Tải bản đầy đủ (.pdf) (90 trang)

Ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.39 MB, 90 trang )

B GIÁO D C VÀ ÀO T O
TR

NG

I H C KINH T THÀNH PH H CHÍ MINH

TR NH TH BÉ NG C

NH H
NG C A QUY T NH C U TRÚC V N
N
HI U QU HO T
NG C A CÁC DOANH NGHI P
TRONG NGÀNH CÔNG NGHI P NIÊM Y T T I TH
TR
NG CH NG KHOÁN VI T NAM

LU N V N TH C S KINH T

Thành Ph H Chí Minh - N m 2013


B GIÁO D C VÀ ÀO T O
TR

NG

I H C KINH T THÀNH PH H CHÍ MINH

TR NH TH BÉ NG C



NH H
NG C A QUY T NH C U TRÚC V N
N
HI U QU HO T
NG C A CÁC DOANH NGHI P
TRONG NGÀNH CÔNG NGHI P NIÊM Y T T I TH
TR
NG CH NG KHOÁN VI T NAM

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã s : 60340201

LU N V N TH C S KINH T
Ng

ih

ng d n khoa h c: TS. NGUY N TH UYÊN UYÊN

Thành Ph H Chí Minh - N m 2013


i

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cô Nguyễn Thị Uyên Uyên,
giảng viên trường Đại học Kinh Tế là giáo viên trực tiếp hướng dẫn tơi làm đề
tài này, cơ đã tận tình hướng dẫn tôi, truyền đạt cho tôi những lời khuyên có giá
trị, hỗ trợ tơi trong suốt q trình tơi làm luận văn này.

Tiếp đến, tơi xin kính gửi lời cám ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các thầy cô
trường Ðại Học Kinh Tế TPHCM, đã truyền đạt kiến thức, cung cấp tài liệu cần
thiết cùng với những câu trả lời giúp tơi hồn thành bài luận văn này.
Và cuối cùng tôi cũng xin cảm ơn tất cả các khách hàng, các anh chị đồng
nghiệp, các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính, gia đình, bạn bè, đã giúp đỡ tôi
trong thời gian qua.
Luận văn này chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tơi mong nhận
được những ý kiến đóng góp xây dựng của Q thầy cơ và các bạn.
Trân trọng,

Trịnh Thị Bé Ngọc - Trường Ðại Học Kinh Tế TPHCM


ii

LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của tơi, có sự hỗ trợ và giúp đỡ
của người hướng dẫn khoa học TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên. Các số liệu và
thông tin sử dụng trong luận văn này đều có nguồn gốc, trung thực và được
phép cơng bố.

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2013

Trịnh Thị Bé Ngọc


iii

MỤC LỤC
TÓM TẮT ............................................................................................................ 1

CHƯƠNG 1 – GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI ................................................................... 2
1.1.

Lý do chọn đề tài ................................................................................................... 2

1.2.

Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................... 3

1.3.

Vấn đề nghiên cứu ....................................................................................... 3

1.4.

Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 4

1.5.

Ý nghĩa cơng trình nghiên cứu .................................................................... 4

1.6.

Bố cục luận văn ........................................................................................... 4

CHƯƠNG 2 – CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI
VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA QUYẾT ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP ............................................................... 6
CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................. 19
3.1.


Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 19

3.1.1 Mơ hình kinh tế lượng ........................................................................................ 19
3.1.2

Dữ liệu nghiên cứu .................................................................................... 20

3.1.3

Mô tả các biến nghiên cứu ....................................................................... 21

3.1.3.1

Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp .................................................... 22

3.1.3.2

Cấu trúc vốn ...................................................................................... 24

3.1.3.3

Biến kiểm soát .................................................................................. 24

3.2.

Xử lý dữ liệu và phương pháp ước lượng ................................................. 25


iv

CHƯƠNG 4 – KIỂM ĐỊNH SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA QUYẾT ĐỊNH CẤU
TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHỐN VIỆT NAM ........................................................................... 27
4.1.

Mơ tả dữ liệu ........................................................................................................ 27

4.2.

Kết quả hồi quy và thảo luận ..................................................................... 29

CHƯƠNG 5 – KẾT LUẬN .................................................................................. 38
Tài liệu tham khảo .................................................................................................. 40
PHỤ LỤC 1 – Nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau của các kết quả nghiên
cứu trên thế giới.
PHỤ LỤC 2 – Danh mục các doanh nghiệp ngành công nghiệp trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
PHỤ LỤC 3 – Kết quả chạy mơ hình hồi quy.


v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CPT

Cổ phần thường

2 CPƯĐ Cổ phần ưu đãi
3 CTV


Cấu trúc vốn

4 GM

Tỷ suất lợi nhuận gộp biên

5 HSX

Thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

6 HNX

Thị trường chứng khốn Hà Nội

7 LEV

Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu

8 LTDTA Nợ dài hạn trên tổng tài sản
9 OCS

Cấu trúc vốn tối ưu

10 OLS

Phương pháp hồi quy bình phương bé nhất

11 PROF


Lợi nhuận trước thuế và lãi vay cộng khấu hao trên tổng tài sản

12 ROA

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

13 ROE

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

14 STDTA Nợ ngắn hạn trên tổng tài sản
15 TDTA

Tổng nợ trên tổng tài sản

16 TD/TA Tổng nợ trên tổng tài sản


vi
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, BẢN BIỂU
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về sự ảnh hưởng
của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Bảng 3.1: Mô tả khái quát mơ hình nghiên cứu
Bảng 3.2: Phân loại mẫu theo các lĩnh vực công nghiệp
Bảng 3.3: Tổng hợp một số các biến về cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp trong các nghiên cứu trên thế giới
Bảng 4.1: Mô tả thống kê (Descriptive Statistics)
Bảng 4.2: Cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động qua thang đo ROA
Bảng 4.3: Cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động qua thang đo ROE
Bảng 4.4: Cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động qua thang đo GM

