Tải bản đầy đủ (.pdf) (78 trang)

Cơ sở lí luận vai trò của tín dụng ngân hàng đối với công nghiệp hoá

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (612.01 KB, 78 trang )


1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI
VỚI CÔNG NGHIỆP TRONG SỰ NGHIỆP CNH, HĐH:
1.1. VAI TRÒ CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CNH, HĐH:
1.1.1. Sự nghiệp CNH, HĐH:
1.1.1.1. Khái niệm về CNH, HĐH:
CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất
kinh doanh, dòch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là
chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và
phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Như vậy, thực chất của CNH, HĐH là quá trình tạo ra những tiền đề vật
chất, kỹ thuật, về con người, công nghệ, phương tiện, phương pháp – những yếu tố
cơ bản của lực lượng sản xuất cho Chủ nghóa xã hội.
1.1.1.2. CNH, HĐH là sự phát triển tất yếu:
Mỗi một phương thức sản xuất xã hội chỉ có thể được xác lập và phát triển
dựa trên một cơ sở vật chất-kỹ thuật phù hợp với nó. Cơ sở vật chất kỹ thuật của
một phương thức sản xuất xã hội là tổng thể hữu cơ các yếu tố vật chất của lực
lượng sản xuất đạt được trong những điều kiện lòch sử nhất đònh của tiến bộ khoa
học kỹ thuật và công nghệ, dựa trên đó là lực lượng lao động của xã hội đó sản
xuất ra của cải vật chất để thỏa mãn nhu cầu của xã hội.
Sau cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, Việt Nam xây dựng mô hình đi lên
chủ nghóa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghóa thì nhất thiết phải
tiến hành CNH, HĐH. Vì CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện
các hoạt động sản xuất kinh doanh, dòch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng
sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với
công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất cao. Cụ
thể:
CNH, HĐH là con đường tạo ra lực lượng sản xuất mới nhằm khai thác và
phát huy tốt nhất các nguồn lực bên trong và sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên



2
ngoài. Mỗi bước của tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa là một bước tăng
cường cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghóa xã hội, đồng thời là một bước củng cố
và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN, làm cho nền sản xuất XHCN không ngừng
phát triển, đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân không ngừng được
nâng cao.
Trong tiến trình CNH, HĐH thì kinh tế nhà nước phải luôn giữ vai trò chủ
đạo, nâng cao khả năng tích lũy, khả năng tái sản xuất mở rộng và giải quyết việc
làm. CNH, HĐH sẽ phát huy đầy đủ lợi thế của nước ta
Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập , tự chủ, đủ
sức tham gia có hiệu quả vào phân công và hợp tác quốc tế. Đồng thời tăng cường
khả năng quốc phòng, an ninh của quốc gia.
Như vậy, Việt Nam với xuất phát từ một nền sản xuất nhỏ, nền nông nghiệp
lạc hậu, năng suất lao động thấp, lại bò chiến tranh tàn phá nặng nề,…để thực hiện
mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì chỉ có
con đường tiến hành CNH, HĐH theo đònh hướng xã hội chủ nghóa. Như vậy, CNH,
HĐH không chỉ là quá trình mang tính tất yếu, khách quan mà còn là một đòi hỏi
cấp bách.
1.1.1.2. Vận dụng CNH-HĐH phát triển kinh tế:
Đảng ta khẳng đònh muốn có thực lực kinh tế đủ mạnh thì nhất thiết phải đẩy
mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển tri thức, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm. Có
thực hiện CNH, HĐH thì mới tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH và đưa nước
ta sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển và vươn lên trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại.
Sau 20 năm đổi mới nền kinh tế và thực hiện CNH, HĐH chúng ta đã đạt
được những thành tựu to lớn, đã có sự thay đổi cơ bản và toàn diện trên các lónh
vực, trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm để đổi mới và phát triển chính trò, văn
hóa, xã hội. Quan điểm, chỉ đạo theo hướng đổi mới của Đảng về kinh tế đã góp



3
phần đưa nền kinh tế đã vượt qua thời kỳ suy giảm, tốc độ tăng trưởng khá cao và
phát triển tương đối toàn diện.
- Về kinh tế:
Đẩy mạnh CNH, HĐH nền kinh tế đất nước phải gắn với với phát triển
kinh tế tri thức để rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước.
Sự tăng trưởng của nền kinh tế theo hướng CNH, HĐH đã góp phần cải
thiện các quan hệ và cân đối chủ yếu trong nền kinh tế (tích lũy-tiêu dùng, thu-chi
ngân sách,…), ổn đònh tương đối kinh tế vó mô.
Thực hiện bước chuyển dòch cơ cấu kinh tế theo ngành, nghề tùy theo lợi
thế của mỗi vùng, mỗi ngành; đồng thời kết hợp những công nghệ mới, tiên tiến;
tham gia tích cực, chủ động hoạt động đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế “Thực
hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hợp tác và phát triển; chính
sách đối ngoại mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, đồng
thời chủ động hợp tác trên các lónh vực khác, tham gia vào tiến trình hợp tác quốc
tế và khu vực” (ĐH Đảng toàn quốc lần thứ X).
Đẩy mạnh chuyển dòch cơ cấu lao động gắn liền với quá trình chuyển dòch
cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế; giảm tỷ trọng lao động làm việc trong
nhóm ngành nông, lâm nghiệp-thủy sản và tăng tỷ lệ lao động trong ngành công
nghiệp, dòch vụ…
CNH, HĐH với điều kòên cơ sở vật chất, kỹ thuật còn nghèo, trình độ tổ
chức quản lý và trình độ tay nghề người lao động chưa cao thì cần chú trọng phát
triển loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trong những năm đổi mới về kinh tế, nước ta thu được những thành tựu lớn
trên lónh vực kinh tế; song vẫn còn những yếu, kém: tăng trưởng kinh tế chưa
tương xứng với khả năng; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn
kém; cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động chuyển dòch chậm, mang tính tự phát;…
- Các lónh vực chính trò, văn hóa, xã hội trong công cuộc CNH, HĐH mặc dù
còn những mặt hạn chế nhất đònh nhưng cũng thu được nhiều thành quả:



4
CNH, HĐH trong lónh vực chính trò là sự vận dụng những thành tựu lý luận
khoa học, công nghệ quản lý xã hội, những kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam để
đổi mới hệ thống chính trò, làm cho hệ thống chính trò có tác động mạnh mẽ tới giải
phóng lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Xây dựng cơ chế
vận hành đồng bộ, phù hợp với hệ thống chính trò theo nguyên tắc Đảng lãnh đạo,
nhà nước quản lý, phát huy và mở rộng quyền làm chủ của nhân dân trên các lónh
vực theo đúng Hiến pháp, Pháp luật.
Thực hiện CNH, HĐH là quá trình ứng dụng những thành tựu khoa học và
công nghệ hiện đại đủ sức giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra để phát triển nền
kinh tế-xã hội. Kích thích sự sáng tạo, say mê cải tiến, nghiên cứu khoa học của
mọi người, đặc biệt chú ý đến lớp trẻ. Thông qua các cuộc thi tài năng trẻ để phát
hiện, tôn vinh và bồi dưỡng đội ngũ nhân tài làm công tác khoa học, kỹ thuật, công
nghệ cho đất nước.
CNH, HĐH trên lónh vực văn hóa, xã hội là việc áp dụng những thành tựu,
những giá trò văn hóa của nhân loại và thực tiễn của Việt Nam để xây dựng và
phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiếm đậm đà bản sắc dân tộc, đủ sức “đề kháng”
với những văn hóa độc hại, ngăn chặn những tiêu cực trong quan hệ văn hóa- xã
hội, từ đó tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.
Từ sự phân tích trên đã khẳng đònh: sự nghiệp CNH, HĐH đã đem lại những
thành quả to lớn trên nhiều lónh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Thực hiện CNH,
HĐH là sự nghiệp của toàn dân, dứơi sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
1.1.1.3. Quan điểm về CNH, HĐH đất nước:
Từ Hội nghò lần thứ VII Ban chấp hành Trung ương khóa VII (tháng
07/1994), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 06/1996), Đại hội đại biểu
toàn quốc lần IX (tháng 09/2001) đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần X (tháng
04/2006) Đảng thống nhất quan điểm phải thực hiện CNH, HĐH đất nước. Quan
điểm đó được thể hiện như sau:



5
- Giữ vững độc lập dân tộc đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương
hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế quốc tế. Dựa vào nguồn lực trong nước là
chính đi đôi với tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài trên cơ sở xây dựng một
nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và trên thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu,
đồng thời thay thế nhập khẩu bằng các sản phẩm trong nước có hiệu quả.
- CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong
đó thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. CNH, HĐH là sự nghiệp cách
mạng lớn lao đưa dân tộc ta phát triển ngang tầm với những dân tộc tiên tiến trên
thế giới, là sự nghiệp cách mạng của toàn dân chỉ dưới sự lãnh đạo sáng suốt của
Đảng cộng sản mới có thể thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa.
Để phát huy sức mạnh của toàn dân, sức mạnh của nhà nước, sức mạnh của
trong và ngoài nước phải huy động được mọi thành phần kinh tế đóng góp vào sự
nghiệp CNH, HĐH. Tiến hành CNH, HĐH đòi hỏi phải đặt dưới sự quản lý của
nhà nước để đảm bảo CNH, HĐH theo đònh hướng XHCN.
- Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững, bởi vì con người là yếu tố hàng đầu của nước ta. Con người là
tài nguyên không cạn kiệt (so với nguồn tài nguyên khác) trong việc phát triển đất
nước, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực cho phát triển kinh tế. Tăng
trưởng kinh tế gắn liền với đời sống của nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục,
thực hiện tiến bộ công bằng xã hội.
- Khoa học công nghệ là động lực của công nghiệp hóa; kết hợp công nghiệp
truyền thống với công nghiệp hiện đại. Tranh thủ đi nhanh vào công nghệ hiện
đại.Vì bản thân CNH, HĐH là tiến hành cách mạng khoa học kỹ thuật với công
nghệ hiện đại. Để đảm bảo khoa học công nghệ làm động lực thì phải vươn tới
trình độ khoa học công nghệ cao nhất.
- Lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chuẩn cơ bản để xây dựng phương án phát
triển, lựa chọn phương án đầu tư vào công nghệ:



6
Hiệu quả kinh tế xã hội là sự phát triển toàn diện đất nước, là phát triển con
người trong công bằng, dân chủ, không làm ô nhiễm môi trường thiên nhiên, môi
trường xã hội.
Phát triển theo phương hướng kết hợp quy mô vừa, quy mô nhỏ, quy mô lớn,
chú trọng quy mô lớn, công nghệ cao để khai thác tốt nhất mọi tiềm năng phục vụ
cho sự phát triển kinh tế – xã hội.
- Kết hợp chặt chẽ và toàn diện kinh tế với quốc phòng-an ninh của tổ quốc.
An ninh quốc phòng có vai trò to lớn trong phát triển kinh tế, đời sống hòa bình, an
ninh tốt là điều kiện để phát triển kinh tế.
CNH, HĐH phải được thực hiện trên nhiều lónh vực của đời sống xã hội đó
là: kinh tế, chính trò, văn hóa, xã hội.
Khi đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng. Đảng ta đưa ra chủ trương
chuyển sang đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, phấn đấu sớm đưa nước ta ra khỏi
nước kém phát triển, đến năm 2020 cơ bản trở thành nước CN theo hướng hiện đại
để công nghiệp trở thành động lực tăng trưởng kinh tế.
1.1.2. Vai trò của CN đối với sự nghiệp CNH, HĐH:
Công nghiệp là ngành chủ đạo của nền kinh tế quốc dân hiện đại, có nhiệm
vụ khai thác tài nguyên thiên nhiên, chế biến tài nguyên và các sản phẩm nông
nghiệp thành tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Với vò trí là ngành chủ đạo trong
nền kinh tế quốc dân, CN đã thể hiện vai trò góp phần chuyển biến nền kinh tế
theo hướng CN hiện đại
CN đặc biệt là CN công nghệ cao, công nghiệp chế tác, CN phần mềm và CN
bổ trợ có lợi thế cạnh tranh tạo nhiều sản phẩm tăng trưởng cao góp phần tích cực
và trực tiếp đối với tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. CN tăng trưởng sẽ
tạo điều kiện cho đất nước ổn đònh, phát triển vững chắc và giàu có.
Sự tăng trưởng CN cao không chỉ có ý nghóa to lớn đối với ngành, góp phần
tăng trưởng kinh tế mà còn có tác động đối với các ngành kinh tế khác. Đối với

