Tải bản đầy đủ (.pdf) (81 trang)

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ CÔNG VÀ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ.PDF

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.81 MB, 81 trang )



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH







NGUYỄN LƯU VIẾT QUÂN






MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ CÔNG VÀ
LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM



LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH
TẾ









TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013




BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH













NGUYỄN LƯU VIẾT QUÂN







MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ CÔNG VÀ LẠM
PHÁT Ở VIỆT NAM



chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60340201



LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH
TẾ





NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN HỒNG THẮNG







TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013



LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam ñoan Luận văn cao học này do chính tôi nghiên cứu và
thực hiện. Nguồn số liệu nghiên cứu tại Việt Nam từ năm 1986 ñến năm 2012
ñược lấy từ nguồn cơ sở dữ liệu ở ADB, IMF, GSO. Đồng thời, luận văn chưa
ñược công bố trong bất kỳ bài nghiên cứu nào. Các thông tin, số liệu bài viết,
kỹ thuật xử lý mô hình là hoàn toàn ñáng tin cậy và trung thực.
Tp.HCM, ngày 27 tháng 09 năm 2013
Tác giả


Nguyễn Lưu Viết Quân

































LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô Trường Đại Học Kinh Tế
Thành phố Hồ Chí Minh ñã tận tình giảng dạy, truyền ñạt những kiến thức
quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập Đại học và cao học tại trường.
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn thầy PGS.TS. Nguyễn Hồng Thắng
ñã hướng dẫn tận tâm và góp ý cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
này.
Sau cùng, tôi xin cảm ơn các thầy cô Hội ñồng bảo vệ xem xét, góp ý
ñể luận văn tôi ñược chỉnh sửa hoàn chỉnh hơn sau khi ñược tốt nghiệp cao
học.
Chân thành cảm ơn!
Nguyễn Lưu VIết Quân




























MỤC LỤC

Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn ñề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài nghiên cứu 3

6. Kết cấu ñề tài 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ÐẦU TƯ CÔNG VÀ LẠM PHÁT 4
1.1 Lý thuyết cơ bản về ñầu tư công 4
1.1.1 Các khái niệm 4
1.1.1.1 Đầu tư công 4
1.1.1.2 Nguồn vốn ñầu tư của khu vực công 5
1.1.1.3 Ðối tượng ñầu tư công 5
1.1.2 Các lý thuyết về ñầu tư công 6
1.2. Lý thuyết cơ bản về lạm phát 8
1.2.1. Khái niệm lạm phát 8
1.2.2. Đo lường lạm phát 9
1.3 Mối quan hệ giữa ñầu tư công và lạm phát 12
1.3.1 Tác ñộng của ñầu tư công ñến lạm phát 12
1.3.2 Tác ñộng của lạm phát ñến ñầu tư công 14
1.4 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa ñầu tư công và lạm phát 16
1.4.1 Tác ñộng của lạm phát ñến ñầu tư công 16
1.4.2 Tác ñộng của ñầu tư công ñến lạm phát 18
1.5 Xây dựng mô hình lý thuyết nghiên cứu 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CÔNG VÀ LẠM PHÁT
VIỆT NAM 23
2.1. Thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai ñoạn 1986-2012 23
2.2 Thực trạng ñầu tư công ở Việt Nam giai ñoạn 1986-2012 26
2.2.1 Đầu tư công ở Việt Nam giai ñoạn 1986-2012 26
2.2.2 Hiệu quả ñầu tư công ở Việt Nam giai ñoạn 1995-2012 31
2.2.3 Hạn chế của ñầu tư công 33
2.2.4 Nguyên nhân hạn chế 37
2.3 Mối quan hệ giữa ñầu tư công và lạm phát 37


KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 40

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ


KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH 41
3.1 Phương pháp nghiên cứu 41
3.1.1 Kiểm ñịnh tính dừng 41
3.1.2 Ước lượng mô hình ECM và VAR 42
3.1.3 Kiểm ñịnh quan hệ nhân quả Granger trong mô hình ña biến 43
3.2 Mô hình kiểm ñịnh 44
3.2.1 Mô tả dữ liệu 45
3.2.2 Kiểm ñịnh tính dừng 46
3.2.3 Kiểm ñịnh tính ñồng liên kết và mối quan hệ trong dài hạn giữa ñầu tư công
và lạm phát 47
3.2.4 Ước lượng mô hình VAR và ñộ trễ tối ưu 49
3.2.5. Kiểm ñịnh mối quan hệ nhân quả Granger giữa lạm phát và ñầu tư công 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 53

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
4.1 Kết luận 54
4.2 Kiến nghị 55
4.2.1 Đối với ñầu tư công 55
4.2.2 Đối với lạm phát 57
4.3 Hạn chế nghiên cứu của mô hình và hướng nghiên cứu tiếp theo 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 61
Tài liệu tham khảo 62
























DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT


AD Tổng cầu
ADB Ngân hàng Phát triển châu Á (The Asian Development Bank)
ADF Kiểm ñịnh Augmented Dickey –Fuller
BOT Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao
BT Xây dựng-Chuyển giao
BTO Xây dựng-Chuyển giao-Vận hành

CNH-HĐH Công nghiệp hóa-Hiện ñại hóa
CPI Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index)
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
ECM Mô hình sai số hiệu chỉnh (Error Correlation Model)
GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
GSO Tổng cục thống kê (General Statistics Office)
ICOR Tỷ suất thâm dụng vốn trên ñơn vị sản lượng (Incremental Capital
Output Ratio)
IMF Quĩ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTW Ngân hàng Trung ương
NPV Hiện giá dòng tiền ròng (Net Present Value)
NSNN Ngân sách nhà nước
PPP Hợp tác công tư (Public Private Partnerships)
VAR Mô hình Vector tự hồi quy (Vector Autoregression)
VND Việt Nam ñồng
USD Đô la Mỹ
WB Ngân hàng thế giới (World Bank)















