Tải bản đầy đủ (.pdf) (155 trang)

VĂN HOÁ TÂM LINH TRONG VĂN XUÔI TRUNG ĐẠI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.41 MB, 155 trang )


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
________




Hoàng Thị Minh Phương




VĂN HOÁ TÂM LINH TRONG VĂN
XUÔI TRUNG ĐẠI




Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34



LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN



NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ THU YẾN










Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2007


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. Lĩnh Nam chích quái LNCQ
2. Việt điện u linh VĐUL
3. Nam ông mộng lục NOML
4. Thánh Tông di thảo TTDT
5. Truyền kỳ mạn lục TKML
6. Việt điện u linh tục bổ VĐUL tục bổ
7. Công dư tiệp ký CDTK
8. Sơn cư tạp thuật SCTT
9. Vũ trung tuỳ bút VTTB
10. Thượng kinh kí sự TKKS
11. Tang thương ngẫu lục TTNL
12. Lan Trì kiến văn lục LTKVL
13. Hát đông thư dị HĐTD
14. Truyền kỳ tân phả TKTP
15. Vân nang tiểu sử VNTS
16. Nam triều công nghiệp diễn chí NTCNDC
17. Hoàng Lê nhất thống chí HLNTC





DẪN NHẬP

1. Lí do chọn đề tài
Đối với mỗi quốc gia dân tộc, cái quan trọng nhất, cao quí nhất là giá trị văn hoá. Văn
học là một biểu hiện của văn hóa, sản phẩm của văn hoá. Là một dạng văn hoá tinh thần,
văn học chính là nơi lưu giữ giá trị văn hoá tinh thần cho mọi thế hệ. Từ văn học hiểu thêm
về văn hoá. Đứng ở góc độ văn hoá nhìn sang văn học, văn hoá đựơc nhì
n nhận một cách
tinh tế hơn, còn văn học có một nền tảng vững chắc để tồn tại và phát triển, văn học được
hiểu thấu đáo sâu sắc hơn.
Hơn đâu hết, thế giới tinh thần vô cùng phong phú của người Việt Nam, trong đó có
thế giới tâm linh thể hiện rõ nét trong văn học, từ văn học dân gian đến văn học viết. Văn
học Việt Nam thời trung đại một mặt kế thừa các giá trị tinh t
hần thiêng liêng trong văn học
dân gian, mặt khác phản ánh tòan diện thế giới ấy của con người Việt Nam trong suốt mười
thế kỉ tồn tại xã hội phong kiến. Trong văn học thời kì này, thông qua tài năng nghệ thuật và
vốn văn hoá truyền thống sâu rộng của các tác giả ta phần nào hiểu được niềm
tin thiêng
liêng, tín ngưỡng truyền thống, phong tục tập quán, phương thức tư duy và những quan
niệm phổ biến của nhân dân – những điểm cốt lõi tạo nên giá trị văn hoá tinh thần đặc sắc
của văn hoá dân tộc – văn hoá tâm linh.
Nằm trong quá trình phát triển liên tục nhưng khác với các thời kì văn học khác, văn
học trung đại Việt Nam mang những đặc trưng và qui luật riêng. Đó là một thời kì văn học
thuộc thời đại văn hoá riêng- văn hoá trung đại với m
ô hình thế giới, với hệ thống giá trị,
với phương thức cảm nhận, tư duy khác. Văn xuôi trung đại không nằm ngoài qui luật ấy.
Thật cần thiết phải tiếp cận văn xuôi trung đại xuất phát từ ý thức phân biệt loại hình này.

Điều đó có ý nghĩa thiết thực cho việc tìm hiểu, đánh giá, giải thích một số tác phẩm văn
xuôi tiêu biểu, khẳng định giá trị r
iêng của các tác phẩm, góp phần giữ gìn bản sắc thẩm mỹ,
nghệ thuật của một thời đại văn học. Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài luân văn: “Văn hoá
tâm linh trong văn xuôi trung đại”.
2. Mục đích nghiên cứu
Thuộc vào một giai đoạn phát triển đặc biệt của lịch sử dân tộc, đối với con người thời
trung đại, bên cạnh đời sống hiện thực, thế giới hiện thực với nhiều mối quan hệ, họ c
òn có
một đời sống tâm linh phong phú, một thế giới tâm linh với các thế lực huyền bí, những
điều kì lạ siêu nhiên do chính con người tưởng tượng ra, mà họ tin rằng nó đang tồn tại, hiện


hữu chi phối cuộc sống. Trong nhận thức, cách cảm nhận thế giới của họ, hai thế giới ấy có
mối liên thông “thiên nhân tương dữ” hay “thiên nhân tương cảm”. Trên cơ sở đó luận văn
đi sâu tìm hiểu thế giới tâm linh- thế giới thứ hai trong “mô hình hai thế giới” trong văn học
trung đại qua các tác phẩm văn xuôi được khảo sát. Điều đó giúp ta hiểu rõ hơn chiều sâu
tâm hồn con người thời trung đại – địa hạt hợp pháp của văn c
hương muôn đời.
Theo hướng nghiên cứu trên, luận văn cố gắng đi hệ thống hoá những biểu hiện của
thế giới tâm linh để có cái nhìn hệ thống, toàn diện về những yếu tố ấy trong cách cảm nhận
về thế giới và con người ở một thời kì lịch sử.
Sự hình thành và phát triển của nền văn xuôi trung đại gắn liền với nền văn hoá dâ
n
gian lâu đời, bám rễ trong truyền thống văn hoá dân tộc, đồng thời như là sự phản chiếu tư
duy nghệ thuật của nền văn học sản sinh ra nó. Do đó, luận văn đi vào phân tích và bước
đầu có những kiến giải phù hợp về nhiều yếu tố tâm linh thường bị cho là “thần bí”, “duy
tâm” hay “mê tín dị đoan”. Đành rằng sự hạn chế trong nhận thức thế giới đã sản sinh ra tín
ngưỡng, song cần có cái nhìn lịch
sử về các hiện tượng văn học ấy trong tương quan với

thời đại văn hoá nó ra đời.
Với đề tài này, chúng tôi hi vọng đóng góp một phần nhỏ vào khoa học nghiên cứu
văn học Việt Nam, mảng văn học trung đại, lĩnh vực văn xuôi.
3. Lịch sử vấn đề
Trong nhiều năm gần đây, các vấn đề văn hoá, văn hoá t
âm linh, mối quan hệ giữa văn
hoá và văn học thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn hoá, văn học nước nhà.
Văn hoá là cội nguồn của văn học và “văn học nghệ thuật có nhiệm vụ và có tác dụng to lớn
trong việc sáng tạo nên những giá trị văn hoá cao quí ấy” (Phạm Văn Đồng). Giá trị văn
hóa, tính văn hoá luôn là một thước đo giá trị của tác phẩm văn học.
Xung quanh đề tài luận văn “Văn hoá tâm
linh trong văn xuôi trung đại”, trong phạm
vi tư liệu sưu tầm được, chúng tôi điểm qua một số công trình, bài báo khoa học sau:
3.1. Nói riêng về văn hoá tâm linh, trong nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá, các tác
giả đều có đề cập các vấn đề liên quan đến văn hoá tâm linh. Tuy nhiên sự đề cập mới chỉ
dừng lại ở nêu hiện tượng, nhìn nhận khái quát.
Đầu tiên phải kể đến công trình “Văn hoá tâm linh” của tác giả Nguyễn Đăng Duy
[17]
. Công trình giới hạn những vấn đề về văn hóa tâm linh người Việt ở miền Bắc trong
các lĩnh vực: tín ngưỡng thần thánh trời đất, thờ mẫu, tang ma, thờ cúng tổ tiên, các tôn giáo
Phật, Đạo, Thiên chúa giáo. Tác giả điểm qua tâm linh trong mọi mặt đời sống: cá nhân, gia


đình, tín ngưỡng tôn giáo, mê tín dị đoan...Vấn đề tâm linh trong văn học nghệ thuật có
được nhắc đến với nét nghĩa là chiều sâu tâm hồn nhưng chỉ với cái nhìn sơ giản chung cho
mọi loại hình nghệ thuật: “Tâm linh trong sáng tác văn học nghệ thuật là những hình ảnh,
biểu tượng thiêng liêng nào đó mà tác giả thể hiện được ra trong tác phẩm, làm rung động
những trái tim, ngấn lệ những tâm hồn”[17;tr38].
Gần với công trình trên là chuyên luận “Tìm hiểu văn hoá tâm linh Nam Bộ” [
42]. Tác

