Tải bản đầy đủ (.doc) (32 trang)

Sáng kiến kinh nghiệm biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn luyện từ và câu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (212.18 KB, 32 trang )

Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

A- PHẦN MỞ ĐẦU
I.Lý do chọn đề tài:
Phân môn Luyện từ và câu nhằm luyện tập cho các em có một năng lực giao
tiếp.Việc dạy Luyện từ và câu nhằm mở rộng hệ thống hóa làm phong phú vốn từ của
học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn luyện cho
học sinh kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình
cảm của mình, đồng thời giúp học sinh có khả năng hiểu biết các câu nói của người
khác. Luyện từ và câu có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết,
phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em, giúp cho các em học tốt môn Tập làm văn.
Mục tiêu của phân môn Luyện từ và câu là:
Về kiến thức: Mở rộng vốn từ theo chủ điểm, củng cố hiểu biết về các kiểu câu
( thông qua các mô hình) và thành phần câu ( thông qua các câu hỏi) đã học ở lớp hai.
Cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về phép tu từ so sánh và nhân hóa
( thông qua các bài tập).
Về kỹ năng: Rèn cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng một số dấu
câu.
Về thái độ: Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu;
có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp và thích học Tiếng Việt.
Nội dung chương trình phân môn Luyện từ và câu có vai trò quan trọng hàng
đầu. Với tính chất thực hành toàn diện, tổng hợp và sáng tạo, môn Luyện từ và câu sẽ
giúp các em hình thành, phát triển vốn ngôn ngữ của mình, biết sử dụng Tiếng Việt có
văn hóa, sản sinh văn bản trong tư duy, giao tiếp và học tập, hình thành kỹ năng ứng
xử trong các tình huống giao tiếp cụ thể của cuộc sống, làm cơ sở hình thành kỹ năng
tiếp nhận và sản sinh văn bản ở các lớp trên.
Qua thực tế giảng dạy cho thấy, việc dạy phân môn Luyện từ và câu theo phương
pháp cũ học sinh sẽ học tập thụ động. Các em không được chuẩn bị đúng mức để hoạt
động độc lập và sáng tạo, việc học ít hứng thú, năng lực cá nhân không có điều kiện
bộc lộ và phát triển.
Đối với giáo viên, việc tổ chức cho học sinh học tập chủ động còn nhiều hạn chế,


số giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy Luyện từ và câu rất ít. Trong quá trình giảng
dạy, giáo viên còn lúng túng trong việc hướng dẫn học sinh vận dụng các kiến thức đã
học. Từ đó các em không hứng thú và học một cách máy móc, rập khuôn.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã suy nghĩ và quyết định chọn đề tài “Biện
pháp giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 3”, với mong muốn tìm hiểu
sâu hơn về phương pháp giảng dạy, nhằm góp phần nâng cao trình độ chuyên môn
cho bản thân và nâng cao chất lượng phân môn Luyện từ và câu nói riêng và môn
Tiếng Việt nói chung của nhà trường.
II. Mục đích của đề tài:
Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm này nhằm:
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 1
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

- Giải quyết những khó khăn trong việc dạy phân môn Luyện từ và câu, rèn cho
học sinh ý thức, thói quen và hoàn thiện kĩ năng dùng từ đặt câu, góp phần nâng cao
chất lượng môn Tiếng Việt.
- Nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, tích lũy thêm kinh nghiệm, giúp bản thân và các
giáo viên trong khối dạy tốt phân môn phân môn Luyện từ và câu.
- Làm cho tất cả các giáo viên Tiểu học thấy rõ tầm quan trọng của phân môn phân
môn Luyện từ và câu, kiên trì rèn luyện cho các em có thói quen dung từ, đặt câu
chính xác ngay từ các lớp dưới.
III.Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu:
1. Nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài.
- Phân tích những nguyên nhân hạn chế khi học phân môn phân môn Luyện từ
và câu của học sinh lớp ba.
- Đề xuất một số biện pháp khắc phục những sai lầm khi dạy phân môn phân
môn Luyện từ và câu nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phân môn phân môn Luyện từ
và câu.
2.Phương pháp :

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp phỏng vấn.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm.
IV. Giới hạn nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về:
- Thực trạng học phân môn phân môn Luyện từ và câu của học sinh lớp Ba
1
trường Tiểu học Đạo Thạnh A.
- Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy phân môn Luyện từ và câu.
- Rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa.
- Thiết kế trò chơi củng cố kiến thức về từ ngữ.
V. Khách thể và đối tượng nghiên cứu :
1. Khách thể nghiên cứu :
Hoc sinh lớp Ba
1
trường Tiểu học Đạo Thạnh A.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu
VI. Giả thuyết nghiên cứu:
Nếu áp dụng tốt các biện pháp: Giáo viên nắm vững nội dung chương trình sách
giáo khoa, phương pháp giảng dạy đặc trưng của bộ môn, phát huy tính tích cực của
học sinh trong dạy phân môn Luyện từ và câu; Rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ:
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 2
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

so sánh, nhân hóa; Sử dụng trò chơi củng cố kiến thức về từ ngữ thì chất lượng phân
môn Luyện từ và câu sẽ được nâng cao.
VII. Kế hoạch thực hiện :

Thời gian Nội dung Biện pháp
Tháng 8,9/ 2013 - Nghiên cứu tài liệu
- Tìm hiểu thực trạng
- Đọc các tài liệu tham khảo, chọn các
biện pháp thích hợp.
- Tìm hiểu về thực trạng viết Luyện từ
và câu của học sinh lớp ba, trao đổi với
học sinh.
Tháng 10/ 2013
đến 2 / 2014
Thực nghiệm theo các
biện pháp đề ra
Hoàn chỉnh đề cương
Dạy thử nghiệm 1 số tiết dạy theo các
biện pháp đề ra.
Viết nháp đề cương
Tháng 2 / 2014 Hoàn thành sáng kiến Đánh vi tính, trang trí
B- PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận của đề tài:
a. Cơ sở khoa học:
Mỗi chúng ta ai cũng tự nhận thấy rằng ngôn ngữ hết sức phong phú và đa
dạng. Con người ngay từ khi sinh ra đến tuổi đi học đều hình thành cho mình vốn
ngôn từ, quy tắc giao tiếp nhất định. Bởi vậy, để tăng nhanh được vốn từ, để chính xác
hóa nội dung ngữ nghĩa của từ cũng như thúc đẩy việc hình thành kĩ năng giao tiếp
diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi không thể không chú ý đến việc rèn luyện,
trau dồi cho các em vốn kiến thức về từ ngữ qua phân môn Luyện từ và câu. Phân môn
Luyện từ và câu giúp học sinh: Mở rộng hệ thống hóa vốn từ và trang bị cho học sinh
một số hiểu biết sơ giản về từ và câu; rèn luyện cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu
và sử dụng các dấu câu; bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết
thành câu; rèn luyện ý thức sử dụng Tiếng Việt có văn hóa trong giao tiếp.