DANH MỤC BẢNG BIỂU

Số hiệu Tên Trang
2.1
Tăng trưởng kinh tế và ICOR các thành phần kinh tế ở Việt
Nam giai ñoạn 1995-2012
31
3.1
Các biến của mô hình (1986-2012)
45
3.2 Thống kê mô tả các giá trị của các biến trong mô hình 46
3.3 Kết quả kiểm ñịnh tính dừng 46
3.4 Kết quả ước lượng mô hình ECM 48
3.5
Kiểm ñịnh tính ổn ñịnh
51
3.6
Kết quả kiểm ñịnh mối quan hệ nhân quả trong mô hình VAR

52


























DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Số hiệu Tên Trang
1.1 Đồ thị Tổng cung và Tổng cầu 14
2.1
Biểu ñồ tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam từ năm 1986 ñến năm 2012
23
2.2
Biểu ñồ cơ cấu vốn ñầu tư từ năm 1986 ñến năm 2012
27
2.3
Biểu ñồ tăng trưởng vốn ñầu tư từ năm 1995 ñến năm 2012
28

2.4
Cơ cấu vốn ñầu tư công theo nguồn tài trợ ñầu tư từ năm 1995 ñến năm
2012

29
2.5
Biểu ñồ cơ cấu vốn ñầu tư công theo phân cấp quản lý từ năm 1995 ñến
năm 2012

30
2.6
Biểu ñồ hệ số ICOR của các thành phần kinh tế từ năm 1995 ñến năm
2012

33
2.7
Biểu ñồ tình hình tốc ñộ tăng ñầu tư công và lạm phát ở Việt Nam
(1986-2012)
37
3.1
Hình Các nghiệm của mô hình VAR

51


























1


LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn ñề tài
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam ñã ñạt ñược nhiều bước phát
triển ñáng kể. Kết quả của công cuộc ñổi mới ñã nâng cao thu nhập, chất lượng ñời
sống của người dân, cải thiện bộ mặt chung của cả xã hội. Để ñạt ñược những thành
tựu này, bên cạnh kết quả sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế còn có phần
ñóng góp rất lớn từ các chính sách ñiều hành của Chính Phủ thông qua các chính sách
kinh tế vĩ mô. Trong những chính sách này, ñầu tư công chiếm vai trò to lớn vì ñây là

công cụ khắc phục các hạn chế của nền kinh tế thị trường, là ñòn bẫy kinh tế, tạo ñiều
kiện cho ñầu tư từ các khu vực còn lại phát huy hiệu quả cao thông qua việc xây dựng
kết cấu hạ tầng kinh tế, ñồng thời còn giúp phát triển các mặt về xã hội mà các thành
phần kinh tế tư nhân thường ít khi tham gia vào.
Bên cạnh những thành công và ñóng góp tích cực vào quá trình phát triển ñất
nước không thể phủ nhận, ñầu tư công của Việt Nam còn nhiều hạn chế, nhất là về hiệu
quả ñầu tư. Đầu tư công luôn ñi cùng với lãng phí và tốn kém, thậm chí với mức ñộ
ngày càng nặng nề. Đầu tư công và quản lý ñầu tư công kém hiệu quả không chỉ khiến
hiệu quả ñầu tư xã hội bị hạn chế, mà còn làm gia tăng nhiều hệ quả tiêu cực và kéo dài
khác, như: mất cân ñối vĩ mô trong ñó có cân ñối ngành, sản phẩm, cán cân xuất - nhập
khẩu, cán cân thanh tốn, dự trữ ngoại hối và tích lũy - tiêu dùng, cũng như làm hạn chế
sức cạnh tranh và chất lượng phát triển của nền kinh tế trong hội nhập.
Ngoài ra, lạm phát tại Việt Nam trong vòng mấy năm vừa qua ñều tăng khá cao.
Tình hình cho thấy lạm phát ñã, ñang và sẽ vẫn giữ mức cao trong tương lai gây ảnh
hưởng lớn ñến ñời sống của người dân cũng như là gây khó khăn ñến việc thực thi các
chính sách khác của Chính phủ. Cho nên kiểm soát lạm phát là một trong những mối
quan tâm hàng ñầu trong chính sách kinh tế vĩ mô.
Vì thế việc kết hợp mục tiêu quản lý hiệu quả ñầu tư công và mục tiêu ổn ñịnh
2


lạm phát là một thách thức lớn và bài toán khó cho nền kinh tế Việt Nam. Từ thực
trạng trên và với mong muốn tìm hiểu mối quan hệ giữa ñầu tư công và lạm phát bằng
cách xem xét tác ñộng qua lại giữa ñầu tư công và lạm phát, từ ñó ñưa ra những kiến
nghị nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả ñầu tư công và ổn ñịnh lạm phát, nên tác giả
quyết ñịnh chọn nghiên cứu ñề tài “Mối quan hệ giữa ñầu tư công và lạm phát ở Việt
Nam”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của luận văn là nghiên cứu mối quan hệ giữa ñầu tư công và lạm
phát ở Việt Nam, ñược thể hiện qua các mục tiêu cụ thể sau:

- Đầu tư công và lạm phát có mối quan hệ ñồng biến hay nghịch biến trong ngắn
hạn và trong dài hạn.
- Từ kết quả nghiên cứu ñề xuất các giải pháp thích hợp nhằm ổn ñịnh lạm phát,
nâng cao hiệu quả ñầu tư công.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: ñầu tư công; lạm phát và mối quan hệ giữa ñầu tư công
và lạm phát.
Khung lý thuyết dựa trên cơ sở lý thuyết về phân tích lạm phát và ñầu tư công.
Giới hạn nghiên cứu là xoay quanh mối quan hệ giữa ñầu tư công và lạm phát, tìm hiểu
mối quan hệ nhân quả hệ giữa ñầu tư công và lạm phát trong ngắn hạn lẫn dài hạn. Do
ñó ñề không ñi sau vào phân tích các nhân tố tác ñộng ñến ñầu tư công và lạm phát.
Khung lý phân tích dựa trên mô hình sai số hiệu chỉnh (ECM) và mô hình VAR.
Phạm vi thu thập dữ liệu: số liệu thứ cấp về chỉ số giá tiêu dùng, tổng sản phẩm
quốc dân, ñầu tư công, ñầu tư tư nhân, cung tiền, tỉ giá hối ñoái, lãi suất cho vay thời
gian từ năm 1986 ñến năm 2012 qua số liệu do Tổng cục Thống kê Việt Nam công bố
và các số liệu của Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).


3


4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu ñịnh lượng thể hiện qua mô hình kinh tế
lượng.
Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi quy ñồng liên kết, mô hình sai số
hiệu chỉnh (ECM) và mô hình VAR ñể nghiên cứu mối quan hệ trong ngắn hạn và dài
hạn giữa ñầu tư công và lạm phát ở Việt Nam.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài nghiên cứu
Về mặt khoa học, nghiên mối quan hệ giữa ñầu tư công và lạm phát ở Việt
Nam.

Về mặt thực tiễn, việc tìm hiểu mối quan hệ giữa ñầu tư công và lạm phát ở Việt
Nam sẽ giúp ñưa ra những giải pháp thích hợp nhằm ổn ñịnh lạm phát, nâng cao hiệu
quả ñầu tư công.
6. Kết cấu ñề tài:
Ngoài phần mở ñầu, kế luận và danh mục tài liệu tham khảo thì ñề tài gồm 4
chương:
Chương 1: Tổng quan về ñầu tư công và lạm phát
Chương 2: Đánh giá thực trạng ñầu tư công và lạm phát ở Việt Nam
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và kết quả kiểm ñịnh
Chương 4: Kết luận và kiến nghị.






4



CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ÐẦU TƯ CÔNG VÀ LẠM PHÁT

1.1 Lý thuyết cơ bản về ñầu tư công
1.1.1 Các khái niệm
1.1.1.1 Đầu tư công
Theo lý thuyết kinh tế học, ñầu tư công là việc ñầu tư ñể tạo ra năng lực sản
xuất và cung ứng hàng hóa công cộng.
Trên thực tế, theo Bộ Tài chính Đan Mạch (2011), ñầu tư công chỉ ñược quan
niệm bao gồm các hoạt ñộng ñầu tư bằng nguồn vốn của Nhà nước vào vốn vật chất
(ñường sá, văn phòng, các công trình thủy lợi…).

Viện Chính sách kinh tế Hoa Kỳ (2011) lại cho rằng, ñầu tư là tất cả các khoản
chi tiêu ngân sách cho các ñối tượng khác nhau trong nền kinh tế mà những khoản chi
tiêu này có tác dụng kích hoạt hoặc thúc ñẩy chi tiêu của mọi thành phần kinh tế.
Trong Niên giám thống kê Việt Nam, ñầu tư là “toàn bộ những chi tiêu ñể làm
tăng, duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất ñịnh”. Vốn ñầu tư thường ñược
thực hiện qua các dự án ñầu tư và một số chương trình ñầu tư quốc gia với mục ñích
chủ yếu là bổ sung tài sản cố ñịnh. Đầu tư ñược ghi chép và thống kê theo các ngành,
các cấp quản lý (Trung ương, ñịa phương) và theo nguồn vốn các thành phần kinh tế
(ñầu tư Nhà nước, ñầu tư kinh tế ngoài Nhà nước và ñầu tư của khu vực có vốn ñầu tư
nước ngoài). Đầu tư cũng ñược thống kê theo giá thực tế và giá so sánh năm 1994. Như
vậy, ñầu tư công (ñầu tư Nhà nước) bao gồm: ñầu tư ngân sách phân cho các bộ, ngành
Trung ương và phân cho các ñịa phương; ñầu tư theo các chương trình hỗ trợ có mục
tiêu; ñầu tư của DNNN.
Theo quan ñiểm của tác giả ñầu tư công gồm các khoản ñầu tư từ khu vực nhà
nước và DNNN tiến hành.
5




1.1.1.2 Nguồn vốn ñầu tư của khu vực công
Theo phân loại của Tổng cục thống kê thì nguồn vốn ñầu tư Nhà nước bao gồm:
vốn NSNN, vốn vay và vốn DNNN. Nguồn vốn ñầu tư của nhà nước (Ngô Lý Hoá,
2008) ñược xác ñịnh theo công thức sau:
Ig = (T– Cg) + Fg
Trong ñó: T là các khoản thu của khu vực nhà nước;
Cg là các khoản chi tiêu của khu vực nhà nước không kể chi ñầu tư.
Chênh lệch giữa khoản thu và chi này là tiết kiệm của khu vực nhà nước;
Fg là các khoản viện trợ và vay nợ từ nước ngoài vào khu vực nhà
nước.