giả Nguyễn Hữu Hiếu tập trung bàn về văn hoá tâm linh của người Việt ở Nam Bộ qua tín
ngưỡng thờ Mẫu và các lễ hội cổ truyền từ ảnh hưởng văn hoá Chăm.
3.2. Về mối quan hệ giữa văn hoá và văn học, từ văn học hiểu thêm về văn hoá, một số nhà
nghiên cứu cũng đã ít nhiều bàn đến. GS Lê Trí Viễn trong bài “Từ văn học Việt Nam thử
nghĩ về văn hoá Việt Nam” [126] đã chỉ ra điểm cốt lõi trong mối quan hệ này:
“Từ văn học
nhìn vào văn hoá đều thấy thấm nhuần hai tình cảm lớn là vì nước vì dân vì con người, hai
tư tưởng lớn: yêu nước và nhân văn, nhân đạo làm cốt lõi cho bản lĩnh dân tộc”[126;tr180].
Phần tâm linh trong văn hoá Việt Nam được ông nhắc đến ở phương diện thờ cúng tổ tiên,
các vị anh hùng dâ
n tôc, thành hoàng làng với ý nghĩa là đạo lí biết ơn kèm theo tín ngưỡng.
Tâm linh trong văn hoá Việt Nam cũng được nhà văn Sơn Nam bàn đến trong bài viết
“Nói thêm về tâm linh trong liên hệ với văn hoá Việt Nam” [80]. Theo nhà văn, tâm linh tồn
tại trong mọi mặt đời sống từ xưa tới nay, từ trong truyền thuyết, các bài văn tế, các tác
phẩm văn học, trong tục thờ cúng tổ tiên, cúng cô hồn cho tới những ca khúc về Tổ Quốc và
cả những hành động, việc làm
, nghĩa cử cao đẹp của những con người bình thường trong
cuộc sống. Tâm linh ở đây chính là niềm tin của con người đọng lại trong trí nhớ và con
người luôn tâm niệm, thành kính về điều mình tin, mình làm. “Trí nhớ không phải đứng
dừng một chỗ, lâu ngày phát triển thêm rồi tồn đọng trở thành tâm linh” [80; tr130].
3.3. Đáng chú ý là hướng nghiên cứu văn học trung đại dưới góc nhìn văn hoá. Trong cuốn
“Văn học
trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hoá” [112], nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn
đã đề xuất phương pháp nghiên cứu văn học trung đại gắn liền với “mô hình hai thế giới” -
một đặc trưng của văn hoá trung đại. Trong quan niệm của người thời cổ trung đại luôn luôn
tồn tại hai thế giới, “một thế giới hiện thực với những quan hệ xã hội và thiên nhiên có thể
nhận t
hức được bằng kinh nghiệm” và “một thế giới tâm linh do chính con người tưởng
tượng ra theo một nguyên lí nào đó”. Theo đó, một đặc điểm cơ bản của văn hoá phương
Đông là xem xét con người và thế giới trong mối quan hệ chặt chẽ không tách rời, xem

Thiên đạo (đạo trời) và Nhân đạo (đạo người) như một thể thống nhất. Góc nhìn văn hoá


này được tác giả nghiên cứu qua hai trường hợp Truyện Kiều (Nguyễn Du) và Bình Ngô đại
cáo (Nguyễn Trãi) với những lí giải, phân tích sáng rõ, lôgic. Với Truyện Kiều gần như ông
đã “hoá giải” được chỗ mà lâu nay người ta cho là hạn chế tư tưởng của Nguyễn Du như
duy tâm, thần bí, nặng tư tưởng Thiên mệnh, nghiệp báo luân hồi...
3.4. Tâm linh trong văn học trung đại cũng được tác giả Thanh Tâm Langlet quan tâm
qua bài “Tâm linh và thơ ca Việt Nam giai đoạn cổ trung đại” [58]. Ở đây tác giả chủ yếu
dõi t
heo yếu tố tâm linh trong đời sống tôn giáo ở dòng thơ thiền Lí-Trần qua sáng tác của
các Thiền sư thuộc các thiền phái Nam Phương, Thảo Đường, Trúc Lâm. Bên cạnh đó là
tâm linh trong thơ của một số nhà thơ ở khía cạnh bộc lộ đời sống nội tâm (Nguyễn Trãi,
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan…)
Dành nhiều tâm huyết cho hướng tiếp cận thơ trung đại từ nền văn hoá truyền thống,
PGS.TS Lê
Thu Yến đưa ra cái nhìn bao quát, hệ thống những yếu tố tâm linh trong thơ
Nguyễn Du với bài “ Thế giới tâm linh trong sáng tác Nguyễn Du - một biểu hiện của văn
hoá Việt” [129]. Bằng những con số thống kê cụ thể, chính xác những biểu hiện truyền
thống văn hoá tinh thần dân tộc, tác giả đã khẳng định một giá trị văn hoá truyền thống
trong sáng tác của nhà thơ lớn N
guyễn Du - thế giới tâm linh: “Thế giới này biểu hiện rõ rệt
trong sáng tác Nguyễn Du làm cho người đọc không thể không nhận ra. Một Văn Chiêu Hồn
thấm đẫm màu sắc của thế giới bên kia, một Truyện Kiều bàng bạc không gian của cõi âm
và nhất là thơ chữ Hán nhan nhản bày ra những đình, đền, miếu, mộ...” [129; tr29]. Đây
chính là một gợi ý trực tiếp cho chúng tôi chọn đề tài luận văn nà
y.
Riêng ở bộ phận văn xuôi trung đại, PGS.TS Nguyễn Đăng Na đã có cái nhìn khái
quát, hệ thống về tiến trình phát triển của văn xuôi tự sự nói chung và các thể loại truyện
ngắn, kí, tiểu thuyết chương hồi qua bài “Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại- những

bước đi lịch sử” [77] cùng với các bài giới thiệu trong các cuốn tuyển soạn [74],[75],[76].
Sau khi khái quát đặc điểm, th
ành tựu văn xuôi trung đại qua ba giai đoạn, tác giả đưa ra
nhận xét khái quát: “Cùng với các loại hình văn học khác, văn xuôi tự sự đã hoàn thành sứ
mệnh lịch sử mà thời đại giao phó: phản ánh tâm linh của người Việt Nam thời trung đại”
[77; tr38].
Như vậy, cho đến nay, nghiên cứu văn hoá tâm linh, tâm linh trong văn học, nhất là
thơ ca trung đại đã được một số nhà nghiên cứu bàn đến ở những phạm vi mức độ khác
nhau. Nhìn chung các nghiên cứu đều khẳng định c
ó tồn tại một thế giới tâm linh trong đời
sống con người Việt Nam từ xưa tới nay trên nhiều phương diện, đặc biệt là trong văn học


trung đại. Tuy nhiên, trong lĩnh vực văn xuôi trung đại hiện vẫn chưa có công trình nghiên
cứu chuyên sâu, qui mô nào. Từ những gợi ý quí báu của người đi trước, chúng tôi mạnh
dạn đi vào tìm hiểu, tiếp cận văn xuôi trung đại Việt Nam ở góc độ văn hoá tâm linh- yếu tố
cơ bản tạo nên giá trị đặc sắc cho bộ phận văn học này.
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Ở đề tài này, do điều kiện tư liệu, chúng t
ôi chưa thể khảo sát toàn bộ sáng tác văn xuôi
trung đại mà chỉ giới hạn ở những tác phẩm quen thuộc có xuất hiện nhiều yếu tố tâm linh,
bao gồm:
1. Lĩnh Nam chích quái (Vũ Quỳnh – Kiều Phú)
2. Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên )
3. Nam ông mộng lục (Hồ Nguyên Trừng)
4. Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông)
5. Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ)
6. Việt điện u linh tục bổ (Nguyễn Văn Chất)

7. Công dư tiệp ký (Vũ Phương Đề)

8. Sơn cư tạp thuật (Đan Sơn)
9. Vũ trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ)
10. Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác)
11. Tang thương ngẫu lục (PhạmĐình Hổ-Nguyễn Án)
12. Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh)
13. Hát đông thư dị (Nguyễn Thượng Hiền)
14. Truyền kỳ tân phả (Đoàn Thị Điểm)
15. Thính văn dị lục
(Khuyết danh)
16. Nam thiên trân dị tập (Khuyết danh)
17. Thoái thực kí văn (Trương Quốc Dụng)
18. Vân nang tiểu sử (Phạm Đình Dục)
19. Tân đính Việt điện u linh tập (Gia Cát)
20. Việt Nam kì phùng sự lục (Khuyết danh)

21
. Nam triều công nghiệp diễn chí (Nguyễn Khoa Chiêm)
22. Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái)
Bên cạnh đó, để cho luận văn thêm phong phú và phục vụ việc phân tích, so sánh,
chúng tôi mở rộng liên hệ đến một số tác phẩm khác: Thiên đô chiếu (Lý Công Uẩn), Đại


