Tải bản đầy đủ (.pdf) (77 trang)

Nghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng và biện pháp kỹ thuật nhân giống chè trung du tại xã La Bằng - huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (432.75 KB, 77 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM




NGUYỄN THỊ THU THỦY




Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN CÂY ĐẦU DÒNG VÀ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CHÈ TRUNG DU TẠI
XÃ LA BẰNG - HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN



KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC




Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Khoa : Nông học
Khoá : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn : TS. Dương Trung Dũng






Thái Nguyên, 2014

1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU


1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Cây chè (Camellia Sinensis (L) O.Kuntze) là loại cây công nghiệp
dài ngày có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, là cây trồng suất
hiện từ lâu đời, được trồng khá phổ biến trên thế giới. Đặc biệt là một số
quốc giai khu vực Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… Nước
chè thà thứ nước uống tốt, rể tiền hơn cà phê, ca cao, có tác dụng giải khát,
chống lạnh, khắc phục sự mệt mỏi của cơ thể, kích thích hoạt động của hệ
thần kinh, hệ tiêu hóa và chữa được một số bệnh đường ruột. Đặc biệt chất
Tanin trong chè có khả năng hút chất phóng xạ, do đó nó còn chống lại
được một số bệnh do chất phóng xạ gây ra [6]. Chính vì các đặc tính ưu
việt trên chè đã chở thành sản phẩm đồ uống phổ biến trên toàn thế giới.
Hiện nay đã có trên 40 nước trên thế giới sản xuất chè, trong khi có trên
200 nước tiêu thụ chè. Đây chính là một lợi thế tạo điều kiện cho việc sản
xuất chè ngày càng phát triển [15].
Cây chè được trồng ở Việt Nam từ lâu đời (4000 năm), hiện nay đã
được phát triển ở 34 tỉnh, thành phố trong cả nước. Cây chè ở Việt Nam
cho năng suất, sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế. Với ưu thế
là một cây công nghiệp dễ khai thác, nguồn sản phẩm đang có nhu cầu lớn

về xuất khẩu cũng như tiêu dùng trong nước. Cây chè được coi là cây mũi
nhọn, một thế mạnh của khu vực Trung Du và miền núi [2].
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ, điều kiện đất đai và
thời tiết khá thích hợp cho việc phát triển cây chè. Toàn tỉnh hiện có 18.138 ha
chè, năng suất búp tươi bình quân đạt 108,73 tạ/ha, sản lượng gần 181.020 tấn
(năm 2011). Hiện nay, cây chè Thái Nguyên trở thành một trong những cây

2

trồng mũi nhọn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải thiện đời sống
nhân dân trong tỉnh. Thái Nguyên là một tỉnh tập trung nhiều giống chè trong
đó điển hình nhất là giống chè Trung du.
Giống Trung du thuộc thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis
Var. Macrophilla), đây là giống trồng hạt chiếm diện tích đa số trong các
vườn chè của nông dân ở vùng Trung Du và vùng đồi thấp, chúng mang
các tên giống địa phương như Trung du Phú Thọ, Trung du Thái Nguyên.
Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Chè, giống Trung du chiếm tới
40% diện tích ở các điểm điều tra.
Giống chè Trung du từ lâu đã được coi là khởi thủy của cây chè Việt
Nam. Theo kết quả của các nhà nghiên cứu về chè thì chè Trung du được
di thực từ Vân Nam (Trung Quốc) vào Việt Nam từ rất lâu, đã thích nghi,
ổn định và phù hợp với điều kiện đất đai thổ nhưỡng vùng Trung Du. Được
mặc nhiên mang tên chè Trung du. Do vậy mà cây chè Trung du gắn liền
với tập quán sinh sống của người nông dân vùng Trung Du miền núi phía
Bắc. Đây là lợi thế của giống chè Trung du cần được nghiên cứu để phát
triển trong sản xuất. Hiện nay hầu hết các nương chè Trung du chủ yếu do
trồng bằng hạt thường không được chọn lọc nên quần thể nương chè lẫn
tạp, năng suất thấp.
Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng và biện pháp kỹ thuật nhân giống

chè trung du tại xã La Bằng - huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Điều tra tuyển chọn được những cây chè Trung du ưu tú cho năng suất
cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện ngoại cảnh tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá được khả năng sinh trưởng, phát triển của một số cá thể
chè Trung du.
- Đánh giá được khả năng nhân giống của cây chè Trung du ưu tú.

3

1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành việc
nghiên cứu khoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lý và khoa
học trong công việc để đạt được hiệu quả cao trong quá trình làm việc.
Đồng thời là cơ sở để củng cố những kiến thức đã học trong nhà trường và
hoạt động thực tiễn
- Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị cho cán bộ khoa
học kỹ thuật, cho người sản xuất kinh doanh chè, cho giáo viên, sinh viên,
học viên học tập, nghiên cứu về cây chè.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Chọn được các cây chè Trung du ưu tú làm vườn ươm cây giống
gốc có năng suất cao, chất lượng tốt, cung cấp hom chè giống đảm bảo
đồng đều nâng cao năng suất và chất lượng nương chè.
- Góp phần bảo tồn giống chè Trung du mang nhiều đặc tính quý.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
- Điều tra đánh giá về năng suất, chất lượng, khả năng sinh trưởng,
tuyển chọn cây chè Trung du ưu tú.
- Đề tài nghiên cứu được giới hạn trong huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên.