Bảng 4.5: Cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động qua thang đo Tobin’s Q


1

TÓM TẮT
Bài nghiên cứu kiểm tra sự ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả
hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam đo lường thông qua các biến đại diện
là ROA, ROE, GM và Tobin’s Q. Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng của 312
doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong 7 lĩnh vực
của ngành công nghiệp để thu thập mẫu. Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy
bình phương bé nhất (OLS) để xem xét ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn
đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Bài nghiên cứu tìm thấy rằng cấu trúc vốn
của doanh nghiệp là một yếu tố quyết định quan trọng đến hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp. Trong đó, yếu tố nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (STDTA), nợ
dài hạn trên tổng tài sản (LTDTA), tổng nợ trên tổng tài sản (TDTA) có tác động
ngược chiều thơng qua ROA. Có nghĩa là việc sử dụng nợ càng cao càng làm
giảm hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Trong khi đó, thơng qua thang đo ROE
thể hiện cả ba xu hướng tác động: một là STDTA thể hiện tác động cùng chiều,
nghĩa là STDTA càng cao thì càng làm tăng hiệu quả hoạt động doanh nghiệp,
hai là LTDTA có tác động ngược chiều, nghĩa là LTDTA càng cao càng làm
giảm hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, ba là, TDTA không tác động hiệu quả
hoạt động qua ROE. Với thang đo tỷ suất lợi nhuận gộp biên (GM) thì STDTA,
TDTA có tác động ngược chiều, còn LTDTA thể hiện tác động cùng chiều với
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tiếp theo, với thang đo Tobin’s Q có mối
tương quan cùng chiều nhưng khơng đáng kể. Yếu tố quy mô thể hiện tác động
ngược chiều đến hiệu quả doanh nghiệp qua các biến ROA, ROE, GM và khơng
có tương quan qua thang đo Tobin’s Q. Nhìn chung, các cơng ty trong các ngành
cơng nghiệp của Việt Nam phụ thuộc phần lớn vào nợ ngắn hạn, việc sử dụng nợ
không đạt hiệu quả đã ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong

giai đoạn nghiên cứu.

Từ khóa: cấu trúc vốn; hiệu quả hoạt động; lĩnh vực công nghiệp


2

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1

Lý do chọn đề tài

Quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp đóng vai trị quan trọng trong việc tối
đa hóa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong những năm gần
đây, dưới sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính trên toàn thế giới đã dấy
lên mối lo ngại về việc sử dụng đòn bẩy quá mức của các doanh nghiệp và tác
động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, yêu cầu
đặt ra là xem xét ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng.
Thời gian qua, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về ảnh hưởng của quyết định
cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp trên thế giới nhưng hầu hết
trong số đó là sự xem xét trong các nền kinh tế phát triển và hạn chế ở các nước
đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam. Vì vậy, chúng ta khơng thể khái qt hóa
các kết quả của các nền kinh tế phát triển cho các nền kinh tế đang phát triển mà
khơng có bất kỳ nghiên cứu nào về sự ảnh hưởng này ở chính các quốc gia đó,
đặc biệt là ở Việt Nam. Eldomiaty (2007) cho biết, thị trường vốn ở các nước thị
trường mới nổi là không đầy đủ hoặc không hiệu quả so với các thị trường các
nước phát triển vì những vấn đề thông tin bất cân xứng. Điều này tạo ra một khía
cạnh nghiên cứu mà mức độ quan trọng của quyết định cấu trúc vốn không theo
quy tắc nào tại thị trường các nước đang phát triển. Vì những lý do này, điều thật

sự cần thiết là đánh giá ảnh hưởng của mức độ sử dụng địn bẩy tài chính đến
hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ở Việt Nam: một nền kinh tế thị trường
đang phát triển. Nghiên cứu này tập trung vào sự ảnh hưởng của quyết định cấu
trúc vốn đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp trong ngành cơng nghiệp, đây là
một ngành địi hỏi nhiều vốn, là nơi mà các quyết định về cấu trúc vốn tối ưu là
nền tảng cho việc gia tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và điều đó giải
thích cho tầm quan trọng của nghiên cứu này.
Tiếp theo, do sự thay đổi nhanh chóng trong những yếu tố chính trị xã hội và vấn


3
đề về tự do hóa thương mại và hội nhập quốc tế cụ thể trong bối cảnh của thị
trường Việt Nam hiện nay và tốc độ mà doanh nghiệp đang định hình lại dẫn đến
cả hai thay đổi về cấu trúc và thay đổi về chính sách địi hỏi các thơng tin mới
phải cập nhật một cách nhanh chóng hơn so với trước đây để đưa ra quyết định
tối ưu về cấu trúc vốn. Do đó, sự cần thiết của nghiên cứu để cập nhật các thay
đổi mang lại ý nghĩa cho quyết định xây dựng cấu trúc vốn và tác động của cấu
trúc vốn đến hiệu quả hoạt động đã được đề cập.
Từ những nguyên nhân trên, trong phạm vi kiến thức của mình, tác giả thực hiện
đề tài “Ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các
doanh nghiệp trong ngành công nghiệp niêm yết tại thị trường chứng khốn Việt
Nam” trong đó tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012.
1.2

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu này là đo lường để tìm ra ảnh hưởng của quyết định cấu
trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp
hiện đang niêm yết trên Sàn HSX và Sàn HNX trong giai đoạn từ năm 2008 đến
năm 2012 thông qua kiểm định thống kê.

