Tải bản đầy đủ (.pdf) (74 trang)

thái độ của sinh viên trường Đại học sư phạm đối với sinh sản và tình dục

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.1 MB, 74 trang )




1

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đất nước ñang bước vào một thời ñại mới, thời ñại của công nghiệp hoá
hiện ñại hoá . Chính sự nghiệp công nghiệp hoá hiện ñại hoá ñất nước ñã ñòi hỏi
phải phát huy tối ña và có hiệu quả mọi nguồn lực , trong ñó con người có vai trò
quan trọng và quyết ñịnh nhất. Có thể nói, nguồn lực con người là nguồn lực của
mọi nguồn lực. Phát triển hợp lý nguồn nhân lực về số lượng, về chất lượng là
nhân tố căn bản ñảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững. Để ñáp ứng yêu cầu phát
triển toàn diện nguồn lực cho ñất nước, không những chỉ cần cung cấp những tri
thức khoa học ñơn thuần mà những tri thức về giới tính là ñiều không thể thiếu
ñược. Những vấn ñề về sức khoẻ sinh sản,tình dục (SKSS,TD) là một trong
những kiến thức và kĩ năng cần thiết giáo dục cho thế hệ trẻ, ñặc biệt là học sinh
sinh viên- nguồn nhân lực tương lai của nước nhà.
Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật hiện ñại, sự bùng nổ thông tin
và sự phát triển nền kinh tế tri thức, thông tin ñến mỗi cá nhân rất ña dạng.
Ngoài những thông tin có tính tích cực còn có cả những thông tin mang yếu tố
tiêu cực, ñồi truỵ (sách báo, băng hình, website ñen trên mạng ñiện tử...) ảnh
hưởng không nhỏ ñến giới trẻ. Trong khi ñó vấn ñề giáo dục giới tính, SKSS-
TD cho vị thành niên (VTN) lại chưa dược tổ chức một cách có hệ thống. Do
vậy, không riêng ở nước mình mà ở nhiều nước trên thế giới, vấn ñề SKSS-TD
ñang nổi lên như những thách thức của xã hội.
Trong những năm gần ñây, một trong những vấn ñề ñược thanh niên quan
tâm là SKSS-TD. Những hiểu biết về SKSS-TD là không thể thiếu trong hành
trang của thanh niên ñể trở thành những công dân hữu ích cho xã hội. Sinh viên
nói chung và sinh viên sư phạm nói riêng là một trong những lực lượng nòng cốt
quyết ñịnh tương lai của ñất nước. Không những thế, sinh viên Sư phạm còn có





2
trách nhiệm giáo dục SKSS- TD cho thế hệ tiếp theo, họ sẽ là những tuyên
truyền viên tích cực về SKSS-TD cho cộng ñồng.
Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa thực tiễn chúng tôi chọn nghiên
cứu ñề tài: “Thái ñộ của sinh viên trường Đại học sư phạm - Đại học Đà
Nẵng ñối với sức khoẻ sinh sản và tình dục”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Phát hiện thái ñộ của sinh viên trường Đại học sư phạm – ĐH Đà Nẵng
ñối với SKSS-TD. Trên cơ sở ñó ñề xuất một số biện pháp ñể nâng cao nhận
thức, thay ñổi thái ñộ và ñiều chỉnh hành vi SKSS-TD của viên trường, ñáp ứng
yêu cầu phát triển toàn diện nguồn nhân lực mới.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để ñạt ñược mục ñích nghiên cứu của ñề tài, cần giải quyết các nhiệm vụ như
sau:
- Nghiên cứu xác ñịnh cơ sở lí luận liên quan ñến ñề tài
- Điều tra thái ñộ ñối với SKSS-TD của sinh viên trường ĐHSP - ĐHĐN
- Đề xuất một số biện pháp tác ñộng tích cực ñến thái ñộ của sinh viên trường
ĐHSP – ĐHĐN
4. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
4.1 Khách thể nghiên cứu:
Sinh viên trường Đại học sư phạm - Đại học Đà Nẵng
4.2 Đối tượng nghiên cứu:
Thái ñộ của sinh viên về sức khoẻ sinh sản và tình dục.
4.3. Khách thể khảo sát:
250 sinh viên (là sinh viên năm 1, năm 2 và năm 3) thuộc 11 khoa của trường
Đại học sư phạm - Đại học Đà Nẵng. Trong ñó có 151 nữ sinh viên và 99 nam
sinh viên.




3
4.4. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài ñược tiến hành tại trường Đại học sư phạm - Đại học Đà Nẵng trong năm
học 2008 -2009. Tập trung nghiên cứu trên 250 sinh viên hệ chính quy của
trường.
Lưu ý: tổng số người tham gia ñiền phiếu là 250, tuy nhiên có một tỉ lệ
nhất ñịnh thông tin không trả lời hoặc là các câu ý kiến khác. Với các trường hợp
này phân tích ñược tính trên số thực trả lời và thống kê lại cá ý kiến theo từng
câu hỏi.
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Phần lớn sinh viên trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng có thái ñộ tích cực
ñối với SKSS-TD. Sinh viên trường ĐH Sư Phạm Đà Nẵng có hiểu biết nhất
ñịnh về SKSS-TD, tuy nhiên chưa ñầy ñủ. Một bộ phận sinh viên còn có thái ñộ
e ngại, thiếu tự tin khi tìm kiếm dịch vụ SKSS, khi trao ñổi, nói chuyện về các
vấn ñề SKSS-TD với bạn bè và từ chối có quan hệ tình dục cũng như thảo luận
về biện pháp tránh thai với bạn tình. Đa số sinh viên ñánh giá cao sự cần thiết và
thích thú ñược tìm hiểu và học tập các kiến thức về SKSS – TD.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để phục vụ cho việc nghiên cứu chúng tôi sử dụng tổng hợp hệ thống các
phương pháp nghiên cứu sau:
6.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp lý luận
6.2. Phương pháp ñiều tra bằng phiếu hỏi
6.3. Phương pháp phân tích hồ sơ lưu trữ
6.4. Phương pháp trò chuyện
6.5. Phương pháp quan sát
6.6. Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học





4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:
1.1.1. Nghiên cứu về thái ñộ
1.1.1.1. Các nghiên cứu thái ñộ trên thế giới
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thái ñộ của các nhà nghiên cứu
khác nhau trong lịch sử. Mỗi nhà nghiên cứu ñã dựa trên từng quan ñiểm khoa
học khác nhau ñể ñưa ra các lý thuyết khác nhau về thái ñộ. Trong ñó phải kể
ñến các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu ở Liên Xô, Đông Âu và ở
phương Tây.
Các nghiên cứu ở Liên Xô và các nước Đông Âu:
- Thuyết tâm thế: Trong cuốn từ ñiển Tâm lý học Nga, thái ñộ ñược coi như là
“tâm thế xã hội ñã ñược củng cố, có cấu trúc phức tạp bao gồm ba thành phần
nhận thức, tình cảm, hành vi”. D.N. Uznatze ñã dựa vào thực nghiệm ñể ñề ra
“thuyết tâm thế”. Ông cho rằng, tâm thế là trạng thái trọn vẹn của chủ thể, sẵn
sàng tri giác các sự kiện và thực hiện các hành ñộng theo hướng xác ñịnh. Tâm
thế là cơ sở của tính tích cực có chọn lọc, có ñịnh hướng của chủ thể. Đó là trạng
thái vô thức, xuất hiện khi có sự gặp gỡ của nhu cầu và tình huống thoả mãn nhu
cầu, quy ñịnh mọi biểu hiện của tâm lý và hành vi của cá nhân, giúp cá nhân
thích ứng với ñiều kiện sống của môi trường.
- Thuyết thái ñộ - nhân cách: Bằng các bài viết về vấn ñề năng lực: “Chương
trình nghiên cứu nhân cách trong quan hệ với môi trường”, “Bút ký khoa học về
tính cách” (1916) và tác phẩm “phân loại nhân cách” (1917,1924), A.Ph.
Lazurxki là người ñầu tiên ñề xuất nghiên cứu thái ñộ trong Tâm lý học Xô Viết.
Qua việc nghiên cứu thái ñộ của cá nhân ñối với môi trường, A.Ph. Lazurxki ñặc
biệt chú ý ñến thái ñộ cá nhân ñối với nghề nghiệp, với lao ñộng, với sở hữu, với