Với mục đích như vậy, việc dạy học Luyện từ và câu chiếm vị trí hết sức quan
trọng trong nhà trường cũng như cung cấp cho các em những tri thức hết sức cần thiết
để tìm hiểu và học tốt các môn học khác.
b. Cơ sở thực tiễn:
Phân môn Luyện từ và câu là phân môn quan trọng của môn Tiếng Việt, nhằm
mở rộng vốn từ, cung cấp những hiểu biết sơ giản về từ loại và về kiểu cấu tạo của các
từ thông qua vốn từ các em sẵn có các từ mới học. Đồng thời rèn kỹ năng nói, viết
thành câu, dùng một số dấu câu khi viết, cung cấp những mẫu câu cần thiết đế học
sinh vận dụng trong giao tiếp và học tập.
Đối với học sinh lớp 3 do vốn sống, vốn từ của các em còn quá ít, mà chúng ta
đã biết từ ngữ, ngữ pháp trong tiếng Việt rất phong phú, như nhiều người thường nói “
Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”. Bởi vậy làm cho các em hiểu
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 3
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

đúng đắn về từ, câu để có thể phát triển một cách đồng đều về mọi mặt là một việc
không dễ.
Chính vì nhận thức trên, chúng tôi nghĩ rằng muốn học sinh học tốt phân môn
Luyện từ và câu giai đọan đầu ở bậc tiểu học, không gì hơn phải thiết kế và giảng dạy
sao cho tiết học diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả cao mà vẫn đảm bảo được
nguyên tắc học sinh là nhân vật trung tâm, phát huy được tính chủ động tích cực của
từng học sinh, của tập thể học sinh trong giờ học.
II. Thực trạng của vấn đề:
1. Thuận lợi:
- Sĩ số học sinh không quá nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra
(chấm bài viết thường xuyên, phát hiện lỗi sai kịp thời để học sinh sữa chữa và khắc
phục khi sử dụng vốn từ trong hoạt động nói và viết).
- Học sinh có đầy đủ vở Luyện từ và câu và vở bài tập Tiếng Việt (ghi đầy đủ
nội dung bài tập Luyện từ và câu).
- Giáo viên có kế hoạch rèn học sinh thói quen dùng từ, đặt câu trong học tập,

cũng như trong giao tiếp ngay từ đầu năm học.
2. Khó khăn:
- Tình hình thực tế học sinh lớp Ba ở đây vốn từ các em còn hạn chế. Các em
chỉ hiểu nghĩa của các từ ngữ ở mức độ đơn giản trong khi từ ngữ Tiếng Việt vô cùng
phong phú.
- Đa số gia đình các em sống về nghề nông còn nghèo, cha mẹ còn lo đi làm
mướn để kiếm sống, chưa thực sự quan tâm đến việc học của các em.
- Phần đông học sinh lớp sử dụng vốn từ trong hoạt động nói và viết còn hạn
chế.
3. Thực trạng vấn đề:
Để xây dựng được kế hoạch thực hiện nghiên cứu “Biện pháp giúp học sinh lớp
ba học tốt phân môn Luyện từ và câu”, tôi đã tiến hành khảo sát tình hình thực tế việc
dùng từ, đặt câu của học sinh ngay từ đầu năm học. Qua khảo sát đầu năm tôi thống kê
học sinh còn mắc dùng từ, đặt câu rất nhiều, có một số học sinh dùng từ chưa chính
xác, chưa hiểu nghĩa từ, đặt câu chưa đúng ngữ pháp, chưa dùng từ có hình ảnh so
sánh (đã học ở lớp hai). Cụ thể khảo sát chất lượng môn Luyện từ và câu đầu năm, tôi
thống kê kết quả như sau:
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
TS % TS % TS % TS %

III. Biện pháp thực hiện:
Với thực trạng nêu trên, ngay từ đầu năm, tôi đề ra Biện pháp nâng cao chất
lượng phân môn Luyện từ và câu theo các biện pháp đã đề ra:
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 4
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

1. Giáo viên nắm vững nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp
giảng dạy đặc trưng của bộ môn:
Từ việc phân loại đối tượng trên, tôi đề ra cho mình phương pháp dạy thật tốt
phân môn Luyện từ và câu. Tôi đã nghiên cứu ở sách giáo khoa, tham khảo để nắm

vững chương trình và phương pháp giảng dạy đặc trưng của phân môn này. Có nắm
vững nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy, người giáo viên mới đi sâu
vào nghiên cứu, giảng dạy tốt phân môn Luyện từ và câu.
a.Về nội dung:
Trong chương trình tiểu học mới, môn Tiếng Việt đạt được mục tiêu rèn luyện
kỹ năng lên hàng đầu, các bài học không có tiết học lý thuyết riêng. Cách đặt vấn đề
của chương trình mới tỏ ra phù hợp với đặc điểm, với trình độ nhận thức của học sinh
Tiểu học. Phân môn Luyện từ và câu được biên soạn theo quan điểm giao tiếp, tích
hợp, tích cực hóa hoạt động của người học. Mặt khác, học sinh lớp 3 phải hoàn thành
tốt kiến thức đã học ở lớp 2 về từ loại, các kiểu câu, các thành phần câu và dấu câu.
Học sinh lớp 3 tiếp tục được trang bị những hiểu biết đầu tiên về biện pháp tu từ so
sánh, nhân hóa để phục vụ việc đọc hiểu các loại văn bản và làm văn.
Như vậy, việc dạy học Luyện từ và câu để đạt mục tiêu trên cần cho em tiếp xúc
với các loại bài tập cụ thể, để qua đó các em được rèn luyện những kỹ năng cần thiết
và bước đầu tiếp xúc với ngôn ngữ hình tượng văn học, rung động trước cái hay, cái
đẹp của cuộc sống của con người, của thiên nhiên, từ đó hình thành và phát triển nhận
thức, tình cảm, thái độ đúng đắn trước cuộc sống. Nội dung kiến thức được sách giáo
khoa trình bày rõ ràng, khoa học, có hệ thống tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tổ
chức giờ học.
Chương trình Luyện từ và câu ở lớp 3 có những loại bài tập sau:
a.1) Mở rộng vốn từ:
- Gắn với các chủ điểm được học : Măng non, Mái âm, Tới trường, Cộng đồng, Quê
hương, Bắc – Trung – Nam, Anh em một nhà, Thành thị - nông thôn, Bảo vệ Tổ quốc,
Sáng tạo, Nghệ thuật, Lễ hội, Thể thao, Ngôi nhà chung, Bầu trời và mặt đất.
- Thông qua các bài tập
+ Tìm từ ngữ theo chủ điểm.
+ Tìm hiểu, giải nghĩa của từ;
+ Hệ thống, phân loại vốn từ;
+ Luyện cách sử dụng từ
a.2) Ôn luyện kiến thức đã học ở lớp 2

- Ôn vế các từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, trạng thái, từ chỉ đặc điểm (chủ yếu thông
qua các bài tập có yêu cầu nhận diện)
- Ôn về các kiểu câu đã học ở lớp 2 :Ai là gì? Ai (cái gì, con gì) làm gì? Ai thế nào?
Các thành phần trong câu đáp ứng các câu hỏi Ai/ Là gì? Làm gì? Thế nào? Ở đâu?
Bao giờ? Như thế nào? Vì sao? Để làm gì? Thông qua các bài tập:
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 5
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