Từ đó, giúp các doanh nghiệp Việt Nam tìm thấy được ý nghĩa của quyết định
cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp cũng như xây dựng cho doanh
nghiệp mình một cấu trúc vốn tối ưu, một nền tảng tài chính vững mạnh trong bối
cảnh cạnh tranh gay gắt và vực dậy doanh nghiệp trong giai đoạn khủng hoảng
hiện nay.
1.3

Vấn đề nghiên cứu

Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu trên, tác giả xem xét đặc điểm cấu trúc vốn và sự
ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các doanh
nghiệp Việt Nam. Nói cách khác, nghiên cứu nhằm ước tính có một tỷ lệ nợ cao
trong cấu trúc vốn có ảnh hưởng bất lợi đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
và ngược lại. Trên cơ sở đó, đề tài tập trung trả lời các câu hỏi sau:


4
Có hay khơng sự ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn, quy mô doanh
nghiệp đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp?
Sự thay đổi trong cấu trúc vốn có liên quan đến sự thay đổi trong hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp.
Sự thay đổi trong cấu trúc vốn có phải là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi
trong hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
1.4

Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu này sử dụng các nghiên cứu trước đây để làm cơ sở cho việc kiểm
định sự ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các
doanh nghiệp trong ngành công nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán

Việt Nam trong giai đoạn năm 2008 đến năm 2012. Dữ liệu chạy mơ hình được
thu thập từ các báo cáo tài chính của 312 doanh nghiệp trong ngành công nghiệp
trên sàn HSX và sàn HNX được công bố hàng năm tại trang web
www.tvsi.com.vn. Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất
(OLS – Ordinary Least Squares) để tiến hành chạy mơ hình hồi quy qua chương
trình SPSS 20.
1.5

Ý nghĩa của cơng trình nghiên cứu

Hệ thống lại các nghiên cứu trước đây về sự ảnh hưởng của quyết định cấu trúc
vốn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trên thế giới.
Đề tài cũng đã tìm ra sự ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt
động của các doanh nghiệp trong ngành cơng nghiệp tại thị trường chứng khốn
Việt Nam trong giai đoạn năm 2008 – 2012 và cung cấp được thêm một bằng
chứng thực nghiệm chứng minh cho sự tác động này tại thị trường Việt Nam.
1.6

Bố cục luận văn

Luận văn chia làm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài.


5
Giới thiệu sơ lược về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề nghiên
cứu cũng như phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài.
Chương 2: Tổng quan về các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về ảnh hưởng
của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về sự ảnh hưởng của quyết

định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Đưa ra mơ hình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, trên cơ sở đó tác giả sử dụng dữ
liệu bảng (panel data) để chạy hồi quy theo cách: Pooled Ordinary Least Square
(Hồi quy OLS gộp). Để tìm ra ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn gồm các
biến như: STDTA, LTDTA, TDTA, LNTA qua các biến thể hiện hiệu quả hoạt
động doanh nghiệp như: ROA, ROE, GM, Tobin’s Q.
Chương 4: Kiểm định sự ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả
hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.
Kiểm định sự ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của
các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp tại thị trường chứng khốn Việt Nam
thơng qua kết quả chạy mơ hình hồi quy.
Trình bày các kết quả từ mơ hình nghiên cứu
Chương 5: Kết luận
Kết luận của bài nghiên cứu. Qua đó, đưa ra các hạn chế cần khắc phục và hướng
cho các nghiên cứu tiếp theo.


6
CHƯƠNG 2
CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ ẢNH
HƯỞNG CỦA QUYẾT ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
Ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
đã được nhiều nhà nghiên cứu trên toàn thế giới đề cập. Trong đó, lần đầu tiên
được đề cập bởi Modigliani và Miller (1958), bài nghiên cứu được đăng trên tạp
chí Amerian Economic Review số ra 48, tháng 6 năm 1958 với tựa đề “The Cost
of Capital, Corporation Finance and the Theory of Investment”. Các ông cho
rằng các quyết định về cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị của doanh

nghiệp trong trường hợp khơng có thuế, khơng có thơng tin bất cân xứng, khơng
có chi phí phá sản, khơng có chi phí giao dịch và trong một thị trường hiệu quả
với kỳ vọng thị trường đồng nhất. Theo các giả định nghiêm ngặt trên, các loại
nguồn tài trợ sử dụng không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Nhưng các thị
trường thế giới đã không hoạt động trên các giả định đó. Trong thực tế, ln tồn
tại các vấn đề như: bất cân xứng thơng tin, chi phí đại diện…
Trong đó, vấn đề về chi phí đại diện được đề cập trong bài nghiên cứu của Jensen
& Meckling (1976) “Theory of the firm: managerial behavior, agency cost and
ownership structure” đã chỉ ra sự tồn tại của chi phí đại diện là do quyền sở hữu
đại diện là các cổ đông và quyền kiểm soát là các nhà quản lý của công ty nằm
trong tay hai chủ thể khác nhau ở hầu hết các doanh nghiệp. Các nhà quản lý
khơng có động lực để nỗ lực hết mình nhằm gia tăng tối đa giá trị doanh nghiệp,
mà sẽ quan tâm nhiều hơn đến lợi ích cá nhân hoặc đưa ra các chính sách phù
hợp với lợi ích riêng của mình và kết quả dẫn đến sự mất mát trong giá trị của
cơng ty và gây tổn hại đến lợi ích các cổ đơng. Vì vậy, quyết định tài trợ liên
quan đến việc xây dựng cấu trúc vốn tập trung vào việc sử dụng địn bẩy tài chính
như một cơng cụ kiểm sốt để hạn chế các hành vi cơ hội vì lợi ích cá nhân của
các nhà quản lý. Chính điều đó làm giảm dịng tiền tự do của các cơng ty bằng