Dựa vào ñẳng thức trên, ta thấy ñầu tư của khu vực nhà nước ñược tài trợ bởi ba
nguồn:
Thứ nhất là tiết kiệm của khu vực nhà nước, bằng các khoản thu về ngân sách
nhà nước trừ cho các khoản chi thường xuyên. Trong trường hợp các nước kém phát
triển thì khoản tiết kiệm này rất khiêm tốn, không ñủ ñáp ứng nguồn vốn ñầu tư lớn
cho phát triển, nhất là vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng.
Thứ hai là khả năng huy ñộng vốn của khu vực nhà nước từ khu vực doanh
nghiệp và cá nhân hoặc các tổ chức tài chính trung gian. Hình thức huy ñộng này ñược
thực hiện bằng việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu của nhà nước.
Thứ ba là nguồn vốn giúp ñỡ từ nước ngoài. Nguồn này có vai trò khá quan
trọng ñối với các nước kém phát triển. Các nguồn từ nước ngoài thường dưới dạng viện
trợ hoặc nợ.
1.1.1.3 Ðối tượng ñầu tư công
Trong một nền kinh tế, tư bản tồn tại dưới nhiều hình thức và vì vậy cũng có
nhiều loại ñầu tư. Có 3 loại ñầu tư chính sau:
6


Đầu tư vào tài sán cố ñịnh: là ñầu tư vào nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phương
tiện vận tải, … Đầu tư dưới dạng này chính là ñầu tư nâng cao năng lực sản xuất. Khả
năng ñạt ñược tốc ñộ ñầu tư công cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào ñầu tư loại này.
Đầu tư vào tài sán lưu ñộng: tài sản lưu ñộng là những nguyên vật liệu thô, bán
thành phẩm ñược sử dụng hết sau mỗi quá trình sản xuất. Ngoài ra, tài sản lưu ñộng
cũng có thể là thành phẩm ñược ñơn vị ñó sản xuất ra mà chưa ñem ñi tiêu thụ hết.
Như vậy, lượng ñầu tư vào loại tài sản này chính là sự thay ñổi về khối lượng của các
hàng hoá này trong một thời gian nhất ñịnh. Và khi họ ñầu tư vào loại tài sản này, ñơn
vị sản xuất, kinh doanh nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất bằng cách: (1) ñầu tiên ñể tiết
kiệm thời gian và chi phí quản lý, giao tiếp và phân phối; (2) ñồng thời nhằm ñảm bảo
vật tư sản xuất luôn có sẵn khi cần.
Đầu tư khác: là tất cả các khoản ñầu tư của xã hội nhằm gia tăng năng lực phát

triển của xã hội, nâng cao trình ñộ dân trí, cải thiện chất lượng môi trường. Những bộ
phận chính của vốn ñầu tư khác bao gồm: Vốn chi cho công việc thăm dò, khảo sát,
thiết kế, qui hoạch ngành, qui hoạch lãnh thổ; Vốn chi cho việc thực hiện các chương
trình mục tiêu quốc gia nhằm tăng cường sức khỏe cộng ñồng như chương trình tiêm
chủng mở rộng, chương trình nước sạch nông thôn, phòng bệnh, phòng chống tệ nạn xã
hội; Vốn ñầu tư cho các hoạt ñộng nghiên cứu khoa học và phát triển ñào tạo, bồi
dưỡng phát triển nguồn nhân lực.
Xét trên tổng thể nền kinh tế thì có một dạng ñầu tư vào các tài sản cố ñịnh rất
quan trọng, ñó là ñầu tư vào cơ sở hạ tầng, phần lớn lượng ñầu tư vào cơ sở hạ tầng do
nhà nước ñảm nhận. Tuy nhiên, trong nền kinh tế nhiều thành phần thì khu vực tư nhân
và khu vực nước ngoài cũng tham gia ñầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng bằng các hình
thức thích hợp (ví dụ như BOT, BTO, BT, PPP, ). Đặc ñiểm của ñầu tư vào các loại
hàng hoá công là nhu cầu vốn lớn, lâu thu hồi vốn nên thường do nhà nước ñảm trách.
Tuy nhiên, ñầu tư vào kết cấu hạ tầng có tác ñộng thức ñẩy ñầu tư của các thành phần
kinh tế khác phát triển.
7


1.1.2 Các lý thuyết về ñầu tư công
Quan ñiểm của trường phái tân cổ ñiển cho rằng nhà nước không nên can
thiệp vào nền kinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực như vốn và lao ñộng… mà sự
vận ñộng của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò này. Trường phái này khẳng ñịnh
một trong các ưu ñiểm kinh tế thị trường là sự phân bổ nguồn lực một cách tự ñộng.
Đầu tư là một hình thức phân bổ nguồn lực trong các hình thức ñó - phân bổ vốn trong
nền kinh tế.
Theo lý thuyết này, các ñơn vị sản xuất trong quá trình tối ña hoá lợi nhuận sẽ
phải tìm kiếm cơ hội ñầu tư tốt nhất cho chính mình, và như vậy nhà nước không cần
phải can thiệp ñể giúp doanh nghiệp có cơ cấu ñầu tư hợp lý. Tổng hợp cơ cấu ñầu tư
của các ñơn vị sản xuất này sẽ hình thành nên cơ cấu ñầu tư của nền kinh tế và ñó là cơ
cấu hợp lý. Vai trò của nhà nước trong trường hợp này chỉ là cung cấp các hàng hoá

công cần thiết cho nền kinh tế như kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng xã hội
mà thị trường không thể tự ñáp ứng ñược.
Quan ñiểm ủng hộ sự can thiệp của nhà nước cho rằng do thị trường không
hoàn hảo nên sự tự thân vận ñộng của thị trường sẽ không mang lại kết quả tối ưu.
Trong trường hợp này, nhà nước phải là người tổ chức cung cấp thông tin tốt ñể thị
trường hoạt ñộng tốt hơn. Mặt khác, ở hầu hết các nước ñang phát triển, do nền kinh tế
còn lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, muốn chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh
mẽ ñể thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện ñại hóa ñòi hỏi phải có sự can thiệp
Nhà nước trong việc phân bổ các nguồn lực hạn chế rủi ro, mất cân ñối trong nền kinh
tế và khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển.
Quan ñiểm về sự phát triển cân ñối hay không cân ñối
Thuyết tăng trưởng cân ñối (Paul Rosenstein - Rodan, 1961) tăng trưởng cân
ñối mô tả sự tăng trưởng cân ñối giữa các ngành trong nền kinh tế. Ông ñề xuất nên
hướng ñầu tư cùng lúc vào nhiều ngành ñể tăng ñồng thời cung và cầu nhiều sản phẩm
bằng cách tăng thu nhập của lao ñộng trong những ngành này. Sự phát triển các ngành
8