nông nghiệp, CN đã tác động trên một số mặt: ở đầu vào, công nghiệp cung cấp tư


7
liệu sản xuất, trang thiết bò, kỹ thuật hiện đại cho nông nghiệp; trong quá trình sản
xuất, CN góp phần bảo quản, chế biến làm tăng giá trò, tăng hiệu quả và sức cạnh
tranh của nông sản; ở đầu ra, công nghiệp là thò trường tiêu thụ nông sản rộng lớn,
khắc phục tình trạng độc canh, tình trạng tự cấp tự túc, đưa nông dân hội nhập kinh
tế thò trường ở trong nước và thế giới.
Qua những nội dung nêu trên cho thấy, CN có vai trò rất quan trọng trong sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước. Là một trong những cơ sở quan trọng để phấn đấu
đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước CN theo hướng hiện đại. Muốn vậy,
đòi hỏi phải huy động rất nhiều nguồn lực, trong đó TDNH có vai trò quan trọng
cho quá trình CNH, HĐH.
1.2. KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG CỦA TÍN DỤNG
1.2.1. Khái niệm về tín dụng:
Thuật ngữ tín dụng xuất phát từ chữ La Tinh: Creditium có nghóa là tin tưởng,
tín nhiệm. Trong tiếng Anh được gọi là Credit. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam,
tín dụng có nghóa là sự vay mượn.
Tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trò nhất đònh dưới
hình thức hiện vật, hay tiền tệ trong một thời hạn nhất đònh từ người sở hữu sang
người sử dụng và khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu với
một lượng giá trò lớn hơn. Khoảng giá trò dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng, nói
theo ngôn ngữ kinh tế là lãi suất.
Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay
và người cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả.
1.2.2. Bản chất của tín dụng:
Tín dụng là các quan hệ vay mượn phát sinh giữa người đi vay và người cho
vay, nhờ quan hệ này mà vốn được vận động từ chủ thể này sang chủ thể khác để sử
dụng vốn cho các nhu cầu khác nhau để phát triển kinh tế-xã hội.

1.2.3. Chức năng của tín dụng:
Tín dụng có 3 chức năng:


8
1.2.3.1. Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ:
Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, nhờ chức năng này của tín dụng
mà các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều hòa từ nơi “thừa” sang nơi “thiếu”
để sử dụng nhằm phát triển nền kinh tế.
Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai mặt hợp thành chức năng cốt
lõi của tín dụng. Cả hai mặt tập trung và phân phối lại vốn đều được thực hiện theo
nguyên tắc hoàn trả, vì vậy tín dụng có ưu thế rõ rệt, nó kích thích tập trung vốn,
nó thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả.
Nhờ chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ của tín dụng, mà phần
lớn nguồn tiền trong xã hội từ chỗ tiền nhàn rỗi một cách tương đối được huy động
và sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và đời sống, làm cho hiệu quả sử dụng
vốn trong toàn xã hội tăng.
1.2.3.2. Chức năng tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông:
- Hoạt động tín dụng tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ lưu thông
tín dụng như: thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, các loại séc, các phương tiện
thanh toán hiện đại như thẻ tín dụng, thẻ thanh toán ... cho phép thay thế một số
lượng lớn tiền mặt lưu hành, nhờ đó làm giảm bớt các chi phí có liên quan như in
tiền, đúc tiền , vận chuyển, bảo quản tiền...
- Với sự hoạt động của tín dụng, đặc biệt là TDNH đã mở ra một khả năng
lớn trong việc mở tài khoản và giao dòch thanh toán thông qua NH dưới các hình
thức chuyển khoản hoặc bù trừ cho nhau, nhờ đó vừa cho phép giải quyết nhanh
chóng các quan hệ kinh tế, vừa thúc đẩy quá trình ấy tạo điều kiện cho nền kinh tế
–xã hội phát triển.
- Nhờ hoạt động tín dụng, mà các nguồn vốn đang nằm trong xã hội được
huy động để sử dụng cho các nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hoá sẽ có tác

dụng tăng tốc độ chu chuyển vốn trong phạm vi toàn xã hội.
1.2.3.3. Chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế:


9
Chức năng này là hệ quả của hai chức năng trên.
Sự vận động của vốn tín dụng, phần lớn gắn liền với sự vận động của vật tư,
hàng hoá, chi phí trong các xí nghiệp, các tổ chức kinh tế, qua đó tín dụng không
những là tấm gương phản ánh hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, thông qua đó
thực hiện việc kiểm soát các hoạt động nhằm ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực
như lãng phí, vi phạm pháp luật,v.v...trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các
DN.
1.3. CÁC HÌNH THỨC TÍN DỤNG:
Trong nền kinh tế thò trường, tín dụng hoạt động rất đa dạng và phong phú,
người ta thường dựa vào các tiêu thức sau đây để tiến hành phân loại tín dụng. Căn
cứ vào chủ thể của quan hệ tín dụng, trong nền kinh tế xã hội tồn tại các hình thức
tín dụng sau:
1.3.1. Tín dụng thương mại:
Là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất kinh doanh được thực hiện dưới
hình thức mua - bán chòu hàng hóa.
Cơ sở pháp lý xác đònh quan hệ nợ nần của tín dụng thương mại là giấy nợ,
được gọi là kỳ phiếu thương mại hay gọi tắt là thương phiếu. Đây là một dạng đặc
biệt của khế ước dân sự xác đònh trái quyền cho người bán và nghóa vụ phải thanh
toán nợ của người mua khi món nợ đáo hạn. Như vậy, thương phiếu chính là phiếu
nợ xuất phát từ việc mua bán chòu hàng hoá. Nói cách khác, thương phiếu là một
chứng khoán cho người sở hữu quyền lãnh một số tiền ghi trên thương phiếu vào
một ngày nhất đònh trong tương lai đã được đònh trước ở hiện tại.
1.3.2. Tín dụng ngân hàng (TDNH):
TDNH là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các xí nghiệp, tổ chức kinh
tế, các tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức NH đứng ra huy động vốn

bằng tiền và cho vay đối với các đối tượng nói trên.


10
Khác với tín dụng thương mại, TDNH được cung cấp dưới hình thức tiền tệ,
bao gồm tiền mặt và bút tệ. Trong quan hệ TDNH, NH đóng vai trò là một tổ chức
trung gian, với tư cách vừa là người đi vay vừa là người cho vay.
1.3.3. Tín dụng nhà nước:
Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng, mà trong đó nhà nước là người đi vay
để đảm bảo các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước, đồng thời là người cho vay
để thực hiện các chức năng nhiệm vụ trong quản lý kinh tế xã hội và phát triển
quan hệ đối ngoại.
1.3.4. Tín dụng quốc tế:
Đây là quan hệ tín dụng giữa các chính phủ, giữa các tổ chức tài chính tiền tệ
được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau nhằm trợ giúp lẫn nhau để phát
triển kinh tế xã hội của một nước.
Trong các hình thức tín dụng, với những ưu điểm về quy mô vốn, thời gian cho
vay, phạm vi hoạt động, TDNH trở thành hình thức tín dụng quan trọng không thể
thiếu trong sự nghiệp CNH, HĐH.
1.4. VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP
CNH, HĐH NỀN KINH TẾ:
1.4.1. Đặc điểm và các hình thức của TDNH:
1.4.1.1. Đặc điểm của TDNH:
- Đối tượng của TDNH là vốn tiền tệ nghóa là NH huy động vốn và cho vay
vốn bằng tiền.
- Trong TDNH các chủ thể được xác đònh một cách rõ ràng , trong đó ngân
hàng là người cho vay, còn các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân là người đi
vay.
- TDNH mang tính chất sản xuất kinh doanh gắn với hoạt động sản xuất kinh
doanh của các DN, vì vậy quá trình vận động và phát triển của TDNH không hoàn

toàn phù hợp với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa.