4

PHẦN 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1.1. Cơ sở khoa học
Giống Trung du: thuộc thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis
Var. Macrophilla), đây là giống trồng hạt chiếm diện tích đa số. Đặc điểm
giống Trung du thuộc loại hình thân gỗ nhỡ, có thân chính rõ rệt, chiều cao
phân cành thấp. Giống Trung du có lá to trung bình, chiều dài lá từ 12-14
cm, chiều rộng lá 5-7 cm. Khối lượng của búp là 0,7- 0,78 gam/búp. Do
trồng bằng hạt thường không được chọn lọc nên quần thể cây trồng rất lẫn
tạp, năng suất thấp (bình quân chỉ đạt 5 – 6 tấn/ha). Chất lượng của búp
thuộc loại khá, thích hợp để chế biến chè xanh, chè đen. Hàm lượng tanin
của giống Trung du đạt trên 26,30%, chất hoà tan 51,40%. Giống Trung du
có khả năng chống chịu sâu bệnh, hạn hán khá tốt, có tính thích ứng cao và
khá rộng với các vùng chè.
2.1.2. Cơ sở thực tiễn
Chè là cây lâu năm, nở hoa hàng năm. Cây chè sau trồng 2 - 3 năm

đã có khả năng ra hoa. Cây chè có từ 2000 - 4000 nụ hoa/năm, nhưng tỷ lệ
đậu quả rất thấp, thường chỉ đạt từ 2 - 4 %. Hoa chè là hoa lưỡng tính
nhưng khả năng tự thụ của hoa chè rất thấp, hầu hết các quả chè là kết quả
của sự thụ phấn khác hoa, đây là nguyên nhân quan trọng làm cho cây chè
mọc từ hạt có sự phân ly lớn về hình thái, về khả năng cho năng suất, chất
lượng. Nói chung những cây chè con mọc từ hạt có sự phân ly lớn so với
cây mẹ.
Mặt khác chè là cây thân gỗ, ngoài khả năng nhân giống bằng hạt thì
người ta có thể nhân giống chè bằng phương pháp nhân giống vô tính như
phương pháp nuôi cấy mô tế bào, ghép cành, giâm cành… Ưu điểm của

5

phương pháp nhân giống vô tính là hệ số nhân giống cao, cây con giữ được
những đặc tính tốt của cây mẹ, vườn chè có độ đồng đều cao, có khả năng
cho năng suất cao hơn so
với trồng hạt, nguyên liệu có độ đồng đều cao, dễ canh tác, thu hái và chế
biến. Dựa trên cơ sở khoa học này, ngày nay ở hầu hết các cơ sở sản xuất
chè trên thế giới cũng như Việt Nam, các giống chè thường được nhân
giống bằng phương pháp giâm cành.
Khả năng giâm cành của chè phu thuộc vào nhiều yếu tố nhưng
trong đó có 3 yếu tố quan trọng đó là yếu tố hom giống. Thời vụ giâm cành
(điều kiện môi trường ngoại cảnh) và các biện pháp kỹ thuật chăm sóc
trong vườn ươm.
Giống chè Trung du của tỉnh Thái Nguyên, hầu hết được mọc từ hạt do
vậy có độ phân li rất lớn về sinh trưởng, phát triển và các đặc điểm hình thái.
Những vấn đề trên là cơ sở thực tiễn quan trọng của đề tài. Nghiên
cứu chọn lọc cây đầu dòng phục vụ công tác nhân giống cho vùng.
2.2. Nguồn gốc, phân loại và sự phân bố cây chè
2.2.1. Nguồn gốc cây chè

Nghiên cứu về nguồn gốc của cây chè là một vấn đề phức tạp, cho
đến nay còn rất nhiều quan điểm chưa được thống nhất. Trong đó một số
quan điểm đáng tin cậy được nhiều người công nhận nhất là:
* Cây chè có nguồn gốc từ Trung Quốc
Theo Daraselia, Gruzia (1989) thì các nhà khoa học Trung Quốc như
Schenpen, Jaiding … đã giải thích sự phân bố của cây chè mẹ ở Trung Quốc
như sau: Tỉnh Vân Nam là nơi bắt đầu của hàng loạt con sông lớn đổ về các
con sông ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma. Đầu tiên, cây chè mọc ở
Vân Nam, sau đó hạt chè di chuyển trôi theo dòng nước đến các vùng nói trên
và lan sang các vùng khác. Cũng theo Daraselia, dựa trên cơ sở học thuyết

6

“Trung tâm khởi nguyên cây trồng” của Vavilop thì cây chè có nguồn gốc ở
Trung Quốc, phân bố ở khu vực Đông nam, men theo cao nguyên Tây Tạng [7].
* Chè có nguồn gốc từ vùng Assam (Ấn Độ)
Năm 1823, R.Bruce đã phát hiện được những cây chè dại lá to ở
vùng Atxam (Ấn Độ ), từ đó các học giả người Anh cho rằng: Nguyên sản
của cây chè là ở vùng Atxam chứ không phải ở Vân Nam - Trung Quốc [7].
* Chè có nguồn gốc ở Việt Nam
Những công trình nghiên cứu của Djemukhatze (1961 - 1976) về phức
catechin của lá chè có nguồn gốc khác nhau, so sánh về thành phần các chất
catechin của lá chè được trồng trọt và mọc hoang dại đã nêu lên luận điểm
về sự tiến hoá sinh hoá của cây chè và trên cơ sở đó xác minh “Nguồn gốc
cây chè chính là ở Việt Nam”[7].
Các quan điểm nêu trên tuy có khác nhau về địa điểm nhưng đều có
điểm chung thống nhất là: Nguyên sản của cây chè là ở châu Á, nơi có điều
kiện khí hậu nóng ẩm [7].
2.2.2. Phân loại cây chè
Khi nghiên cứu về cây chè, năm 1753 nhà thực vật học nổi tiếng

Line đã đặt tên cho cây chè là: Thea sinensis, sau lại đặt là Camellia
Sinensis. Vấn đề này cũng được nhiều nhà nghiên cứu tranh luận và cũng
có rất nhiều cách đặt tên. Theo Nguyễn Ngọc Kính thì cách phân loại của
Cohen Stuart (1919) được các nhà thực vật học thống nhất đến nay:
Cây chè thuộc:
- Ngành Hạt kín Angiospermae
- Lớp Song tử diệp Dicotyledonae
- Bộ Chè Theales
- Họ Chè Theaceae
- Chi Chè Camellia (Thea)
- Loài Camellia Sinensis