5
người khác và xã hội. Ông xem các thái ñộ này là chủ ñạo khi ñịnh nghĩa tính
cách và phân loại nhân cách.
Dựa trên quan ñiểm Macxit, kế thừa tư tưởng của A.Ph. Lazurxki, V.N.
Miaxisev ñã ñề ra thuyết “thái ñộ nhân cách”. Với thuyết “thái ñộ nhân cách”,
V.N. Miaxisev là một trong những người ñặt nền móng cho Tâm lý học thái ñộ
nghiên cứu theo quan ñiểm Macxit. Theo ông, nhân cách ñược coi như là một hệ
thống thái ñộ: “Thái ñộ, dưới dạng chung nhất là hệ thống trọn vẹn các mối liên
hệ cá nhân, có chọn lọc, có ý thức của nhân cách với khía cạnh khác nhau của
hiện thực khách quan. Hệ thống này xuất phát từ toàn bộ lịch sử phát triển của
con người, nó thể hiện khái niệm cá nhân và quy ñịnh hành ñộng và các thể
nghiệm của cá nhân từ bên trong”. Trong nghiên cứu của mình, ông nêu rõ thái
ñộ là ñiều kiện khái quát bên trong của hệ thống các hành ñộng của con người;
thái ñộ có các tính chất: tính có ý thức, tính trọn vẹn, tính hệ thống. Nhưng ông
lại chưa làm rõ ñược ảnh hưởng qua lại giữa quan hệ xã hội với thái ñộ chủ quan
của cá nhân ñối với hiện thực khách quan. Ông viết: “Tất cả các dạng hoạt ñộng
tâm lý hiểu theo nghĩa rộng có thể xem như một dạng náo ñó của thái ñộ”.
Nghĩa là ông cho rằng: nhu cầu, hứng thú, tình cảm, ý chí, thị hiếu, tính cách,
các quá trình tâm lý, sự ñánh giá ñều là thái ñộ. Đây là một trong những ñiểm
hạn chế của thuyết nhân cách và thái ñộ.
- Quan ñiểm của tâm lý học Macxit: Tâm lý học Macxit cho rằng thái ñộ là sự
sẵn sàng ổn ñịnh của cá nhân ñể phản ứng với một tình huống hay một phức thể
tình huống, thái ñộ vốn có xu hướng rõ rệt, hình thành theo quy ñịnh nhất quán
phương thức xử thế của cá nhân.
Như vậy, Tâm lý học Xô Viết ñã ñưa ra cách lý giải hợp lý về thái ñộ, vị
trí của thái ñộ trong cấu trúc nhân cách, về chức năng của thái ñộ trong ñiều
chỉnh hành vi.




6
Các nghiên cứu thái ñộ ở phương Tây:
Vấn ñề thái ñộ ñược các nhà nghiên cứu phương Tây xem như trọng tâm trong
nghiên cứu. W.I. Thomas và F.Znaniecki là hai nhà tâm lý học tiên phong trong
việc nghiên cứu thái ñộ (1918). Nhưng phải ñến những năm 30-50 của thế kỷ
này thì vấn ñề thái ñộ mới ñược nghiên cứu mạnh mẽ với các nhà khoa học tên
tuổi như Likert, LaPiere, Krefchield, G.W. Allport...Đây là thời kỳ bùng nổ các
công trình nghiên cứu thái ñộ. Các nghiên cứu thời kỳ này trở về sau ñã ñưa ra
những quan niệm mới về ñịnh nghĩa, cấu trúc, chức năng thái ñộ như M.
Rokeach (1968); T.M (1969). Thậm chí ở thời kỳ này ñã xuất hiện những “tiểu
lý thuyết” giải thích mối quan hệ giữa thái ñộ-hành vi (Thuyết bất ñồng nhận
thức của Leon Festinger), các phương pháp nghiên cứu, hình thành, thay ñổi thái
ñộ, các thang ño thái ñộ. Tuy nhiên, các nhà tâm lý học phương Tây lại bế tắc
trong việc giải thích các mâu thuẫn giữa thái ñộ và hành vi, tách rời khỏi hoàn
cảnh xã hội và hoạt ñộng.
1.1.1.2 Nghiên cứu thái ñộ trong nước:
Các nghiên cứu về thái ñộ ở Việt Nam còn tương ñối ít, chịu ảnh hưởng
của cả Tâm lý học Liên Xô và Tâm lý học phương Tây.
Có thể kể ñến các ñề tài nghiên cứu thái ñộ ở Việt Nam như: “Thái ñộ học tập
của sinh viên trường Đại học An Ninh nhân dân” (Nguyễn Đức Hưởng-luận văn
thạc sĩ); “Thái ñộ ñối với quan hệ tình dục trước hôn nhân của Sinh viên Học
viện ngân hàng, phân viện TP.HCM” (Lê Thị Trang - luận văn thạc sĩ); “Thái ñộ
của sinh viên Đại học luật Hà Nội ñối với việc bảo vệ môi trường tự nhiên”(Chu
Anh Liên-luận văn thạc sĩ).
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu SKSS-TD
1.1.2.1. Lịch sử nghiên cứu SKSS-TD trên thế giới




7
SKSS-TD là một vấn ñề hết sức mới mẻ, năm 1952 Hội ñồng dân số (The
Population Council), một tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận, phi chính phủ ñược
thành lập nhằm cải thiện phúc lợi và SKSS cho những thế hệ hiện tại và tương
lai trên toàn thế giới; giúp ñạt ñược sự cân bằng bền vững, công bằng và nhân
ñạo giữa con người và các nguồn lực.
SKSS – TD ñược chính thức thừa nhận tại Hội nghị quốc tế về dân số và phát
triển tại Cai Rô (Ai Cập) năm 1994. Tại hội nghị này, 179 quốc gia ñã cam kết
thỏa thuận với phương châm: “Dân số, sức khoẻ sinh sản và nỗ lực toàn cầu xoá
ñói giảm nghèo”.
Như vậy, hầu hết các nước trên thế giới ñều quan tâm ñến vấn ñề SKSS-TD, coi
ñó là vấn ñề quan trọng và có tính chiến lược quốc gia.
1.1.2.2. Vấn ñề SKSS-TD ở Việt Nam
Ngày 26-12-1961, hội ñồng chính phủ ra quyết ñịnh 216 về kiểm soát sinh
ñẻ. Đây là văn bản pháp quy ñầu tiên của Chính Phủ Việt Nam thể hiện mối
quan tâm tới vấn ñề giảm sinh.
Song song với việc giảm sinh, Việt Nam gắn công tác Kế hoạch hoá gia
ñình với bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em nhằm giảm tỉ lệ tử vong của mẹ và trẻ
em, từng bước nâng cao chất lượng dân số.
Quyết ñịnh 217/ TTg của chính phủ ngày 18/12/1961 về hướng dẫn sinh
ñẻ có kế hoạch là văn bản pháp quy ñầu tiên của nhà nước Việt Nam về Dân số -
Kế hoạch hoá gia ñình.
Tiếp ñến, luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân ñã ñược Quốc hội nước
CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 30/6/1989.
Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khoá VIII ra nghị quyết 4 về vấn
ñề Dân số- Kế hoạch hoá gia ñình. Phát huy ñường lối này, ngày 3/6/1993, Thủ