11
1.4.1.2. Các hình thức tín dụng ngân hàng:
TDNH là hình thức tín dụng chủ yếu, chiếm vò trí đặc biệt quan trọng trong
nền kinh tế, tùy theo tiêu thức mà TDNH được chia thành các loại khác nhau:
- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay:
+Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá: loại tín dụng cung cấp
vốn để tiến hành sản xuất và kinh doanh.
+Tín dụng phục vụ đời sống, tiêu dùng: loại tín dụng cung cấp vốn để đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng.
- Căn cứ vào đối tượng vay:
+Tín dụng vốn lưu thông: loại tín dụng cung cấp nhằm hình thành vốn lưu
động cho DN, cá nhân nhằm mua dự trữ hàng hoá, thanh toán nợ…
+Tín dụng vốn cố đònh: loại tín dụng cung cấp nhằm hình thành vốn cố đònh
cho doanh nghiệp, cá nhân nhằm mua sắm thiết bò, xây dựng nhà xưởng..
- Căn cứ vào thời gian cho vay:
+Tín dụng ngắn hạn: loại tín dụng có thời hạn cho vay dưới 12 tháng.
+Tín dụng trung hạn: loại tín dụng có thời hạn cho vay trên 12 tháng đến 60
tháng.
+Tín dụng dài hạn: loại tín dụng có thời hạn cho vay trên 60 tháng.
- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm:
+Tín dụng không có đảm bảo: thường sử dụng đối với các khách hàng uy tín
đáng tin cậy.
+Tín dụng có đảm bảo: áp dụng đối với khách hàng ít quan hệ với NH hoặc
năng lực tài chính yếu, hiệu quả không cao.
- Căn cứ vào hình thức cấp vốn:
+ Tín dụng cấp bằng tiền: NH sẽ đáp ứng nhu cầu vay bằng tiền.
+ Tín dụng cấp bằng uy tín hoặc chữ ký: NH không đáp ứng nhu cầu vay

bằng tiền mà cấp cho khách hàng chữ ký của mình để đảm bảo thực hiện các nghóa
vụ của khách hàng….


12
1.4.2. Vai trò của TDNH đối với sự nghiệp CNH-HĐH nền kinh tế:
Trong điều kiện nền kinh tế của Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển sang
nền kinh tế thò trường đònh hướng XHCN, để tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh
tế thì các cá nhân doanh nghiệp thiếu vốn trông chờ được bổ sung, trong khi đó thò
trường tiền tệ và thò trường vốn chưa phát triển thì TDNH trở thành một kênh đáp
ứng vốn quan trọng cho nền kinh tế trong quá trình thực hiện sự nghiệp CNH,
HĐH. Vai trò của TDNH được biểu hiện:
1.4.2.1. TDNH giúp các DN phát triển sản phát triển sản xuất để thực
hiện mục tiêu CNH, HĐH đất nước:
NHTM là ngân hàng thực hiện nhiều nghiệp vụ hơn hết trong số các ngân
hàng trung gian. Ngày nay, người ta không thể hình dung nổi một nền kinh tế thò
trường mà vắng bóng tổ chức tài chính trung gian là ngân hàng thương mại bởi vì
nó làm chức năng như chiếc “ cầu nối “ giữa người có vốn và người cần vốn. Với
hoạt động của mình NHTM thu hút các nguồn vốn dụ trữ với thời hạn và quy mô
rất khác nhau để phục vụ cho sản xuất và đời sống, nghóa là nó chuyển một cách
hiệu quả nhất các nguồn vốn tích lũy trong xã hội từ người cần cho vay đến người
cần đi vay, cho nên đây là một đònh chế tài chính trung gian vào loại bậc nhất trong
nền kinh tế thò trường.
Do vốn tự có của một doanh nghiệp chỉ đáp ứng khoảng 60% chi phí cho quá
trình sản xuất, cho nên nó sẽ được hỗ trợ bởi hệ thống đònh chế NH, đònh chế này
sẽ tạo lập được nguồn vốn tín dụng lớn để cung ứng kòp thời vốn cho các doanh
nghiệp, giúp doanh nghiệp tận dụng được thời cơ trong sản xuất kinh doanh, hoàn
thành chu kỳ sản xuất đúng thời vụ đúng kế hoạch. Vốn tín dụng không chỉ góp
phần giúp đỡ các DN mà còn tạo ra thò trường cạnh tranh gay gắt, buộc các DN
không ngừng mở rộng sản xuất nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm, để tạo cho

mình một chỗ đứng vững chắc trên thò trường. Chính vì vậy, mà TDNH đã góp


13
phần thúc đẩy sự tăng trưởng của sản xuất, sự phát triển của toàn nền kinh tế xã
hội.
1.4.2.2. TDNH góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn để
thực hiện quá trình CNH, HĐH đất nước:
TDNH góp phần giảm hệ số tiền nhàn rỗi và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
trong tất cả các thành phần kinh tế thông qua đi vay để cho vay.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động
sản xuất kinh doanh liên tục là vấn đề được đặt ra đối với các nhà DN, vì trong quá
trình này luôn xảy ra hiện tượng thừa thiếu vốn tạm thời. Với sự hoạt động của tín
dụng đã góp phần điều tiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh
doanh không bò gián đoạn.
Với mục tiêu mở rộng sản xuất đối với từng DN thì yêu cầu về nguồn vốn là
một trong những mối quan tâm hàng đầu được đặt ra. Từ đó, TDNH với tư cách là
nơi tập trung đại bộ phận vốn nhàn rỗi sẽ là trung tâm đáp ứng nhu cầu vốn bổ
sung cho đầu tư phát triển. Như vậy, TDNH vừa cho DN rút ngắn được thời gian
tích lũy vốn, nhanh chóng đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh phát triển theo
hướng CNH, HĐH vừa góp phần đẩy nhanh tốc độ tập trung và tích lũy vốn cho
nền kinh tế.
TDNH góp phần tích cực vào việc hình thành và phát triển về mặt vốn cho
các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế. Qua đó, vừa cho DN rút ngắn được thời gian
tích lũy vốn, nhanh chóng đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.
TDNH sẽ làm biến đổi điều kiện sản xuất kinh doanh, dòch vụ của các chủ
thể kinh tế theo hướng tối ưu, góp phần làm cho chu kỳ vận động của tiền tệ rút
ngắn thời gian, nâng cao vòng quay của tiền tệ.
TDNH với tư cách là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư đã trở thành động lực
kích thích các tổ chức kinh tế, các DN và dân cư trong các thành phần kinh tế thực