+ Trả lời câu hỏi;
+ Tìm bộ phân câu trả lời câu hỏi ;
+ Đặt câu hỏi cho từng bộ phận câu ;
+ Đặt câu theo mẫu ; ghép các bộ phận thành câu…
- Ôn về một số dấu câu cơ bản : dấu chấm, dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu chấm hỏi, dấu
chấm than. Thông qua các bài tập :
+ Chọn dấu câu đã cho điền vào chỗ trống ;
+ Tìm dấu câu thích hợp điền vào chỗ trông ;
+ Điền dấu câu đã cho vào chỗ thích hợp ;
+ Tập ngắt câu
a.3) Bước đầu làm quen với các biện pháp tu từ so sánh và nhân hoá
- Về biện pháp so sánh, SGK có nhiều loại bài tập như :
+ Nhận diện (tìm) những sự vật được so sánh, những hình ảnh so sánh, các vế so sánh,
các từ so sánh, các đặc điểm được so sánh,…
+ Tập nhận biết tác dụng của so sánh.
+ Tập đặt câu có dùng biện pháp so sánh.
- Về biện pháp nhân hoá, SGK có những loại hình bài tập như :
+ Nhận diện phép nhân hoá : Cái gì được nhân hoá ? Nhân hoá bằng cách nào ?
+ Tập nhận biết cái hay của nhân hoá.
+ Tập viết câu hay đoạn có dùng nhân hoá
b. Các phương pháp dạy học chủ yếu:
Hiện nay, chương trình và sách giáo khoa mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho

giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh.
Phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ rèn cho học sinh dùng từ đúng, nói viết thành
câu. Ở lớp 3, học sinh không phải học những kiến thức lý thuyết vế Tiếng Việt. Trong
sách giáo khoa, các kiến thức sơ giản về từ và câu được thực hiện qua các bài tập thực
hành, luyện tập về dùng từ đặt câu; qua việc rèn kỹ năng sử dụng từ ngữ, ngữ pháp
dần dẩn hình thành ở học sinh một cách tự nhiên các nhận biết ban đầu về các đơn vị
kiến thức, về từ ngữ, ngữ pháp sẽ học ở các lớp trên.
Cũng như các phân môn học khác trong môn học Tiếng Việt, khi dạy học Luyện
từ và câu các phương pháp thường được sử dụng rộng rãi là:
- Phương pháp luyện tập theo mẫu, đấy là phương pháp được sử dụng nhiều
nhất khi dạy Luyện từ và câu lớp 3. Thông qua việc hướng dẫn học sinh làm mẫu một
phần của bài tập, giáo viên giúp các em nhận biết cách làm bài tập để từ mình hoàn
thành bài tập.
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ, thường được sử dụng khi hướng dẫn học
sinh giải nghĩa từ hoặc mở rộng vố từ theo cấu tạo,…
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 6
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

- Phương pháp giao tiếp: Thông qua việc dạy từ dựa vào lời nói vào những
thông báo sinh động, vào giao tiếp ngôn ngữ, giáo viên hướng học sinh vào những tình
huống để tạo ra sản phẩm giao tiếp (là việc hiểu và dùng từ đúng và hay của học sinh)
- Phương pháp thảo luận nhóm, trò chơi học tập …
Dạy Luyện từ và câu ở lớp 3 thực chất là việc tổ chức cho học sinh thực hiện
các bài tập. Do vậy khi dạy Luyện từ và câu, dể học sinh hứng thú học tập, tôi thường
vận dụng các biện pháp phù hợp với từng loại bài.
b.1. Tổ chức cho học sinh thực hiện các bài tập mở rộng vốn từ và hệ thống hoá
vốn từ:
Từ tồn tại trong đầu óc con người được sắp xếp theo một hệ thống liên tưởng
nhất định. Nhờ quy luật này, từ được tích luỹ nhanh chóng hơn. Cũng nhờ quy luật
này, từ mới có thể sử dụng được trong lời nói, vì khi sử dụng từ, nhờ hệ thống liên

tưởng, học sinh sẽ nhanh chóng huy động, lựa chọn được từ ngữ phù hợp với yêư cầu
giao tiếp.
Toàn bộ loại bài tập mở rộng, hệ thống hoá vốn từ yêu cầu học sinh tìm những
từ theo một dấu hiệu chung nào đó. Ở tiểu học, biện pháp được sử dụng phổ biến nhất
để hệ thống hoá vốn từ là mở rộng vốn từ theo chủ điểm. Các chủ điểm này có phạm
vi rộng hẹp rất khác nhau, vì thế các bài tập rất đa dạng, phong phú. Nhóm từ theo chủ
đlểm bao gồm các từ thuộc nhiều từ loại khác nhau. Cái quy định là đề tài nên theo
phạm vi liên tưởng rộng, tuỳ thuộc vào các nhân học sinh. Giáo viên cần định hướng
những từ nhất định, thu hẹp phạm vi liên tưởng lại. Cũng có thể liên tưởng theo một
dấu hiệu ngữ nghĩa nào đó. Để giải các bài tập này, tôi gợi ý cho học sinh tìm trong
vốn từ của mình những từ có mang những nét nghĩa phù hợp với chủ điểm. Cũng có
thể liên tưởng theo các lớp từ vựng: từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa. Cuối cùng là tìm các
từ có cùng cấu tạo.
Giải các bài tập mở rộng và hệ thống hoá vốn từ, học sinh sẽ xây dựng được
những nhóm từ khác nhau. Để hướng dẫn học sinh làm những bài tập này, giáo viên
cần có vốn từ cần thiết và biết phân loại các từ. Các bài tập mở rộng và hệ thống hoa
vốn từ vừa sức với học sinh tiểu học, được các em thực hiện một cách tự nhiên và có
hứng thú.
b.2. Tổ chức cho học sinh thực hiện các bài tập giải nghĩa từ:
Tầm quan trọng của việc dạy nghĩa từ cho học sinh đã được thừa nhận từ lâu
trong phương pháp dạy tiếng Việt. Nó là nhiệm vụ quan trọng trong sự phát triển ngôn
ngữ của trẻ em. Việc giải nghĩa từ được tiến hành trong tất cả các giờ học, bất cứ ở
đâu có cung cấp từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm thì ở đó có dạy nghĩa từ.
Để dạy nghĩa từ, trước hết giáo viên phải hiểu nghĩa từ và biết giải nghĩa phù
hợp với mục đích dạy học, phù hợp với đối tượng học sinh. Ở tiểu học, tôi thường sử
dụng một số biện pháp giải nghĩa sau:
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 7
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

+ Giải nghĩa bằng trực quan là biện pháp đưa ra các vật thật, tranh ảnh, sơ đồ

v.v… để giải nghĩa từ.
Ví dụ: Tôi đưa ra bức tranh vẽ hình quả na, củ sắn, cho học sinh tôi xem và nói
“Đây là quả mãng cầu dai”. “Đây là củ khoai mì”. Khi đọc bài “Hạt gạo làng ta”, tôi
cho học sinh xem tranh cái quang để giúp học sinh nắm nghĩa của từ.
Trực quan chiếm vị trí quan trọng trong giải nghĩa từ ở tiểu học vì nó giúp học
sinh hiểu nghĩa từ một cách dễ dàng nhưng cách giải nghĩa này đòi hỏi giáo viên phải
chuẩn bị khá công phu và không thể dùng để giải thích những từ trừu tượng. Biện
pháp này nên dùng ở các lớp đầu cấp. Tương ứng với biện pháp giải nghĩa từ bằng
trực quan có các bài tập giải nghĩa từ.
Ví dụ: Bài tập yêu cầu học sinh “Nhìn vào hình vẽ chỉ xem đâu là đỉnh núi,
sườn núi, chân núi” hoặc đưa tranh, yêu cầu học sinh tìm một nét nghĩa: “Dựa vào
tranh em hãy nói xe làm là loại xe dùng để làm gì?”.
+ Giải nghĩa từ bằng ngữ cảnh là để cho từ xuất hiện trong một nhóm từ, một
câu, một bài để làm rõ nghĩa của từ. Tôi không cần giải thích, nghĩa của từ được bộc
lộ nhờ ngữ cảnh.
Ví dụ: Để giải nghĩa từ “rực rỡ”, tôi đưa ra câu “Những đoá hồng rực rỡ đang
đón chào nắng sớm”.
+ Giải nghĩa từ bằng đối chiếu, so sánh với từ khác.
Ví dụ: Giải nghĩa từ “đồi” bằng cách so sánh “đồi” với “núi”: đồi thấp hơn núi,
sườn thoai thoải hơn”. Cách giải nghĩa này sẽ được xây dựng thành các bài tập kiểu
“Đồi khác núi như thế nào?”…
+ Giải nghĩa bằng các từ đồng nghĩa, trái nghĩa. Ví dụ: Hãy giải nghĩa các từ
dưới đây bằng từ trái nghĩa với nó: trẻ con, cuối cùng, xuất hiện, bình tĩnh.
+ Giải nghĩa bằng cách phân tích thành các từ tố (tiếng). Ví dụ: “Tâm sự là một
từ ghép gốc Hán, có nghĩa là nỗi lòng (tâm: lòng, sự: nỗi)
+ Giải nghĩa bằng định nghĩa là biện pháp giải nghĩa bằng cách nêu nội dung
nghĩa bằng một định nghĩa. Ví dụ: “cộng đồng là những người cùng sống trong một
tập thể hoặc một khu vực, gắn bó với nhau”. Đây là biện pháp giải nghĩa phổ biến
nhất, là biện pháp giải nghĩa làm cơ sở cho rất nhiều bài tập dạy nghĩa khác nhau.
Hình thức giải nghĩa này có 3 dạng bài tập theo từ tực từ dễ đến khó như sau:

Mức độ thấp nhất: cho sẵn cả nội dung (nghĩa từ) và tên gọi (từ), chỉ yêu cầu
học sinh phát hiện ra sự tương ứng giữa chúng. Đó là kiểu bài tập yêu cầu nối một ô ở
cột này (cột ghi các từ) với một ô tương ứng ở cột kia (cột ghi nội dung các từ) sao
cho hợp nghĩa. Khi hướng dẫn giải bài tập này, giáo viên phải làm cho học sinh hiểu ý
nghĩa của từng yếu tố ở hai cột để thấy sự tương ứng của từng cặp.
Mức thứ hai: cho sẵn nội dung từ (các nét nghĩa của từ) yêu cầu tìm tên gọi
(từ). Ví dụ: bài tập yêu cầu điền tiếp vào chỗ trống trong các câu: “Người làm nghề
cày ruộng, trồng trọt trên đồng ruộng gọi là …”, học sinh phải trả lời được câu hỏi
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 8
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

“Người làm nghề cày ruộng, trồng trọt trên đồng ruộng là ai?” để ghi vào chỗ trống từ
“nông dân” cho đúng.
Mức cao nhất, cho sẵn từ, yêu cầu học sinh xác lập nội dung tương ứng. Phổ
biến nhất là kiểu bài tập đưa ra các câu hỏi trực tiếp “Theo em, thám hiểm là gì?”. Đây
là dạng bài tập tương đối khó với học sinh tiểu học. Để thực hiện loại bài tập này, học
sinh phải có kĩ năng định nghĩa. Giải nghĩa bằng định nghĩa sẽ làm cho ngôn ngữ và tư
duy của học sinh trở nên rõ ràng và sâu sắc hơn. Hình thức định nghĩa vừa sức với học
sinh là bài tập ra dưới hình thức trắc nghiệm, hỏi nghĩa của từ và đưa ra 3, 4 phương
án trả lời để học sinh lựa chọn.
Việc phân chia thành các biện pháp và các bài tập giải nghĩa như trên chỉ là
tương đối. Trong thực tế, khi giải nghĩa từ hoặc xây dựng những bài tập giải nghĩa,
người ta thường kết hợp các biện pháp khác nhau. Việc lựa chọn các biện pháp và các
bài tập giải nghĩa tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Nó bị quy định bởi nhiệm vụ
học tập, bởi đặc điểm của từ, bởi trình độ của học sinh.
b.3. Vận dụng phương pháp dạy thực hành giao tiếp để tổ chức dạy học:
Nội dung dạy luyện từ và câu được xây dựng qua hệ thống bài tập , không có
phần lý thuyết nên tổ chức thực hiện tốt các bài tập luyện từ và câu có vai trò quyết
định đối với chất lượng dạy và học phân môn này. Để đảm bảo thành công cho các
hoạt động thực hành, giáo viên phải dành thời gian chuẩn bị các nội dung thực hành

sao cho phù hợp với đối tượng học sinh, phải kiểm tra được các hoạt động thực hành
của học sinh để tránh tình trạng học sinh làm sai từ đầu đến cuối hoặc không tham gia
thực hành.
Khi sử dụng phương pháp thực hành trong dạy luyện từ và câu, tôi sử dụng biện
pháp và kĩ thuật sau: Liên hệ với thực tế để biết mục đích của bài học, nêu rõ nhiệm
vụ của học sinh cần làm, hướng dẫn học sinh huy động kiến thức đã học và kinh
nghiệm của cá nhân để hình thành kiến thức đã học và kinh nghiệm của các nhân để
hình thành kiến thức kĩ năng mới.
b.4) Phương pháp trò chơi học tập:
Trò chơi học tập là một trò chơi đặc biệt không chỉ nhằm giải trí mà còn góp
phần củng cố tri thức, kĩ năng đã học.
Nội dung trò chơi học tập phải gắn với các tri thức, kĩ năng của môn học, trò
chơi học tập cần phải có luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, không đòi
hỏi phải có thời gian dài cho việc huấn luyện, phù hợp với trình độ của học sinh,
không quá khó. Ví dụ: Thi đặt câu theo mẫu, thi phân loại từ nhanh…
b.5) Phương pháp học nhóm:
Dạy luyện từ và câu theo phương pháp hợp tác nhóm nhằm hình thành ở học
sinh khả năng giao tiếp, khả năng hợp tác, thích ứng và độc lập suy nghĩ.
Dạy học luyện từ và câu theo phương pháp hợp tác nhóm phải đáp ứng yêu cầu:
Đề tài đưa ra thảo luận có tác dụng kích thích sự suy nghĩ, tò mò của các em học sinh,
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 9
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

hiểu được những gì được học thông qua thảo luận và khuyến khích động viên học sinh
mạnh dạn tham gia thảo luận.
Cần lưu ý rằng không nên lạm dụng hình thức thảo luận nếu bài tập không quá
khó với học sinh, lạm dụng thảo luận nhóm sẽ lãng phí thời gian của lớp.
b.6) Phương pháp sử dụng tình huống có vấn đề trong tổ chức hoạt động:
Nhằm hình thành ở học sinh khả năng tư duy tự giải quyết vấn đề, khả năng thích
ứng, khả năng hợp tác trong đời sống, đặc biệt trong giao tiếp.