8
Tướng Chính Phủ ñã phê duyệt “Chiến lược Dân số và kế hoạch hoá gia ñình
ñến năm 2002”.
Các văn bản này là những công cụ ñể nâng cao nhận thức của xã hội trước
các vấn ñề dân số và khích lệ toàn xã hội hành ñộng ñể ổn ñịnh quy mô về dân
số, nâng cao ñiều kiện chăm sóc sức khoẻ, SKSS, phát triển kinh tế- xã hội, văn
hoá, giáo dục vì một tương lai tốt ñẹp cho chính mình và cho cả dân tộc.
Theo tinh thần của Hội nghị dân số và phát triển tại Cai Rô- AI cập, năm
1994, SKSS ñược triển khai ở Việt Nam. Ngày 12/12/1996 ñã diễn ra Hội thảo
về SKSS dành cho nhà hoạch ñịnh chính sách cao cấp. Tiếp ñó, hội thảo “SKSS
vị thành niên” (SKSS VTN) ñược tổ chức vào ngày 28, 29/1/1997. Ngoài ra, còn
có nhiều công trình nghiên cứu về SKSS như:
- Viện Khoa học Giáo dục với Dự án VIE/88/P 09 chu kỳ 1988 -1991 ñiều
tra quan niệm về tình yêu, tình dục trong và ngoài hôn nhân, về ñời sống gia
ñình, Kế hoạch hoá gia ñình, Giáo dục giới tính...
- Chiến lược Dân số và chăm sóc SKSS- Uỷ ban Quốc gia Dân số, Kế
hoạch hoá gia ñình- Trường ĐH Y Khoa Hà Nội- 1997.
- Tháng 3/1998 Viện Nghiên cứu Thanh niên ñiều tra nhận thức của vị
thành niên về vấn ñề tình dục và các biện pháp tránh thai...
- Để xây dựng các tài liệu bồi dưỡng cho ñội ngũ làm công tác giáo dục
SKSS: Đoàn Thanh niên CSHCM với sự hỗ trợ kỹ thuật của tổ chức John Snow
International (JSI) và các chuyên gia trong nước qua dự án VIE/97/P12 ñã biên
soạn bộ tài liệu huấn luyện “Sức khoẻ sinh sản vị thành niên”, gồm 3 tập, xuất
bản năm 2000.
- Trong khuôn khổ dự án VIE/97/P13 của bộ Giáo dục và Đào tạo ñã xuất
bản tài liệu SKSS, Phương pháp giảng dạy các chủ ñề nhạy cảm về năm 2000.



9

- Dự án VIE/97/P13 của bộ Giáo dục và Đào tạo cũng ñã ấn hành bộ tài liệu
tự học về Giáo dục SKSS vị thành niên, xuất bản năm 2000.
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu khác về SKSS và TD ñã ñươc
công bố trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí GDDS- KHHGĐ của Ban
GDDS- KHHGĐ, Bộ Giáo dục và Đào tạo...
Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010 do Thủ tướng phê duyệt ngày
22/12/2000 ñã ñưa ra ñịnh hướng là “giải quyết ñồng bộ, từng bước và có trọng
ñiểm từng yếu tố của chất lượng, cơ cấu dân số và phân bố dân cư ñể nguồn
nhân lực thực sự trở thành thế mạnh và tài sản vô giá của ñất nước cho cả hiện
tại và các thế hệ mai sau [18].
Như vậy, vấn ñề nghiên cứu và giáo dục SKSS-TD cho quần chúng nhân
dân là một ñề tài lớn, ñã ñược nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Nhưng các
nghiên cứu về giáo dục SKSS-TD cho sinh viên, một tầng lớp ñặc biệt trong xã
hội thì chỉ mới có một số công trình ñề cập ñến. Những công trình này quan tâm
nhiều ñến nhu cầu, nhận thức về giáo dục SKSS-TD của sinh viên mà chưa quan
tâm nghiên cứu ñến yếu tố chủ quan quyết ñịnh chất lượng ñó là thái ñộ của sinh
viên ñối với SKSS-TD.
1.1.2.3. Chính sách quốc gia về SKSS
Đến nay, hệ thống chăm sóc SKSS ra ñời và phát triển 50 năm. Tuy
nhiên chưa có chính sách hay chương trình quốc gia nào dành riêng cho thanh
thiếu niên (TTN). SKSS TTN ñứng thứ nhì trong vấn ñề trọng tâm mà chiến
lược SKSS quốc gia ñã ñề ra giải quyết. Bộ Giáo Dục- Đào Tạo ñã ñề ra chương
trình ñào tạo về giới, tình dục và SKSS cho học sinh, sinh viên. Bộ Giáo Dục-
Đào tạo và Bộ Y tế ñã lên kế hoạch hợp tác ñào tạo giảng viên về kiến thức, kĩ
năng giảng dạy SKSS. Bộ GD-ĐT cũng ñã ban hành chương trình giáo dục
SKSS và phòng chống HIV/AIDS cho học sinh trung học.



10

Chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS(2001-2010) ñược xây dựng và
ban hành tại quyết ñịnh số 136/2000/QĐ-TTg ngày 28/11/2000 của thủ tướng
Chính Phủ nhằm cụ thể hoá nội dung Nghị quyết TW 4 Khoá VII về những vấn
ñề cấp bách của sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, về chính sách
dân số và Kế hoạch hoá gia ñình cũng như các ñịnh hướng chiến lược về dân số
Việt Nam trong giai ñoạn 2001-2010. Chiến lược thể hiện quan ñiểm chỉ ñạo,
mục tiêu và những ñiều cần làm thuộc lĩnh vực chăm sóc SKSS ở Việt Nam
trong mười năm tới; giúp các bộ, ngành liên quan, tổ chức chính phủ, phi chính
phủ và tư nhân triển khai thực hiện các hoạt ñộng thuộc chức năng nhiệm vụ của
mình nhằm nâng cao chất lượng và tính bền vững của SKSS, góp phần thực hiện
thành công chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước ta.
Mục tiêu chung của chiến lược này là: “Bảo ñảm ñến năm 2010 tình trạng
SKSS ñược cải thiện rõ rệt và giảm ñược sự chênh lệch giữa các vùng và các ñối
tượng bằng cách ñáp ứng tốt hơn những nhu cầu ña dạng về chăm sóc SKSS phù
hợp với ñiều kiện của các cộng ñồng ở từng ñịa phương, ñặc biệt chú ý ñến các
ñối tượng và các vùng khó khăn”.
1.1.2.4. Nhu cầu SKSS-TD vị thành niên của Thanh Niên Việt Nam
- Hoạt ñộng tình dục:
Có một niềm tin mạnh mẽ về các giá trị xã hội như kiêng nhị tình dục cho
tới khi kết hôn và chung thuỷ sau khi kết hôn, những giá trị này là các hành vi
SKSS có tình bảo vệ cho vị thành niên miễn là chung ñược tôn trọng một cách
nghiêm ngặt. Tuy nhiên, thanh thiếu niên chưa kết hôn thực cự có quan hệ tình
dục trước hôn nhân với gần 7,6% vị thành niên và thanh niên tuyên bố là ñã có
quan hệ tình dục trước hôn nhân. Có những khác biệt trong hành vi quan hệ tình
dục ñược báo cáo giữa nam và nữ (6,2% nam so với 1,7 nữ tuyên bố là ñã có
quan hệ tình dục). Tuy nhiên do kỳ thị liên quan ñến tình dục trước hôn nhân,