Việt sử kí toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Lam Sơn thực lục và Dư điạ chí (Nguyễn Trãi), Truyện
Kiều (Nguyễn Du), Tục công dư tiệp kí (Trần Trợ), Kiến văn tiểu lục (Lê Quí Đôn), Thiền
uyển tập anh, Tam tổ thực lục và một vài tác phẩm khuyết danh khác.
4.2. Vấn đề văn bản và tác giả của nhiều tác phẩm văn xuôi trung đại khá phức tạp và hiện
còn nhiều ý kiến khác nhau. Vì vậy chúng tôi xin không bàn đến. Chúng tôi khảo sát các tác
phẩm dựa theo các văn bản hiện hành của các tác giả theo quan niệm p
hổ biến.
4.3. Trên cơ sở thống kê, phân loại các hiện tượng tâm linh trong các tác phẩm, lấy điểm tựa

là văn hoá truyền thống dân tộc (phong tục tập quán, tín ngưỡng…), bước đầu chúng tôi đi
giải thích một số hiện tượng tâm linh nổi bật, qua đó thấy được ý nghĩa của chúng đối với
tác phẩm.
5. Phương pháp nghi
ên cứu
Luận văn chúng tôi không loại trừ phương pháp luận nghiên cứu văn học nào, song với
đối tượng nghiên cứu của mình, chúng tôi sử dụng chủ yếu một số phương pháp nghiên cứu
sau:
5.1. Phương pháp lịch sử cụ thể
Tác phẩm văn học là sản phẩm của một hoàn cảnh lịch sử cụ thể trong tiến trình phát
triển của lịch sử dân tộc. Vì vậy phương pháp hướng đến việc tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử xã
hội, môi trường văn hoá tư tưởng chung của thời đại, mối tương tác của chúng với các tác
giả, sự ra đời của các tác phẩm để lí giải các yếu tố văn hoá trong văn học một thời đại.
5.2. P
hương pháp hệ thống
Chúng tôi coi văn xuôi trung đại là một cấu trúc, một hệ thống nhỏ trong hệ thống nền
văn học trung đại bao gồm nh
iều đơn vị tác phẩm và từng tác phẩm cụ thể để có cái nhìn
bao quát, đồng thời xem xét chúng trong tương quan với văn học dân gian và văn học cận
hiện đại. Phương pháp giúp ta có cái nhìn hệ thống trong quá trình nghiên cứu. Từ đó sắp
xếp các yếu tố, phân tích, lí giải mối liên hệ giữa chúng để thấy tính chỉnh thể của một câú
trúc văn hoá trong văn học.
5.3. P
hương pháp phân loại thống kê
Phương pháp giúp ta tổng hợp thống kê, phân loại tần số xuất hiện của các yếu tố tâm
linh trong từng tác phẩm và đơn vị tác phẩm để thấy mức độ ảnh hưởng của nền văn hoá
truyền thống đối với sáng tác của các tác giả và cả thời đại văn học, cũng như hiệu quả của
chúng trong việc thể hiện nội dung tư tưởng và nghệ th
uật.
5.4. Phương pháp so sánh



Vấn đề nghiên cứu văn học trung đại nói chung hiện còn nhiều cách hiểu, lí giải khác
nhau. Phương pháp so sánh giúp người đọc thấy được điểm giống và khác nhau giữa các
yếu tố tâm linh trong từng đơn vị tác phẩm của các tác giả thuộc các giai đoạn lịch sử khác
nhau. Từ đó khẳng định giá trị đích thực của yếu tố văn hoá này trong văn xuôi trung đại nói
riêng và văn học trung đại nói chung. Qua đó thấy đư
ợc đóng góp của các tác giả vào tiến
trình phát triển nền văn xuôi trung đại.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn tập trung tìm hiểu sự ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá truyền thống dân tộc
đối với một bộ phận văn xuôi trung đại, từ đó góp một cách lí giải tương thích một số vấn
đề trong văn học thời kì này. Đồng thời khẳng định và làm
sáng tỏ giá trị đặc sắc của nó do
yếu tố văn hoá tâm linh mang lại.
7. Cấu trúc của luận văn
Chương 1
: Khái quát
1.1. Khái niệm
1.2. Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn hoá Việt Nam
1.3. Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn học trung đại
Chương 2
: Những biểu hiện văn hoá tâm linh trong văn xuôi trung đại
2.1. Những biểu hiện
2.2. Nhận xét
Chương 3
: Hiệu quả thẩm mĩ của yếu tố tâm linh trong văn xuôi trung đại
3.1. Phản ánh hiện thực và thể hiện tư tưởng
3.2. Hiệu quả nghệ thuật
3.3. Yếu tố tâm linh trong văn xuôi hiện đại








NỘI DUNG

Chương 1:
KHÁI QUÁT


1.1 Khái niệm
1.1.1. Văn hoá tâm linh
1.1.1.1. Văn hoá
Văn hoá (dịch từ Culture) là một vấn đề rất rộng, khó có định nghĩa nào bao quát đầy
đủ nội hàm của nó. Văn hoá bao hàm hết thảy các sinh hoạt của loài người, từ sinh hoạt vật
chất đến sinh hoạt tinh thần, sinh hoạt xã hội. Mọi hoạt động của con người và sản phẩm -
kết quả của những hoạt động ấy do con người có ý thức tác động vào tự nhiên và xã hội mà
có đều thuộc về văn hoá. Quá trình phát triển của loài người gắn l
iền với các hoạt động cải
biến hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội. Con người sáng tạo ra văn hoá và văn hoá lại
tái tạo bản thân con người.
Nhìn một cách khái quát nhất, “văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [91;tr1100]; “văn hoá gồm tất cả
những sáng tạo kiến thiết của loài người ở tr
ong xã hội, tất cả những cái gì không là không
phải tự nhiên, là phi tự nhiên” [2];
Văn học là một hình thái đặc biệt của văn hoá, thuộc về hệ ý thức, lĩnh vực văn hoá

tinh thần. Với đối tượng nghiên cứu là một phương diện của văn hoá tinh thần – văn hoá
tâm linh trong văn học, chúng tôi lưu ý đến một số định nghĩa sau:
The
o Bách Khoa Toàn Thư Pháp, “Văn hoá theo nghĩa rộng là tập tục, tín ngưỡng,
ngôn ngữ, tư tưởng, thị hiếu thẩm mỹ,… những hiểu biết kỹ thuật cũng như toàn bộ việc tổ
chức môi trường của con người, những công cụ, nhà ở,… và nói chung là toàn bộ công
nghiệp có thể truyền lại được, điều tiết những quan hệ và những ứng xử của một nhóm

hội với môi trường sinh thái của nó”.
Nhà dân tộc học người Anh, E.B.Tylor định nghĩa: “Văn hoá là một chỉnh thể phức
hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập tục và bất kì năng lực
thói quen nào khác mà con người cần có với tư cách là một thành viên của xã hội” [121].
Nhân dịp phát động thập kỷ thế giới phát triển văn hoá (1988-1997), tổ chức văn hoá
thế giới U
NESCO công bố định nghĩa mới về văn hoá: “Văn hoá là tổng thể các hệ thống
giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Nó không thuần


tuý bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền con
người cơ bản, truyền thống tín ngưỡng”.
Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu văn hoá theo hai nghĩa rộng-hẹp. Nghĩa rộng, văn
hoá bao gồm các giá trị vật chất (văn hoá vật chất) và giá trị tinh thần (văn hoá tinh thần) do
con người sáng tạo ra và tích luỹ qua hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử. Nghĩa hẹp,

văn hoá chỉ liên quan đến đời sống tinh thần của con người, tức những giá trị tinh thần nhằm
thoả mãn nhu yếu tinh thần trước hết của con người.
Với đối tượng nghiên cứu của luận văn là văn hoá tâm linh, chúng tôi hiểu và vận
dụng khái niệm văn hoá theo nghĩa hẹp là những giá trị văn hoá trong lĩnh vực tinh thần-văn
hoá tinh thần. Đó là “những di sản văn hoá đem lại ng
uồn cảm hứng thẩm mĩ cho con

người bằng những hoạt động của các loại hình nghệ thuật. Cụ thể là văn, thơ, hát… nghề mĩ
nghệ thủ công, trò chơi nghệ thuật…Cùng với các loại hình trên là phong tục, tập quán, lễ
nghi, tín ngưỡng, tết, lễ, luật tục và những hương ước, định ước và tri thức dân gian” [9]. Ở
đây, có thể xem các thành tố phong tục, tập quá
n, lễ nghi, tín ngưỡng thuộc về văn hoá tâm
linh bởi chúng đều gắn với yếu tố tâm linh - vấn đề cơ bản trong đời sống văn hoá tinh thần
dân tộc.
1.1.1.2. Tâm linh
Trong xu thế phát triển không ngừng của xã hội ngày nay, khi mà những nhu yếu vật
chất ngày càng được đáp ứng đầy đủ, thoả mãn, người ta lại có xu hướng tìm lại sự cân bằng
trong đời sống với những nhu cầu về tinh thần. Vì vậy m
à hai chữ “tâm linh” thường được
nhắc nhiều. Tâm linh cũng được quan tâm rất nhiều trong văn hoá, văn học.
Qua tìm hiểu một số tài liệu, chúng tôi nhận thấy có khá nhiều cách hiểu khác nhau về
tâm linh, do vậy mà có nhiều khái niệm tâm linh không giống nhau.
Hướng thứ nhất, tâm linh được hiểu là khía cạnh tâm hồn, tinh thần, tình cảm của con
người. Theo Từ điển Tiếng Việt 2000, tâm linh có một nét nghĩa là “tâm hồn, ti
nh thần”
[91;tr897]. Trong khi đó, “tâm hồn” được định nghĩa là “ý nghĩ và tình cảm làm thành đời
sống nội tâm, thế giới bên trong của con người”[91;tr 896] và “tinh thần” là “tổng thể nói
chung những ý nghĩ, tình cảm, những hoạt động thuộc về đời sống nội tâm của con người”
[91;tr994]. Theo đó, thế giới tâm linh chính là thế giới tâm hồn, thế giới tinh thần và nói đến
tâm linh tức là nói đến đời sống nội tâm của con người trong tương quan với đời sống vật
chất bên ngoài. Theo nghĩa nà
y, tâm linh còn là một phần của tâm lý bởi tâm lý là “toàn bộ
nói chung sự phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức con người, bao gồm nhận thức,


tình cảm, ý chí,… biểu hiện trong hoạt động cử chỉ của mỗi người” [91;tr897]. Ở đây tâm
linh là một biểu hiện của đời sống tâm lí con người ở khía cạnh tình cảm.