7

Dựa vào các đặc điểm thực vật học, đặc điểm sinh hóa, nguồn gốc
phát sinh cây chè Cohen Stuart chia Camellia Sinensis ra làm bốn thứ:
a) Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var. Bohea)
Đặc điểm:
- Cây bụi thấp phân cành nhiều.
- Lá nhỏ, dày nhiều gợn sóng, màu xanh đậm, lá dài 3,5 - 6,5 cm.
- Có 6 - 7 đôi gân lá không rõ, răng cưa nhỏ, không đều.
- Búp nhỏ, hoa nhiều, năng suất thấp, phẩm chất bình thường.
- Khả năng chịu rét ở độ nhiệt -12
0
C đến -15
0
C.
Phân bố chủ yếu ở miền đông, đông nam Trung Quốc, Nhật Bản và
một số vùng khác.
b) Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var. macrophylla)

Đặc điểm:
- Thân gỗ nhỡ cao tới 5m trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên.
- Lá to trung bình chiều dài 12 - 15 cm, chiều rộng 5 - 7 cm, màu
xanh nhạt, bóng, răng cưa sâu không đều, đầu lá nhọn.
- Có trung bình 8 - 9 đôi, gân lá rõ.
- Năng suất cao, phẩm chất tốt.
- Nguyên sản ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc).
c) Chè Shan (Camellia sinensis var. Shan)
Đặc điểm:
- Thân gỗ, cao từ 6 đến 10 m.
- Lá to và dài 15 - 18 cm màu xanh nhạt, đầu lá dài, răng cưa nhỏ
và dày.
- Tôm chè có nhiều lông tơ, trắng và mịn trông như tuyết, nên còn
gọi là chè tuyết.
- Có khoảng 10 đôi gân lá.

8

- Có khả năng thích ứng trong điều kiện ấm ẩm, ở địa hình cao, năng
suất cao, phẩm chất thuộc loại tốt nhất.
- Nguyên sản ở Vân Nam - Trung Quốc, miền Bắc của Miến Điện và
Việt Nam.
d) Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var. assamica)
Đặc điểm:
- Thân gỗ cao tới 17 m phân cành thưa.
- Lá dài tới 20 - 30 cm, mỏng, mềm, thường có màu xanh đậm, dạng
lá hình bầu dục, phiến lá gợn sóng, đầu lá dài.
- Có trung bình 12 - 15 đôi gân lá.
- Rất ít hoa quả.
- Không chịu được rét hạn.

- Năng suất, phẩm chất tốt.
Trồng nhiều ở Ấn Độ, Miến Điện, Vân Nam (Trung Quốc) và một số
vùng khác.
2.2.3. Sự phân bố của cây chè
Sự phân bố của cây chè phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu. Các
kết quả nghiên cứu đều đưa đến một kết luận chung là: Vùng khí hậu nhiệt
đới, á nhiệt đới thích hợp cho cây chè. Ngày nay, do trình độ khoa học kỹ
thuật ngày càng phát triển đã lai tạo, chọn lọc ra nhiều giống chè khác nhau
và được trồng rộng rãi ở nhiều nước khác nhau trên thế giới. Theo PGS. Đỗ
Ngọc Quỹ [8], thì hiện nay chè được phân bố khá rộng từ 42º vĩ Bắc Pochi
(Liên Xô cũ) đến 27º Nam Coriente (Achentina).
Sự phân bố của cây chè theo điều kiện khí hậu đất đai và địa hình
cũng có sự khác nhau. Đất trồng chè tốt phải nhiều mùn, thoát nước tốt và
có độ dốc thoải. Ảnh hưởng của độ cao đã hình thành nên các vùng chè với
nhiều giống chè, chất lượng khác nhau. Các nhà khoa học cho rằng: Chè

9

trồng ở những vùng có độ cao lớn hơn so với mặt nước biển thường có chất
lượng tốt hơn so với chè trồng ở vùng thấp.
Về điều kiện khí hậu, chè sinh trưởng tốt ở điều kiện nhiệt độ từ
15ºC đến 20ºC, tổng nhiệt độ hàng năm vào khoảng 8.000ºC; lượng mưa
trung bình hàng năm 1500 – 2000 mm; độ ẩm đất 70 - 80%. Tuy nhiên với
khả năng thích nghi rộng cùng với sự tiến bộ của khoa học hiện nay chè
được trồng ở những vùng khắc nghiệt hơn [7].
2.2.4. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây chè
Chè là cây công nghiệp lâu năm có chu kì kinh tế dài, sản phẩm cho
thu hoạch chính là lá và búp non. Trong thời gian sống cây chè trải qua 2
chu kì phát triển lớn và chu kì phát triển nhỏ.
- Chu kỳ phát triển lớn bao gồm suốt cả đời sống của cây chè được

chia làm 5 giai đoạn: Giai đoạn phôi thai, đây là giai đoạn đầu tiên của cây
chè chủ yếu nằm ở vườn chè giống lấy hạt hoặc lấy cành -> giai đoạn cây
con trong vườn ươm -> giai đoạn cây con -> giai đoạn cây chè trưởng
thành -> giai đoạn chè già cỗi.
- Chu kỳ phát triển nhỏ (chu kỳ phát triển hàng năm) bao gồm giai
đoạn sinh trưởng và giai đoạn tạm ngừng sinh trưởng. Giai đoạn sinh trưởng
của cây chè gồm 2 quá trình hoạt động song song: Sinh trưởng sinh dưỡng và
sinh trưởng sinh thực. Tùy điều kiện ngoại cảnh và sinh trưởng của giống mà
cây chè có những ưu thế sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực
khác nhau.
Những đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây chè là kết quả phản
ánh tổng hợp giữa các đặc điểm của giống (tính di truyền) với các điều kiện
ngoại cảnh. Như vậy nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển của giống
trong các vùng sinh thái khác nhau chúng ta sẽ đánh giá được khả năng
thích ứng của giống trong từng vùng sinh thái, từ đó đề ra các biện pháp kỹ