7
cách thanh tốn các khoản có lãi suất cố định và quản lý nguồn lực để tránh đầu
tư vào những dự án có mức sinh lợi kém và ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đơng và
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Theo đó, bài nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976) cũng đã chứng minh
được từ việc ra quyết định tài trợ để xác lập cấu trúc vốn công ty cũng có thể đưa
đến mâu thuẫn phát sinh giữa các cổ đông và các nhà quản lý mà nguyên nhân
xuất phát từ mức độ sử dụng địn bẩy, vì các nhà quản lý sẽ nhận được sự
khuyến khích hay hạn chế để đưa ra các quyết định vì lợi ích cổ đông hay hành vi
làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Sau đó, một nghiên cứu cải tiến của lý thuyết này là lý thuyết phát tín hiệu của
Ross (1977), Leland và Pyle (1977) “The determination of financial structure:
The incentive-signaling approach” và “Informational Asymmetries, Financial
Structure, and Financial Intermediation”, trong lý thuyết này đã nói rằng, sự
thay đổi trong quyết định cấu trúc vốn sẽ chuyển các tín hiệu thơng tin quan trọng
về viễn cảnh tương lai của doanh nghiệp từ các nhà quản lý đến nhà đầu tư bên
ngoài. Thực tế, ban quản lý doanh nghiệp nắm thơng tin rõ hơn các nhà đầu tư
bên ngồi về tình hình tài chính cũng như chiến lược kinh doanh trong tương lai
của doanh nghiệp. Do đó khi dự đoán được viễn cảnh tốt đẹp về bức tranh kinh
doanh của doanh nghiệp, các nhà quản lý không muốn chia sẻ lợi ích cho các nhà
đầu tư mới bên ngồi. Họ sẽ sử dụng nhiều nợ hơn trong cấu trúc vốn. Những
nhà đầu tư thông thái cho rằng giá trị của doanh nghiệp sẽ tăng lên nếu như
doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ. Ngược lại, khi bức tranh ảm đạm của viễn cảnh
kinh doanh khơng mấy tốt đẹp thì các nhà quản lý lại có xu hướng chia sẻ rủi ro
đó với các nhà đầu tư mới. Đây là cơ sở mà lý thuyết phát tín hiệu cho rằng khi
các doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu ra thị trường thì đồng nghĩa với quan
điểm của các nhà quản lý là giá chứng khoán bị đánh giá quá cao.
Trong khi đó, lý thuyết trật tự phân hạng được đặt nền tảng bởi Myers và Majluf
(1984) trong nghiên cứu “Corporate financing and investment decisions when


8
firm have information that investors do not have” về cấu trúc vốn doanh nghiệp
nói rằng các cơng ty đang phải đối mặt với vấn đề bất cân xứng thông tin và chi
phí giao dịch. Điều đó làm ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và tài trợ của doanh
nghiệp. Bởi vì các nhà quản lý có nhiều thơng tin hơn những nhà đầu tư bên
ngoài, đứng ở vị thế của những nhà đầu tư đang hiện hữu thì những nhà đầu tư
mới yêu cầu một mức chiết khấu cao khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán và
điều này dẫn đến việc chi phí cho các nguồn tài trợ bên ngồi thì rất đắt đỏ.
Chính vì vậy, khi doanh nghiệp có nhu cầu về vốn, họ thường sử dụng nguồn tài

trợ nội bộ, là lợi nhuận giữ lại đầu tiên và chỉ cân nhắc đến nguồn tài trợ bên
ngoài khi mà nguồn tài trợ nội bộ thiếu hoặc không đủ, khi đó nguồn tài trợ bên
ngồi đầu tiên xem xét là chứng khoán nợ và phát hành cổ phần thường mới là
lựa chọn cuối cùng.
Jensen (1986) trong nghiên cứu về lý thuyết dòng tiền tự do“Agency costs free
cash flow, corporate finance, and takeovers” đã cho rằng dòng tiền mặt dư thừa
được sử dụng để đầu tư vào các dự án có mức sinh lợi kém hoặc đầu tư vào các
tổ chức hoạt động không hiệu quả tạo ra mâu thuẫn giữa các cổ đông và các nhà
quản lý, bởi các nhà quản lý vì lợi ích bản thân thường có xu hướng mở rộng quy
mơ của cơng ty thậm chí là thực hiện cả những dự án gây hại đến lợi ích của cổ
đông, dẫn đến “đầu tư quá mức” (over-investment). Trong trường hợp này nếu sử
dụng nợ vay sẽ giúp hạn chế vấn đề đầu tư quá mức và nợ được xem là một cơng
cụ hữu ích để giải quyết vấn đề dòng tiền tự do.
Trong nghiên cứu “the theory of capital structure” của Harris và Raviv (1991)
về lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn cho rằng các quyết định của doanh nghiệp về
việc sử dụng vốn vay hoặc vốn cổ phần trong cấu trúc vốn là dựa trên các chi phí
và lợi ích gắn liền với từng loại nguồn vốn. Một cấu trúc vốn tối ưu là sự cân
bằng giữa lợi ích và chi phí của nợ. Trong đó lợi ích của nợ là lợi ích từ tấm chắn
thuế của lãi vay. Chi phí tiềm tàng của nợ bao gồm cả chi phí phá sản và chi phí
đại diện giữa chủ sở hữu và chủ nợ. Lý thuyết này cũng giúp giải thích được tỷ lệ