Khi dạy học luyện từ và câu, tôi tạo ra tình huống có vấn đề bằng cách nêu mục
đích hình thành kiến thức và kĩ năng mới, nêu nhu cầu cần biết kiến thức mới của bản
thân học sinh, dự báo khả năng nắm kiến thức của học sinh.
Tôi kết hợp sử dụng nhiều phương pháp để tránh cảm giác nặng nề trong việc tiếp
nhận kiến thức lí thuyết ngôn ngữ của học sinh. Đối với mỗi nhóm bài học, lựa chọn
những phương pháp thích hợp.
Ví dụ: Bài:“ Mở rộng vốn từ: Thành thị, nông thôn. Dấu phẩy” tiết 16. Đối với
bài học mở rộng vốn từ theo chủ điểm, tôi vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy
học phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Trong đó, tôi đặc biệt chú ý đến
phương pháp thảo luận nhóm để các em có thể huy động trí tuệ tập thể, phát triển và
tích cực hóa vốn từ của mỗi em, tạo được hứng thú cho học sinh. Mặt khác, mở rộng
vốn từ còn giúp các em chủ động lựa chọn từ ngữ và sử dụng từ ngữ đó trong học tập
và giao tiếp hàng ngày. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, tôivận dụng phương pháp thực
hành giao tiếp để tạo hứng thú trong khi nói và viết cho học sinh (Cụ thể là: Quê các
em ở nông thôn hay thành thị? Ở nơi đó có những cảnh vật gì? Em thích cảnh vật nào
nhất? Em thấy cảnh vật ở thành thành thị và nông thôn có gì giống và khác nhau? Phải
tạo được tình huống thiết thực, tự nhiên cho học sinh)
2.Biện pháp dạy học theo sự phân hóa đối tượng và phù hợp với phương pháp
dạy từng dạng bài:
a) Biện pháp dạy học theo sự phân hóa đối tượng:
Sau khi khảo sát ở đầu năm kết hợp dạy vài tiết dạy phân môn Luyện từ và câu
ở lớp, chúng tôi đã nắm rõ được lực học của các em, từ đó phân loại theo đối tượng
học sinh (khá, giỏi, trung bình, yếu), theo khả năng tiếp thu (nhanh, chậm) của học
sinh và vạch ra kế hoạch giúp đỡ các em:
 Trong công tác chủ nhiệm chúng tôi xếp chỗ ngồi phù hợp, những em học
sinh yếu ngồi ở đầu bàn hoặc bàn đầu để giáo viên dễ kiểm tra.
 Bầu ban cán sự lớp có năng lực, nhiệt tình học giỏi, giao nhiệm vụ cụ thể cho
từng thành viên giúp đỡ những học sinh yếu.
 Quá trình giảng dạy hệ thống câu hỏi phù hợp cho tất cả các đối tượng học
sinh để khuyến khích học sinh yếu, phát huy năng lực của học sinh khá giỏi.

 Cuối tiết học bình chọn, nhận xét tuyên dương để khích lệ tinh thần học tập
của các em, hạn chế học lười học, chán học.
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 10
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

 Thường xuyên gặp gỡ trao đổi tình hình học tập của các em với phụ huynh đề
nghị cùng phối hợp.
 Trong giảng dạy, chúng tôi chú ý tìm ra những vấn đề vướng mắc khó khăn,
xác định cần giúp đỡ học sinh ra sao, sử dụng những phương pháp nào phù hợp để
phát huy được tính tích cực học tập của các em, nhằm khuyến khích các em tự giác,
thích thú thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của giáo viên. Tôi lập kế hoạch thật chi tiết
cụ thể, chọn phương pháp phù hợp cho từng hoạt động, từng loại bài, từng đối tượng
học sinh. Có những bài, tôi sắp xếp lại cho phù hợp với trình độ tâm sinh lý của học
sinh. Đảm bảo kiến thức theo hệ thống từ thấp đến cao, từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng.
b)Phương pháp dạy từng dạng bài:
Phân môn Luyện từ và câu chủ yếu là cho học sinh thực hành, luyện tập nhiều
để hình thành kĩ năng sử dụng từ và câu. Bài tập Luyện từ và câu được xây dựng
thông qua hệ thống bài tập sắp xếp hợp lí. Chính vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của giáo
viên trong giờ học này là hướng dẫn học sinh làm bài tập sao cho phát huy cao độ tính
tích cực, sáng tạo của các em; cung cấp một số tri thức sơ giản về từ, câu và dấu câu.
Quy trình chung tôi thường hướng dẫn học sinh làm bài tập theo các bước sau:
- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập ( bằng câu hỏi, lời giải thích hoặc
tranh, ảnh…)
- Hướng dẫn học sinh làm một phần của bài tập làm mẫu ( Tôi trực tiếp làm mẫu
hoặc hướng dẫn 1 học sinh chữa mẫu trên lớp; cũng có thể với gợi ý của tôi, cả lớp tự
làm thử một phần của bài tập rồi cùng chữa bài làm mẫu)
- Tôi tổ chức cho học sinh làm các bài tập còn lại (theo cá nhân, nhóm…)
- Tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những điểm ghi nhớ về
tri thức ( tôi hướng dẫn học sinh nhận xét kết quả làm bài của bạn, tự đánh giá kết quả

học tập của bản thân trong quá trình luyện tập.
Lưu ý: Sau mỗi bài, giáo viên phải chốt lại ý đúng.
- Nêu yêu cầu, hướng dẫn học sinh thực hiện những hoạt động tiếp nối nhằm củng
cố kết quả thực hành, luyện tập ở lớp ( thực hành giao tiếp ngòai lớp học, sử dụng kỹ
năng đã học vào thực tế cuộc sống).
- Học sinh chủ yếu thực hành luyện tập thông qua hệ thống bài tập để làm quen với
những kiến thức sẽ học ở các lớp trên. Đối với lớp 3, tôi nêu tóm tắt một số ý tóm lược
thật ngắn gọn để học sinh nắm chắc bài ( theo hướng dẫn trong sách giáo viên) nhưng
không nên sa vào dạy lý thuyết.
Tuy nhiên, tùy từng dạng bài tập, và đối tượng học sinh mà tôi sử dụng phương
pháp phù hợp:
 Dạng bài tập sử dụng dấu câu:
*Kiểu bài yêu cầu điền một loại dấu trong câu:
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 11
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

Trọng tâm của dạng bài là giúp học sinh biết cách dùng đúng những dấu câu
như dấu phẩy, dấu chấm, dấu hai chấm,…trong các dấu câu này dấu phẩy có ý nghĩa
cực kỳ quan trọng trong thực tế viết văn của học sinh, việc sử dụng dấu phẩy liên quan
đến hiểu biết về Tiếng Việt: sự phân biệt từ loại, thành phần phụ của câu với thành
phần nòng cốt câu. Khi hướng dẫn học sinh sử dụng dấu phẩy đầu tiên giáo viên phải
giúp học sinh nhận biết chức năng của dấu phẩy được thể hiện trong câu. Dấu phẩy có
nhiều công dụng ngăn cách các danh từ/ cụm danh từ; động từ/ cụm động từ…đi liền
nhau trong câu; Ngăn cách thành phần nòng cốt của câu với thành phần phụ như trạng
ngữ. Ví dụ: Hôm nay, Mai được cô giáo khen. Ngăn hai hay nhiều vị ngữ song song,
chủ ngữ song song. Ví dụ: Bác Hồ rất yêu thương, quý mến thiếu nhi. Lan, Bình và
Phong đi thăm cô giáo. Tuy nhiên ở lớp 3 trong Luyện từ và câu, từ loại và cách dùng
chúng được giới thiệu thông qua hệ thống bài tập với những tên gọi cụ thể là từ chỉ
hoạt động, trạng thái, từ chỉ sự vật, từ chỉ tính chất…Khái niệm chủ ngữ và vị ngữ
cũng không được giới thiệu tường minh mà chỉ thể hiện thông qua việc nhận diện các