10
thuật canh tác thích hợp tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển
tốt, cho năng suất búp cao, phẩm chất tốt [4].
Nghiên cứu mối quan hệ giữa giống chè và môi trường sống, tác giả
Carr. (1972), Wickramaratne (1981) cho thấy, sự thay đổi môi trường nếu
không được xem xét kỹ khi lựa chọn giống chè sẽ không phát huy được bản chất
tốt của giống mà còn có tác dụng ngược lại. Cây chè trồng trong môi trường
thích hợp là yếu tố quan trọng quyết định đến sản lượng và chất lượng chè.
2.3. Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè trên Thế giới và trong nước
2.3.1. Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè trên thế giới
2.3.1.1. Tình hình sản xuất chè trên thế giới
Chè là cây trồng có lịch sử lâu đời (khoảng hơn 4000 năm) [7]. Ngày
nay chè là thứ nước uống chủ yếu và phổ biến với những sản phẩm chế
biến đa dạng và phong phú. Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu về giải khát, dinh

dưỡng, thưởng thức chè ở nhiều nước đã được nâng lên tầm văn hóa với cả
những nghi thức trang trọng và thanh cao của trà đạo.
Theo PGS. Đỗ Ngọc Quỹ (2008) [11], quốc gia đầu tiên trên Thế Giới
phát triển sản xuất chè là Trung Quốc, sau đó được truyền bá sang Nhật Bản
vào những năm 805 sau Công Nguyên, vào Indonexia năm 1654, vào Ấn Độ
năm 1780, vào Nga năm 1833, vào Malaixia năm 1914, đến năm 1920 thì
tiến tới các nước Châu Phi như: Kenia, Malavi, Ghine, Trên Thế Giới cây
chè được phát triển với tốc độ rất nhanh, đặc biệt là từ đầu thế kỷ 18 trở lại
đây. Đến năm 2000, đã có hơn 100 nước trồng và xuất khẩu chè.
Theo FAO (2013) thì tình hình sản xuất chè trên Thế Giới tính đến
năm 2011 như sau:

11
* Về diện tích
Bảng 2.1: Diện tích chè của Thế giới và một số nước trồng chè chính
từ năm 2008 – 2012
(Đơn vị tính: ha)
Tên nước
Năm
2008 2009 2010 2011 2012
Trung Quốc 1.215.174

1.437.873

1.419.500

1.514.000

1.513.000
Ấn Độ 474.000 470.000 583.000 580.000 605.000

Indonexia 106.948 107.000 107.800 122.700 122.500
Việt Nam 108.800 111.600 113.200 114.800 115.964
Mianma 76.900 77.500 76.800 79.343 79.000
Nhật 48.000 47.300 46.800 46.200 45.900
Kenya 157.700 158.400 171.900 187.855 190.600
Bangladest 58.005 59.000 59.700 56.670 58.000
Châu Á 2.661.699

2.684.098

2.779.168

2.879.925

2.912.072
Thế giới 2.969.025

2.997.607

3.117.531

3.256.762

3.275.991
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)[18]

Qua số liệu bảng 2.1 cho thấy:
Tính đến năm 2012 diện tích chè trên thế giới đạt 3.275.991 ha tăng
306.966 ha tương đương 9,37% so với năm 2008. Trong đó Trung Quốc là
nước có diện tích trồng chè lớn nhất thế giới với diện tích 1.513.000 ha, chiếm

46,18% tổng diện tích chè toàn thế giới. Ấn Độ là nước đứng thứ 2 với diện
tích là 605.000ha, chiếm 18,47% tổng diện tích chè toàn thế giới. Diện tích
chè Việt Nam đạt 115.964 ha chiếm 3,54% tổng diện tích chè toàn thế giới.

12
Diện tích chè tập trung chủ yếu ở khu vực châu Á chiếm 88,89% (2.912.072
ha) tổng diện tích toàn thế giới, đây cũng là nơi phát sinh ra cây chè.
* Về nằng suất
Bảng 2.2: Năng suất chè của Thế Giới và một số nước trồng chè chính
từ năm 2008 - 2012
(ĐVT: tạ chè khô/ha)
Tên nước
Năm
2008 2009 2010 2011 2012
Trung Quốc 9,820 10,416 10,338 10,834 11,334
Ấn Độ 17,063 17,005 17,001 16,668 16,529
Sri LanKa 14,358 13,065 12,932 14,754 14,867
Kenya 21,928 19,830 23,211 20,117 19,381
Việt Nam 15,947 16,670 17,532 17,997 18,704
Indonesia 14,105 12,992 13,915 11,606 12,253
Myanmar 3,771 3,935 4,219 3,992 4,051
Bangladest 10,172 10,085 10,050 10,676 10,603
Japan 20,104 18,182 18,162 20,565 18,715
Thế giới 14,190 14,152 14,464 14,336 14,707
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)[18]

Qua số liệu Bảng 2.2 cho thấy:
Tính đến năm 2012, năng suất chè trên Thế giới đạt 14,707 tạ chè
khô/ha tăng 0,517 tạ chè khô/ha tương đương 3,51% so với năm 2008.


13
Kenya là nước có năng suất chè lớn nhất đạt 19,318 tạ khô/ ha/năm, cao
hơn 40,35% năng suất chè trung bình thế giới. Mianma là nước có năng
suất thấp nhất chỉ đạt 4,051 tạ chè khô/ha tương ứng 27,54% năng suất chè
Thế giới. Việt Nam tính đến năm 2012 đạt năng suất 18,704 tạ chè khô/ha
vượt hơn năng suất bình quân Thế Giới la 25,54%.
* Về sản lượng
Bảng 2.3: Sản lượng chè của Thế giới và một số nước trồng chè chính
từ năm 2008 – 2012
(Đơn vị tính: tấn)
Tên nước
Năm
2008 2009 2010 2011 2012
Trung Quốc 1.257.384

1.375.780 1.467.467 1.640.310 1.714.902
Ấn Độ 987.000 972.700 991.180 966.733 1.000.000
Sri LanKa 318.700 290.000 282.300 327.500 330.000
Kenya 345.800 314100 399.000 377.912 369.400
Việt Nam 173.500 185.700 198.466 206.600 216.900
Indonexia 150.851 146.440 150.000 142.400 150.100
Turkey 198.046 198.601 235.000 221.600 225.000
Myanmar 29.000 30.500 32.400 31.670 32.000
Bangladest 59.000 59.500 60.000 60.500 61.500
Nhật 96.500 86.000 85.000 95.012 85.900
Thế giới 4.211.397