11

tuyên bố của thanh niên có thể không phải là luôn chính xác. Ví dụ: các phỏng
vấn tự trả lời với các phụ nữ ñã kết hôn trên máy vi tính tuyên bố tỉ lệ cao hơn,
với con số tuyên bố có quan hệ tình dục trước hôn nhân là 29.4%, với ý ñịnh kết
hôn ñôi khi ñược sử dụng như là một giải thích của thanh niên cho tình dục trước
hôn nhân. Thêm vào ñó, thanh niên tuyên bố tỉ lệ các bạn thân của họ có quan hệ
tình dục cao hơn chính họ, với những bạn bè chưa kết hôn của họ, 14% nam và
9% nữ chỉ ra rằng bạn bè họ ñã có quan hệ tình dục [15], [16].
- Mang thai:
Việt Nam có mức sinh ñẻ vị thành niên thấp(sinh ñẻ dưới 18 tuổi) khi so
sánh với các nướcñang phát triẻn khác, và tuy có thể so sánh với Trung Quốc.
Báo cáo của SAVY ñã có một quy mô mẫu nhỏ hơn của các phụ nữ có quan hệ
tình dục, nhưng trong số 41 người trả lời chưa kết hôn mà ñã có quan hệ tình
dục, 11 (28%) ñược báo cáo ñã mang thai, với ñộ tuổi trung bình của lần sinh
ñầu tiên là 20.4 tuổi. Tới năm 2020, ước tính có 863000 ca sinh ñẻ sẽ xảy ra với
vị thành niên. Chưa ñến1/2 trường hợp mang thai trong thanh niên dẫn ñến sinh
nở, với 656000 ca phá thai ñược báo cáo trong năm 2000 ( chú ý: ngũng ước tính
này dựa trên tổng tỉ lệ phá thai)[16].
- Mang thai ngoài ý muốn và phá thai
Phá thai là hợp pháp ở Việt Nam từ năm 1945 và ñược coi là quyền sinh sản
và có sẵn cho thanh thiếu niên. Các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ước
tính là phá thai ở vị thành niên chiếm ít nhất1/3 tổng các ca phá thai ở Việt Nam,
với các ca phá thai lặp lại và sau ñó khá phổ biến trong nhóm tuổi này(
WHO,1999).
Phá thai là vấn ñề ñạo ñức gắn với các quy tắc và giá trị xã hội ở Việt Nam,
thanh thiếu niên bày tỏ thái ñộ hoài nghi về mặt ñạo ñức với việc phá thai.
Nhưng ñồng thời, các nhà cung cấp ñào tạo sức khoẻ cho thanh thiếu niên lại



12

tuyên bố phá thai là hình thức ñược chấp nhận cho vị thành niên nếu bị mang
thai ngoài dự kiến. Một vấn ñề liên quan ñến kỳ thị xung quanh vấn ñề phá thai
là nhận thức rằng phá thai có hại cho SKSS, với các nhà cung cấp ñào tạo sức
khoẻ cho thanh niên tuyên bố rằng: “tư vấn cho thanh niên, những người chưa
kết hôn cần tập trung vào việc cảnh báo về các nguy cơ và mối ñe doạ về mặt thể
chất và tinh thần”[15], [16].
- HIV/AIDS, các viêm nhiễm ñường sinh sản(VNĐSS) và các viêm nhiễm lây
truyền qua ñường tình dục(VNLTQĐTD)
Trong số các trường hợp ñược tuyên bố có HIV ở Việt Nam, trên 7,15 %
cá nhân có HIV dương tính nằm trong ñộ tuổi 13-19, và 63% số người bị nhiễm
HIV dưới 30 tuổi.
Mức nhận thức về HIV/AIDS trong thanh niên cao hơn, với 97% thanh niên
ñược nghe về HIV nhưng kiến thức và hành vi thấp. Tuy nhiên, các biện pháp dự
phòng HIV không ñược phổ biến với 46,9% thanh niên có quan hệ tình dục
tuyên bố hiếm khi hoặc không bao giờ sử dụng bao cao su. Cần có sự rõ ràng và
khác biệt giữa kiến thức và hiểu biết trong chính sách cho thanh niên, vì các
nghiên cứu về kiến thức, thái ñộ, hành vi ñặt ñòi hỏi nhận thức về bao cao su thì
không giống như kiến thức về cách sử dụng bao cao su hoặc việc sử dụng thực
tế.
Mặc dù sự phổ biến về HIV trong thanh niên ñộ tuổi 15-24 còn thấp, tình
hình này có thể thay ñổi. Mức ñộ thấp của hành vi tình dục dự phòng HIV một
cách chủ ñộng của thanh niên có thể do nhận thức của thanh niên về HIV là một
bệnh của người khác và họ không liên kết họ ở trong nhóm có nguy cơ như tiêm
chích ma tuý hoặc có quan hệ với những người hoạt ñộng mại dâm, mặc dù một
tỉ lệ ñáng kể (10%) những người hoạt ñộng mại dâm là dưới 20 tuổi.



13
Các nghiên cứu trước ñây về mức ñộ phổ biến của viêm nhiễm ñường sinh

sản ở Việt Nam còn hạn chế, nhưng các nghiên cứu vẫn tuyên bố rằng 1/3 ñến
2/3 tổng số các phụ nữ Việt Nam bị các viêm nhiễm ñường sinh sản không tham
gia kiểm tra ñịnh kỳ ñể có thể khẳng ñịnh cho các con số này. Bộ Y tế Việt Nam
ñưa ra tỉ lệ tổng của các viêm nhiễm ñường sinh sản là 40%. Tuy nhiên, các
thống kê sức khoẻ này không ñược phân chia theo ñộ tuổi, do ñó không thể ước
tính số lượng thanh niên có các viêm nhiễm ñường sinh sản.
Các dữ liệu về các VNLTQĐTD khan hiếm một phần do các
VNLTQĐTD bị kì thị cao ñộ và chỉ 5-10% bệnh nhân bị các VNLTQĐTD ñược
nhìn thấy trong các khu vực y tế công cộng. Các tỉ lệ quan sát ñược về các
VNLTQĐTD ñược tuyên bố là thấp (5% phụ nữ). Nhưng vào năm 2000, ước
tính có khoảng một triệu trường hợp VNLTQĐTD mới ở Việt Nam hàng năm.
Có thể giả ñịnh rằng các VNLTQĐTD là phổ biến trong thanh niên Việt Nam do
hành vi tình dục không an toàn ñược báo cáo của họ và mối liên hệ của hành vi
này với cácVNLTQĐTD [16].
- Niềm tin, kiến thức và hành vi
Thanh niên tuyên bố phản ñối tình dục trước hôn nhân nhưng ñồng thời tuyên
bố có tình dục trước hôn nhân, tạo ra các tình huống mà các quan ñiểm ñạo ñức
của bản thân họ mâu thuẫn với hành vi của họ, việc này có thể ngăn cản họ ñưa
ra các lựa chọn ñúng ñể bảo vệ SKSS của chính họ.
Thanh niên ñối mặt với những khó khăn trong việc kiểm soát các cảm giác
và hành vi của họ và có thể có tình dục ngoài dự kiến, cộng với việc kỳ thị xung
quanh tình dục trước hôn nhân “làm giảm khả năng chuẩn bị của thanh niên cho
khả năng có hành vi tình dục”. Thanh niên tuyên bố các mức ñộ hiệu quả tự thân
cao trong việc kiêng nhịn tình dục( ví dụ họ tự nhận có khả năng kiêng nhịn tình
dục), tự ñánh giá ñạt 4.37 trong thang ñiểm 1 ñến 5 và 5 là hiệu quả cao nhất,



