi hơn do đây là nơi có nghề truyền thống về
chạm khảm chế tác đồ trang sức bằng các loại chất liệu nên gây đợc sự chú ý của công
chúng từ khá lâu nay; việc hình thành các tuyến phố đi bộ cũng khiến hoạt động mua
bán ở đây trở nên sầm uất
8
hơn do ngời đi bộ có thể dễ dàng tạt vào một cửa hàng xem rồi hứng thú sẽ
mua, đồng thời thờng xuyên có lợng nhất định khách du lịch nớc ngoài mua bán trang

sức, trao đổi ngoại tệ tại các cửa hàng. Các cửa hàng còn lại thờng tập trung tại nơi nh
gần các điểm của ngõ vào thành phố, các ngã ba, ngã t, gần chợ; một số xuất hiện lẻ tẻ
trên các đoạn đờng đông ngời qua lại nh Phạm Ngọc Thạch, Bạch Mai, Bà Triệu, khu
Cầu Giấy...
Để thúc đẩy hoạt động kinh doanh, chế tác vàng trang sức, khuyến khích các
công ty nâng cao chất lợng sản phẩm của mình, trong vài năm gần đây Hiệp hội vàng
trang sức Việt Nam tổ chức các hội chợ Thời trang mỹ nghệ kim hoàn Việt Nam tại Hà
Nội. Hội chợ triển lãm lần thứ nhất đợc tổ chức từ ngày 29-12-2004 đến 3-1-2005 tại
Cung văn hoá Hữu Nghị Việt Xô, thu hút hơn 100 doanh nghiệp tham gia. Hội chợ lần
thứ hai tổ chức tại Trung tâm triển lãm Giảng Võ từ 22 đến 27-11-2005. Các doanh
nghiệp mang đến hội chợ những sản phẩm mới nhất độc đáo nhất và đảm bảo chất lợng
của mình. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp quảng bá về sản phẩm của mình với các
doanh nhân nớc ngoài và khách hàng, đồng thời thông qua đây để tìm kiếm đối tác, cơ
hội thị trờng xuất khẩu ra nớc ngoài. Khách hàng cũng có dịp ngắm ngía và chọn lựa
cho mình những sản phẩm đẹp và độc đáo.
Một số hình ảnh minh hoạ cho hội chợ
Tuy vậy, không phải doanh nghiệp nào cũng cho đây là cơ hội tốt và sẵn sàng
tham gia. Nguyên nhân là do chi phí tham gia hội chợ khá cao, trong khi đó khả năng
bán đợc hàng không thực sự đảm bảo, khả năng quảng cáo tuy cũng có nhng sẽ không
hiệu quả nếu doanh nghiệp không có một sản phẩm độc đáo hay một tiện ích mới mẻ
thu hút đợc khách hàng từ mọi nơi đến với mình. Các doanh nghiệp tham gia Hội chợ
hầu hết là các doanh nghiệp tơng đối lớn và đang có chiến lợc mở rộng kinh doanh, thu
hút đầu t và phát triển thị trờng.
9
Hà Nội đợc đánh giá là nơi phát triển kinh tế năng động của cả nớc. Nhà nớc
vừa có những cải cách theo hớng có lợi về chính sách đầu t nớc ngoài, những quy định
về kinh doanh vàng trang sức. Thêm vào đó, nhu cầu tiêu dùng của ngời dân cũng tăng
lên. Môi trờng này đang tạo ra những cơ hội lợi nhuận trên thị trờng vàng trang sức hiện
nay và thu hút ngày càng nhiều hơn các nhà kinh doanh tham gia, tạo nên sự cạnh tranh
mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp và sự phát triển sôi nổi của thị trờng này. Thị trờng