công nghiệp chế biến ñòi hỏi lượng ñầu tư lớn trong một thời gian dài, từ ñó phát sinh
nhu cầu phát triển song song cả hàng hoá phục vụ sản xuất lẫn phục vụ tiêu dùng. Ý
tưởng về “cú huých” lập luận rằng, sự gia tăng ñột ngột về ñầu tư có thể làm cho mức
tiết kiệm tăng bởi vì sự gia tăng ñột ngột của thu nhập. “Cú huých” này biểu hiện thông
qua các hoạt ñộng của chính phủ và cũng là mục tiêu của viện trợ nước ngoài. Cũng
theo Paul Rosenstein - Rodan, mục ñích của viện trợ nước ngoài cho các nước kém
phát triển là ñẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế ñến một ñiểm mà ở ñó tốc ñộ ñầu tư
công mong muốn có thể ñạt ñược trên nền tảng tự duy trì, không phụ thuộc vào các
nguồn tài trợ bên ngoài.
Thuyết tăng trưởng không cân ñối (Hirchman, 1958) ñưa ra một mô hình trái
ngược với thuyết tăng trưởng cân ñối, ông cho rằng sự mất cân ñối giữa cung và cầu
tạo ra ñộng lực cho nhiều dự án mới. Theo ñó, phần lớn vốn ñầu tư của nhà nước cho

những ngành công nghiệp trọng ñiểm, sẽ tạo cơ hội cho những ngành khác, từ ñó
khuyến khích làn sóng ñầu tư thứ hai. Những ngành ñược chọn ñể ñầu tư nên ñược
ñánh giá căn cứ vào mối liên hệ giữa ngành ñó với các ngành liên quan theo “chuỗi giá
trị”, tức là khả năng tạo ra những ngành mới làm ñầu ra hay cung cấp ñầu vào cho
những ngành ñược chọn ñể ñầu tư. Hirchman chấp nhận có sự can thiệp của nhà nước
nhưng ông cho rằng ý tưởng “cú huých” là không khả thi mà thay vào ñó, sự phát triển
tốt nhất là ñược tạo ra từ những mất cân ñối như thế. Do nguồn vốn có hạn, chính phủ
không thể bảo ñảm ñầu tư một cách rải ñều cho tất cả các ngành mà nên phát triển một
ngành nào ñó ñể tạo ñiều kiện ñể ngành khác phát triển.
Mặt khác, nền kinh tế nước ta ñang ở trình ñộ rất thấp, cơ bản là nền kinh tế
nông nghiệp, trình ñộ khoa học kỹ thuật lạc hậu ñòi hỏi phải có vai trò chủ ñộng của
nhà nước trong việc ñịnh hướng phát triển các ngành kinh tế, nhà nước phải tạo những
tiền ñề nhất ñịnh như hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực … ñể thức ñẩy phát triển kinh
tế.
1.2 Lý thuyết cơ bản về lạm phát
9


1.2.1 Khái niệm lạm phát
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên của mức giá cả chung theo thời gian
(Mankiw, 2003). Trong quan ñiểm này thì lạm phát không phải là hiện tượng giá của
một vài hang hóa nào ñó tăng lên, cũng không phải giá cả chung tăng lên một lần. Như
vậy, lạm phát là sự tăng giá liên tục theo thời gian.
Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua
của ñồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ
của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Thông thường theo nghĩa ñầu tiên thì
người ta hiểu là lạm phát của ñơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc
gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm
vi thị trường toàn cầu.
Về mặt tính toán, lạm phát là phần trăm thay ñổi của chỉ số giá chung trong nền

kinh tế theo từng giai ñoạn.
1.2.2 Đo lường lạm phát
Lạm phát ñược ño lường bằng cách theo dõi sự thay ñổi trong giá cả của một
lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế. Giá cả của các loại hàng hóa
và dịch vụ ñược tổ hợp với nhau ñể ñưa ra một “mức giá cả trung bình chung”, gọi là
mức giá chung của một tập hợp các sản phẩm. Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá chung ở
thời ñiểm hiện tại ñối với mức giá chung của nhóm hàng tương ứng ở thời ñiểm gốc.
Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giá
chung hiện tại so với mức giá chung ở thời ñiểm gốc.
Không tồn tại một phép ño chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ
số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng
như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó ñược thực hiện. Để ño lường mức
giá chung này, các nhà thống kê xây dựng hai chỉ số giá ñể ño lường. Đó là chỉ số giá
tiêu dùng (CPI) hay còn gọi lả chỉ số giá Laspeyres và GDP ñiều chỉnh (GDP deflator)
hay còn gọi là chỉ số giá Paasche. Sự khác biệt duy nhất giữa hai chỉ số này là quan
10


ñiểm của rổ hàng hóa làm trọng số tính toán.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là tỷ số phản ánh giá cả của một rổ hàng hóa trong
nhiều năm so với năm gốc. Nghĩa là rổ hàng hóa ñược lựa chọn ñể tính giá là không
thay ñổi qua nhiều năm. Do ñó CPI có một số nhược ñiểm cơ bản sau:
- CPI chỉ dựa trên một rổ hàng hóa do ñó mức ñộ bao phủ của CPI ñến tất cả các
loại hảng hóa bị hạn chế. Điều này lảm cho CPI không phản ánh hết biến ñộng giá của
hàng hóa trên nền kinh tế.
- Trọng số của các hàng hóa trong rổ hàng hóa dựa chủ yếu vào tỷ phần chi tiêu
của một số loại hàng hóa cơ bản của người dân thành thị vào năm gốc do ñó không
phản ánh ñúng và ñầy ñủ cơ cấu chi tiêu của toản xã hội.
- Trọng số của các hàng hóa trong rổ hàng hóa là cố ñịnh theo năm gốc nên
không phản ánh ñược sự biến ñổi trong cơ cấu hảng hóa tiêu dùng theo thời gian.