4.242.280 4.518.060 4.668.968 4.818.118
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)[18]


14
Qua số liệu bảng 2.3 cho thấy:
Sản lượng chè toàn Thế Giới năm 2012 là 4.818.118 tấn tăng
606.721 tấn, tương đương 17,37% so với năm 2008. Trung Quốc là nước
có sản lượng chè lớn nhất, chiếm 26,76% tổng sản lượng chè toàn Thế
Giới. Sản lượng chè thấp nhất là Mianma chỉ đạt 32.000 tấn chiếm 0,66%
tổng sản lượng chè toàn Thế Giới. Sản lượng chè Việt Nam tính đến năm
2012 là 216.900 tấn tương ứng 4,50% tổng sản lượng chè Thế Giới.
2.3.1.2. Tình hình nghiên cứu chè trên Thế Giới
Trung Quốc là quốc gia sản xuất chè hàng đầu thế giới. Nghiên cứu
sử dụng giống chè tốt trong sản xuất được các nhà khoa học Trung Quốc
quan tâm rất sớm.
Ngay từ đời nhà Tống, Trung Quốc đã có 7 giống chè tốt ở Vũ Di Sơn.
Các giống chè Thủy Tiên (1821 - 1850), Đại Bạch Trà (1850), Thiết Quan
Âm đã có từ hơn 200 năm về trước đều là những giống chè chiết cành.
Năm 1956 Trần Khôi Dũ đưa ra phương pháp chọn giống 100 điểm,
đối với cây ăn quả và phương pháp này đã được phát triển theo chiều sâu.
Giống chè được chọn lọc, khảo nghiệm đánh giá bằng cách xác định mối
tương quan giữa các yếu tố hình thái, sinh trưởng của cây chè với sản
lượng hoặc dựa trên mối tương quan giữa các yếu tố với nhau.
Ngoài những giống nổi tiếng từ lâu đời, hiện nay Trung Quốc có nhiều
giống chè cho năng suất cao, chất lượng tố cho cả chế biến chè xanh và chè
đen như: Phúc Vân Tiên (1957 - 1971), Hoa Nhật kim, Hùng Đỉnh Bạch
(Phúc Kiến), Phú Thọ 10 (Vân Nam), Long Vân 2000 (Triết Giang)…
Srilanca rất chú ý đến công tác chọn dòng, kết hợp chọn dòng có sản
lượng cao, có khả năng chống hạn và chống bệnh. Trong những năm 1940
đã chọn ra các dòng chè TRI2020, trong đó có các giống nổi tiếng như
TRI777, TRI2043. Trong những năm 1950, 1960 Srilanca đã chon ra các
dòng chè triển vọng như TRI14, DT, DN, DP và DV [8].


15
Hiện nay diện tích trồng chè bằng các giống chè được nhân giống vô
tính đạt thên 40% diện tích trồng chè trong cả nước.
Theo Srilanca Yamagusgi, Jitanaka (1995), giống chè chủ yếu ở
Nhật Bản là giống chè nhỏ, phù hợp cho chế biến chè xanh.
Công tác chọn dòng cũng đặc biệt chú ý ở Nhật Bản, nhiều giống chè
mới đã được đưa vào sản xuất, trong đó giống Yabukita được trồng phổ
biến nhất chiếm tới 70% diện tích chè ở Nhật Bản.
Kênia mới chỉ bắt đầu sản xuất chè vào nhưng năm 1925 – 1927 tuy
nhiên do có diều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển,
do chú trọng đầu tư, áp dụng các tiến độ kỹ thuật vào sản xuất cho nên
Kênia là một trong những quốc gia có năng xuất chè cao nhất thế giới, đạt
trên 1500kg chè khô/ha. Kênia lần đầu tiên nhập giống chè vào năm 1903
và trồng thành công ở Limuri với diện tích ban đầu là 0,81 ha, cho đến nay
công tác giống được quan tâm rất nhiều ở kênia. Các giống chè chọn lọc,
giâm cành cho năng suất cao hơn giống chè đại trà tới 20%. Diện tích chè
được trồng bằng các giống chọn lọc, giâm cành chiếm tới 67% ở khu vực tiểu
nông và chiếm tới 33% diện tích chè ở các đồn điền lớn. Ngoài nhân giống
bằng hình thức giâm cành, Kênia còn nhân giống bằng hình thức ghép.
2.3.2. Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè ở Việt Nam
2.3.2.1. Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam
Việt Nam có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho cây chè sinh trưởng và
phát triển, với 3/4 diện tích là đồi núi, điều kiện nhiệt độ nóng ẩm. Tuy nhiên,
sản xuất chè ở nước ta chỉ thực sự bắt đầu từ sau những năm 1925 [7].
Trước năm 1890, nhân dân Việt Nam chủ yếu dùng chè dưới dạng
chè tươi, chè nụ. Sau khi người Pháp chiếm đóng Đông Dương thì cây chè
mới được chú ý khai thác. Cây chè Việt Nam được chính thức khảo sát và
nghiên cứu vào năm 1885 do người Pháp tiến hành [7]. Lịch sử phát triển
cây chè ở Việt Nam được chia ra làm các giai đoạn sau:


16
- Giai đoạn 1890 - 1945:
Thời kỳ này diện tích chè phân tán, mang tính tự cấp tự túc, kỹ
thuật canh tác sơ sài, chế biến thủ công chủ yếu sử dụng chè tươi, phương
thức quảng canh là chủ yếu.
- Giai đoạn 1945 - 1954:
Trong giai đoạn này do ảnh hưởng của chiến tranh nên các vườn chè
bị bỏ hoang, ít được đầu tư chăm sóc, diện tích và sản lượng chè đều bị
giảm sút rất nhiều.
- Giai đoạn 1954 - 1990:
Ở giai đoạn này các chương trình phát triển nông nghiệp đã được
hoạch định. Cây chè được xác định là cây có giá trị kinh tế cao có tầm quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là ở vùng Trung
du miền núi.
Trong giai đoạn này còn đánh dấu sự ra đời của 1 số tổ chức sản
xuất, kinh doanh chè như: Tổng công ty chè Việt Nam (VinaTea) vào năm
1987, Hiệp hội chè Việt Nam (ViTas) năm 1988 Các tổ chức này ra đời
đã quản lý và lãnh đạo ngành chè, giúp ngành chè từng bước ổn định và
phát triển.
- Giai đoạn 1990 đến nay:
Từ năm 1990 – 1997 diện tích chè từ 60.000 ha tăng lên 81.700 ha
tăng 26,2%, sản lượng chè khô tăng từ 32,3 nghìn tấn lên 52 nghìn tấn.
Công nghệ chế biến chưa đáp ứng được nhu cầu về chất lượng, sự chồng
chéo về quản lý ngành chè đã phần nào làm cho ngành chè chững lại. Diện
tích chè tăng nhưng năng xuất chè giảm, đời sống người làm chè gặp nhiều
khó khăn.
Trước thực trạng đó việc thành lập Tổng công ty chè Việt Nam,
thống nhất quản lý ngành chè được tiến hành, một số liên doanh liên kết
với nước ngoài được thành lập, công nghệ chế biến bước đầu được chú


17
trọng, đổi mới thị trường xuất khẩu mở rộng sang Tây Âu, Mỹ, Nhật Bản
đã củng cố và tạo được niềm tin cho người trồng chè.
Trong những năm gần đây, nhà nước ta có nhiều cơ chế, chính sách
đầu tư cho phát triển cây chè. Do vậy diện tích, năng suất và sản lượng chè
không ngừng tăng lên.
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Việt Nam
từ năm 2002 – 2012
Năm
Diện tích
chè kinh doanh
(1000ha)
Năng suất
(tạ khô/ha)
Sản lượng
(1000 tấn khô)
2002 77,20 12,20 94,20
2003 86,10 12,11 104,30
2004 92,40 12,93 119,50
2005 97,70 13,56 132,53
2006 102,10 14,79 151,00
2007 107,40 15,27 164,00
2008 108,80 15,95 173,50
2009 111,40 16,67 185,70
2010 113,20 17,53 198,47
2011 114,80 17,99 206,60
2012 115,90 18,70 216,90
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)[18]

Theo kết quả số liệu bảng 2.4 cho thấy:

Từ năm 2002 đến 2012 diện tích, năng suất, sản lượng và xuất khẩu
chè tăng nhanh. Năm 2012 diện tích chè là 115,90 ha, tăng 38,76 ha tương
ứng 33,44% so với năm 2002. Năng suất bình quân năm 2012 là 18,70 tạ
khô/ha, tăng 6,5tạ khô/ha tương ứng 34,75% so với năm 2002. Sản lượng
chè theo đó cũng tăng mạnh đạt 216,90 tấn búp khô vào năm 2012 tăng
122.70 tấn tương ứng 58,04% so với năm 2002.

18
Việt Nam có 35 trên 63 tỉnh, thành phố trồng chè, chủ yếu tập chung
ở vùng trung du miền núi phía Bắc và cao nguyên Lâm Đồng với gần
130.000 ha. Hiện có khoảng 650 nhà máy chế biến chè (công suất từ 2 đến
10 tấn nguyên liệu chè búp tươi/ngày) cùng với hàng ngàn hộ dân lập
xưởng để chế biến tại gia đình. Đội ngũ làm chè lên tới 3 triệu lao động,
chiếm 50% tổng số dân sống trong vùng chè [3].
2.3.2.2. Tình hình sản xuất chè ở Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên là một tỉnh có điều kiện đất đai địa hình, khí hậu
khá phù hợp với sự phát triển của cây chè. Thái Nguyên xác đinh cây chè là
cây công nghiệp chủ lực, đóng góp trong nền kinh tế thị trường.
Thái Nguyên nằm ở vị trí cửa ngõ giao lưu kinh tế giữa vùng Trung
Du Miền Núi phía Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ. Tỉnh Thái Nguyên được bao
bọc bởi các dãy núi cao Bắc Sơn, Ngân Sơn và Tam Đảo. Tỉnh có diện tích
tự nhiên 3.562,82 km
2
, dân số khoảng 1.127.200 người. Thái Nguyên có
phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây tiếp giáp với các tỉnh Vĩnh
Phúc, Tuyên Quang, Phía đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và
phía nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội. Với vị trí địa lý như vậy Thái
Nguyên đã trở thành một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, giáo dục
của khu vực Việt Bắc nói riêng và của vùng Trung Du Miền Núi phía Bắc
nói chung

Thái Nguyên có tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1300 - 1750
giờ và phân phối tương đối đồng đều vào các tháng. Khí hậu Thái Nguyên
chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ
tháng 10 đến tháng 5 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng
2000 - 2500 mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1. Nói chung,
khí hậu Thái Nguyên phù hợp cho phát triển nông, lâm nghiệp đặc biệt là
cho quá trình sinh trưởng, phát triển của cây chè.

19
Thái Nguyên đã quy hoạch vùng sản xuất chè thành 2 vùng chính:
Vùng chè Tân Cương gồm có Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân và vùng
chè Trại Cài. Sản phẩm ở Thái Nguyên với thương hiệu nổi tiếng chè Tân
Cương đã chiếm được một thị trường khá rộng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
của người dân địa phương, trong nước và nhu cầu thế giới, góp phần
phát triển ngành chè Việt Nam trong việc hợp tác kinh tế với các nước
trong khu vực và thế giới.
Người dân có nhiều kinh nghiệm trong trồng trọt và chế biến đặc biệt
có kinh nghiệm sản xuất chè truyền thống từ lâu đời, đã hình thành nên
nhiều vùng chuyên canh cây chè có sản phẩm chè ngon được người tiêu dùng
ưa chuộng như: Tân Cương, Trại Cài Thái Nguyên đã có những bước tăng
trưởng mạnh mẽ cả về diện tích, năng suất, sản lượng cũng như chất lượng
chè và đã trở thành một trong những vùng chè nổi tiếng của cả nước.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Nguyên thì
diện tích, năng suất, sản lượng chè Thái Nguyên trong những năm trở lại
đây được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Thái Nguyên
từ năm 2005 – 2011