14
nhưng ñồng thời họ tuyên bố gặp khó khăn trong thực tế: “ Việc ñó cũng khó,

nhưng khi ñã dính lứu ñến, nó giống như bị sốc ñiện, không thể kiểm soát, và khi
ñó [tình dục] xảy ra. Đã muộn ñể nói rất tiếc”.
Cũng có một sự mất cân bằng giới trong các quan hệ tình dục giữa thanh
niên, với áp lực là nam thanh niên phải có kiến thức và chủ ñộng, trong khi nữ
thanh niên bị giảm vị trí xã hội và cảm thấy bản thân họ không thể từ chối tình
dục hoặc cố gắng ñàm phán tình dục an toàn với bạn tình, vì thiếu các kĩ năng
ñàm phán cần thiết. “Một khi một ñôi quá yêu nhau, rất khó giữ ñược trinh tiết
người phụ nữ...phụ nữ luôn có tình dục yếu hơn”.
Thanh niên Việt Nam có nhận thức về các biện pháp tránh thai, bao gồm bao
cao su, thuốc tránh thai, vòng tránh thai nhưng hiểu biết và sử dụng còn thấp.
Thanh niên cũng tuyên bố sử dụng biện pháp tránh thai truyền thống, các biện
pháp này bị liên kết với tránh thai không thành công và mang thai ngoài ý muốn.
Thiếu kiến thức có thể là rào cản cho việc sử dụng với các kết quả khảo sát cho
thấy sự thiếu niềm tin trong nam thanh niên(47%) về cách sử dụng bao cao su.
Các vấn ñề khác góp phần làm cho tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai thấp
của thanh niên bao gồm việc sợ bị phụ huynh phát hiện với người mà họ thường
có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân và quan niệm sai lầm rằng biện pháp tránh
thai chỉ dành riêng cho phụ nữ ñã kết hôn và tác dụng phụ các biện pháp tránh
thai là lý do cho việc không sử dụng, bất chấp các biện pháp này ñã ñạt ñược các
tiêu chuẩn chất lượng quốc tế [16].
- Bản năng tình dục
Về khía cạnh bản năng tình dục, 40% thanh niên tuyên bố là họ không biết
về tình dục ñồng giới và trong số những người không biết ñó, khoảng 80,2% nói
rằng họ sẽ không chấp nhận một ngưòi có xu hướng tình dục ñồng giới. Các con
số chính thức về thanh niên có xu hướng tình dục ñồng giới không tồn tại nhưng



15
5,75% tuyên bố có bạn có xu hướng tình dục ñồng giới.Về khía cạnh sức khoẻ

tình dục, những người ñàn ông có quan hệ tình dục với ñàn ông không bị bao
gồm trong hoạt ñộng giám sát HIV thường lệ, do ñó thông tin về hành vi nguy cơ
này không ñược bao gồm trong dự phòng HIV chính thức hoặc chính sách sức
khoẻ tình dục khác, mặc dù các nghiên cứu tìm ra rằng những người ñàn ông có
quan hệ tình dục với ñàn ông có nguy cơ cao và rằng kiến thức hạn chế của họ
về HIV không ñủ bảo vệ chính họ khỏi lây nhiễm. Tuy nhiên một nghiên cứu
khác ñược thực hiện trong những người ñàn ông có quan hệ tình dục với ñàn ông
ở TP HỒ CHÍ MINH ñã tìm ra rằng ñộ tuổi trung bình của lần quan hệ tình dục
ñầu tiên là: 19,8 tuổi, gợi ý rằng thanh thiếu niên có xu hướng tình dục ñồng giới
cần thông tin liên quan ñến sức khoẻ tình dục [16].
- Tiếp cận thông tin
Các dịch vụ SKSS sẵn có cho vị thành niên chưa kết hôn còn hạn chế, làm
cho thanh niên gặp khó khăn trong việc tiếp thu thông tin qua các dịch vụ của
khu vực y tế công cộng mà lẽ ra ñã có thể sử dụng như các kênh thông tin.
“Thanh niên ở Việt Nam không ñược dạy nhiều về SKSS-TD. Thậm chí cả tôi là
một người ñỡ ñẻ trong tương lai, tôi cũng không biết nhiều về những vấn ñề
này” (Sinh viên Hà Nội, 20 tuổi, 30 tháng ñào tạo).
Các nhà cung cấp dịch vụ tuyên bố cảm giác chưa sẵn sàng lắm ñể giải quyết
các nhu cầu SKSS vị thành niên cộng với các giá trị xã hội xung quanh việc phá
thai dẫn ñến thanh niên bị ñối xử không tốt khi họ tham gia tham gia các dịch vụ
chăm sóc sức khoẻ, theo như xu hướng ñạo ñức rộng hơn, bị mâu thuẫn với thực
tế ñang thay ñổi của hành vi và các nhu cầu SKSS-TD của thanh niên. Sự phản
ñối của xã hội với quan hệ tính dục tước hôn nhân của vị thành niên và phá thai
có thể cản trở việc tiếp cận của thanh niên với các dịch vụ phá thai và thông tin
và sự sẵn có của biện pháp tránh thai. Thêm vào ñó, các nhà cung cấp dịch vụ



16
của họ liên quan ñén sự sinh ñẻ hơn là các vấn ñề SKSS rộng hơn như tư vấn phá

thai và dự phòng VNLTQĐTD/HIV, các chính sách SKSS hiện hành hướng các
biện pháp tránh thai vào các cặp ñã kết hôn, mặc dù các chính sách ñang ñược
thực hiện lại ñặc biệt nhằm vào SKSS vị thành niên [16].
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Lý luận về thái ñộ
1.2.1.1. Khái niệm “thái ñộ”
Cùng với rất nhiều các nghiên cứu khác nhau về thái ñộ thì ñồng thời xuất
hiện những ñịnh nghĩa khác nhau của các nhà tâm lý học về thái ñộ. W.I.Thomas
và F.Znaiecky: hai nhà tâm lý học ñầu tiên sử dụng khái niệm thái ñộ vào năm
1918: “Thái ñộ là trạng thái tinh thần của cá nhân ñối với một giá trị”.
R. Martens lại cho rằng: “Thái ñộ là xu hướng thường xuyên ñối với tình
huống xã hội, nó biểu thị sự thống nhất của ý nghĩ, tình cảm và hành ñộng. Thái
ñộ của con người có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi bởi ñược xác ñịnh bằng
tính thống nhất bên trong”. Như vậy, thái ñộ thể hiện ý nghĩ, tình cảm bên trong
của con người mà ñược biểu hiện thông qua hành vi.
Thurstone lại ñưa vào thành phần ñánh giá khi ông khẳng ñịnh: “Thái ñộ là
cách ñánh giá tích cực hay tiêu cực một ñối tượng của thái ñộ”.
Miaxiser ñưa ra khái niệm thái ñộ dưới góc ñộ tâm lý học nhân cách: “Thái
ñộ là nòng cốt của nhân cách là ñiều kiện khách quan bên trong của hệ thống
các hành vi con người”.
G.W. Allport coi nhân cách như một tổ chức bên trong cơ ñộng, bao gồm
các mục ñích, các thái ñộ ñược hiện thực hoá bằng các hành vi và tư duy. Ông ñã
ñưa ra ñịnh nghĩa “Thái ñộ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh,
ñược tổ chức thông qua kinh nghiệm, ñiều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng ñộng ñến
các phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà có mối