9
nợ khác nhau giữa các ngành. Những doanh nghiệp có tài sản hữu hình an tồn
và khả năng sinh lợi cao thì nên có tỷ lệ nợ mục tiêu cao. Ngược lại, các công ty
mà khả năng sinh lợi thấp và tài sản vơ hình là chủ yếu thì nên lựa chọn một cấu
trúc vốn với tỷ lệ nợ thấp. Vì vậy doanh nghiệp phải cân bằng giữa chi phí và lợi
ích với từng nguồn tài trợ trong việc quyết định về cấu trúc vốn tối ưu.
Tiếp đến, trong nghiên cứu“Market timing and capital structure” của Baker và
Wurgler (2002) về lý thuyết định thời điểm thị trường nói rằng các doanh nghiệp

cố gắng phát hành cổ phiếu mới khi giá cổ phiếu đang cao so với giá trị sổ sách
và mua lại cổ phiếu khi giá trị thị trường của cổ phiếu xuống thấp. Những điều
này đơn giản chỉ là những nhà quản trị tin rằng họ có thể gia nhập thị trường
đúng lúc để tối đa hóa giá trị và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mình.
Trên đây là những lý thuyết nghiên cứu quan trọng liên quan đến sự ảnh hưởng
của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trên
thế giới trong nhiều thập kỷ qua. Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm trên
thế giới trong thời gian gần đây đã chỉ ra tầm quan trọng của quyết định cấu trúc
vốn và sự ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cụ thể:
Nghiên cứu Krishnan và Moyer(1997), trong bài nghiên cứu “Performance,
Capital Structure and Home Country: An Analysis of Asian Corporations” cung
cấp một cái nhìn thực tiễn về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và cấu trúc
vốn của những doanh nghiệp lớn đến từ 4 nền kinh tế thị trường mới nổi của
Châu Á. Trong bài nghiên cứu này nhóm tác giả xem xét 81 doanh nghiệp từ
Hồng Kông, Malaysia, Singapore và Hàn Quốc và phát hiện rằng địn bẩy tài
chính dường như khơng tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà cả
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và cấu trúc vốn đều ảnh hưởng bởi đặc
điểm nền kinh tế của từng quốc gia. Cụ thể hơn, nhóm tác giả tìm thấy các doanh
nghiệp Hồng Kơng có tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao hơn đáng kể và
vốn được đầu tư nhiều hơn những doanh nghiệp đến từ các nước khác. Điều này
có thể do cấu trúc kinh doanh đặc trưng của Hồng Kông. Sự khác biệt trong hiệu


10
quả hoạt động giữa các doanh nghiệp từ các nước khác nhau mang tính thống kê
khơng cao. Những doanh nghiệp từ Hàn Quốc có địn bẩy tài chính cao hơn đáng
kể so với các doanh nghiệp từ các nước khác.
Kích thước của công ty cũng là một yếu tố quan trọng trong quyết định cấu trúc
vốn của doanh nghiệp và tối đa hóa hiệu quả hoạt động. Shergill và Sarkaria
(1999), trong bài nghiên cứu”Impact of Industry Type and Firm Characteristics

on Firm - Financial Performance- Evidence from Indian Industry level”, tìm thấy
sự tác động cùng chiều giữa quy mô doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của các
công ty ở Ấn Độ. Các doanh nghiệp có quy mơ lớn đã tăng cường đa dạng hóa,
mở rộng quy mơ, từ đó được tiếp cận với công nghệ tiên tiến và dễ dàng cho họ
để có được nguồn vốn với chi phí thấp hơn.
Schiantarelli và Sembenelli (1999) trong nghiên cứu“The Maturity Structure of
Debt: Determinants and Effects on Firms’ Performance: Evidence from the
United Kingdom and Italy” đã sử dụng dữ liệu bảng của các doanh nghiệp ở Anh
và Ý để điều tra các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp thông
qua cấu trúc kỳ hạn của nợ, sự ảnh hưởng của thời gian đáo hạn lên các khoản nợ
gọi là cấu trúc kỳ hạn của nợ. Các tác giả tìm thấy việc lựa chọn cấu trúc vốn có
tính tương thích giữa kỳ hạn nợ với tài sản được tài trợ. Tác giả tìm thấy tác động
cùng chiều giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiêp thông qua
biến nợ dài hạn trên tổng tài sản. Nhóm tác giả kết luận rằng những doanh nghiệp
hoạt động có lợi nhuận cao có xu hướng sử dụng nợ dài hạn nhiều hơn. Phát hiện
này phù hợp bởi vì các doanh nghiệp thường đương đầu với rủi ro thanh khoản và
sự thất bại trong quản lý liên quan đến tài trợ bằng nợ ngắn hạn. Điều này có thể
phản ánh tính sẵn sàng của thị trường tài chính để tài trợ các khoản nợ dài dạn
đến những doanh nghiệp có hiệu quả hoạt động cao.
Gleason và cộng sự (2000), trong bài nghiên cứu “The Interrelationship between
Culture, Capital Structure, and Performance: Evidence from European
Retailers” đã sử dụng dữ liệu từ các doanh nghiệp bán lẻ ở 14 nước Châu Âu để