14
hiện tiết kiệm, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi,
phân tán thành nguồn vốn đầu tư cho CNH, HĐH.
Thông qua TDNH, nhà nước có thể tập trung vốn để đầu tư phát triển nông
nghiệp và các ngành kinh tế mũi nhọn nhằm tạo cơ cấu kinh tế hợp lý.
TDNH kích thích và bắt buộc các DN, các ngành kinh tế, các vùng kinh tế,
các thành phần kinh tế sử dụng vốn có hiệu quả hơn.
1.4.2.3. TDNH góp phần thúc đẩy các DN sử dụng vốn hiệu quả, nâng
cao năng lực cạnh tranh của DN trong nền kinh tế thò trường:
Nguyên tắc vay vốn TDNH là phải hoàn trả gồm cả vốn gốc và lãi đúng
hạn. Do đó, khi các DN thực hiện đúng theo nguyên tắc vay vốn đã phản ánh phần
nào hiệu quả sản xuất kinh doanh của các đơn vò kinh tế, đồng thời là cơ sở để
đánh giá hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.
Để thực hiện hoàn trả vốn tín dụng các đơn vò phải tính toán để sử dụng vốn
một cách có hiệu quả nhất, tăng nhanh vòng quay của vốn và đạt lợi nhuận cao hơn.
Nếu các đơn vò không thực hiện đúng những cam kết với ngân hàng thì ngân hàng sẽ
áp dụng những biện pháp chế tài. Mặt khác, nếu làm như vậy DN tự làm mất uy tín
của mình không những đối với NH mà còn đối với cả các đối tác trong kinh doanh và
như vậy làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chính vì thế, DN phải sử
dụng vốn vay đầu tư sao cho tăng được năng lực sản xuất, mở rộng kinh doanh, giảm
giá thành,…Từ đó DN sẽ khẳng đònh vò thế của mình trên thò trường và năng lực cạnh
tranh được nâng cao.
1.4.2.4. TDNH góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế:
Nếu toàn cầu hóa về kinh tế mang tính tất yếu khách quan, thì hội nhập kinh
tế quốc tế cũng mang tính tất yếu khách quan vì gần như sự phát triển của mọi tế
bào của nền kinh tế đều có sự khai thác ở mức độ khác nhau từ quá trình toàn cầu
hóa. Nếu một quốc gia không tham gia vào quá trình hội nhập, thì sẽ dẫn đến sự cô
lập về kinh tế, không đủ điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật và quy mô phục vụ



15
cho sự phát triển. Chính sách của Đảng là mở rộng quan hệ đối ngoại trên các lónh
vực để huy động nguồn lực ngoài nước cho phát triển kinh tế. Trong đó, TDNH một
trong những phương tiện nối liền nền kinh tế của các nước với nhau.
TDNH góp phần thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm xã hội, tạo điều kiện duy
trì thường xuyên mối liên hệ không tách rời giữa sản xuất , lưu thông hàng hóa và
tiêu dùng xã hội. Hoạt động tín dụng làm cho lưu thông hàng hóa ngày càng mở
rộng không những ở trong nước mà còn cả trong quan hệ quốc tế.
Ngày nay các quan hệ trao đổi quốc tế không ngừng được mở rộng. Thò
trường trong nước không thể tách rời khỏi thò trường thế giới. Vì vậy mà các quan
hệ tín dụng quốc tế cũng không ngừng phát triển tạo điều kiện cho các hoạt động
sản xuất kinh doanh trong nước được mở rộng, đồng thời cũng tạo điều kiện cho
việc đầu tư vốn ra nước ngoài.
Từ đó, cho thấy TDNH là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình mở
rộng giao lưu kinh tế quốc tế.
Như vậy, vai trò TDNH không chỉ là công cụ, đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy sự
phát triển kinh tế, mà còn là công cụ để nhà nước điều hành và điều tiết vó mô nền
kinh tế; là động lực có tác dụng to lớn để hình thành và chuyển dòch cơ cấu kinh tế
trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế.
1.5. CÁC KINH NGHIỆM VỀ HỖ TR PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
CỦA MỘT SỐ TỈNH PHÍA NAM:
Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bà Ròa-Vũng
Tàu được xem là những điển hình của các tỉnh, thành phố phía Nam về phát triển
CN. Tùy theo đặc điểm riêng mà mỗi đòa phương có những giải pháp khác nhau,
nhưng đều có điểm chung trong hỗ trợ phát triển CN:
1.5.1.Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng chính quyền thân thiện, đồng
hành của doanh nghiệp:



16
Các đòa phương có môi trường đầu tư tốt nhất đều tiến hành cải cách hành
chính từ trên xuống, đây được coi là khâu đột phá trong hỗ trợ doanh nghiệp. Các
cấp lãnh đạo xem những khó khăn của doanh nghiệp là khó khăn của mình, kòp
thời nắm bắt và xử lý để tháo gỡ cho doanh nghiệp. Đội ngũ cán bộ, viên chức trực
tiếp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đều được đòi hỏi rất cao về tiêu chuẩn,
phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn và sự nhiệt tình đối với công việc. Việc
tiêu chuẩn hóa, đơn giản hóa, minh bạch hóa và công khai hóa các thủ tục, quy
đònh hành chính, đồng thời mở rộng áp dụng cơ chế “một cửa” (đồng bộ từ khâu
giới thiệu đòa điểm, cấp phép, quản lý sau cấp phép,…) trên cơ sở tận tâm, tôn vinh
(Các đòa phương tổ chức trao giấy phép đầu tư của các doanh nghiệp lớn, quan
trọng với nghi thức trang trọng) và tạo thuận lợi cao nhất cho các doanh nghiệp. Ở
các đòa phương đònh kỳ hàng qúy (đối với các ngành liên quan) hàng năm (đối với
lãnh đạo tỉnh) đều có hội nghò gặp gỡ đối thoại với các doanh nghiệp để trao đổi
giải quyết những khó khăn vướng mắc trong quá trình sản xuất kinh doanh của đơn
vò. Thời gian cấp giấy phép đầu tư và lao động ở nhiều nơi từ 15 ngày xuống còn 2-
3 ngày, thậm chí còn 1 ngày (70% hồ sơ xin Giấy phép xuất nhập khẩu ở Tỉnh đồng
Nai được cấp trong ngày; tỉnh Bình Dương cấp giấy phép đầu tư ở hầu hết các dự
án chỉ trong vòng 3 ngày). Các cơ quan doanh nghiệp đều từng bước xây dựng, thực
hiện tiêu chuẩn ISO trong quản lý hành chính công, đồng thời với việc thực hiện
cải cách hành chính của đơn vò.
Tư tưởng coi doanh nghiệp là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội
trên đòa bàn và xây dựng chính quyền thân thiện, đồng hành cùng doanh nghiệp
đang và sẽ ngày càng trở thành phương châm hành động của các cấp, ngành trên
đòa bàn tỉnh.
1.5.2. Dành ưu đãi cao cho doanh nghòêp trong khuôn khổ thẩm quyền đòa
phương được phân cấp:



17
Các tỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận và thụ hưởng
các ưu đãi hiện hành mà nhà nứơc cho phép doanh nghiệp, cũng như trong khuôn
khổ thẩm quyền quyết đònh của chính quyền đòa phương được phân cấp.
Tỉnh Bà Ròa-Vũng Tàu: miễn giảm các loại phí liên quan đến thủ tục đầu tư
và xây dựng như đăng ký ưu đãi đầu tư, lập thủ tục giới thiệu đòa điểm, cấp chứng
chỉ quy hoạch, ký hợp đồng thuê đất, cấp giấy phép xây dựng. Hàng năm ngân
sách tỉnh đều hỗ trợ lãi suất sau đầu tư (bằng 50% mức lãi suất tín dụng đầu tư
phát triển của nhà nước) đối với khoản vốn vay từ các tổ chức tín dụng, sau khi nhà
đầu tư (không phân biệt các thành phần kinh tế) đã được hỗ trợ lãi suất sau đầu tư
từ nguồn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước.
Tỉnh Đồng Nai: thực hiện miễn tiền thuê đất trong suốt thời hạn thuê đất cho
các dự án đầu tư vào đòa bàn đặc biệt khó khăn, cũng như cho phần diện tích thuê
để xây dựng nhà ở cho công nhân của doanh nghiệp trên đòa bàn tỉnh không phân
biệt ngành nghề; các dự án đầu tư vào khu (cụm) CN tại các huyện miền núi được
miễn phí sử dụng hạ tầng trong 5 năm kể từ khi bắt đầu sản xuất kinh doanh và
miễn tiền thuê đất 15 năm kể từ khi ký hợp đồng thuê đất trong thời hạn thuê đất
cho các dự án thuộc danh mục ngành nghề khuyến khích đầu tư. Đối với những
doanh nghiệp đầu tư vào khu CN mà ở đó quyền sử dụng đất thuộc nhà nước,
nhưng do Công ty kinh doanh cơ sở hạ tầng xây dựng cơ sở hạ tầng thì tỉnh cho
phép doanh nghiệp tính giá gốc thuê đất thô và chỉ trả tiền thuê dòch vụ hạ tầng
nào mà DN thực sử dụng.
Thành phố Hồ Chí Minh: không phân biệt các ưu đãi dành cho doanh nghiệp
nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước (trừ vay tín dụng từ các nguồn tín dụng
chính thức của nhà nước thì các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn được hưởng chế độ
tín chấp,…). Đặc biệt, thành phố thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp (về thủ tục, mặt
bằng, vốn,…) phát triển sản phẩm chủ lực của thành phố bắt đầu ngay từ khi đăng
ký sản xuất sản phẩm chủ lực và tăng dần mứcđộ hỗ trợ này để họ đạt tiêu chuẩn
theo quy đònh do thành phố đặt ra về sản phẩm chủ lực….



18
Ở các đòa phương này, giá thuê cơ sở hạ tầng trong các khu CN, cụm CN vừa
và nhỏ được tính theo 3 cách: nếu nhà nước đầu tư từ ngân sách nhà nước thì nhà
nước duyệt giá thuê đất + giá cơ sở hạ tầng; nếu các doanh nghiệp tự bỏ vốn giải
phóng mặt bằng và phát triển cơ sở hạ tầng thì tự thỏa thuận giá thông qua ban đại
diện doanh nghiệp; nếu Công ty kinh doanh cơ sở hạ tầng bỏ vốn đầu tư thì giá
thuê cơ sở hạ tầng do Công ty quy đònh với sự giám sát của nhà nước. Các Công ty
kinh doanh cơ sở hạ tầng khu CN và cụm CN vừa và nhỏ được các đòa phương tạo
điều kiện tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.
1.5.3. Nhất quán phát triển CN theo quy hoạch khu CN và tăng cường phân
cấp, ủy quyền, nâng cao năng lực, trách nhiệm bộ máy quảnlý CN:
Với tỷ lệ các doanh nghiệp CN tập trung trong khu CN (chiếm 83% như ở
Đồng Nai), các đòa phương đều rất coi trọng xây dựng và thống nhất quản lý phát
triển CN theo quy hoạch. Mô hình các khu CN được đa dạng hóa tùy thuộc từng đòa
phương, đa số các đòa phương coi trọng ưu tiên hình thành khu CN chuyên ngành,
trong đó có khu CN cao (Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai), đồng thời hình
thành quy hoạch dài hạn phát triển một số khu CN tổng hợp có quy mô lớn… Bên
cạnh đó, các đòa phương đều phát triển các khu, cụm CN vừa và nhỏ tạo cơ hội
cung cấp mặt bằng và quy tụ các doanh nghiệp tư nhân trong sản xuất kinh doanh
tập trung, góp phần khai thác lợi thế,…
Tỉnh Đồng Nai rất coi trọng việc kiện toàn tổ chức và phân cấp quản lý mạnh
cho Ban Quản lý các khu CN tỉnh. Ban quản lý được cấp con dấu quốc huy…Ban
Quản lý cũng tăng cường nhận ủy quyền và phối hợp với các cơ quan chuyên môn
của tỉnh về quản lý vốn, lao động, môi trường, nhằm thực hiện tốt cơ chế một cửa,
rút ngắn thời gian trả lời, xử lý các vướng mắc, khó khăn của nhà đầu tư.
1.5.4. Coi trọng và đa dạng hóa xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại và cung
cấp các dòch vụ hỗ trợ doanh nghiệp:
Các đòa phương đều rất coi trọng thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc
tiến thương mại có đòa chỉ cũngnhư cung cấp các dòch vụ hỗ trợ kinh doanh cho