Hướng thứ hai, tâm linh được hiểu như một khả năng phán đoán, biết trước sự việc.
Trong Pháp Việt từ điển của Lê Khả Kế, tâm linh là: “linh tính”. Hay cũng theo Từ Điển
Tiếng Việt 2000, một nét nghĩa khác của tâm linh là “khả năng biết trước một số biến cố nà
o
đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm” [91;tr897]. Ở đây, tâm linh được dùng
như một động từ với nội hàm “tiên tri” (biết trước và nói ra trước các sự kiện trước khi
chúng xảy ra).
Các khái niệm tâm linh trên tuy khác nhau nhưng vẫn có điểm chung là hiểu tâm linh
gắn với con người, ở trong con người. Nhưng không thật là đủ nếu không hiểu tâm
linh từ
chính nghĩa tự thân của nó cũng như từ thực tiễn đời sống tinh thần.
Tâm linh gồm hai chữ tâm và linh. Tâm (lòng, tấm lòng). Chữ tâm ở đây được hiểu
trong từ “tâm niệm” (thường xuyên nghĩ tới, tự nhắc mình ghi nhớ làm theo, tức tin theo
điều đó). Như thế tâm trong tâm linh là niềm tin. Còn linh là thiêng trong linh thiêng, thiêng
liêng (ví dụ: “linh khí” tức khí thi
êng-khí thiêng sông núi). Vậy tâm linh là niềm tin của con
người vào sự linh thiêng.
Tâm linh là một phần không thể thiếu trong đời sống bởi “trong đời sống con người,
ngoài mặt hiện hữu còn có mặt tâm linh. Về mặt cá nhân đã như vậy, mà mặt cộng đồng (gia
đình, làng xã, dân tộc) cũng như vậy. Nếu mặt hiện hữu của đời sống con người có thể nhận
thức qua những tiêu chuẩn cụ thể sờ mó
được, có thể đánh giá qua những gì cụ thể nhất
định, thì về mặt tâm linh bao giờ cũng gắn với cái gì đó rất trừu tượng, rất mông lung,
nhưng lại không thể thiếu được ở con người. Con người sở dĩ trở thành con người, một phần
căn bản là do nó có đời sống tâm linh. Nghĩa là tuân theo những giá trị bắt nguồn từ cái
thiêng liêng, cái bí ẩn, những giá trị tạo thành đời sống t
âm linh của nó [73;tr36].
Tâm linh là thế giới của cái thiêng liêng, cao cả mà con người luôn hướng tới, luôn tin
tưởng nên nó có giá trị cố kết cộng đồng, ràng buộc con người bên cạnh các mối quan hệ
hữu hình khác. Nên tâm linh có mặt trong cả đời sống tinh thần, đời sống xã hội và đời sống

tôn giáo. “Không chỉ có thượng đế, có Chúa, Trời, Thần, Phật mới thiêng liêng, mà cả Tổ
quốc, lòng yêu thương con người, sự thật công lí cũng thiêng liêng không kém” [28; tr8].
Hiểu như vậy, khái niệm tâm lin
h của Nguyễn Đăng Duy được xem là khá toàn diện: “Tâm
linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong tín


ngưỡng tôn giáo. Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những
biểu tượng, hình ảnh, ý niệm” [17; tr11].
Ở khái niệm tâm linh ta cần lưu ý đến ba điểm cốt lõi:
Thứ nhất: Tâm linh là vấn đề thuộc ý thức, gắn liền với ý thức con người, bởi niềm tin
có được là do sự nhận biết của ý thức. Không có ý thức con người thì không thể có tâm linh.
Trong ý thức con người, tâm linh là một dạng của ý thức – ý thức hướng về cái thiêng liêng.
Ý thức tâm linh thường được biểu hiện dưới dạng qua
n niệm và những hình ảnh, biểu tượng
thiêng liêng.
Thứ hai: Hạt nhân cơ bản của tâm linh là niềm tin, không có niềm tin chắc chắn là
không có tâm linh. Đó là niềm tin, sự ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, gọi là niềm tin tâm
linh hay niềm tin tâm thức. Do vậy niềm tin tâm linh thuộc về bản chất của con người, nó là
nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống như đời sống vật chất,
đời sống xã
hội, tinh thần, tư tưởng.
Thứ ba: Tâm linh tồn tại trên nhiều phạm vi: đời sống cá nhân, gia đình, cộng đồng
làng xã, Tổ Quốc, trong văn học nghệ thuật, trong tín ngưỡng, tôn giáo.
Từ những điểm trên, ta lại cần phải bàn thêm một số khái niệm liên quan: tín ngưỡng,
tôn giáo, mê tín dị đoan và có sự phân biệt tâm linh trong từng lĩnh vực.
1.1.
1.2.1. Tâm linh và tôn giáo
Là một dạng đặc biệt của văn hoá tinh thần, tôn giáo có vị trí vô cùng quan trọng trong
đời sống con người. Theo những định nghĩa phổ thông: tôn giáo là một dạng sinh hoạt tâm

linh trong đó con người tin vào sự hiện hữu của các thế lực siêu nhiên, có quyền lực siêu
phàm có thể tác động đến đời sống của con người khi còn sống cũng như khi đã chết, trong
đó linh hồn của những người đã chết vẫn tồn tại trong một cuộc sống khác. Từ đó con người
đi đến c
hỗ tôn vinh thờ phụng các thế lực siêu nhiên, những linh hồn của những người đã
chết với hi vọng được sống an bình nơi trần thế và hưởng phúc vĩnh hằng nơi thế giới bên
kia sau khi đã chết.
Đặc trưng nổi bật của tôn giáo là đặt niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên. Niềm tin
ấy có tác dụng như một loại thuốc an thần tạo sự cân bằng về tinh thần cho con người trong
mọi hoàn cảnh như câu nói của Mác “tôn giáo là thuốc phiện của
nhân dân”. Niềm tin tôn
giáo (tín ngưỡng tôn giáo) là biểu hiện của đời sống tâm linh nhưng tín ngưỡng tôn giáo
không đồng nhất với tâm linh. Tâm linh chỉ là khả năng dẫn đến tôn giáo. Trong tín ngưỡng
tôn giáo, ngoài phần tâm linh còn có phần mê tín dị đoan và sự cuồng tín tôn giáo. Tâm linh


là phần cơ bản nhất, là biểu hiện của tôn giáo trong mặt tích cực, giá trị nhất (mặt đạo đức
và văn hoá, tính hướng thiện, tính nhân văn…). Mỗi tôn giáo đều hướng về những hình
tượng thiêng liêng (Trời trong Nho giáo, Phật trong Phật giáo, Chúa trong Gia tô giáo…) và
đặt đức tin vào những triết lý, tín điều riêng. Các tôn giáo đều có chung tâm linh hướng về
một thế giới khác, ở đó linh hồn được hạnh phúc trọn vẹn sau khi từ giã cuộc đời (thiên
đàng, cõi niết bà
n, kiếp khác…). Bên cạnh mặt tích cực, văn hoá, tôn giáo (và cả tín
ngưỡng) còn biểu hiện mặt tiêu cực, phi văn hoá. Đó là khi con người vì lý do khác nhau
(nhận thức, mục tiêu, lợi ích…) mà sử dụng tôn giáo, tín ngưỡng sai lầm dẫn đến mê tín dị
đoan.
1.1.1.2.2. Tâm linh và mê tín dị đoan
Trước hết cần hiểu cặn kẽ hiện tượng bằng cách tách bóc hai vấn đề mê tín và dị đoan.
Mê tín (tin vào những điều không có thật); dị đoa
n (lắm mối rắc rối, quàng xiên, mù

quáng...). Thực chất các tôn giáo, tín ngưỡng đều là mê tín nhưng không có dị đoan. Nhưng,
thực tế mê tín thường đi liền với dị đoan để chỉ niềm tin đã bị biến dạng, bóp méo, dị
thường gây hại cho con người. Mê tín dị đoan “là những ý thức, hành vi mê muội, tin và dựa
vào những biểu tượng trái lẽ tự nhiên, có hành vi lễ bái ứng xử m
ang tính chất cuồng tín,
nhảm nhí trái với lẽ phải và hành vi thông thường của mọi người chung quanh; làm hại đến
đời sống vật chất và tinh thần của mọi người” (Từ điển Tôn Giáo - dẫn theo Mai Thanh Hải)
[30;tr107].
Niềm tin trong mê tín dị đoan là niềm tin mù quáng “nhắm mắt tin mò” vào cái thần bí
dẫn đến sự thương mại hoá niềm tin, “buôn thần bán thánh”, lợi dụng thần Phật để kiếm lợi
bất chí
nh. Cho nên, mê tín dị đoan không thuộc dạng thức sinh hoạt tâm linh. Nói cách
khác, trong mê tín dị đoan không tồn tại tâm linh theo đúng nghĩa.
1.1.1.2.3. Tâm linh và tín ngưỡng
Thông thường, tín ngưỡng (tin tưởng, ngưỡng mộ) thường được dùng đi kèm với tôn
giáo với ý chỉ niềm tin tôn giáo. Song thực chất tín ngưỡng cũng là một dạng thức văn hoá,
một lĩnh vực của niềm tin nên nó có vị trí riêng với nội hàm khái niệm riêng.
Một số quan niệm cho rằng, tín ngưỡng là lòng tin và ngưỡng mộ đối với một tôn gi
áo
hay một chủ nghĩa. Nhưng như nói trên, lòng tin và sự ngưỡng mộ của con người không chỉ
giới hạn ở tôn giáo mà còn ở cả những lực lượng siêu nhiên, thánh thần trong thế giới quan
của nhân dân. Những lực lượng ấy có thể gây hoạ tác phúc, chi phối, can thiệp vào cuộc
sống của con người. Nên có thể hiểu tín ngưỡng là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái


những thần thánh, vật thiêng hoặc linh hồn người chết do con người tưởng tượng ra hay do
con người suy tôn gán cho những phẩm chất siêu phàm (Theo Hỏi đáp về văn hoá Việt
Nam) [100].
Là một thành tố văn hoá tổ chức cộng đồng, tín ngưỡng được hình thành tự phát từ
thực tế cuộc sống, được cộng đồng tin theo, tôn thờ… gây thành một nếp sống xã hội theo

niềm tin thiêng liêng (như tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng
sùng bái con người…)
Cùng phát tín hiệu thiê
ng liêng nhưng tín ngưỡng và tôn giáo có sự khác nhau cơ bản.
Nếu như tín ngưỡng là một sự ý thức về thần linh với niềm tin, lòng ngưỡng mộ dưới các
hình thức lễ bái cầu cúng theo quan niệm dân gian; ý nghĩa của tín ngưỡng là biết ơn và cầu
mong đối tượng phù hộ cho mình bình yên, khoẻ mạnh, ăn nên làm ra; thì ở tôn giáo là niềm
tin vào những triết thuyết, giáo lý, kinh sách với một hệ thống lễ nghi (đọc kinh, quỳ
bái…), có tổ chức nhân sự điều hành nhằm g
iáo dục tín đồ theo lời dạy của đấng tối cao.
Tôn giáo chủ yếu hướng đến giải thoát cho cái chết, còn tín ngưỡng luôn hướng vào sự
thịnh vượng của cuộc sống.
Sự phân biệt trên cho phép ta một lần nữa nhận thức rõ vị trí độc lập của tín ngưỡng
bên cạnh tôn giáo như là những thành tố cơ bản của đời sống tâ
m linh. Đồng thời, có thể
xem đây là những căn cứ để phân biệt các hiện tượng tâm linh là tín ngưỡng hay tôn giáo.
Có thể gọi niềm tin của các tín đồ tôn giáo là tín ngưỡng tôn giáo để phân biệt với niềm tin
của các tầng lớp nhân dân không theo tôn giáo là tín ngưỡng dân gian (hay tín ngưỡng
truyền thống)
Với nhận thức trên, luận văn chúng tôi chỉ bàn đến tâm linh trong tín ngưỡng dân gian
truyền thống thông qua văn học, thuộc phạm vi đời sống c
á nhân.
1.1.1.3. Văn hoá tâm linh
Từ cách hiểu và giới hạn khái niệm văn hoá và tâm linh trên, chúng tôi hiểu văn hoá
tâm linh là những giá trị văn hoá tinh thần thiêng liêng. Đó là “văn hoá biểu hiện những giá
trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc
sống tín ngưỡng tôn giáo” [17; tr26]
Thuộc lĩnh vực văn hoá tinh thần, nhưng văn hoá tâm linh với những đặc thù riêng
không chỉ gồm những giá trị văn hoá vô hì
nh (những nghi lễ, ý niệm, tập tục…) mà cả

những giá trị văn hoá hữu hình phát tín hiệu thiêng liêng (đình, đền, miếu, chùa, nhà thờ,
tượng…)


Văn hoá tâm linh có nội hàm rộng (biểu hiện trong cả cuộc sống đời thường và trong
tín nguỡng tôn giáo), cho nên có thể thấy trong đời sống con người luôn tồn tại đời sống tâm
linh bên cạnh đời sống thường ngày với những nhu cầu vật chất (ăn, mặc, ở, đi lại…). Đời
sống tâm linh là một phần của đời sống tinh thần. Ở đó có niềm tin vào “cái thiêng”. Ở đó
con người chủ yếu sống với phần tâm
linh trong mình. Với những người không theo tôn
giáo, đời sống tâm linh chỉ xuất hiện khi “hoàn cảnh thiêng”, “thời gian thiêng” xuất hiện.
Đó là không gian của những “thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề”, của đủ thứ những
thần thánh, Phật tiên…Đó là thời gian giỗ, Tết, các lễ hội có phần lễ thiêng liêng, những
thời điểm giúp con người giao hoà với trời đất, thiên nhiên và các thế lực thánh thần. Sống
trong thứ không gian, thời gian m
ang tính tâm linh, mang tính vũ trụ ấy, con người thực sự
được giải toả tâm linh. Họ được thư giãn tinh thần, mong được cởi phiền muộn âu lo, cầu
những điều tốp đẹp cho mình và người thân. Sống đời sống tâm linh chính là cách để con
người đến gần hơn với thế giới tâm linh-thế giới của những biểu trưng “đạo trời”, của những
lực lượng huyền bí với những quyền năng vô hạn chi phối cuộc sống trần t
hế. Nói chung,
“thế giới tâm linh là thế giới của cái thiêng liêng mà ở đó chỉ có cái gì cao cả, lương thiện và
đẹp đẽ mới có thể vươn tới. Cả cộng đồng tôn thờ và cố kết nhau lại trên cơ sở của cái
thiêng liêng ấy” (Vũ Tự Lập).
Với luận văn của mình, chúng tôi chỉ giới hạn vấn đề ở phạm v
i văn hoá tâm linh trong
tín ngưỡng người Việt- tín ngưỡng biểu hiện niềm tin vào “cái thiêng” của các tầng lớp
nhân dân không theo tôn giáo.
Trong ý niệm của nhân dân ta từ xa xưa, thế giới luôn có các lực lượng siên nhiên
mặc nhiên thống trị cuộc sống nhân gian và luôn tin như thế, “niềm tin đó tạo nên những

hoạt động tương ứng biểu hiện qua việc thờ cúng các nghi lễ, tập tục (…) làm nên tín
ngưỡng dân gian” [51;tr1030]. Tín ngưỡng dân gian người Việt vô cùng đa dạng, ba
o gồm
tín ngưỡng thờ thánh thần, trời đất ( thành hoàng làng, thần hộ mệnh cá nhân, thánh tổ nghề,
thờ các vị phúc thần, các anh hùng lịch sử văn hoá…); tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín
ngưỡng thờ mẫu…; niềm tin tướng số phép thuật…Các tín ngưỡng song hành tồn tại trong
đời sống nhân dân và trở thành những sinh hoạt văn hoá tạo nên bản sắc văn hoá truyền
thống Việt Nam.
Văn học chỉ là một biểu hiện của văn hoá, là một mảng màu của bức tran
h văn hoá
thời đại nó ra đời. Vì vậy khi tìm hiểu văn hoá tâm linh người Việt trong văn xuôi trung đại,
chúng tôi thu hẹp bộ phận văn hóa này trong tín ngưỡng dân gian ở những biểu hiện sau:


việc thờ cúng trong các nghi lễ (lễ cầu đảo, lễ phong sắc thần, lập miếu, tạc tượng thờ) và
một số tập tục (tục thờ thần, khấn nguyện, cúng giỗ tổ tiên..). Bên cạnh đó là niềm tin thiêng
liêng đối với một số hiện tượng thiêng trong cuộc sống (giấc mộng, điềm báo, sự linh ứng,
niềm tin vào phép thuật, hoá kiếp…).

1.1.2. Văn xuôi trung đại
1.1.
2.1. Thời kỳ trung đại trong văn học Việt Nam
1.1.2.1.1. Thời kì trung đại
Tên gọi “văn học Việt Nam thời trung đại” thực ra là một qui ước mang tính khoa học
mà các quốc gia phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng “mượn” từ khái niệm “thời
trung đại” trong lịch sử châu Âu. Thời trung đại được xem là thời đại văn hoá lớn trong lịch
sử nhân loại. Đó cũng là thời đại hình thành các giá trị văn hoá truyền thống có ảnh hưởng
đến ngày nay. Riêng đối với Việt Nam, thời trung đại là thời hình thành toàn bộ di sản văn
hoá thà
nh văn của dân tộc.