Năm
Tổng diện

tích
(ha)

Diện tích
kinh doanh
(ha)

Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
tươi
(nghìn tấn)

Sản lượng
khô
(nghìn tấn)

2005 16.446 14.133 79,42 122,24 24,45
2006 16.716 14.662 88,06 129,11 25,82
2007 16.726 15.118 92,72 140,18 28,04
2008 16.994 15.730 94,88 149,26 29,85
2009 17.309 16.053 98,90 158,70 31,74
2010 17.661 16.289 105,50 171,90 34,38
2011 18.138 16.648 108,73 181,02 36,20
(Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Nguyên năm
2013)[13]

20
Qua bảng 2.5 ta thấy: Diện tích, năng suất, sản lượng chè Thái
Nguyên từ 2005 đến 2011 đều tăng. Năm 2005 tổng diện tích là 16.446 ha

đến 2011 đã tăng lên 18.138 ha. Năng suất chè cũng tăng từ 79,42 tạ/ha
(2005) lên 108,73 tạ/ha (2011).
Với diện tích chè kinh doanh 16.648 ha, sản lượng đạt 181.200 tấn
chè búp tươi (2011), Thái Nguyên đứng thứ hai toàn quốc sau Lâm Đồng
cả về diện tích và sản lượng. Chè Thái được tiêu thụ cả thị trường trong và
ngoài nước, trong đó thị trường nội tiêu chiếm trên 70% sản lượng chè toàn
Tỉnh. Năm 2005, Thái Nguyên xác định mục tiêu phát triển chè trong giai
đoạn 2006 - 2010 là: Tập trung mọi nguồn lực để khai thác hiệu quả, bền
vững tiềm năng và lợi thế của cây chè đặc sản Thái Nguyên trên cơ sở phát
triển đồng bộ sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè gắn với công nghệ cao, kỹ
thuật tiên tiến… nhằm mang lại sản phẩm đa dạng, an toàn và chất lượng,
để chè Thái chiếm lĩnh thị trường trong nước và Thế giới.
Bảng 2.6: Diện tích trồng, diện tích thu hoạch, sản lượng chè của một số
địa phương trong tỉnh Thái Nguyên năm 2011

Địa phương
Diện tích trồng
(ha)
Diện tích thu
hoạch (ha)
Sản lượng
(tấn)
TP Thái Nguyên 1.255 1.106 15.954
Thị xã Sông Công 545 471 4.782
Huyện Định Hóa 2.152 1.945 20.073
Huyện Võ Nhai 714 530 3.950
Huyện Phú Lương 3.811 3.717 40.709
Huyện Đồng Hỷ 2.838 2.525 30.179
Huyện Đại Từ 5.307 4.990 51.604
Huyện Phú Bình 114 101 753

Huyện Phổ Yên 1.402 1.263 13.020
Tổng số 18.138 16.648 181.024
(Nguồn:Theo niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2011)[9]
Qua bảng 2.6 ta thấy

21
Huyện Đại Từ là địa phương đứng đầu trong tỉnh về diện tích, diện tích
thu hoạch và sản lượng; đứng cuối cùng là huyện Phú Bình.
Về diện tích trồng chè: Huyện Đại Từ dẫn đầu với 5.307 ha chiếm
29,25% diện tích toàn Tỉnh. Đứng thứ 2 là huyện Phú Lương (3.811 ha)
chiếm 21,01% tổng diện tích. Thành phố Thái Nguyên đứng thứ 6 với
1.255 ha, chiếm 6,92% tổng diện tích. Đứng cuối là huyện Phú Bình với
114 ha, chiếm 0,63% tổng diện tích.
Về diện tích thu hoạch: Đứng đầu là huyện Đại Từ (4.990 ha) chiếm
29,97% tổng diện tích thu hoạch; thứ 2 là huyện Phú Lương với 3.717 ha
chiếm 22,33% tổng diện tích thu hoạch. Đứng thứ 6 là thành phố Thái
Nguyên (1.106 ha) chiếm 6,64% tổng diện tích thu hoạch. Đứng cuối là
huyện Phú Bình (101 ha) chiếm 0,61% tổng diện tích thu hoạch.
Về sản lượng: Đứng đầu về sản lượng là huyện Đại Từ (51.604 tấn)
chiếm 28,51% tổng sản lượng; thứ 2 là huyện Phú Lương với 40.709 tấn,
chiếm 22,49% tổng sản lượng. Thành phố Thái Nguyên đứng thứ 5 về sản
lượng với 15.954 tấn, chiếm 8,81% tổng sản lượng. Thấp nhất là huyện Phú
Bình với 753 tấn, chiếm 0,42% tổng sản lượng toàn tỉnh.
2.3.2.3. Tình hình nghiên cứu chè ở Việt Nam
*Tình hình nghiên cứu về giống chè
Khi đến Đông Dương người Pháp đã chú ý ngay đến việc điều tra
thu thập giống chè. Đầu tiên là khảo sát của G.Baux ở Bắc Kỳ năm 1885,
tiếp theo là điều tra của phái đoàn Davie năm 1890 – 1892; Năm 1907
Eberhardt đã phát hiện ra cây chè dại đầu tiên ở núi Ba Vì (Hà Tây).
Theo Dupasquier (1923) – dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ (1991) thì đến

năm 1923 Việt Nam đã trồng được 10.368 ha chè đầu tiên với các giống chè
thuộc thứ chè Trung Quốc lá to, chè Shan và chè Ấn Độ, đã thu thập được tập
đoàn gồm: 43 giống chè trong đó chủ yếu là chè Trung Quốc lá to.