19
doanh nghiệp (thông tin, đào tạo, lao động, nhà ở, thành lập qũy đất,…).Bên cạnh
việc cử đoàn công tác vận động đầu tư và xúc tiến thương mại ở nước ngoài hoặc
thông qua các hội nghò, hội thảo, gặp gỡ đònh kỳ, không đònh kỳ, cũng như các
phương tiện thông tin đại chúng, qua mạng điện tử,…các tỉnh ngày càng coi trọng
xúc tiến đầu tư tại chỗ để truyền đạt các thông điệp cần thiết và quảng bá sự hấp
dẫn về môi trường và cơ hội đầu tư đến các doanh nghiệp khác vào làm ăn tại đòa
phương. Thành phố Hồ Chí Minh rất coi trọng các hoạt động hỗ trợ quản lý chất
lượng quốc tế (ISO 9000, ISO 14000, HACCP, SA 8000, GMP,…) đăng ký sở hữu
công nghệ, tiết kiệm chi phí sản xuất, tập huấn cho doanh nghiệp về AFTA,
APEC,WTO, hiệp đònh thương mại Việt-Mỹ, cũng như về sản xuất sạch hơn, công
nghệ thông tin, kiểm toán và thương mại điện tử,…
1.6. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA CHO VIỆC HỖ TR
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH VĨNH LONG:
Qua nghiên cứu kinh nghiệm thành công về việc hỗ trợ phát triển CN của một
số Tỉnh phía Nam có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho phát triển CN ở
Vónh Long như sau:
- Phát triển CN là nhiệm vụ tất yếu để thực hiện CNH, HĐH của Tỉnh, là
giải pháp đúng đắn để phát triển ngành nghề, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng
thu nhập cho người lao động. Do đó cần phải có sự hỗ trợ đồng bộ từ phía chính
quyền Tỉnh, đến các ngành, phải nắm bắt kòp thời những khó khăn, vướng mắc của
các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất CN để giải quyết kòp thời nhằm tạo sự yên tâm
và tin tưởng của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất CN với chính quyền và các cơ quan
quản lý ngành.
- Thực hiện tiêu chuẩn ISO trong cơ quan quản lý hành chính công, đồng thời
với việc thực hiện cải cách hành chính của các đơn vò.
- Tiếp tục bổ sung chính sách ưu đãi của Tỉnh (tiền thuê đất, hỗ trợ lãi suất sau
đầu tư từ nguồn ngân sách Tỉnh,…); đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại,



20
xây dựng và quảng bá thương hiệu cho các sản phẩm CN của Tỉnh trong và ngoài
nước.
- Quan tâm hỗ trợ phát triển các DNNVV sản xuất CN, phát triển làng nghề
truyền thống để giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân đồng thời giữ gìn
bản sắc văn hóa của đòa phương.
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất CN tiếp cận nguồn vốn
từ phía ngân hàng, các tổ chức tín dụng và nguồn vốn khác để đưa nhanh công
nghệ, kỹ thuật tiên tiến vào trong quá trình sản xuất, nâng cao năng suất lao động,
chất lượng sản phẩm, hạn chế ô nhiễm môi trường.
- Nâng cao trình độ, phẩm chất nguồn nhân lực bao gồm: cán bộ quản lý,
chuyên viên, công nhân,…

Tóm lại, Chương I đã trình bày và phân tích cơ sở lý luận về CNH, HĐH; tầm
quan trọng của công nghiệp trong sự nghiệp CNH, HĐH. Vai trò của tín dụng ngân
hàng góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Từ những kinh nghiệm hỗ trợ cho
phát triển công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Bình Dương, Đồng
Nai, Bà Ròa-Vũng Tàu, đối với Vónh long để thực hiện CNH, HĐH phải tích cực hỗ
trợ phát triển CN nhằm tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội.













21
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHỤC VỤ
PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH CNH-HĐH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH LONG:
2.1.VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ–XÃ HỘI TỈNH VĨNH LONG
2.1.1. Giới thiệu khái quát về tình Tỉnh Vónh Long:
Tỉnh Vónh Long nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự
nhiên 1.475,20 km
2
, chiếm 0,44% diện tích của cả nước.
Dân số của Tỉnh ở thời điểm tháng 12/2005 là 1.055.310 người, chiếm gần
1,3% dân số của cả nước, trong số này, có gần 70% trong độ tuổi lao động. Toàn
Tỉnh có một thò xã, 6 huyện gồm 107 xã, phường.
Tỉnh Vónh Long là Tỉnh nằm trên trục giao thông quan trọng cả thủy lẫn bộ
nối các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, thành phố Cần Thơ với Vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam là Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Miền Đông nam bộ, có
Quốc lộ 1A đi ngang qua Tỉnh, Quốc lộ 80 và 57 chạy trong đòa bàn tỉnh tạo điều
kiện thuận lợi về giao thông để phát triển SX và các loại hình dòch vụ. Cảng Vónh
Thái có khả năng tiếp nhận tàu từ 1.000-3.000 tấn đi Campuchia và các nước trong
khu vực. Là Tỉnh nằm giữa hai con sông lớn nhất vùng: sông Tiền và sông Hậu, là
những yếu tố quan trọng trong giao lưu kinh tế, vận chuyển hàng hóa, mở rộng thò
trường tiêu thụ sản phẩm và thu hút vốn đầu tư của các vùng, các nước trong khu
vực và trên thế giới.
2.1.2. Tình hình CNH-HĐH Tỉnh Vónh Long giai đoạn 1995 - 2005:
Từ Đại hội đại biểu tỉnh Vónh Long lần thứ VI (1996-2000), nghò quyết Đại
hội được xây dựng theo đường lối đổi mới của Đảng, mở đầu thời kỳ CNH, HĐH;
mở ra bước ngoặt mới trong sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh nhà theo đònh

hướng XHCN, đến Đại hội Đảng bộ tỉnh Vónh Long lần VII (2001-2005) và lần
VIII (2005-2010), sau 15 năm tập trung thực hiện phát triển kinh tế-xã hội theo


22
hướng CNH, HĐH, Vónh Long đạt thành tựu trên các lónh vực kinh tế, xã
hội,KHCN,…
a.
Về kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng GDP:
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP(%) của Tỉnh Vónh Long (1995-2005)
Đòa phương 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005
1. Tỉnh Vónh long 7,01 6,68 6,33 7,95 8,24 9,63 10,65
2.Đồng bằng Sông Cửu long - - 7,59 10,84 10,44 11,39 12,16
3. Việt Nam 9,54 6,79 6,89 7,08 7,34 7,79 8,43
(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam và Tỉnh Vónh Long)
Trước năm 2002 tốc độ tăng GDP của Vónh Long thấp hơn so mức bình
quân cả nước cũng như đồng bằng Sông Cửu long; từ năm 2002 đến năm 2005 tốc
độ tăng GDP khá, tăng cao hơn mức tăng cả nước nhưng vẫn thấp hơn đồng bằng
sông Cửu Long. Tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm trong thời kỳ 1995-2005 là
7,61%.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dòch theo hướng tăng dần tỷ trọng công
nghiệp – xây dựng và dòch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong GDP; năm 1995 tỷ
trọng nông nghiệp là 65,12% giảm xuống 53,38%, công nghiệp-xây dựng từ
10,16% tăng lên 15,49%, dòch vụ từ 24,72% tăng lên 31,13%. Cơ cấu lao động được
chuyển đổi theo hướng tăng tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp, dòch vụ và
giảm dần lao động nông nghiệp.
Hoạt động xuất nhập khẩu có nhiều chuyển biến, thò trường (trong và
ngoài nước) từng bước được mở rộng. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 62,48 triệu
USD tăng lên 157,25 triệu USD, tốc độ tăng bình quân năm là 9,67%, riêng trong

giai đọan 2001-2005 tốc độ tăng cao là 18,83%. Hàng hóa xuất khẩu ngày càng đa
dạng, phong phú, tăng về số lượng như: gạo, thủy sản đông lạnh, giày da, may mặc,
dầu nhờn, gốm, capsul,… Nhập khẩu trung bình hàng năm trên 41,93 triệu USD chủ
yếu nhập nguyên vật liệu dược, thuốc lá, máy móc, thiết bò.