vàng trang sức mang những đặc thù riêng biệt, không có ở bất cứ thị trờng nào khác.
Nhìn nhận những đặc điểm, nhu cầu thị trờng, những cơ hội mới và khả năng có đợc của
mỗi doanh nghiệp, chọn cho mình một hớng đi thích hợp tạo tiền đề cho sự phát triển và
mở rộng: đó là việc mà mỗi doanh nghiệp kinh doanh vàng trang sức cần làm trong giai
đoạn hiện nay.
1.2 Các hình thức kinh doanh vàng trang sức
Dịch vụ chủ yếu của thị trờng vàng trang sức hiện nay bao gồm bán, mua, trao
đổi các loại vàng trang sức: vàng ý, ý cao cấp, vàng Nga, vàng mĩ nghệ (làm từ vàng
9999), vàng tây (vàng 70%, 75% thờng gọi là vàng Sài Gòn), vàng công nghệ Italy, vàng
trắng, vàng Hàn Quốc, vàng Thái... Mới đây trên thị trờng có một số sản phẩm đợc giới
thiệu là vàng Trung Quốc, vàng Đài Loan... Đây là những dịch vụ đáp ứng cho nhu cầu
chính của công chúng về sản phẩm này.
Trớc đây, khi cha hình thành một thị trờng với đầy đủ các nhu cầu và nguồn
cung nh hiện nay, các hoạt động này chỉ phục vụ cho một phần nhỏ thị trờng, dới góc độ
của một nghề truyền thống: nghề chạm bạc. Ngày nay, với xu thế phát triển, mọi hoạt
động đều chịu sự điều chỉnh của thị trờng, phụ thuộc thị trờng, cần có sự phong phú đa
dạng về các loại hình dịch vụ đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Các dịch vụ khác
nh chế tác các mẫu sản phẩm do khách hàng yêu cầu, t vấn tiêu dùng, hớng dẫn lựa chọn
và bảo quản trang sức, si bóng, khắc chữ, sửa chữa các sản phẩm...hình thành trong quá
trình phát triển. Tất cả các hoạt động này đều là các hoạt động phụ trợ nhằm thúc đẩy
hiệu quả kinh doanh, tạo thiện cảm và uy tín đối với khách hàng. Bên cạnh các yếu tố
về chất lợng sản phẩm, mẫu mã, giá cả thì những dịch vụ này hiện nay rất cần thiết. Một
nhu cầu không mới nhng phải đến bây giờ những nhu cầu nh thế này mới đợc một số
cửa hàng quan tâm và cũng chỉ có một số làm tốt. Các cửa hàng chỉ có thể cạnh tranh
nhau qua các dịch vụ này. Tuy vậy, nói chung các dịch vụ này ở Hà Nội cha thực sự tốt,
các doanh nghiệp cần đa thêm nhiều tiện ích mới, dịch vụ mới , mở rộng nhu cầu của
ngời tiêu dùng mới có thêm nhiều khả năng để tăng lợi nhuận. Theo điều tra, rất nhiều
khách hàng mong muốn có đợc sản phẩm độc đáo do mình tự thiết kế. Đây là một yêu
cầu tơng đối khó cho các cửa hàng nhỏ khi không có những thợ gia công đủ trình độ, vì
10

vậy đành bỏ mất cơ hội kiếm lợi nhuận lớn. Đồng thời đây có thể là một hớng đi cho các
doanh nghiệp nhỏ bởi nếu làm theo hình thức này có thể thu hút rất nhiều khách hàng
mà nguồn đầu t ban đầu không lớn, nguồn thu từ các dịch vụ phụ trợ sẽ tăng lên.
Thực tế, trên thị trờng đã có những doanh nghiệp tự thiết kế và chế tác và bán ra
các sản phẩm này. Cửa hàng có những thiết kế nổi tiếng nh Bảo Tín Minh Châu (ngày
nay công ty này đã trở thành công ty chế tác và bán háng nổi tiêng khắp Việt Nam). Các
doanh nghiệp nhỏ thờng có ít nhân viên, và chỉ một hoặc hai ngời làm thợ chế tác, (trình
độ không đợc đánh giá cụ thể), thợ chế tác giỏi thì lơng cao mà mức lợi nhận có hạn nên
các doanh nghiệp không muốn đầu t. Tuy nhiên nếu đa yếu tố này trở thành một chiến l-
ợc kinh doanh thì vấn đề chỉ còn là có tìm đợc thợ giỏi hay không và hình thức
Marketing có phù hợp không. Một phần quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các
hiệu vàng trang sức là dịch vụ trao đổi ngoại tệ. Đây là một dịch vụ gia tăng doanh thu,
đồng thời cũng là cách cửa hàng giới thiệu sản phẩm của mình với nhiều ngời và thu hút
khách hàng đến với mình.
Theo số liệu điều tra (bảng số liệu bên dới), 50.8% những ngời đợc hỏi đánh
giá về dịch vụ cung cấp vàng trang sức hiện nay tại Hà Nội ở mức bình thờng (ý kiến
này thuộc về những ngời trẻ, hoặc những ngời dùng trang sức thờng xuyên và khá sành),
39.3% hài lòng (những ngời dùng ít, ngời già). Điều này cho thấy, khi nhu cầu về trang
sức tăng lên thì chất lợng phục vụ nh hiện nay sẽ không đợc khách hàng chấp nhận. Vì
vậy, vấn đề hiện nay của các doanh nghiệp là cần nâng cao và mở rộng các hoạt động
phục vụ khách hàng, tạo thêm cơ hội mới cho chính mình.
Anh (chi) thay dich vu cung cap vang trang suc hien nay tot chua? can thay doi hay bo sung gi ko?
Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent
Valid
rat tot 1 1.4 1.6 1.6
Tot 23 32.9 37.7 39.3
binh thuong 31 44.3 50.8 90.2
can bo sung.... 5 7.1 8.2 98.4
Khongquantam 1 1.4 1.6 100.0
Total 61 87.1 100.0