Thời trung đại chuyển sang thời hiện đại thông qua thời kì quá độ là thời cận đại. Về
mặt lịch sử, ở Việt Nam thời cận đại được đánh dấu bằng sự kiện Pháp chính thức xâm lược
(31.8.1858). Còn xét về mặt văn học, thời cận đại thực sự mờ nhạt, không thật rõ nét. Bởi
vì, không giống như ở phương Tây, thời cận đại ở Việt Nam
không phải là một giai đoạn
độc lập đích thực mà là giai đoạn giao thời chuyển mạnh sang thời hiện đại. Xét từ bình diện
văn hoá, thời hiện đại được tính từ cái mốc tiếp nhận và sáng tạo các hình thái văn hoá mới.
Đầu thế kỉ XX là thời điểm đánh dấu sự tiếp xúc, giao lưu t
oàn diện về văn hoá, văn học của
Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới. Đó là nền văn học mới với đề tài, phương
thức truyền bá, và những quan niệm văn học, lí tưởng thẩm mĩ, phương pháp sáng tác, thể
loại văn học…đặc biệt là sự xuất hiện của báo chí, in ấn, xuất bản. Sự đổi thay cơ bản nà
y
đem đến cho văn học Việt Nam một diện mạo mới, một nhịp độ phát triển khẩn trương mau
lẹ, “một năm ở nước ta kể như ba mươi năm ở nước người” (Vũ Ngọc Phan). Nền văn học
bắt đầu bước vào quá trình hiện đại hoá, vận động trong quĩ đạo chung của nền văn học thế
giới. Do vậy có thể xe
m văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX thuộc phạm trù
trung đại và từ đầu thế kỉ XX đến nay thuộc phạm trù hiện đại.
1.1.2.1.2. Đặc điểm cơ bản của văn học trung đại Việt Nam
Văn học Việt Nam đã hình thành và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát
triển của dân tộc. Đó là quá trình xây dựng văn học viết bằng cách dựa và
o truyền thống và


những thành tựu của văn hoá, văn học dân gian, trên cơ sở tiếp thu một cách chủ động ảnh
hưởng của văn hoá văn học nước ngoài, đặc biệt văn học Trung Quốc. Đó cũng là quá trình
nền văn học phát triển gắn liền với vận mệnh đất nước và số phận con người, thể hiện ý
thức dân tộc mạnh mẽ, đồng thời mang những đặc điểm loại hình t
hi pháp văn học trung đại

trong sự vận động theo hướng dân tộc hóa và dân chủ hoá.
Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, ngay từ khi ra đời, văn học trung đại Việt Nam đã gắn
với vận mệnh đất nước và con người. Chủ đề nổi bật của văn học thời kì này là chủ nghĩa
yêu nước, tư tưởng nhân đạo và chủ nghĩa anh hùng. Chủ đề ấy là sợi chỉ đỏ xuyê
n suốt nền
văn học, từ thơ ca của các nhà sư đời Lí, các vị tướng đời Trần đến các nhà thơ nhà văn lớn
Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu... Ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, tư
tưởng yêu nước và nhân đạo có những biểu hiện khác nhau.
Đã trở thành qui luật, nền văn học trung đại của dân tộc
nào cũng được xây dựng trên
cơ sở nền văn hoá văn học dân gian của dân tộc đó. Văn học dân gian Việt Nam là nền tảng
hình thành nền văn học viết trên nhiều phương diện. Tiếp thu nguồn mạch văn học dân gian,
văn học viết có cơ sở vững chắc để phát triển. Từ những tác phẩm văn xuôi thành văn đầu
tiên: Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái… ra đời trên cơ sở sưu tầm ghi chép các truyền
thuyết dân gian, “từ bi
a miệng người đời”, đến những tác phẩm có qui mô lớn như Đại Việt
sử kí toàn thư cũng sử dụng nhiều yếu tố của văn học dân gian. Cũng không ai có thể phủ
nhận ảnh hưởng của văn học dân gian đậm đà về văn liệu, thi liệu, bút pháp thể hiện…đối
với những tác phẩm tr
uyền kì như Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục, thơ Nguyễn Trãi,
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Đình Chiểu… Khẳng
định giá trị và tìm hiểu đặc điểm của văn học viết trung đại cũng đồng thời là sự đánh giá
cao vai trò, vị trí của văn học dân gian- suối nguồn tươi mát giàu dưỡng chất nuôi lớn nền
văn học viết.
Trong thời
kì trung đại, sự giao lưu ảnh hưởng của các nền văn học lâu đời (Trung
Hoa, Ấn Độ…) với các nền văn học hình thành sau (Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…) là
một tất yếu khách quan. Ở Việt Nam mặc dù đã trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, nền văn
hoá văn học dân tộc vẫn không bị đồng hoá. Sự tiếp thu ảnh hưởng văn học Trung Hoa
không làm mất đi bản sắc dân tộc m

à càng làm cho nền văn học thêm phong phú đậm đà
bản sắc. Đặc biệt trên phương diện thể loại, sự tiếp thu đã diễn ra một cách toàn diện.
“Người Việt Nam hầu như đã di thực toàn bộ thể loại văn học của văn học Trung Quốc vào
Việt Nam với những qui mô và biến đổi khác nhau” (Trần Đình Sử). Thế nhưng con đường


phát triển của văn học dân tộc là vừa tiếp thu vừa Việt hoá những yếu tố Hán song song với
việc sáng tạo những yếu tố hình thức mang tính dân tộc. Sự tiếp thu một cách chủ động tinh
hoa văn học Trung Quốc trên tinh thần dân tộc vừa làm giàu có cho nền văn học, vừa thể
hiện ý thức dân tộc mạnh mẽ của cha ông ta trong quá trình xây dựng nền văn hoá dân tộc
mình.
Cũng như văn học viết trung đại các nước trên thế giới, văn học Việt Nam thế kỉ X-
XIX chịu sự qui định của thi phá
p văn học trung đại nói chung. Nổi bật hơn cả là tính chất
ước lệ của hình thức biểu hiện. Tính ước lệ trung đại được biểu hiện ra ở tính chất tập cổ,
tính qui phạm, tính công thức, sáo ngữ, nghi thức, tính trang trí, gắn chặt với tính truyền
thống, nệ truyền t
hống rất nặng. Ngoài ra văn học trung đại cũng ưu tiên cho các chức năng
hành chính, giáo huấn, nghi lễ…, sự coi nhẹ biểu hiện cá tính. Tuy nhiên các đặc điểm thi
pháp trên không làm hạn chế sự phong phú và phát triển của văn học. Bằng trí tuệ, tâm hồn,
tài năng sáng tạo của các tác giả, văn học trung đại đã để lại nhiều áng thơ văn làm say đắm
lòng người. Trên đường sáng tạo, nền văn học luôn vận động theo hướng dâ
n tộc hoá, dân
chủ hoá, thường xuyên tự đổi mới bằng cách bám sát cuộc sống của dân tộc để phản ánh.
Văn học đã dần trở nên gần gũi với tâm thức người dân. Đó cũng chính là nhu cầu tự thân
để văn học trung đại ngày càng làm cho các qui phạm dần bị lỏng lẻo, phá vỡ, đồng thời tạo
tiền đề cho quá trình hiện đại hoá văn học đầu thế kỉ XX.
Các đặc điểm cơ bản trên giúp ta
nhận rõ đặc trưng của văn học trung đại Việt Nam
trong qui luật chung của các nền văn học trung đại thế giới và chỉ qua những đặc trưng ấy

mới có thể hiểu được văn học trung đại như là một bộ phận hữu cơ của nền văn hoá trung
đại. Đi trọn mười thế kỉ, văn học trung đại kết thúc vai trò lịch sử của m
ình trong tiến trình
văn học dân tộc: phản ánh một cách chân thực sinh động đời sống của con người Việt Nam
trên các phương diện vật chất và tinh thần, đặc biệt là đời sống tâm linh sâu sắc; để lại cho
nền văn học nhiều kinh nghiệm quí giá.
1.1.2.2. Thể loại văn xuôi trung đại
1.1.2.2.1. Thể loại văn học trung đại là một hiện tượng rất bề bộn, phức tạp. Việc phâ
n loại
văn học, kể cả văn xuôi là một công việc rất khó trong điều kiện văn sử bất phân. Vấn đề thể
loại văn xuôi ở đây chỉ có ý nghĩa làm cơ sở lí luận cho các nội dung tiếp theo.
Văn xuôi, theo thi pháp học gồm hai thể văn xuôi tự sự và văn xuôi trữ tình. Thời
trung đại chưa xuất hiện văn xuôi
trữ tình. Văn xuôi tự sự thời kì này chủ yếu viết bằng chữ
Hán. Bên cạnh loại tự sự bằng văn xuôi còn có tự sự bằng văn vần. Tự sự bằng văn vần


được gọi là truyện Nôm. Khái niệm văn xuôi tự sự (hay văn xuôi chữ Hán) được dùng để
khu biệt với truyện Nôm.
Theo Nguyễn Đăng Na trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, [74], căn
cứ vào qui mô và tính chất của các tác phẩm, có thể chia văn xuôi tự sự thành ba nhóm:
truyện ngắn, ký và tiểu thuyết chương hồi. Luận văn chúng tôi theo cách phân chia này để
gọi tên các tác phẩm văn xuôi trung đại được khảo sát.
Tiểu t
huyết chương hồi là thuật ngữ chỉ “một thể loại tác phẩm tự sự dài hơi của Trung
Quốc thịnh hành vào đời Minh Thanh” [32;tr280]. Loại tác phẩm này có ảnh hưởng sâu xa
đối với tiểu thuyết của các nước châu Á như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam. Trong đó,
tiểu thuyết chương hồi viết bằng văn xuôi chữ Hán của Việt Nam là một hiện tượng độc đáo
với các tác phẩm: Nam triều công nghiệp diễn chí, Tâ
y Dương gia tô bí lục, đỉnh cao là