GDP deflator là chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức giá chung của tất cả
các loại hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước. Chỉ số ñiều chỉnh GDP cho biết một
ñơn vị GDP ñiển hình của kỳ nghiên cứu có mức giá bằng bao nhiêu phần trăm so với
mức giá cả của năm cơ sở. GDP deflator phản ánh sự biến ñộng GDP danh nghĩa do sự
biến ñộng của giá (cơ sở ñể ñánh giá lạm phát)
Khác với chỉ số giá tiêu dùng (CPI), GDP deflator ñược tính trên giỏ hàng hóa
thay ñổi do vậy nó phản ánh ñược sự thay thế giữa các hàng hóa, dịch vụ với nhau.
Mặc dù vậy nó lại không phản ánh ñược sự giảm sút phúc lợi của người tiêu dùng
trong trường hợp phải tiêu dùng ít hơn một loại hàng hóa nào ñó. CPI chỉ phản ánh
mức giá của hàng tiêu dùng còn GDP deflator phản ánh giá cả của hàng hóa do doanh
nghiệp, chính phủ mua. Vì thế GDP deflator ñược coi là phản ánh ñúng hơn mức giá
chung.
GDP deflator chỉ phản ánh mức giá của những hàng hóa sản xuất trong nước
còn CPI phản ánh mức giá của hàng hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, trên thực tế, số liệu
thống kê cho thấy sự khác biệt giữa CPI và GDP deflator không lớn. Về mặt lý thuyết,
11


CPI thường phóng ñại mức giá sinh hoạt trong khi GDP deflator có xu hướng ñánh giá
thấp mức giá này (Phạm Chung và Trần Văn Hùng, 2002).
Chính vì sự thiếu hoàn hảo của hai chỉ số trên mà I.Fisher ñã ñề nghị một chỉ số
dung hòa hai chỉ số CPI và GDP deflator bằng cách lấy trung bình nhân giữa chúng.
Chỉ số này gọi là Fisher (Fisher index). Tuy nhiên, ý tưởng này của Fisher ñòi hỏi
nhiều giả ñịnh mà hai chỉ số CPI và GDP deflator không thỏa mãn ñó là khả năng ñảo
ngược thời gian và ñào ngược nhân tố. Có một số trở ngại như chỉ số này yêu cầu phải
có ñầy ñủ cả CPI và GDP deflator.
Tóm lại, có nhiểu cách ñể ño lường lạm phát và nó tùy thuộc vào chỉ số giá
chung nào của nền kinh tế ñược áp dụng. Do ñó, việc phân tích lạm phát phải dựa trên
nhiều chỉ số ñối chứng khác nhau và trong một bối cảnh thời gian tương ñối dài ñể
tránh các nhận ñịnh nhất thời.

Công thức tính các chỉ số giá:
Cách 1: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Consumer price index):
CPI
t
=
o
i
'
o
i
n
i
o
i
'
t
i
n
i
qp
qp
1
1
=
=


x 100
Cách 2: Chỉ số giá GDP ñiều chỉnh (GDP deflator):
GDP

t
deflator =
t
i
'
o
i
n
i
t
i
'
t
i
n
i
qp
qp
1
1
=
=


x 100
Cách 3: Chỉ số giá dây chuyền (Fisher index):
Fisher index
t

= (

o
i
'
o
i
n
i
o
i
'
t
i
n
i
qp
qp
1
1
=
=


x
t
i
'
o
i
n
i

t
i
'
t
i
n
i
qp
qp
1
1
=
=


)
1/2
x 100




12


1.3 Mối quan hệ giữa ñầu tư công và lạm phát
1.3.1 Tác ñộng của ñầu tư công ñến lạm phát
Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai công cụ chủ yếu trong việc ñiều
tiết nền kinh tế vĩ mô. Do vậy, ñể ñạt ñược mục tiêu ổn ñịnh kinh tế vĩ mô và kiểm soát
ñầu tư công và lạm phát thì cần thiết phải có sự phối hợp ñồng bộ của chính sách tài