Missing System 9 12.9
Total 70 100.0
Bảng 1
1.3 các chính sách Marketing - mix của các doanh nghiệp kinh
doanh vàng trang sức
11
Một cách tổng quan, sản phẩm giá cả và chất lợng của vàng trang sức trên thị
trờng hiện nay ở mức trung bình. Dù không mong muốn nhng đây là một thực tế không
thể phủ nhận. Các doanh nghiệp vẫn đang cố gắng rất nhiều nhằm cải thiện tình hình.
1.3.1 Sản phẩm
Sản phẩm bao gồm dây đeo cổ, nhẫn, hoa tai, vòng, lắc, kiềng, mặt (dùng kèm
với dây); trong đó dây, nhẫn và hoa tai là nhiều nhất. Đây là những sản phẩm quen thuộc
với ngời tiêu dùng và đợc sử dụng nhiều nhất. Chất liệu bao gồm: các loại vàng 9999,
vàng 70%, 75%, vàng 58.5% (vàng Nga). Sau một thời gian lên cơn sốt về việc ngời dân
thi nhau mua vàng 9999 về đeo, xu hớng này ngày nay đã nhờng chỗ cho các sản phẩm
làm từ vàng 70%, 75% vừa rẻ vừa nhiều màu sắc để chọn lựa. Hiện nay trên thị trờng có
xuất hiện một số loại vàng đợc kí hiệu là vàng 68%, 67%, 66%... nhng cha rõ tiêu chuẩn
do cơ quan nào cung cấp. Vấn đề tuổi vàng đã và đang là vấn đề đau đầu của những nhà
quản lí ngành kinh doanh này. Chất lợng sản phẩm là điều khó đánh giá, vì ngời tiêu
dùng chỉ nhìn thấy vẻ ngoài sáng bóng, thấy đẹp là chọn mua, còn vấn đề tuổi vàng vốn
khó xác định, đôi khi chính họ cũng không để ý. Hơn nữa, trong quan điểm của một số
ngời, trang sức chỉ cần thoả mãn một yếu tố là làm đẹp; trong đa số khách hàng yêu cầu
vàng cần đủ chất lợng xứng đáng với số tiền họ bỏ ra. Trong những khách hàng đợc hỏi
có 18.5% số ngời tự cho là có thể phân biệt các loại vàng, 81.5% số còn lại không phân
biệt đợc hoặc còn nhầm lẫn. Đơn giản chỉ là phân biệt các loại nh vàng ta, vàng ý, vàng
Nga hay vàng Sài Gòn đôi khi còn nhầm lẫn, nên việc không thể xác định đợc tuổi vàng
là điều dễ hiểu. Khách hàng mua nhiều có thể nhận ra ở mỗi sản phẩm đều có dấu hiệu
đợc khắc trên mặt, tuy nhiên đây là một dấu hiệu không rõ ràng trong trờng có gian trá
của các hãng kinh doanh. Do tình trạng này, sản phẩm trang sức của Việt Nam bị đánh
giá là không có tiêu chuẩn, và thờng bị đánh bật khỏi thị trờng thế giới. Mới đây, một

số công ty đã trang bị máy kiểm tra tuổi vàng (có đặt tại Bảo Tín Minh Châu, Ngân hàng
Nhà nớc), đồng thành lập hội đồng kiểm tra đánh giá tuổi vàng.
ảnh minh hoạ cho một số mẫu mới
12

×