Hoàng Lê nhất thống chí. Đặc điểm tiểu thuyết chương hồi Việt Nam trước hết là viết về đề
tài lịch sử - lịch sử đương đại nên tính thời sự chính trị của các tác phẩm rất cao. Đây là loại
tiểu thuyết gắn với kí sự lịch sử. Về hình thức, các tác phẩm
hoàn toàn theo mô hình chương
hồi Trung Quốc. Mỗi hồi chứa đựng một số sự kiến chính, có một câu đối ở đầu hồi tóm
gọn nội dung sự kiện; cách trần thuật mở đầu bằng niên hiệu lịch sử, dẫn truyện bằng “nói
về”, “ lại nói”, “chuyện chia thành hai mối”...
Về truyện và ký. Truyện ngắn trung đại thực ra là một khái niệm tương đối mà “giới
nghiên cứu hiện đại dùng để chỉ một hiện tượng rất không thuần nhất về cả nội dung và

nghệ thuật, bao hàm rất nhiều kiểu loại tác phẩm khác nhau ra đời trong một thời gian rất
dài (khoảng mười thế kỉ)”[111], gồm: chí, lục, phả, tuỳ bút, ký, ký sự, thuyết…Mặt khác,
theo nhà nghiên cứu văn học người Nga-B.L.Riptin, “thể loại trong văn học trung đại(…)
được thể hiện trong cách thường xuyên nêu bật nó lên ở ngay tên gọi tác phẩm”(dẫn theo
Nguyễn Đăng Na)[74]
. Nên thật khó để tách bạch đâu là truyện đâu là ký. Ngoài một số đặc
điểm về cốt truyện, nhân vật, thời gian không gian, đặc biệt là tính chất hư cấu- yếu tố giúp
tách truyện ra khỏi các hình thức ghi chép khác như lục, ký, chí, thì thái độ người cầm bút,
sự thể hiện cái tôi cá nhân của tác giả là dấu hiệu làm nên sự phân biệt giữa ký với truyện
(như Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác; ký khảo cứu, kí phong cảnh trong Vũ trung t
uỳ
bút của Phạm Đình Hổ). Tuy nhiên, nhiều trường hợp như Tang thương ngẫu lục, Vũ trung
tuỳ bút hay Công dư tiệp kí , người ta vẫn quen gọi là truyện bởi tính truyện đậm hơn tính
ký. Ngoài ra, từ thế kỷ XVIII, ký đã tách khỏi văn học chức năng để trở t
hành những tác
phẩm ký nghệ thuật đích thực. Do vậy, dù được gọi nhiều tên gọi khác nhau, các tác phẩm


truyện và ký được khảo sát đều là những tác phẩm văn học đích thực trong tư cách chúng
thuộc phạm trù văn học trung đại. Chúng tôi cũng thống nhất gọi các thiên ký đậm tính

truyện trong các tác phẩm được khảo sát chính là truyện. Sau đây là số lượng truyện trong
mỗi tác phẩm :
1. Lĩnh Nam chích quái 18/20 truyện+22/23truyện dịch thêm.
2. Việt điện u linh 27/27 truyện
3. Nam ông mộng lục 8/28 truyện
4. Thánh Tông di thảo 14/19 truyện
5. Truyền kì mạn lục
20/20 truyện
6. Việt điện u linh tục bổ 3 truyện
7. Công dư tiệp ký 23/43 truyện
8. Sơn cư tạp thuật 7 truyện /184 thiên
9. Vũ trung tuỳ bút 7 truyện /89 thiên
10. Tang thương ngẫu lục 14 truyện / 90 thiên
11. Lan Trì kiến văn lục 23 truyện / 45 thiên
12. Hát đông thư dị 7/66 truyện
13. Truyền kỳ tân phả 4/4 truyện
14. Thính văn dị lục 5 truyện
15. Nam thiên trân dị tập 4/138 truyện
16. Thoái thực kí văn
3 truyện
17. Vân nang tiểu sử 13/109 truyện
18. Tân đính Việt điện u linh tập 3/41 truyện
19. Việt Nam kì phùng sự lục 2 truyện
1.1.2.2.2. Vấn đề tên gọi thể loại của nhiều tác phẩm văn xuôi trung đại chưa dừng lại ở
khái niệm truyện (truyện văn xuôi chữ Hán) mà thực tế người ta còn gọi là tiểu thuyết (tiểu
thuyết chữ Hán). Tại sao vậy ?
Trong văn học hiện đại, tiểu thuyết là thuật n
gữ chỉ “tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả
năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian”, “là thể loại văn
học có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các thể loại văn học

khác”[32; tr277-279]. Nhưng trong phạm trù văn học trung đại Việt Nam mà cái n
ôi ảnh
hưởng của nó là văn học Trung Quốc, khái niệm tiểu thuyết lại khác.


Ở Trung Quốc, từ “tiểu thuyết” xuất hiện trong Trang Tử chỉ những lời vụn vặt. Trong
quan niệm của nhà nước phong kiến, đây là loại văn học diễn xướng nơi đường sá đối lập
với thứ văn chương cao nhã. Tuy nhiên, gần đây người ta nhận thấy tiểu thuyết bắt nguồn từ
hình thức kể chuyện trong Sử kí của Tư Mã Thiên và Tả truyện thời Hán, m
anh nha là
“truyện”, “ký”. Tên gọi tiểu thuyết (cũng giống như truyện, ký) được mượn tên thể loại của
sử nhưng không phải là lịch sử. Chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn học Trung Quốc cổ trung
đại, trong văn học trung đại Việt Nam, tên gọi tiểu thuyết được dùng với nội hàm để chỉ bất
cứ tác phẩm tự sự nào có tính nghệ thuật được ghi t
heo thể loại của sử (chí, kí, lục...) và có
thể kể lại được. Bài Bạt của Kiều Phú viết: “Tôi cho rằng, việc thông thường trình bày trên
kinh, trên sử, cốt để dạy lại đời sau, việc quái gở được ghi chép thành truyện, kí cốt để mở
rộng hiểu biết chuyện lạ (dĩ quảng dị văn)”. Khái niệm truyện và tiểu thuyết gần như không
có sự phâ
n biệt. Cho nên, khi giới thiệu Tang thương ngẫu lục, Trương Chính viết: “có điều,
tập sách có tính chất kí sự hơn là tiểu thuyết”. Khái niệm tiểu thuyết dùng ở đây chính là
truyện.
Như vậy, trong tình hình không “thuần chủng” của văn học trung đại, sự tách biệt thể
loại tác phẩm trong đó có khái niệm truyện và tiểu thuyết là điều thực sự khó khăn. Đó là lí
do tại sao l
âu nay người ta chấp nhận những cách gọi khác nhau tên nhiều tác phẩm tự sự:
truyện văn xuôi chữ Hán (Ưu Đàm) [23]; truyện ngắn, ký, tiểu thuyết chương hồi (Nguyễn
Đăng Na) [74,75,76]; Tiểu thuyết chữ Hán (Trần Nghĩa) [84]. Riêng trong thể loại truyền kì,
Vũ Thanh gọi là truyện ngắn truyền kì [104], còn Đình Phan Cẩm Vân gọi là tiểu thuyết
truyền kì [125]

.
1.1.2.2.3. Truyện Việt Nam thời trung đại có một tỉ lệ lớn truyện truyền kì (tiểu thuyết
truyền kì) như Truyền kì mạn lục, Thánh Tông di thảo, Truyền kì tân phả ...Vậy truyền kì là
gì và yếu tố văn hóa tâm linh trong loại truyện này là ở đâu ?
Trước hết, truyền kì được hiểu là truyền đi một sự lạ. Truyền kì có tính chất là những
truyện kì lạ được lưu truyền lại. Đồng thời truyền kì cũng là khái niệm chỉ “một thể loại tự
sự ngắn cổ điển của văn học Trung Q
uốc thịnh hành ở thời Đường” [32; tr386], là thể loại
“chứa đựng nhiều tình tiết li kì,quái dị”.
Truyện truyền kì có nguồn gốc trong văn học Trung Quốc. Loại này đã thúc đẩy sự ra
đời của thể loại truyền kì trong văn học vùng Đông Á t
rong đó có Việt Nam. Truyền kì đã
trở thành một thể loại truyện mang tính chất “kì văn dị sự”- một bộ phận tạo nên diện mạo
nền văn xuôi trung đại Việt Nam.


Hạt nhân cơ bản của truyện truyền kì là yếu tố kì. Kì trước hết là cái lạ, cái khác biệt
trái với cái bình thường (kì lạ, li kì). Kì cũng còn là cái quái đản, phi thường, siêu nhiên (kì
quái, kì dị). Cái lạ, phi thường, siêu nhiên trong truyện truyền kì đã tạo nên những “kì văn”
với những “kì nhân”, “kì sự”. Cái kì tạo nên sức hấp dẫn lạ lùng, góp phần làm nên sức sống
lâu bền cho tác phẩm. Sức nặng nghệ thuật của yếu tố này đư
ợc Nghê Trác trong Nhị kì
duyên tiểu dẫn cô đúc “vô truyền bất kì, vô kì bất truyền” (tác phẩm không lưu truyền được
là do không có gì lạ, và không có gì lạ nên tác phẩm không lưu truyền được) (dẫn theo Trần
Lê Bảo )[6].
Vậy phạm vi của cái lạ trong truyền kì là đâu vì lạ cũng là phạm trù của cái quái trong
truyện chí quái? Cả hai loại truyện đều có yếu tố thần kỳ quái dị, nói đến hiện tượng bất
bình thường trong tự nhiê
n và xã hội (gió, bão, lụt bất thường, những con vật quái dị, người
biến dạng hóa hình hay sự nhân hóa thần linh, động vật, đồ vật, sự thần kì hóa con người...).