23
Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển đúng hướng: các doanh nghiệp
Nhà nước tiếp tục được sắp xếp, đổi mới; kinh tế tập thể tiếp tục được củng cố và
phát triển; kinh tế tư nhân được khuyến khích, hỗ trợ và phát triển nhanh, đóng góp
gần 80% GDP trong Tỉnh.
Tuy kinh tếù tăng trưởng và chuyển dòch đúng hướng, nhưng chưa ổn đònh và
vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh hàng hóa thấp. Chuyển dòch cơ cấu kinh tế
so với cả nước còn chậm, thực hiện CNH, HĐH nông thôn còn nhiều lúng túng,…
Bảng 2: Cơ cấu kinh tế của tỉnh Vónh Long
ĐVT: Tỷ lệ %
Chia ra

Năm

Tổng số
Nông-lâm-
thủy sản
Công nghiệp
xây dựng
Dòch vụ
Cơ cấu kinh tế của Vónh Long
1995 100 65,12 10,15 24,72
2000 100 59,20 11,93 28,87
2002 100 57,19 12,68 30,13

2003 100 55,19 13,70 31,10
2004 100 55,16 14,22 30,62
2005 100 53,38 15,49 31,13
Cơ cấu kinh tế của Việt Nam
1995 100 27,18 28,76 44,06
2000 100 24,53 36,73 38,74
2002 100 23,03 38,49 38,48
2003 100 21,83 39,95 38,22
2004 100 21,81 40,21 39,98
2005 100 28,89 41,03 38,08
(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam và Tỉnh Vónh Long năm 2005)
b.
Về văn hóa-xã hội:
Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, GDP bình quân đầu người năm
1995 là 2,701 triệu đồng tăng lên 7,6 triệu đồng năm 2005
Giáo dục phổ thông đi vào nền nếp, chất lượng đào tạo được giữ vững và
nâng lên; tỉnh được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục Trung học cơ sở. Công
tác đào tạo nghề đã góp phần tạo lược lượng lao động có tay nghề chiếm 18,2% so


24
với tổng lao động trong tỉnh, giúp người lao động có việc làm, giảm tỷ lệ thất
nghiệp xuống còn 1,21%. Hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học đã đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh. Trên 60 đề tài nghiên cứu khoa học
được ứng dụng vào kinh tế, có hiệu quả.
Tuy nhiên, chất lượng giáo dục ở các cấp học, bậc học và giữa các vùng
chưa đều; đầu tư cho giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ còn hạn chế, chưa đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đòa phương.
Các công tác xóa đói, giảm nghèo, chương trình y tế, các hoạt động chăm
sóc các đối tượng chính sách thực hiện khá tốt. Các hoạt động văn hóa-thông tin,

văn nghệ, báo chí dần được đầu tư về cơ sở vật chất, đào tạo,… Bên cạnh những kết
quả đạt được, một số vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết tốt, thực hiện chủ
trương xã hội hóa trong lónh vực y tế, văn hóa, thể dục thể thao,…còn hạn chế.
c.
Về chính trò:
Hệ thống chính trò được củng cố và kiện toàn, chất lượng hoạt động được
nâng lên, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ CNH, HĐH tỉnh Vónh Long.
Thực hiện CNH, HĐH tỉnh Vónh Long trong thời gian qua mặc dù còn những
hạn chế, song những thành tựu đạt được đã khẳng đònh đường lối, chủ trương của
Đảng bộ Vónh Long và sự đồng tâm đoàn kết của nhân dân tỉnh nhà.
2.2. NHỮNG NÉT LỚN VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CN TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH VĨNH LONG TRONG 3 NĂM 2003-2005:
2.2.1. Tổng quan về ngành công nghiệp Vónh Long:
Công nghiệp Vónh Long chưa phải là ngành kinh tế chiếm tỷ trọng lớn trong
cơ cấu kinh tế của Tỉnh, nhưng rất đa dạng bao gồm nhiều ngành như cơ khí, kỹ
thuật, điện tử, gia công kim loại, hóa chất, vật liệu xây dựng, gốm mỹ nghệ, chế
biến lương thực, thực phẩm, dệt, da, may,…được hình thành và phát triển dựa trên
nguồn nguyên liệu và lao động đòa phương nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội đòa
và xuất khẩu. Những ngành chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu CN của tỉnh như ngành


25
chế biến lương thực, chế biến thủy sản, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất gốm
mỹ nghệ, hóa chất và dược liệu.
Bảng 3: Các cơ sở sản xuất CN trên đòa bàn tỉnh Vónh Long
Cơ sở sản xuất CN năm 2005 Số DN
I. Phân theo thành phần kinh tế 7.192
1. Khu vực kinh tế trong nước 7.184
- Nhà nước 8
- Ngoài nhà nước 7.176

+ Tập thể 6
+ Tư nhân 208
+ Cá thể 6.921
+ Hỗn hợp 41
2. Khu vực KT có vốn đầu tư nước ngoài 8
II. Phân theo ngành CN 7.192
1. CN khai thác 68
2. CN chế biến 7.091
3. CN SX và phân phối điện, khí đốt và nước. 33
(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam và Tỉnh Vónh Long năm 2005)
Tốc độ tăng trưởng CN bình quân 2003-2005 là 20,92%. Công nghiệp ngoài
quốc doanh ngày càng khẳng đònh vò trí.
- Số lượng các cơ sở CN ngày càng đông đảo, nhưng chủ yếu là cơ sở cá thể
nhỏ. Tính đến năm 2005, ngành CN Tỉnh có 7.192 đơn vò, trong đó: (niên giám
thống kê năm 2005)
Doanh nghiệp nhà nước: 08
Các cơ sở ngoài nhà nước: 7.176 (tập thể: 06, tư nhân: 208, cá thể: 6.921,
hỗn hợp: 41)
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 08.
- Ngành CN Tỉnh đang chuyển dòch đúng hướng và phù hợp với tiềm năng
của đòa phương. Số lượng các cơ sở CN năm 2005 như sau: CN chế biến là 7.091 cơ
sở, CN khai thác 68 và CN SX và phân phối điện, khí đốt và nước là 33 cơ sở.
Ngành CN chế biến chiếm ưu thế và tăng 666 cơ sở so năm 2003 (6.425 cơ sở)
- Nguồn vốn bình quân các cơ sở CN phân theo ngành trong 3 năm:

×