17
quan hệ”; “Thái ñộ là xu hướng phản ứng của một người theo cách có lợi hoặc

bất lợi với các ñối tượng và tình huống mà người ñó gặp phải”. G.W.Allport
nhấn mạnh ñiều kiện ứng xử khi ông ñịnh nghĩa: “Thái ñộ là trạng thái suy nghĩ
hay thần kinh của sự phản ứng có ảnh hưởng ñiều khiển hoặc tạo ñộng cơ thúc
ñẩy ứng xử và ñược cấu trúc qua kinh nghiệm”.
Guilford (1964) - Nhà TLH Mỹ ñã dựa vào quan ñiểm nhân cách như cấu trúc
ñộc ñáo, có cấu trúc gồm bảy khía cạnh (nhu cầu, hứng thú, khí chất, năng lực,
giải phẫu, hình thái, thái ñộ) ñể ñưa ra khái niệm về thái ñộ. Theo ông: “Thái ñộ
là những cử chỉ, phong thái, ý nghĩ liên quan ñến những hoàn cảnh xã hội”.
H.Fillmore ñịnh nghĩa: “Thái ñộ là sự sẵn sàng phản ứng tích cực hay tiêu cực
ñối với ñối tượng hay các ký hiệu (biểu tượng) trong môi trường... thái ñộ là sự
ñịnh hướng của cá nhân ñến các khía cạnh khác nhau của môi trường và là cấu
trúc có tính cơ ñộng”. Nhà TLH Newcomb (Mỹ) cho rằng: “Thái ñộ là thiên
hướng hành ñộng nhận thức, tư duy nhận cảm của cá nhân với khách thể có liên
quan”. H.C.Triandis (1971) coi: “Thái ñộ là tư tưởng ñược hình thành từ những
xúc cảm, gây tác ñộng ñến hành vi nhất ñịnh ở một giai cấp nhất ñịnh trong
những tình huống xã hội. Thái ñộ của con người bao gồm những ñiều người ta
suy nghĩ và cảm thấy về ñối tượng cũng như thái ñộ xử sự của họ ñối với nó”.
Như vậy, các ñịnh nghĩa của các nhà tâm lý học ñều diễn ñạt nhiều hình
thức khác nhau nhưng họ ñều có chung một ñiểm là ñều nghiên cứu thái ñộ theo
quan ñiểm, chức năng, thái ñộ ñịnh hướng hành vi ứng xử vấn ñề xã hội, là trạng
thái tinh thần ñiều chỉnh và quy ñịnh tính sẵn sàng phản ứng. Thái ñộ hình thành
nhờ kinh nghiệm sống, có tính ổn ñịnh và có khả năng thay ñổi tuỳ theo tình
huống.
Theo từ ñiển TLH của Nguyễn Khắc Viện, trước một ñối tượng nhất ñịnh,
nhiều người thường có phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dang hay khó khăn, ñồng



18
tình hay chống ñối như ñã có sẵn, có những cơ cấu tâm lý tạo ra ñịnh hướng cho

việc ứng phó. Từ những thái ñộ có sẵn, tri giác về ñối tượng cũng như tri thứ bị
chi phối về vận ñộng thì thái ñộ gắn liền vơi tâm thế.
Theo tâm lý học xã hội, thái ñộ là sự sẵn sàng ổn ñịnh của cá nhân ñể phản
ứng với một tình huống gắn liền với một cá nhân ñó. Đối với một số nhà TLH
Việt Nam, khái niệm thái ñộ thường ñược quan niệm là biểu hiện của tính cách,
là nội dung của tính cách, mà tính cách là thuộc tính của nhân cách. Thái ñộ là
phản ứng của con người với thực tiễn môi trường.
Trong từ ñiển tiếng Việt – Hoàng Phê (chủ biên) cho rằng: “Thái ñộ là tổng
thế nói chung của những biểu hiện ra bên ngoài (nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành
ñộng) của ý nghĩ, tình cảm ñối với ai hoặc sự việc nào ñó trước một vấn ñề”.
Trong từ ñiển các thuật ngữ tâm lý và phân tâm học lại cho rằng: “Thái ñộ
là một trạng thái ổn ñịnh bền vững do tiếp thu từ bên ngoài hướng vào sự ứng xử
một cách nhất quán của những phản ứng ñối với một nhóm ñối tượng. Trạng thái
sẵn sàng cao ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành ñộng chủ quan ñến ñối
tượng”.
Trong từ ñiển tâm lý học - Vũ Dũng (chủ biên) cho rằng: “Thái ñộ là những
phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, ñồng tình hay chống ñối như
ñã có sẵn những cơ cấu tâm lý tạo ra ñịnh hướng cho việc ứng phó”.
Trong ñề tài này, chúng tôi ñã sử dụng khái niệm: “Thái ñộ tự là sự sẵn
sàng trong cách ứng xử của cá nhân ñối với các tình huống, các vấn ñề xã hội
nhất ñịnh với những tình huống, ñối tượng ñó, thái ñộ thể hiện ra qua cách ứng
xử (nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành vi) của chủ thể.”
1.2.1.2. Đặc ñiểm của thái ñộ, các mức ñộ của thái ñộ
- Đặc ñiểm của thái ñộ:
Năm 1957 G. W. Allport ñã rút ra 5 ñặc ñiểm của thái ñộ:



19
Thái ñộ là trạng thái tinh thần của hệ thần kinh.

Thái ñộ là tự sẵn sàng phản ứng.
Thái ñộ là trạng thái có tổ chức.
Thái ñộ ñược hình thành trên cơ sở kinh nghiệm quá khứ.
Thái ñộ ñiều khiển và ảnh hưởng ñến hành vi.
- Các mức ñộ của thái ñộ:
Các nhà TLH ñã phân chia thái ñộ theo các mức ñộ khác nhau. Theo
H.Benesch (Đức) thái ñộ có các mức ñộ sau:
Mức ñộ: Thái ñộ thể hiện nhiều hay ít, cùng một tính chất nhưng mức ñộ biểu
hiện có thể không giống nhau, thường xuyên hay không thường xuyên, cao hay
thấp.
Cường ñộ: Nhiệt tình, chủ ñộng, tích cực hay tiêu cực, thụ ñộng.
B.Ph.Lomov cho rằng:
- Mức ñộ: mạnh hay yếu. Trong quá trình phát triển thái ñộ có sự thay ñổi cường
ñộ, có thể có sự thay ñổi cường ñộ, có thể có thời kỳ mạnh mẽ và có thời kỳ suy
yếu. Khi thái ñộ ở cường ñộ bão hoà thì có thể dẫn ñến sự thay ñổi tính chất của
thái ñộ. Thời gian tồn tại của thái ñộ, mối quan hệ giữa ba thành phần của thái
ñộ, hệ thống thái ñộ ñã ñược ñịnh hình ở người trưởng thành thì ñó là thuộc tính
tâm lý khá bền vững.
- Xét về ñộ rộng: Sự phong phú hay hạn hẹp của thái ñộ, thể hiện ở tập hợp các
ñối tượng hay khía cạnh của hoạt ñộng mà cá nhân tỏ thái ñộ.
- Xét về mức ñộ tích cực: Mức ñộ ảnh hưởng của thái ñộ ñối với tính tích cực của
cá nhân.
- Mức ñộ ý thức: Thái ñộ của cá nhân là thái ñộ có ý thức, cá nhân ý thức ñược
thái ñộ của mình.