mẫu câu với những bộ phận được diễn đạt dưới dạng câu hỏi như: “Ai làm gì? Ai thế
nào? Ai là gì?” Mặt khác, thành phần phụ trạng ngữ cũng được giới thiệu theo cách
tương tự với những từ hỏi cụ thể như: “ Ở đâu? Khi nào? Làm gì? Do vậy khi tiến
hành các biện pháp dạy học các bài tập sử dụng dấu phẩy, tôi sử dụng thích hợp các
tên gọi và đặc điểm của thành phần câu hay từ loại như vừa nêu.
Sau đây, tôi xin trình bày một số biện pháp tổ chức cho học sinh thực hiện các
bài tập sử dụng dấu trong câu:
* Cách 1: Giáo viên đặt những câu hỏi phù hợp để giúp học sinh phát hiện ra
chỗ cần đặt dấu câu theo yêu cầu.
Ví dụ: Có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu sau?
a) Lớp em học tập tốt lao động tốt.
b) Cô giáo chúng em rất yêu thương quý mến học sinh.
c) Chúng em luôn kính trọng biết ơn thầy giáo cô giáo.
- Để giúp học sinh nhận diện được những cụm từ/ từ cấn phân cách bằng dấu
phẩy, giáo viên đặt câu hỏi: “ Lớp em làm gì?” (cho câu a), “Cô giáo chúng em như
thế nào?” (cho câu b), “ Chúng em như thế nào đối với thầy cô?” (cho câu c). Một câu
hỏi được hỏi nhiều lần; số lần hỏi phù hợp với số lượng yếu tổ cần phân cách dấu
phẩy. Với câu a sau khi học sinh đã trả lời được “học tập tốt lao động tốt” thì giáo viên
nhanh tay ghi riêng bộ phận đó lên bảng rồi hướng dẫn tiếp.Theo các em, ta nên đặt
dấu phẩy vào chỗ nào trong bộ phận này?, Học sinh lần lượt nêu ý kiến. Tôi tổng hợp
lại và sử dụng một bìa cứng nhỏ có viết sẵn dấu phẩy ( viết bằng mực đỏ) cùng học
sinh thử nghiệm lại bằng cách đặt dấu phẩy lần lượt vào sau những bộ phận “học”,
“học tốt”, “ học tập tốt”, “học tập tốt lao động”, …rồi hỏi các em cảm thấy thế nào khi
đặt dấu phẩy vào sau những bộ phận ấy.Học sinh nêu ý kiến, giáo viên chốt lại; Chúng
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 12
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

ta sẽ đặt dấu phẩy sau cụm từ “Học tập tốt” bởi vì “ học tập tốt” và “lao động tốt” là 2
hoạt động của lớp em nên đặt dấu phẩy để ngăm cách 2 hoạt động nêu trên,
- Tiến hành tương tự với câu (b) và (c).

Điều quan trọng là giáo viên phải đưa ra câu hỏi học sinh chỉ được trả lời một
việc, hay một vật, một hành động, một tính chất…cho mỗi lần hỏi mà thôi. Cách làm
này tập cho học sinh tiếp nhận về mối quan hệ giữa việc dùng dấu phẩy với ý diễn đạt
một cách có ý thức mà không rời xa ngữ cảnh.
* Cách 2: Dùng câu hỏi kết hợp sơ đồ hỗ trợ học sinh làm việc theo nhóm
nhằm phát hiện chỗ cần đặt dấu câu theo yêu cầu.
Ví dụ: Em đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu dưới đây?
a) Vì thương dân Chử Đồng Tử” và công chúa đi khắp nơi dạy dân cách trồng
lúa nuôi tằm dệt vải.
b) Vì nhớ lời mẹ dặn không được làm phiền người khác chị em Xô-phi đã về
ngay.
c) Tại thiếu kinh nghiệm nôn nóng và coi thường đối thủ Quắm Đen đã bị thua.
d) Nhờ ham học ham hiểu biết và muốn đem hiểu biết của mình ra giúp đời Lê
Quý Đôn đã trở thành nhà bác học lớn nhất của nước ta thời xưa.
(TV3/ tập 2/ trang 70).
Đây là một dạng bài tập khá phức tạp đối với học sinh lớp 3.Với bài này, tôi
dùng câu hỏi kết hợp sơ đồ hỗ trợ học sinh làm việc theo nhóm nhằm phát hiện chỗ
cần đặt dấu câu theo yêu cầu như sau:
Tôi đưa ra sơ đồ cho câu a: học sinh tìm các từ ngữ trả lời cho các câu hỏi: Vì
sao? Ai?……………… làm gì?
- Sau khi học sinh phân cách các phần của câu theo mô hình, giáo viên đưa
thêm mô hình phụ “ Dạy dân những cách gì?” để học sinh tách 3 việc “ dạy cách trồng
lúa, nuôi tằm, dệt vải”.
- Khi học sinh phân các phần trong câu theo sơ đồ xong, giáo viên hướng dẫn
học sinh đặt dấu phẩy bằng cách đặt câu hỏi: “Như vậy, ta có thể đặt dấu phẩy vào
những chỗ nào trong câu a?”.(Vì thương dân, Chử Đồng Tử và công chúa đi khắp nơi
dạy dân cách trồng lúa, nuôi tằm, dệt vải.).
Câu b có mô hình tương tự mô hình tổng quát của câu a: “Vì sao? và ai?
………… làm gì?”.
Ở câu này, tôi đề nghị học sinh vận dụng mô hình trên tìm ra chỗ cần đặt dấu

hỏi.
Câu c có phần trạng ngữ chỉ nguyên nhân khá phức tạp, (ở lớp 3 các em tìm bộ
phận trả lời cho câu hỏi vì sao?) với 3 cụm từ chỉ đặc điểm đi liền nhau (Tại thiếu
kinh nghiệm, nôn nóng và coi thường đối thủ Quắm đen đã bị thua.). Vì vậy, cần có
mô hình hỗ trợ khác để giúp các em tìm ra chỗ cần phân cách bằng dấu phẩy. Cách
tiến hành:
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 13
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

- Giáo viên đưa ra sơ đồ: Vì sao? Ai……………thế nào?
- Sau khi học sinh phân cách các phần của câu theo mô hình trên, tôi đưa ra mô
hình phụ “Vì mấy điều?” để học sinh dựa vào đó nhận ra chỗ cần dùng dấu phẩy.
- Học sinh phân cách theo sơ đồ xong, tôi hướng dẫn học sinh đặt dấu phẩy
bằng cách đặt câu hỏi “ Như vậy, ta có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong câu
c?”.
* Ở đây, lưu ý học sinh cụm từ đi trước nó là từ “và” thì không cần phân cách
bằng dấu phẩy.
Câu d có cấu trúc tương tự câu c với phần trạng ngữ cũng gồm 3 cụm từ chỉ
đặc điểm đi liền nhau và cụm cuối cùng đi trước nó là từ “và”. Do vậy, tôi đề nghị học
sinh vận dụng cách làm ở câu c để tìm ra chỗ cần dùng dấu phẩy trong câu d.
* Cách 3:Tổ chức cho học sinh đặt câu hỏi cho nhóm nhỏ để tự phát hiện ra
các chỗ cần đặt dấu trong câu.
- Tôi đưa ra một số câu hỏi trong bảng phụ, yêu cầu học sinh chọn câu hỏi
thích hợp cho từng câu trong bài.
- Học sinh hỏi và trả lời theo nhóm.
- Dựa vào câu trả lời xác định chỗ cần đặt dấu câu mà bài tập yêu cầu.
*Cách 4: Khai thác kinh nghiệm của học sinh.
Cho học sinh đọc lớn trong nhóm hay cặp, đến chỗ nào các em dừng thì gạch
xổ (/) phân cách, sau đó trao đổi sửa chữa với cả lớp và xác định lại chỗ đặt dấu câu
theo yêu cầu. Với biện pháp này, tôi khai thác vốn hiểu biết đối với Tiếng Việt của các