22
- Từ năm 1918 - 1927 Việt Nam đã nhập 13 giống chè từ Ấn Độ,
Mianma, Trung Quốc và Lào.
- Năm 1923 khi nghiên cứu tập đoàn giống chè nhập nội;
Dupasquier cho rằng: Manipur và Assamica đã tỏ ra thích hợp và có khả
năng sinh trưởng tốt ở Việt Nam. Dupasquier cũng cho rằng: Giống chè
Trung Quốc đòi hỏi ít nhất, chịu đất xấu, tỷ lệ lẫn tạp cao, có đặc tính hình
thái sinh lý khác nhau, đa số các cây chè ra hoa, kết quả sớm, do vậy cần
phải tiến hành chọn lọc.
Về chọn giống Dupasquier đã đề ra tiêu chuẩn giống chè tốt như sau:
+ Chọn cây khỏe, cành mọc đều, liên tục, ít hoa quả, hình dáng cân
đối, búp có tuyết, các cá thể trong giống phải giống nhau.
Năm 1931 Trạm nghiên cứu chè Bảo Lộc được thành lập và tiếp
nhận từ Phú Hộ các giống chè Shan như Thanh Thủy, Bắc Hà, Tham Vè,
Makomen, đã chon được 2 dòng chè tố là TB11 và TB14.
Sau hòa bình lập lại, công tác nghiên cứu chè được tiến hành trở lại:
Theo Đỗ Ngọc Quỹ (1980) [2], Trạm nghiên cứu chè Phú Hộ (nay là Trung
tâm nghiên cứu phát triển chè - Viện KHKT Nông lâm nghiệp Miền núi
phía Bắc) đã tiến hành 2 cuộc điều tra ở các vùng chè miền Bắc (1969 -
1970) và ở miền Nam (1978) và ở Grudia thuộc Liên Xô cũ (1987) kết quả
của các cuộc điều tra.
Ở Việt Nam, qua nhiều năm nghiên cứu, Viện nghiên cứu chè đã ứng
dụng thống kê sinh học qua phân tích tương quan dựa vào các đặc trưng
hình thái để lựa chọn nhanh các loại hình chè có triển vọng khi cây chè 2 -
3 tuổi, sơ đồ tuyển chọn gồm 4 bước:
Bước 1: Đánh giá khả năng cho sản lượng của cây chè của các cá thể

2 – 3 tuổi, bằng các chỉ tiêu hình thái và sinh trưởng trên đồng ruộng kết
hợp với phân tích trong phòng theo các chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Số búp nhiều, trọng lượng búp tương đối lớn.

23
- Tán rộng, chiều cao cây lớn, số cành cấp 1 nhiều
Trung bình tiên tiến trong quần thể chon lọc (sơ đồ 2.1).
+ Giai đoạn 1: Loại bỏ các cá thể có các chỉ tiêu đo đếm dưới mức
trung bình (X
1
) của quần thể.
+ Ỏ giai đoạn 2: Loại bỏ các cá thể có các chỉ tiêu đo đếm dưới mức
trung bình tiên tiến (X
2
), ghi giữ lại những cá thể sau giai đoạn 2 có các
chỉ tiêu đo đếm ≥X
2
.
X
1
: Là giá trị trung bình đo đếm các chỉ tiêu của quần thể lựa chọn.
X
2
: Là giá trị trung bình đo đếm các chỉ tiêu của cây sau khi đã loại
bỏ ở giai đoạn 1 (X
2
≥X
1
).
Theo kết quả thực tế các cá thể giữ lại sau giai đoạn 2 thường có giá

trị chỉ tiêu đo đếm được gấp 1,7 lần trở lên so với trung bình quần thể.
Ngoài các chỉ tiêu trên cần kết hợp xem xét các đặc điểm phát triển
bộ rễ, sinh trưởng sinh thực, màu sắc lá, sâu bệnh, khả năng giâm cành,
điểm thử nếm cảm quan chất lượng…
Bước 2: Xác định sản lượng cây tốt nhất giữ lại ở giai đoạn 2 (sau
đốn tạo hình) kết hợp với đánh giá khả năng giâm cành.
Bước 3: Tiếp tục khảo sát những cá thể có những đặc tính, đặc trưng
nông học tốt, lựa chọn rồi giâm cành từng dòng có chiển vọng.
Bước 4: So sánh dòng triển vọng với giống tiêu chuẩn (dòng phổ
biến tròn sản xuất), chỉ dữ lại cây có tỉ lệ sống trên 70%, sau khi trồng ra
đồi được 10 tháng và chế biết được chè thành phẩm có chất lượng tốt, đáp
ứng thị trường và có giá trị hàng hoá cao.





24










Sơ đồ 2.1: Loại bỏ các cá thể qua các chỉ tiêu đo đếm
Về tạo giống: Nghiên cứu về lai tạo giống, các tác giả: Trần Thị Lư,

Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Văn Niệm (1998) cho rằng: Ở Việt Nam các
giống chè thường có hoa, nở vào tháng 11, tháng 12. Vì thế việc lai giống
chè không cần phải bảo quản hạt. Trong trường hợp hoa nở không trùng
nhau có thể bảo quản trong điều kiện ẩm độ từ 25 - 30%, nhiệt độ bình
thường của không khí, trong điều kiện như vậy, ở Phú Hộ (Phú Thọ) có thể
dữ sức nảy mầm của hạt phấn trong vòng 40 ngày.
Bằng phương pháp gây đột biến bằng bức xạ, Trung tâm nghiên cứu
phát triển chè - Viện KHKT Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc, đã chọn
được một cá thể có biểu hiện tốt về sinh trưởng và sản lượng ở những năm
đầu thu hái, đó là N
0
8950, N
0
89401 và N
0
8819, trong đó cây N89502 có số
cành cấp 1 nhiều, lá lớn, gồ ghề, đang được nhân vô tính thành dòng để tiến
hành thí nghiệm so sánh.
Ngoài ra các nhà khoa học Trung tâm nghiên cứu phát triển chè -
Viện KHKT Nông lâm nghiệp Miền núi phia Bắc còn sử dụng Consixin xử
lý trên mầm chè giống PH
1
, trong thời gian 24 - 48 giờ với nồng độ 0,2%
cũng đã thu được kết quả bước đầu.

Số cây
Các chỉ tiêu
Loại bỏ ở
giai đoạn 1


Loại bỏ ở
giai đoạn 2

Giữ lại ở
giai đoạn 2

X
1
X
2

×