khóa và chính sách tiền tệ. Tùy theo từng trường hợp cụ thể của nền kinh tế mà chính
sách tài khóa “mở rộng” hay “thắt chặt” kết hợp với chính sách tiền tệ “thắt chặt” hay
“nới lỏng” ñược thực hiện.
Chính sách tài khóa: là các quyết ñịnh của chính phủ về chi tiêu (G) và thuế
ròng (T) ñể ñiều tiết mức chi tiêu chung của nền kinh tế. Những thay ñổi về mức ñộ,
thành phần của thuế và chi tiêu Chính phủ có thể ảnh hưởng ñến các biến số của nền
kinh tế như: tổng cung, tổng cầu và mức ñộ hoạt ñộng kinh tế, phân bổ nguồn lực, phân
phối thu nhập.
Chi tiêu Chính phủ (G) bao gồm: chi tiêu dùng công (Cg), chi ñầu tư công (Ig)
và chi chuyển nhượng (Tr).
Khi nền kinh tế bị lạm phát cao, ñể giảm lạm phát chính phủ sẽ thực hiện chính
sách tài khóa thắt chặt, tức là sẽ giảm tổng cầu. Có 3 cách ñể giảm tổng cầu: giảm ñầu
tư công và giữ nguyên thuế, hoặc tăng thuế và giữ nguyên ñầu tư công, hoặc giảm ñầu
tư công và tăng thuế.
Trường hợp giảm ñầu tư công và giữ nguyên thuế: khi ñầu tư công giảm sẽ tác
ñộng làm cho tổng cầu (AD) giảm, khi tổng cầu hàng hóa tức là nhu cầu của người dân
ñối với hàng hóa giảm làm cho giá hàng hóa giảm theo, từ ñó làm giảm áp lực lạm
phát.
Trường hợp tăng thuế và giữ nguyên ñầu tư công: khi thuế tăng làm cho thu
nhập khả dụng (Yd) của người dân giảm do phải nộp thuế cao hơn trong ñiều kiện mức
thu nhập không ñổi, từ ñó làm cho chi tiêu tiêu dùng giảm (do C = Yd - tiết kiệm (S)),
khi chi tiêu cho tiêu dùng giảm kéo theo tổng cầu giảm và do ñó tạo áp lực làm giảm
13


giá hàng hóa và khiến cho lạm phát giảm theo.
Trường hợp vừa giảm ñầu tư công vừa tăng thuế: khi kết hợp giảm ñầu tư công
và tăng thuế sẽ cho kết quả là cộng hưởng của hai trường hợp nêu trên làm cho tổng
cầu giảm mạnh hơn, kéo theo giá cả hàng hóa giảm nhiều hơn và tạo áp lực giảm lạm
phát nhiều hơn.

Chính sách tiền tệ: là những quyết ñịnh của Ngân hàng Trung Ương (NHTW)
nhằm tác ñộng ñến lượng cung ứng tiền và lãi suất cơ bản ñể ñiều tiết vĩ mô ổn ñịnh
nền kinh tế ở mức sản lượng tiềm năng. Để tác ñộng ñến khối lượng tiền giao dịch
NHTW sử dụng 3 công cụ chủ yếu ñó là: công cụ tỷ lệ dữ trữ bắt buộc, công cụ tỷ suất
chiết khấu, công cụ nghiệp vụ thị trường mở. Vậy khi muốn giảm tỷ lệ lạm phát,
NHTW sẽ tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc hoặc tăng tỷ suất chiết khấu hoặc bán ra các chứng
khoán có giá trên thị trường tự do ñể thu tiền về hoặc có thể sử dụng kết hợp các công
cụ này với nhau ñể tạo ra tác ñộng mạnh hơn.
Khi nền kinh tế bị lạm phát cao, NHTW sẽ áp dụng chính sách tiền tệ thu hẹp,
bằng cách tác ñộng trực tiếp ñến cung tiền tệ làm giảm khối tiền giao dịch (M2) trong
lưu thông làm tăng lãi suất từ ñó tác ñộng làm giảm ñầu tư công trong nền kinh tế
khiến cho tổng cầu hàng hóa giảm, làm giảm sản lượng thực tế về mức như mong ñợi.
Phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa:
Chính sách tài khóa liên quan ñến tác ñộng tổng thể của ngân sách ñối với hoạt
ñộng kinh tế. Trong khi ñó, chính sách tiền tệ chủ yếu tập trung vào ổn ñịnh tiền tệ;
ñầu tư công; tạo việc làm và cân bằng cán cân thanh toán có tác dụng kiểm soát lạm
phát trong ngắn hạn. Nếu chỉ có chính sách tiền tệ thì lạm phát khó có thể ñược kiểm
soát về dài hạn. Vì vậy thông thường, NHTW sẽ kết hợp nhịp nhàng hoạt ñộng hai
chính sách này ñể vừa giải quyết ñược các mục tiêu trước mắt, vừa kiểm soát lạm phát
về lâu dài.
Theo lý thuyết thì ñể kiềm chế lạm phát Chính phủ có thể sử dụng chính sách tài
khóa thu hẹp hay chính sách tiền tệ thu hẹp hoặc kết hợp cả hai chính sách này ñể tăng
14


AD
P
1

P

0
E
E
1

Gi
á

Sản lượng
AD
1
AS
0
Q
1
0

Q
0

hiệu quả của chính sách. Tuy nhiên vẫn có khoảng cách từ lý thuyết ñến thực tế, do
trong thực tế nền kinh tế Việt Nam hiện nay chưa hoàn toàn phát triển theo cơ chế thị
trường mà chịu nhiều tác ñộng của các yếu tố khác như việc sử dụng vốn Nhà nước
không hiệu quả, nạn tham nhũng, tình trạng ñộc quyền, làm giá, yếu tố lạm phát kỳ
vọng của người dân cao, hoạt ñộng của hệ thống ngân hàng chưa thật sự lành mạnh và
minh bạch… ñã bóp méo tác dụng và làm giảm hiệu quả của chính sách.
Hình 1.1: Đồ thị Tổng cung và Tổng cầu











1.3.2 Tác ñộng của lạm phát ñến ñầu tư công
Lạm phát luôn là một vấn ñề rất nhạy cảm và nó tác ñộng rất lớn ñến nền kinh tế
nói chung và hoạt ñộng ñầu tư công nói riêng. Lạm phát cao sẽ dẫn ñến một cuộc
khủng hoảng kinh tế kéo dài và nó sẽ gây ra một hậu quả rất lớn. Khi lạm phát tăng lên
trong thời kì nào thì nó sẽ làm cho lãi suất có xu hướng tăng. Điều này có thể giải thích
như sau:
Xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa cho thấy ñể
duy trì lãi suất thực không ñổi, tỷ lệ lạm phát tăng ñòi hỏi lãi suất danh nghĩa phải tăng
lên tương ứng.
Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát
15