11
xác định mức độ ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp. Kết quả cho thấy rằng tồn tại tác động ngược chiều của cấu trúc vốn đến
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đo bằng tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản
(ROA) và tỷ suất lợi nhuận gộp biên (GM), do mâu thuẫn phát sinh giữa chủ sở
hữu và nhà quản lý dẫn đến việc sử dụng địn bẩy tài chính cao hơn mức độ phù

hợp trong cấu trúc vốn, từ đó làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Deesomsak (2004), trong bài nghiên cứu “The determinants of capital structure:
evidence from the Asia Pacific region” trên các cơng ty Malaysia tìm thấy ảnh
hưởng ngược chiều của mức độ sử dụng đòn bẩy đến hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp đo lường bằng tỷ suất lợi nhuận gộp biên (GM). Các công ty
Malaysia đã sử dụng nguồn tài trợ nội bộ khi lợi nhuận cao được hỗ trợ lý thuyết
trật tự phân hạng. Hơn nữa, ảnh hưởng của địn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt
động của các công ty ở Singapore, Đài Loan và các công ty ở Úc là ngược chiều
nhưng không đáng kể. Ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp lên địn bẩy tài
chính là cùng chiều và đáng kể cho tất cả các quốc gia, ngoại trừ Singapore với
ảnh hưởng khơng đáng kể vì các doanh nghiệp tại Singapore có sự hỗ trợ của
chính phủ và ít tiếp xúc với chi phí kiệt quệ tài chính.
Abor (2005), trong bài nghiên cứu”The effect of capital structure on profitability:
an empirical analysis of listed firms in Ghana”, đã đánh giá sự ảnh hưởng của
quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cho các công
ty niêm yết trên thị trường chứng khốn Ghana. Ơng đã tìm thấy ảnh hưởng cùng
chiều của nợ ngắn hạn trên tổng tài sản đối với tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở
hữu mà nguyên nhân xuất phát từ lãi suất thấp. Nợ ngắn hạn chiếm 85% trên tổng
số nợ của các doanh nghiệp tại Ghana và là một thành phần chính trong nguồn tài
trợ của họ. Tuy nhiên, có tác động ngược chiều tồn tại giữa nợ dài hạn và tỷ suất
sinh lời của vốn chủ sở hữu, do các khoản nợ dài hạn có chi phí sử dụng tốn kém
hơn trong thị trường này. Tác động của tổng nợ trên tổng tài sản lên tỷ suất sinh
lời của vốn chủ sở hữu là cùng chiều bởi tỷ nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn


12
trong tổng số nợ. Ơng cho rằng các cơng ty hoạt động có hiệu quả phụ thuộc rất
lớn vào nợ như một nguồn tài trợ chính của doanh nghiệp.
Huang và Song (2006), trong nghiên cứu “The determinants of capital structure:
Evidence from China” đã phát hiện ra rằng có ảnh hưởng ngược chiều tồn tại

giữa địn bẩy tài chính được đo bằng nợ dài hạn trên tổng tài sản, tổng nợ trên
tổng tài sản và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đo bằng tỷ suất sinh
lời trên tổng tài sản (ROA). Hơn nữa, các cơng ty có quy mơ lớn sử dụng nợ
nhiều hơn để tăng kích thước của cơng ty từ đó dẫn đến tăng mức độ sử dụng đòn
bẩy của doanh nghiệp.
Abor (2007), trong bài nghiên cứu “Debt policy and performance of SMEs:
evidence from Ghanaian and South Africa firms” đã đánh giá ảnh hưởng của
quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ
(SMEs) ở Nam Phi và Ghana. Ông đã tìm thấy tác động ngược chiều giữa địn
bẩy tài chính được đo bằng tỷ lệ nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, tổng nợ trên tổng tài
sản và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đo bằng tỷ suất lợi nhuận gộp
biên cho cả Nam Phi và Ghana. Tiếp tục cũng là sự tác động ngược chiều tồn tại
trong việc đo lường cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp đo bằng tỷ
suất sinh lời của tổng tài sản trong các công ty vừa và nhỏ ở Ghana.
Zeitun và Tian (2007), trong bài nghiên cứu “Capital structure and corporate
performance: evidence from Jordan” đã điều tra tác động của cấu trúc vốn lên
hiệu quả hoạt động doanh nghiệp với mẫu là 167 doanh nghiệp tại Jordan. Dữ
liệu được sử dụng dưới dạng bảng của 167 doanh nghiệp trong giai đoạn 1989
đến 2003. Trong bài nghiên cứu này, hiệu quả doanh nghiệp được đo lường dưới
hai góc độ: đo lường về mặt kế toán và đo lường về mặt thị trường. Phương pháp
đo lường về mặt kế toán bao gồm: tỷ suất sinh lời của tổng tài sản (ROA), tỷ suất
sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE), lợi nhuận trước thuế và lãi vay cộng với khấu
hao trên tổng tài sản (PROF). Phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động doanh
nghiệp về mặt thị trường bao gồm: giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu chia cho