20
Như vậy, trong những tình huống, hoàn cảnh, ñiều kiện cụ thể thì thái ñộ tồn tại
như một trạng thái, một tâm thế chủ quan, chi phối sự ñịnh hướng, quyết ñịnh

hành vi phản ứng của cá nhân. Vì vậy, chúng ta phải có cái nhìn vừa khoa học,
vừa linh hoạt khi nghiên cứu và ñánh giá thái ñộ của con người.
Trong ñề tài này, chúng tôi xác ñịnh thái ñộ của sinh viên theo các mức ñộ sau:
- Về mức ñộ tích cực: Rất tích cực, tích cực, ít tích cực.
- Về mức ñộ thường xuyên: Thường xuyên, thỉnh thoảng, ít khi, rất ít khi, chưa
bao giờ.
1.2.1.3. Cơ chế hình thành thái ñộ:
Nhà tâm lý học người Đức, M. Vorwerg và H.Hiebsch cho rằng thái ñộ
ñược hình thành thông qua bốn cơ chế tâm lý học xã hội sau:
Bắt chước:
Đó là sự hình thành thái ñộ bằng con ñường tự phát là học các phương thức
hành vi hoặc phản ứng mà không cần sử dụng những kỹ thuật giáo dục theo
một phương thức nào cả.
Đồng nhất hoá:
Đồng nhất hoá là sự bắt chước một cách tự giác, có ý thức. Tức là quá trình chủ
thể thống nhất bản thân mình.
Là những quan ñiểm, niềm tin hay những ý kiến cụ thể về một ñối tượng nào
ñó của thái ñộ.
Giảng dạy:
Giảng dạy là một cách ñặc biệt của truyền ñạt thông tin nghĩa là cá nhân ñược
người khác chủ ñộng tác ñộng tới nhằm thông báo truyền thụ thông tin.
Chỉ dẫn:
Là hình thức hình thành thái ñộ ñòi hỏi chủ thể phải hành ñộng tích cực theo
hướng dẫn nào ñó trong quá trình tiếp thu, lĩnh hội tri thức.



21
Cả một cơ chế trên tuy khác nhau song ñều ảnh hưởng tới sự hình thành, củng
cố hay thay ñổi thái ñộ.

1.2.1.4. Chức năng của thái ñộ:
Chức năng thích nghi: Tuỳ vào những trường hợp cụ thể mà con người
thay ñổi thái ñộ do tác ñộng của môi trường xung quanh nhằm ñạt ñược mục
ñích ñề ra.
Chức năng biểu hiện giá trị: Thông qua sự ñánh giá một cách chọn lọc về
ñối tượng qua biểu lộ cảm xúc, hành ñộng cũng như sẵn sàng hành ñộng cá
nhân có thể biểu hiện giá trị nhân cách của mình.
Chức năng tiết kiệm trí lực: Cá nhân tiết kiệm sức lực, năng lực thần
kinh, cơ bắp trong hành ñộng nhờ các khuôn mẫu hành vi quen thuộc.
Chức năng tự vệ: Thái ñộ giúp ta hiểu biết về thế giới mà ta ñang sống.
Đồng thời thái ñộ cung cấp sự nhất quán và làm rõ những giải thích của chúng
ta về sự kiện. Nhờ những tri thức có ñược về ñối tượng mà chủ thể có cảm xúc,
ñánh giá về ñối tượng ñó.
Chức năng thoả mãn nhu cầu: Thái ñộ ñược hình thành như là kết quả
của những thành công hay thất bại trong quá khứ mỗi con người sau khi ñược
hình thành, thái ñộ vẫn tiếp tục có ích trong việc giúp con người thoả mãn các
nhu cầu hoặc ñạt ñược mục ñích.
Chức năng ñiều chỉnh hành vi và hành ñộng: Đây là hình chức năng mà
các nhà tâm lý học chú ý, quan tâm hơn cả. Họ tập trung làm rõ cơ chế thực
hiện các chức năng của thái ñộ, tìm ra các ñiều kiện ñể các chức năng ñó ñược
thực hiện.
Như vậy, trong quá trình nghiên cứu thái ñộ cần nghiên cứu nó trong mối
quan hệ ña dạng với các thuộc tính tâm lý khác, trong hành ñộng, trong giao tiếp
của cá nhân với cá nhân khác của nhóm này hay nhóm khác dựa trên mối liên hệ



22
xúc cảm và ñồng thời chuyển những chuẩn mực, giá trị vào thế giới nội tâm của
mình. Hay nói cách khác ñó chính là quá trình cá nhân tự ñặt mình vào người

khác ñể có những ý nghĩ và hành ñộng như người khác.
1.2.1.5. Cấu trúc thái ñộ:
Như ta ñã biết có rất nhiều quan ñiểm, ñịnh nghĩa khác nhau về thái ñộ. Vì
thế về mặt cấu trúc thái ñộ cũng có nhiều quan ñiểm khác nhau. Có người cho
rằng: Cấu trúc trong thái ñộ bao gồm những thuộc tính tạo nên mặt nội dung của
thái ñộ như: nhu cầu, hứng thú niềm tin, tình cảm, kinh nghiệm. Cấu trúc ngoài
bao gồm: những yếu tố tạo nên phương thức biểu hiện của thái ñộ như: khí chất
thói quen, trạng thái, tâm sinh lý. Cả nội dung và phương thức thể hiện của thái
ñộ chỉ ñược biểu hiện cụ thể ra bên ngoài bằng hành vi, cử chỉ, lời nói, nét mặt.
Năm 1942, M.Smith ñã ñưa ra cấu trúc ba thành phần của thái ñộ, và ñã ñược
phần lớn các nhà tâm lý học trên thế giơi nhất tán thành. Theo M.Smith, cấu trúc
của thái ñộ gồm: tình cảm, nhận thức, hành ñộng của cá nhân ñới với các ñối
tượng. Trong ñó:
- Yếu tố nhận thức
Trong quá trình hoạt ñộng của con người phải nhận thức ñể ñánh giá hiện thực
khách quan xung quanh mình. Kết quả hoạt ñộng thực tiễn của con người phụ
thuộc vào trình ñộ nhận thức: “nhận thức là quá trình phản ánh và tái hiện thực
vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết thế giới khách quan hoặc kết quả
của quá trình ñó”. Sự khác nhau về thái ñộ ñối với một sự vật, hiện tượng giữa
những người khác nhau là do cách nhìn nhận ñánh giá ở mỗi người khác nhau.
Vì vậy, nhận thức là một yếu tố quan trọng của thái ñộ.
- Yếu tố xúc cảm (tình cảm):