Lãi suất danh nghĩa hay lãi suất cho vay lại chính là chi phí sử dụng vốn do ñó
khi tăng lãi suất, hiệu quả ñầu tư công sẽ thay ñổi theo chiều hướng xấu.
Lạm phát ñã tác ñộng trực tiếp ñến các khoản chi phí của ñầu tư công. Nếu mức
lạm phát càng cao thì khối lượng vốn ñầu tư công ñể thực hiện thi công xây lắp các
công trình trong tương lai càng cao so với lượng tính theo thực tại. Lạm phát càng tăng
làm nhu cầu tiền mặt tăng và do ñó hiệu quả dự án ñầu tư công càng thấp.
Ta có thể ñánh giá hiệu quả tài chính của dự án ñầu tư công thông qua hệ thống
các chỉ tiêu như: chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần, tỷ suất sinh lời cho vốn ñầu
tư, tỷ suất hoàn vốn nội bộ … Giả sử ta dùng chỉ tiêu thu nhập thuần của dự án ñể ñánh
giá hiệu quả tài chính của dự án . Chỉ tiêu này cho phép ñánh giá ñầy ñủ quy mô lãi của

cả ñời dự án. Thu nhập thuần của dự án tại một thời ñiểm (ñầu thời kỳ phân tích – PV
hay cuối thời kỳ phân tích – FV) là chênh lệch giữa tổng các khoản thu và tổng các
khoản chi phí của cả ñời dự án sau khi ñã ñược ñưa về cùng một thời ñiểm (PV hay
FV). Thu nhập thuần của dự án ñược tính chuyển về mặt bằng hiện tại ñầu thời kỳ phân
tích, ký hiệu NPV (Net Present Value) ñược xác ñịnh theo công thức:
NPV =
∑∑
==
+

+
n
i
i
i
n
i
i
i
r
C
r
B
00
)1()1(

Trong ñó:
B
i
: Khoản thu của năm i

C
i
: Khoản chi phí của năm i (không bao gồm khấu hao và lãi vay)
n: Số năm hoạt ñộng của ñời dự án
r: Tỷ suất chiết khấu ñược chọn
Giả sử, với tỷ suất chiết khấu r ta tính ñược NPV dương, tức là dự án ñầu tư
công có hiệu quả tài chính. Nhưng do lạm phát tăng, lãi suất vốn vay cũng tăng lên, r
tăng lên thành r
1
, lúc này NPV có thể vẫn dương nhưng ñã bị giảm hoặc trong trường
hợp xấu thì NPV có thể âm. Một khi dự án ñang ñược thực hiện thì chủ ñầu tư bắt buộc
phải chấp nhận ñiều này và tìm ra giải pháp khắc phục ñể giảm hậu quả gây rối loạn
16


các dự án. Nhiều dự án còn phải tạm ngừng triển khai gây nguy hại ñến nền kinh tế.
Còn khi dự án mới chỉ trong giai ñoạn chuẩn bị ñầu tư thì bắt buộc chủ ñầu tư phải tìm
hướng phát triển khác hoặc ñiều chỉnh lại giá trị của dự án.
Như vậy, lạm phát ñã ảnh hưởng ñến hiệu quả ñầu tư công, làm giảm hiệu suất
các dự án ñầu tư công ñang hoạt ñộng.
1.4 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa ñầu tư công và lạm phát
Hiện nay, trên thế giới ñã có nhiều tác giả nghiên cứu về mối quan hệ giữa ñầu
tư và lạm phát, dưới ñây tác giả xin trình bày tóm lược một vài nghiên cứu ñiển hình về
vấn ñề này.
1.4.1 Tác ñộng của lạm phát ñến ñầu tư công
- Barro (1995) sử dụng mô hình hồi qui ña biến ñể nghiên cứu tác ñộng của lạm
phát ñến ñầu tư và tăng trưởng kinh tế với dữ liệu bảng của 100 quốc gia từ năm 1960
ñến năm 1990. Tác giả ñã kết luận việc giảm tăng trưởng kinh tế xảy ra do giảm trong
xu hướng ñầu tư ñó là kết quả của lạm phát. Ông tiếp tục cho thấy sự gia tăng lạm phát
trung bình 10% mỗi năm dẫn ñến giảm tỷ lệ ñầu tư so với GDP là 0,4-0,6% và việc

giảm ñầu tư sẽ làm giảm GDP 0,2-0,3% mỗi năm. Vì vậy, lạm phát làm giảm mức ñộ
ñầu tư và do ñó việc giảm ñầu tư ảnh hưởng xấu ñến tăng trưởng kinh tế.
- McClain và Nichols (1994) sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ñể kiểm tra một
mối quan hệ dài hạn giữa lạm phát và ñầu tư bằng cách sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian
của Hoa Kỳ trong giai ñoạn 1929-1987. Điều ngạc nhiên, tác giả thấy rằng ñầu tư và
lạm phát có tương quan dương với nhau. Tác giả cho rằng phát hiện này là phù hợp,
với việc giải thích rằng hiệu ứng thu nhập của lạm phát làm gia tăng tiết kiệm, hiệu
ứng Fisher không ñầy ñủ làm giảm chi phí thực của quỹ, và biến ñộng giá trái phiếu do
lạm phát làm gia tăng giá trị thực của công ty, tất cả dẫn ñến ñầu tư thực tăng cao.
- Min Li (2007) sử dụng mô hình VAR ña biến và phương pháp tiếp cận VECM
ñể ñiều tra tác ñộng ngắn hạn và dài hạn của lạm phát ñến ñầu tư và tăng trưởng kinh tế
cho một mẫu của 50 quốc gia (19 phát triển và 31 nước ñang phát triển) từ năm 1957

×