Tuy nhiên truyện chí quái chủ yếu nói truyện ma quỷ, truyện quái dị gây cảm giác quái đản,
sợ hãi (như chuyện người nôn trong trong mồm ra đủ loại thức ngon vật lạ và người con gái
đẹp -Truyện Cái lông ngỗng ở Dương Tiễn -Sác
h chí quái Lục Triều). Còn sự lạ trong
truyền kì chủ yếu nói chuyện con người, xoay quanh các hiện tượng nhân hoá thần linh và
thần kì hóa con người (như loài vật biến thành người, người ân ái kết duyên với tiên, với
ma... trong Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục). Quan trọng hơn, kì trong truyền kì tham
gia vào sự kiện cốt truyện nhằm phản ánh hiện thực xã hội. Nó không chỉ thể hiện trình độ
tư duy nghệ thuật độc đáo mà còn là phương tiện, thủ pháp nghệ thuật có hiệu quả cao trong
phản ánh hiện thực và chuyển tải những vấn đề nhâ
n sinh. Với những đặc trưng và vẻ đẹp
nghệ thuật riêng, yếu tố kì làm cho truyện truyền kì khác với các loại truyện gần gũi với nó
như truyện thần quái, chí quái. Nó khiến cho người đọc bao thế hệ được “tâm khai thần
thích” (tâm thần sảng khoái).
Trong văn xuôi tr
ung đại Việt Nam, những yếu tố kì lạ, khác thường trong tự nhiên
hay xã hội luôn được kèm theo một quan niệm riêng về một thế giới khác, một niềm tin
thiêng liêng và lòng tôn sùng ngưỡng mộ đối với các lực lượng trong thế giới ấy. Nói cách
khác, chính thế giới quan thần bí và trí tưởng tượng phong phú, niềm tin sâu xa vào một thế
giới khác thế giới hiện thực có sức mạnh chi phối đời sống đã tạo cho họ một đời sống tâ
m
linh phong phú. Đời sống ấy luôn hiện hữu những điều kì lạ, khác thường (hiện tượng điềm
báo, hóa kiếp, hồn ma, đạo sĩ làm bùa phép phù chú, nhà sư có phép thần thông..., hiện
tượng con người giao tiếp với thần linh, lạc vào thế giới thần thánh thông qua giấc mộng,


cúng tế...). Dĩ nhiên những hiện tượng “kì hình dị sự” ấy luôn mang niềm tin thiêng liêng
của con người, thể hiện nguyện vọng ước mơ của họ về nhiều vấn đề trong cuộc sống.
Khi bàn đến yếu tố văn hóa tâm linh trong văn xuôi trung đại, luận văn sử dụng thể
loại truyền kì và cả chất liệu của nó trong các tác phẩm khác như là một bộ phận quan trọng

bởi yếu tố kì ở đâ
y luôn mang tín ngưỡng, quan niệm dân gian. Ngoài ra là yếu tố quái của
truyện thần quái: hiện tượng gái hóa trai, con vật quái dị hay truyện về người phương Bắc
giấu của cải, xem phong thủy, huyệt mạch…Tất nhiên những hiện tượng quái này luôn xuất
phát và hàm chứa tín ngưỡng dân gian. Đó là các vấn đề công lí đạo nghĩa, luật nhân quả,
dương trợ âm phù....
Vậy, cũng giống như đặc điểm của yếu tố kì trong truyện truyền kì,
các yếu tố văn hóa
tâm linh trong văn xuôi tự sự vừa mang nội dung phản ánh, khái quát hiện thực, thể hiện tư
tưởng niềm tin của con người thời trung đại vừa có giá trị nghệ thuật tạo nên sắc màu lung
linh, huyền ảo hấp dẫn cho truyện kể.
1.1.2.2.4. Yếu tố tâm linh trong văn xuôi trung đại Việt Nam - “địa hạt” của những điều kì

lạ, siêu nhiên, huyền bí, sản phẩm của trí tưởng tượng của con người thời trung đại làm ta
liên tưởng đến yếu tố huyền thoại, kì ảo phổ biến trong văn học.
Kì ảo là một tính từ chỉ những gì “được tạo nên bởi trí tưởng tượng, chứ không tồn tại
trong thực tế ”, “gợi lên những chuyện ma quỉ, cái siêu nhiên, những giấc mơ quái đản,
kể
cả những ác mộng” (M.Renard). Kì là lạ lùng; ảo là không có thật. Từ đó có thể hiểu: “Cái
kì ảo là cái lạ lùng, không có thật, không thể bắt gặp trong thế gian này, nói chung là cái
siêu nhiên, nếu ta hiểu các siêu nhiên là những gì không tồn tại ở trên đời” (Phùng Văn
Tửu). Như vậy, phạm vi của cái kì ảo trong văn học là rất rộng, từ các vị thần trong thần
thoại, các ông bụt bà tiên, mụ phù thủy trong truyện dân gian, đến c
ác quỉ sứ, hồn ma, phép
thuật, người biến dạng...trong truyện trung đại, hiện đại bởi đó đều là những hiện tượng siêu
nhiên, nhân vật siêu trần. Theo đó, dễ dàng thấy trong văn chương cổ kim Đông Tây xuất
hiện nhiều yếu tố kì ảo: Hămlet (thế kỷ XVII), Truyện Kiều (thế kỷ XVIII), Truyền kì mạn
lục (thế kỷ XVI), Liêu Trai chí dị (thế kỷ XVIII, XIX), hay sáng tác của Hoffmann, A.Poe,
H.Balzac thế kỷ XI
X, của F.Kafka, Aymé, Boges thế kỉ XX... Nhưng không phải bất cứ tác

phẩm nào xuất hiện yếu tố siêu nhiên đều là văn học kì ảo. Do vậy, cần có sự phân biệt “cái
siêu nhiên” thuộc về “thế giới bên kia” đầy bí ẩn và “cái siêu nhiên” thuần túy do trí tưởng
tượng của nhà văn sáng tạo nên.


Trường hợp thứ nhất, cái siêu nhiên là những quỉ dữ, bóng ma, oan hồn, thần chú,
thánh thần trên thiên đường dưới địa phủ... nói chung là “thế giới bên kia” xuất hiện ở “bên
này” với những năng lực bí ẩn chi phối đời sống con người. Đây là những hiện tượng xuất
hiện nhiều trong tác phẩm của nhiều nhà văn như Bồ Tùng Linh ở Trung Quốc, Nguyễn Dữ
ở Việt Nam...
Trường hợp thứ hai, cái siêu nhiên là những sự kiện,
con người trên thế gian được kì
ảo hóa qua sự tưởng tượng của nhà văn, và tất nhiên ở đây chẳng có thế lực siêu nhiên,
chẳng có dấu vết thần linh nào đối với nhân vật, sư kiện. Đây chính là chất liệu của văn học
kì ảo nở rộ ở phương Tây thế kỉ XIX, XX. Ví dụ: các nhân vật hiện tượng trong Biến dạng,
Một người thầy thuốc ở nông thôn, Cái hang thú của Kafka, Người đi xuyên tường của
Aymé, Cụ già với đôi cánh khổng lồ của Macquez...Với
tính chất là sự “xuất hiện đột ngột
của cái siêu nhiên trong thế giới tự nhiên”, “sự xâm nhập tàn bạo của điều bí ẩn vào cuộc
sống thực tại”, cái kì ảo trong văn học kì ảo thực sự gây cảm giác mãnh liệt, “mang cái ý
nghĩa khủng khiếp, sợ hãi, kì quái, bí hiểm
.” Chính cảm giác đó tạo nên chất lượng, sức hấp
dẫn của văn học kì ảo.
Sự phân biệt giữa văn học kì ảo và cái kì ảo trong văn học giúp ta nhận ra yếu tố kì ảo
trong văn học truyền thống với khuynh hướng văn học kì ảo hiện đại. Trong văn xuôi trung
đại Việt Nam tồn tại yếu tố kì ảo. Nếu trong văn học kì ảo, cái kì ảo đư
ợc dùng là thủ pháp
nghệ thuật, là “hình thức thuần túy” trong mối quan hệ với nội dung, tư tưởng thì trong văn
xuôi trung đại cái kì ảo chính là yếu tố nội dung, là bản chất của thế giới bên cạnh yếu tố có
tính nghệ thuật. Giống như cái kì ảo, các yếu tố tâm linh trong văn học là sản phẩm của trí

tưởng tượng của con người. Nhưng, mang hình thức kì ảo, hoang đường, siêu nhiê
n, yếu tố
này tồn tại như một tất yếu, là hiện thực thứ hai tồn tại song cùng hiện thực trần thế. Ở đó,
con người luôn tin vào những điều huyền hoặc, những hiện tượng mang tính quái dị, hoang
đường mà không hề nghi ngờ sợ hãi. Chính niềm tin ấy tạo nên nét riêng trong đời sống tâm
linh dân tộc một thời kì.
Liên quan đến những yếu tố có “tính mập mờ khó phân định giữa thực và ảo” trong
văn học, huyền thoại cũng là một vấn đề được nhiều người qua
n tâm.
Theo cách hiểu phổ biến, huyền thoại là những sáng tác không tưởng từ xưa đến nay,
những hiện tượng văn học mang tính chất của những sáng tác văn hóa dân gian thời cổ.
Huyền thoại chính là sản phẩm của kiểu tư duy cổ nguyên sơ nhất của nhân loại - tư duy
huyền thoại. Ở hình t
hức có tính tưởng tượng, huyền hoặc và kì diệu, huyền thoại là một

×