23
Là những cảm nhận hay tình cảm cá nhân ñối với một ñối tượng nào ñó của thái
ñộ thể hiện ở chỗ có tình cảm với ñối tượng, ở sự rung ñộng, quan tâm chú ý ñến
ñối tượng.
Xúc cảm, tình cảm thúc ñẩy con người trong hoạt ñộng, giúp họ vượt qua khó

khăn trở ngại trong cuộc sống, thúc ñẩy và tạo ñiều kiện cho cá nhân nhận thức
ñối tượng. Chính xúc cảm tình, tình cảm về ñối tượng làm cho tư duy về ñối
tượng tốt hơn và ảnh hưởng trực tiếp ñến hành vi của họ. Vì thế, xúc cảm tình
cảm ñược xem như một chỉ báo quan trọng khi nghiên cứu về thái ñộ.
- Yếu tố hành vi:
Là những biểu hiện ra bên ngoài hay xu hướng hành ñộng của cá nhân với ñối
tượng của thái ñộ và ñược chia làm hai loại: hành vi tích cực và hành vi tiêu cực.
Hành vi có thể ñược người khác ñánh giá thái ñộ bên trong ñối với hành vi ñó
của bản thân ñược thể hiện ở sự tự ñánh giá theo chuẩn mực mà chủ thể ñã cảm
nhận.
Thành phần cảm xúc, tình cảm thể hiện sự rung ñộng, hứng thú của cá nhân về
ñối tượng. Cả hai thành phần tình cảm và nhận thức ñều thể hiện nội dung của
thái ñộ. Thành phần thứ ba ý ñịnh hành ñộng, là sự thể hiện thái ñộ của cá nhân
ñối với ñối tượng thông qua xu hướng hành ñộng và hành ñộng thực tế. Một số
nhà Tâm lý học cho rằng, tỉ lệ các thành phần nêu trên trong các loại thái ñộ có
sự khác nhau. Tuỳ theo tình huống mà một thành phần nào ñó chiếm vị trí chủ
ñạo chi phối hành vi cá nhân. Cấu trúc ba thành phần này là cơ sở cho việc xây
dựng các thang ño thái ñộ sau này.Ba thành tố này, có mối quan hệ mật thiết với
nhau tạo thành một thể thống nhất trong cấu trúc thái ñộ. Trong thành tố tình
cảm chứa ñựng các yếu tố ý thức và trong thành tố hành vi có các yếu tố của
thành tố tình cảm.



24
Vì thế, trong ñề tài của mình chúng tôi lựa chọn quan ñiểm cho rằng cấu trúc của
thái ñộ là sự thống nhất của ba yếu tố: nhận thức, cảm xúc, hành vi.
1.2.1.6. Các loại thái ñộ
Từ các quan ñiểm khoa học khác nhau, các nhà Tâm lý học ñã có sư phân
loại thái ñộ theo các cách khác nhau.

Chẳng hạn, dựa vào tính chất của thái ñộ V.N.Miasixev ñã chia thái ñộ thành các
loại: thái ñộ tích cực, thái ñộ trung tính, phân cực. Biểu hiện của nó có thể là
phản ứng hoặc ñánh giá thích hay không thích, ñồng ý hay phản ñối.
B.Ph.Lomov lại dựa vào tính chi phối của thái ñộ ñể chia thái ñộ thành hai loại:
thái ñộ chủ ñạo hay thứ yếu. Các loại thái ñộ chủ ñạo (hay chi phối) là các thái
ñộ có liên quan ñến mục ñích sống và ñộng cơ chủ ñạo của cá nhân, chi phối
toàn bộ hệ thống thái ñộ.
Trong ñề tài của mình, chúng tôi ñã lựa chọn cách loại thái ñộ thành hai loại là:
thái ñộ tích cực và thái ñộ tiêu cực.
1.2.1.7. Sự thay ñổi thái ñộ
Qua các công trình nghiên cứu về thái ñộ ñã chỉ ra rằng chúng ta có thể
thay ñổi thái ñộ thông qua cố gắng ảnh hưởng. Tiêu biểu cho những công trình
nghiên cứu về khả năng thay ñổi thái ñộ là khảo cứu của nhà TLH xã hội
Hovland và các cộng sự, gọi tắt là quan ñiểm YaLe.
Theo quan ñiểm YaLe thì người ta dễ thay ñổi thái ñộ nhất trước các thông ñiệp
thuyết phục. Vì vậy Hovland và các cộng sự ñã nghiên cứu tác dụng của truyền
thông thuyết phục, nghĩa là những người ñược nghiên cứu phải chịu nhận những
truyền thông(biện luận) có sức thuyết phụ ít hoặc nhiều xuất phát từ một hay
nhiều nguồn truyền thông. Các nhà nghiên cứu ñã cố gắng làm rõ: sự phụ thuộc
của ñộ lớn của sự thay ñổi thái ñộ và các ñặc trưng của nguồn truyền thông, bộ
truyền thông, sự truyền thông, bối cảnh truyền thông và nhóm mục tiêu cụ thể.



25
Trong ñó, tập trung nghiên cứu“Ai nói gì với ai”: nguồn thông ñiệp (“Ai”: Là
nguồn cung cấp thông tin. Nếu một diễn giả có uy tín truyền ñạt thông tin thì sẽ
có sức thuyết phục hơn các diễn giả kém uy tín hơn); tính chất của thông ñiệp
(“Cái gì” người ta dễ bị thuyết phục hơn bởi các thông ñiệp có vẻ như không
ñược thiết kế ñể gây ảnh hưởng ñến họ - Walter & Festinger, 1962); ñặc ñiểm

của người nghe ( “với ai” thông ñiệp sẽ thuyết phục dễ dàng hơn khi người nghe
là một người bị rối trí, người ta còn dễ bị biến ñổi thái ñộ hơn trong khoảng từ
18-25 tuổi. Quá lứa tuổi này, người ta có sự ổn ñịnh trong thái ñộ và có sức ñề
kháng lại với biến ñổi).
Bên cạnh quan ñiểm YaLe, ñã có rất nhiều các thuyết khác nhau giải thích sự
thay ñổi thái ñộ như:
- Lý thuyết về học tập: Xem sự biến ñổi thái ñộ chủ yếu là một quá trình học tập
ñược lý giải tốt nhất bằng các quy luật về học tập.
- Thuyết ñồng hoá tương phản: Tiêu biểu là Sherif và Hovland. Thuyết này dựa
trên quan ñiểm các phán xét xã hội.
- Thuyết không ñồng bộ trong nhận thức: Người ta biến ñổi thái ñộ dựa trên sự
biến ñổi hành vi. Khi con người bị ñẩy vào hoàn cảnh phải làm một ñiều gì ñó
trái với hình ảnh con người họ, và họ không thể tìm cho mình nguyên nhân mang
tính khách quan, buộc họ phải cố tìm lý lẽ bên trong bằng cách ñưa nhận thức và
hành vi của mình ñến gần nhau hơn. Chính ñiều này ñã tạo nên sự thay ñổi trong
thái ñộ. Tức là quá trình, người ta bị thuyết phục công bố một ý kiến hay một
thái ñộ ñối lập là một cách thức mạnh mẽ ñể làm thay ñổi thái ñộ một con người.
Tuy nhiên, số công trình nghiên cứu sự biến ñổi thái ñộ bằng biến ñổi thành phần
hành vi của thái ñộ là rất ít.
1.2.2. Lý luận về SKSS-TD
1.2.2.1. Quan niệm về sức khoẻ sinh sản:

×