13
giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu (MBVR), giá của mỗi cổ phiếu trên thu nhập
của mỗi cổ phiếu (P/E), giá thị trường của vốn chủ sở hữu và giá trị sổ sách của
nợ phải trả trên giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu (MBVE). Về địn bẩy tài chính

sử dụng trong bài nghiên cứu, tác giả chọn năm tiêu chí đo lường đó là: tổng nợ
trên tổng tài sản (TDTA), tổng nợ trên tổng vốn chủ sở hữu (TDTE), nợ dài hạn
trên tổng tài sản (LTDTA), nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (STDTA) và tổng nợ
trên tổng nguồn vốn (TDTC). Bài nghiên cứu phát hiện ra một điều thú vị là tổng
nợ trên tổng tài sản (TDTA) có tác động tích cực và đáng kể lên hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp theo phương pháp đo lường về mặt thị trường bằng chỉ số
Tobin’s Q. Mẫu nghiên cứu cho thấy các cơng ty có STDTA cao thì thường rơi
vào các cơng ty đang tăng trưởng cao và có hiệu quả hoạt động cao. Qui mơ cơng
ty có tác động tích cực lên hiệu quả doanh nghiệp và các cơng ty lớn thì có chi
phí phá sản nhỏ. Tác giả cũng chứng minh được các cơng ty ở Jordan cũng chịu
ảnh hưởng của chính sách vĩ mô và yếu tố khu vực.
Shah và Khan (2007), trong bài nghiên cứu “Determinants of Capital Structure:
Evidence from Pakistani Panel Data” với mẫu là danh sách các công ty niêm yết
trên sở giao dịch chứng khốn Pakistan tìm thấy sự tác động ngược chiều và quan
trọng giữa mức độ sử dụng đòn bẩy với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Họ
nhấn mạnh có sự sai lệch đáng kể đã được phát hiện trong nghiên cứu, đó là
nhiều doanh nghiệp ở Pakistan là các doanh nghiệp gia đình. Họ thổi phồng chi
phí sản xuất và vẽ ra lợi nhuận, vì vậy, có sự khác biệt so với hiệu quả hoạt động
thực tế. Báo cáo thu nhập cho thấy hiệu quả hoạt động tiêu cực. Dẫn đến sự sụt
giảm mức độ sử dụng vốn cổ phần và tỷ lệ nợ gia tăng trong cấu trúc vốn của các
doanh nghiệp ở Pakistan.
Narendar V. Rao cùng cộng sự (2007), trong bài nghiên cứu”Capital Structure
and Financial Performance: Evidence from Oman” kiểm tra ảnh hưởng giữa cấu
trúc vốn và hiệu quả hoạt động trong trường hợp các doanh nghiệp ở Omani.
Cơng trình nghiên cứu đã phát hiện ra có sự trái ngược với lý thuyết đánh đổi cấu


14
trúc vốn và có sự ảnh hưởng ngược chiều giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa rằng tăng tỷ lệ sử dụng nợ cao sẽ làm

giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nguyên nhân là do chi phí sử dụng
vốn vay khá tốn kém và thị trường tài chính kém phát triển tại Omani. Các lợi ích
từ tấm chắn thuế dường như khơng đủ để bù đắp chi phí cho việc sử dụng nợ.
Ebaid (2009) trong nghiên cứu “The impact of capital-structure choice on firm
performance: empirical evidence from Egypt” của mình trên các nền kinh tế thị
trường mới nổi của Ai Cập đã tìm thấy rằng việc lựa chọn cấu trúc vốn phù hợp
có ảnh hưởng khơng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Ơng tìm
thấy rằng các biến cấu trúc vốn bao gồm cả nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và tổng nợ
trên tổng tài sản có ảnh hưởng không đáng kể đến hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp được đo bằng tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE). Trong khi đó, sự
ảnh hưởng của nợ ngắn hạn trên tổng tài sản và tổng nợ trên tổng tài sản là ngược
chiều và đáng kể với hiệu quả hoạt động qua tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản,
nhưng lại có ảnh hưởng ngược chiều nhưng không đáng kể tồn tại đối với các
khoản nợ dài hạn trên tổng tài sản qua ROA. Hơn nữa, ảnh hưởng của cấu trúc
vốn với hiệu quả hoạt động được đo bằng tỷ suất lợi nhuận gộp biên là không
đáng kể.
Omran và Pointon (2009) trong nghiên cứu“Capital structure and firm
characteristics: an empirical analysis from Egypt”cho biết, cấu trúc vốn là không
giống nhau cho tất cả các ngành công nghiệp. Hơn nữa, các công ty Ai Cập với
những rủi ro kinh doanh cao khơng được quan sát vì mức sử dụng nợ thấp trong
cấu trúc vốn. Lĩnh vực công nghiệp nặng có mức độ sử dụng nợ cao hơn so với
khu vực dịch vụ vì lợi ích từ tấm chắn thuế cao hơn điều này được hỗ trợ từ lý
thuyết đánh đổi cấu trúc vốn. Ngành công nghiệp nặng ở Ai Cập có tác động
cùng chiều giữa hiệu quả hoạt động với các nguồn tài trợ dài hạn để tài trợ cho
một lượng lớn các tài sản của doanh nghiệp.
Bokpin và cộng sự (2010) trong nghiên cứu “Risk exposure and corporate


15
financial policy on the Ghana Stock Exchange” và ““Macroeconomic

development and capital structure decisions of firms: Evidence from emerging
market economies” của mình trên các cơng ty ở Ghana, một thị trường đang phát
triển cho thấy mức độ sử dụng nợ trên thị trường chứng khoán ở Ghana khác
nhau giữa các ngành cơng nghiệp. Các cơng ty ở Ghana sử dụng địn bẩy tài
chính cao trong cấu trúc vốn của họ và đặc biệt việc sử dụng các khoản nợ ngắn
hạn để tài trợ cho hoạt động của mình. Họ tìm thấy có tác động ngược chiều giữa
chi phí phá sản và cấu trúc vốn, nghĩa là tăng chi phí phá sản dẫn đến việc cắt
giảm mức sử dụng nợ của các doanh nghiệp, trong khi đó, các cơng ty có quy mơ
tài sản lớn có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng địn bẩy tài chính.
Onaolapo và Kajola (2010) trong nghiên cứu “Capital Structure and Firm
Performance: Evidence from Nigeria” trên các cơng ty phi tài chính niêm yết
trên thị trường chứng khốn ở Nigeria, đã tìm thấy rằng, địn bẩy tài chính có tác
động ngược chiều đáng kể với hiệu quả hoạt động trong các cơng ty phi tài chính
ở Nigeria, điều này là do mâu thuẫn phát sinh giữa các cổ đông và các nhà quản
lý, các doanh nghiệp sử dụng tỷ lệ địn bẩy tài chính cao đã ảnh hưởng tiêu cực
đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
San và Heng (2011) trong nghiên cứu “Capital Structure and Corporate
Performance of Malaysian Construction Sector” về ảnh hưởng của cấu trúc vốn
đến hiệu quả hoạt động của các công ty trong ngành công nghiệp xây dựng ở
Malaysia, phát hiện ra rằng, cuộc khủng hoảng tài chính khơng có sự tác động
lớn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngành xây dựng ở Malaysia vì
cơng cuộc phát triển quy mơ lớn trong cả nước đang diễn ra. Và có ảnh hưởng
khơng đáng kể tồn tại giữa địn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động được đo bằng
tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu và hiệu quả
hoạt động doanh nghiệp trong ngành công nghiệp xây dựng của Malaysia bao
gồm cả các công ty cỡ nhỏ, vừa và lớn.
Abdul G. Khan (2012) trong nghiên cứu “The relationship of capital structure


16

decisions with firm performance: A study of the engineering sector of Pakistan”
về quan hệ giữa quyết định cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động trên 36 công ty
trong lĩnh vực kỹ thuật trên thị trường chứng khoán Pakistan trong giai đoạn
2003 - 2009 và kết quả chỉ ra rằng địn bẩy tài chính được đo bằng nợ ngắn hạn
trên tổng tài sản (STDTA) và tổng nợ trên tổng tài sản (TDTA) có ảnh hưởng
ngược chiều đáng kể đối với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp qua chỉ số tỷ suất
sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận gộp biên (GM), và chỉ số
Tobin’s Q. Ảnh hưởng của địn bẩy tài chính đến hiệu quả hoạt động doanh
nghiệp đo lường qua thang đo tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) có tác
động ngược chiều nhưng khơng đáng kể. Quy mơ doanh nghiệp có ảnh hưởng
không đáng kể với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp đo bằng thang đo ROA và
GM, nhưng có tác động ngược chiều đáng kể qua chỉ số Tobin’s Q. Các doanh
nghiệp trong lĩnh vực kỹ thuật tại Pakistan phụ thuộc phần lớn vào nợ ngắn hạn
mà điều kiện để tiếp xúc với nguồn tài trợ này đòi hỏi nhiều các điều khoản
nghiêm ngặt. Vì vậy, có sự ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp.
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về sự ảnh hưởng của
cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp


17
Stt

Tên tác giả

1

Krishnan và Moyer

Kỳ nghiên cứu/

năm nghiên cứu
1997

2

Shergill và Sarkaria

3

Quốc gia

Ảnh hưởng
Không tác động

1999

Hồng Kông, Malaysia
Singapore, Hàn Quốc
Ấn Độ

Schiantarelli và
Sembenelli

1976-1991

Anh & Ý

Cùng chiều

4


Gleason và cộng sự

1994-2005

14 Quốc gia Châu âu

Ngược chiều

5

Deesomsak

1993-2001

Khu vực Châu Á

Ngược chiều

6

Abor

2005

Ghana

Cùng chiều nợ
ngắn hạn, ngược
chiều nợ dài hạn


7

Huang và Song

1994-2000

Trung Quốc

Ngược chiều

8

Abor

1998-2003

Nam Phi & Ghana

Ngược chiều

9

Zeitun và Tian

1989-2003

Jordan

Cùng chiều


10

Shah và Khan

1994-2002

Pakistan

Ngược chiều

11

Narendar V. Rao &
cộng sự

1998-2002

Oman

Ngược chiều

12

Ebaid

1997-2005

Ai Cập


Ngược chiều

13

Omran và Pointon

2009

Ai Cập

Cùng chiều

14

Bokpin và cộng sự

1990-2006

Ghana

Ngược chiều

15

Onaolapo và Kajola

2001-2007

Nigeria


Ngược chiều

16

San và Heng

2005-2008

Malaysia

Không tác động

17

Abdul G. Khan

2003-2009

Pakistan

Ngược chiều

Cùng chiều

Nhìn chung, xuất phát từ nhiều nguyên nhân1 nên các kết quả nghiên cứu thực
nghiệm trên thế giới tuy khác nhau nhưng phần lớn của các kết quả nghiên cứu
khẳng định cấu trúc vốn có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Do đó, bài nghiên cứu này kỳ vọng tìm ra mối tương quan giữa quyết định cấu
trúc vốn và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp tại
Việt Nam.

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------(1)

Phụ lục 01: Nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau giữa các kết quả nghiên cứu


×