em. Trên cơ sở ấy, học sinh trao đổi và xem xét để nhận diện việc sử dụng dấu câu
một cách có ý thức.
* Cách 5: Sử dụng trò chơi tập trung.
Ví dụ: Hãy chép đọan văn sau và đặt dấu phẩy vào những chỗ thích hợp:
Nhân dân ta luôn ghi sâu lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đồng bào Kinh
hay Tày Mường hay Dao Gia - rai hay Ê- đê Xơ- đăng hay Ba-na và các dân tộc anh
em khác đều là con cháu Việt Nam đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có
nhau sướng khổ cùng nhau no đói giúp nhau.
(TV3/tập1/trạng35).
Với bài tập này, tôi có thể tiến hành trò chơi tập trung như sau:
- Tôi đưa ra gợi ý: “ Đoạn văn có 2 câu, câu một có 4 dấu phẩy, các dấu phẩy
ấy nên đặt vào đâu? Câu 2 có 2 dấu phẩy, các dấu phẩy đó nên đặt vào đâu?”.
- Chia lớp thành 4 nhóm, giao mỗi nhóm một bảng phụ đã chép sẵn đoạn văn.
- Các nhóm trao đổi, thảo luận và xác định các chỗ cần đặt dấu phẩy trong câu
thời gian khoảng 5 phút.
- Làm xong các nhóm đính sản phẩm lên bảng lớp.
- Giáo viên đưa đáp án được viết trên bảng phụ hay trên giấy cứng. Trên cơ sở
đó học sinh đối chiếu nhận xét nhóm làm đúng hay sai.
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 14
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

- Tôi điều chỉnh, hướng dẫn và giải thích những trường họp học sinh đánh dấu
phẩy nhầm lẫn (có thể đặt câu hỏi để học sinh tự giải thích).
*Kiểu bài hỗn hợp:
Điền dấu cuối câu và dấu trong câu.
Đây là dạng bài xuất hiện nhiều ở lớp 3. Sau khi học sinh đã thực hành cách sử
dụng riêng lẻ từng dấu cuối câu và dấu trong câu.
Ví dụ: Em chọn dấu chấm hay dấu phẩy để điền vào mỗi ô trống?
Tuấn lên bảy tuổi  em rất hay hỏi  một lần  em hỏi bố:
- Bố ơi, con nghe nói trái đất quay xung quanh mặt trời. Có đúng thế không

bố?
- Đúng đấy  con ạ? – Bố Tuấn đáp.
- Thế ban đêm không có mặt trời thì sao?
(TV3/tập 2/ trang 135).
Để giúp học sinh thực hiện dạng bài này một cách tích cực, tôi sử dụng một
trong các biện pháp như đã áp dụng trong kiểu bài yêu cầu điền một loại dấu trong
câu.
 Dạng bài tập nhận diện về biện pháp tu từ nhân hóa:
Với loại bài tập này rèn luyện cho học sinh phát hiện biện pháp nhân hóa có trong
bài văn, đoạn văn, nhằm cung cấp cho các em hiểu biết thế nào là nhân hóa, bài văn có
sử dụng biện pháp nhân hóa hay như thế nào? Từ đó, giúp cho học sinh có ý thức sử
dụng biện pháp nhân hóa vào hoạt động đặt câu, viết văn và trong hoạt động giao tiếp.
Để giúp học sinh học tốt dạng bài tập này, tôi hướng dẫn học sinh thực hiện theo biện
pháp sau đây:
Ví dụ: Bài tập 2 (TV3/tập2 /trang 27).
Cho bài thơ: Ông trời bật lửa.
Chị mây vừa kéo đến.
Trăng sao trốn cả rồi
Đất nóng lòng chờ đợi
Xuống đi nào, mưa ơi!
Mưa! mưa xuống thật rồi !
Đất hả hê uống nước.
Ông sấm vỗ tay cười .
Làm bé chợt tỉnh giấc.
Chớp bỗng lòe chói mắt.
Soi sáng khắp ruộng vườn.
Ơ! Ông trời bật lửa.
Xem lúa vừa trổ bông.
(Đỗ Thanh Xuân).
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 15

Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

Trong bài thơ trên, những sự vật nào được nhân hóa? Chúng được nhân hóa
bằng cách nào? .
Tôi hướng dẫn học sinh theo các câu hỏi gợi ý:
a) Các sự vật được gọi bằng gì?
b) Các sự vật được tả bằng những từ ngữ nào?
c) Trong câu: Xuống đi nào, mưa ơi! tác giả nói với mưa thân mật như thế
nào?.
Ở bài này, tôi tổ chức dạy như sau:
- Đối với học sinh khá, giỏi có thể gọi học sinh lên bảng gạch chân các từ chỉ
sự vật được nhân hóa và những từ ngữ miêu tả sự vật đó.
- Đối với học sinh trung bình và yếu hơn thì quả là khó khăn đối vói các em
nên tôi tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm và thay đổi hình thức bài tập như sau:
(phiếu học tập).
* Cách 1: Điền vào chỗ chấm.
Chẳng hạn:
a) Hãy viết tiếp vào chỗ chấm các từ ngữ chỉ sự vật được nhân hóa và các từ
miêu tả sự vật đó để trả lời câu hỏi.

Tên sự vật
Cách nhân hóa
Các sự vật được gọi bằng
Các sự vật được tả bằng
những từ ngữ
……………… ……………………………… ……………………………
……………… ……………………………… ……………………………
……………… ……………………………… ……………………………
……………… ……………………………… ……………………………
……………… ……………………………… ……………………………

……………… ……………………………… ……………………………
b)Trong câu: “ Xuống đi nào, mưa ơi” tác giả nói với mưa thân mật
như………………
* Cách 2: Bài tập nối ghép.
Chẳng hạn: Hãy nói các ô ở bên trái với các ô ở giữa, các ô ở bên phải sao cho
phù hợp để trả lời cho câu hỏi a,b.
Từ chỉ người
dùng để chỉ
sự vật
Các
sự vật
được nhân hóa
Những từ ngữ
miêu tả các sự vật
Ông mây đi trốn
trăng nóng lòng chờ đợi,
hả hê uống nước
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 16
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

sấm bật lửa
Chị
mặt trời soi sáng ruộng vườn
chớp kéo đến
đất vỗ tay cười
Hãy đánh dấu x trước ý kiến em cho là phù hợp nhất để trả lời cho câu hỏi c.
Trong câu: “ Xuống đi nào, mưa ơi!” tác giả nói với mưa thân mật như:
 Một người anh, người chị với một người em.
 Một người cha, một người mẹ với một người con.
 Một người bạn với một người bạn.

- Sau khi thảo luận nhóm và hoàn thành xong phiếu bài tập.Giáo viên tổ chức
cho học sinh trình bày trước lớp, nhận xét đúng-sai. Hoặc có thể tổ chức thành trò chơi
như sau:
+ Chia lớp thành 3 đội chơi. Giáo viên phát cho mỗi đội các thẻ từ ghi các từ
chỉ người dùng để gọi tên sự vật, thẻ từ ghi tên các sự vật, thẻ từ ghi những từ ngữ
miêu tả sự vật. Giáo viên kẻ sẵn vào 3 bảng phụ với nội dung giống như trong phiếu
bài tập.
Tên sự vật
Cách nhân hóa
Các sự vật được gọi bằng
Các sự vật được tả bằng
những từ ngữ
…………… ……………………………… ………………………………
…………… ……………………………… ………………………………
…………… ……………………………… ………………………………
…………… ……………………………… ………………………………
…………… ……………………………… ………………………………
…………… ……………………………… ……………………………….
Trong 3 phút, mỗi đội phải gắn nhanh vào bảng phụ và tương ứng giữa các thẻ
từ ghi từ chỉ người dùng để gọi tên sự vật với các thẻ từ ghi tên các sự vật, với thẻ từ
ghi những từ ngữ miêu tả sự vật đó. Đội nào gắn đúng, nhanh đội đó sẽ thắng.
 Dạng bài mở rộng vốn từ theo chủ điểm:
Ở dạng bài tập này nhằm cung cấp cho học sinh có vốn từ theo từng chủ điểm.
Để giúp các em học tốt dạng bài tập này, tôi sử dụng đồ dùng trực quan và kết hợp
các biện pháp sau đây:
Ví dụ: Bài tập1 (TV3/tập 2/ trang 53).
Đề bài: Em hãy tìm và ghi vào vở những từ ngữ:
a) Chỉ những người hoạt động nghệ thuật.
b) Chỉ các hoạt động nghệ thuật.
c) Chỉ các môn nghệ thuật.

Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 17
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

Ở bài tập này học sinh dễ nhầm lẫn giữa các từ trong 3 nhóm vì vốn từ của các
em về chủ đề rất hạn chế, mặt khác đây là một dạng bài tập khó. Vậy để tránh sự nhầm
lẫn về 3 nhóm từ trên và giúp các em có vốn từ rộng về chủ đề này, tôi tiến hành dạy
bài tập này như sau:
* Chuẩn bị:
- Sưu tầm một số bức ảnh về những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật
như: Diễn viên, ca sĩ, nhạc sĩ, người mẫu…
- Các thẻ từ bằng giấy bìa ghi những từ chỉ: người hoạt động nghệ thuật, các
hoạt động nghệ thuật, môn nghệ thuật.
- Kẻ sẵn vào bảng phụ 3 cột (có mẫu như sau).
……………………….…
……………………….…
………………………….
………………………….
………………………….
………………………….
………………………….
……………………….…
……………………….…
………………………….
………………………….
………………………….
………………………….
………………………….
……………………….…
……………………….…
………………………….

………………………….
………………………….
………………………….
………………………….
* Tiến hành:
a, Trước tiên, tôi dùng những bức ảnh sưu tầm được cho học sinh quan sát để
rút ra được các từ thuộc nhóm 1: Từ ngữ chỉ những người hoạt động nghệ thuật.
- Tôi đưa bức ảnh nghệ sĩ nhân dân Như Quỳnh,… học sinh quan sát. Hỏi: Các
em có biết đây là ai không? (học sinh trả lời).
- Tương tự giáo viên cho học sinh xem ảnh diễn viên: Thành Lộc, Đức Toàn và
hỏi xem học sinh biết đó là ai?
Tôi chốt: Những người mà chúng ta vừa xem ảnh thường xuất hiện trong
những bộ phim, vở kịch truyện cổ tích mà các em đã xem thì ta gọi là diễn viên. Giáo
viên đính thẻ từ “ diễn viên” vào cột đầu tiên của bảng.
- Tương tự như trên, tôi cho học sinh xem các bức ảnh: ca sĩ đang hát trên sân
khấu, nhạc sĩ đang đánh đàn, người mẫu đang biểu diễn thời trang …để rút ra được
các từ: “ca sĩ, nhạc sĩ, người mẫu”. Sau mỗi từ rút ra được, tôi đính từng thẻ từ lên
bảng.
- Tôi cho học sinh xem một vài tranh vẽ phong cảnh. Hỏi: Những người vẽ nên
bức tranh này thì người ta gọi là gì? (họa sĩ). Tôi đính thẻ từ lên bảng.
- Cho học sinh đọc bài thơ:“Cây dừa”.Hỏi: bài thơ này là của tác giả nào?
(Trần Đăng Khoa).
+ Người sáng tác những bài thơ thì ta gọi là gì? (nhà thơ).Giáo viên đính thẻ từ
vào cột đầu tiên trong bảng.
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 18
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

- Tương tự để rút ra được từ nhà văn thì giáo viên cũng tiến hành như trên.
Giáo viên mở rộng thêm: Nhà văn, nhà thơ là những người sáng tác nên những
bài văn, bài thơ mà chúng ta đã học. Ngoài sáng tác văn, thơ họ còn viết nên những

mẩu truyện thiếu nhi, tiểu thuyết…mà mọi người yêu thích.
Tôi chốt lại: các từ mà chúng ta tìm được ở cột này gọi chung là những người
hoạt động nghệ thuật, tôi viết cụm từ “Những người hoạt động nghệ thuật vào ô chấm
đầu tiên lúc này trong bảng sẽ có:
Chỉ những người hoạt
động nghệ thuật
Diễn viên
Ca sĩ
Nhạc sĩ
Người mẫu
Họa sĩ
Nhà thơ
Nhà văn
b, Dùng hình thức thảo luận nhóm để rút ra các từ thuộc nhóm 2: từ chỉ các
hoạt động nghệ thuật.
* Các bước tiến hành:
- Chia lớp thành nhóm nhỏ.
- Phát phiếu học tập có nội dung như sau:
Hãy viết vào chỗ chấm những công việc thường ngày của những người hoạt
động nghệ thuật sau:
+ Diễn viên: đóng phim,…………………………………………………
+ Ca sĩ:…………………………………………………………………….
+ Nhạc sĩ:………………………………………………………………….
+ Người mẫu:……………………………………………………………
+ Họa sĩ:…………………………………………………………………
+ Nhà thơ………………………………………………………………….
+ Nhà văn…………………………………………………………………
- Giao nhiệm vụ quy định thời gian thảo luận (4 phút)
- Hết thời gian thảo luận, đại diện các nhóm báo cáo, các nhóm khác nhận xét
bổ sung. Sau ý kiến của các nhóm, tôi cùng học sinh thống nhất đáp án đúng để rút ra

được từng từ chỉ các hoạt động nghệ thuật. Tôi đính từng từ vào cột thứ hai (chú ý các
từ chỉ hoạt động nghệ thuật phải tương ứng với từng từ chỉ người hoạt động nghệ
thuật).
Ở đây, với vốn từ hạn chế học sinh chỉ tìm được ít từ nên tôi mở rộng thêm
vốn từ cho các em:
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 19
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

Ví dụ: +Diễn viên ngoài nhiệm vụ đóng phim, đóng kịch họ còn những công
việc như: hát chèo, tuồng, hát cải lương, múa, xiếc…
+Nhạc sĩ với công việc sáng tác nhạc họ còn có thể đánh được các loại
đàn.
- Sau khi đính được các từ ở cột thứ 2 thì cho học sinh đọc lại. tôi chốt: Các từ
chúng ta vừa tìm được ở cột này là những từ chỉ công việc thường làm của những
người hoạt động nghệ thuật ở cột 1. vậy các từ này gọi chung là gì? ( từ chỉ hoạt động
nghệ thuật ). Tôi ghi vào tiêu đề của cột thứ 2 trong bảng.
Lúc này, trong bảng sẽ có:
Chỉ những người hoạt
động nghệ thuật
Chỉ các hoạt động nghệ
thuật
Diền viên
Ca sĩ
Nhạc sĩ
Người mẫu
Họa sĩ
Nhà văn
Nhà thơ
đóng phim, kịch
ca, hát

sáng tác nhạc
biểu diễn thời trang
vẽ
viết văn
viết thơ
c) Hướng dẫn học sinh dựa vào 2 nhóm từ trên để tìm ra những từ ngữ thuộc
nhóm nghệ thuật.
Ví dụ: Môn Âm nhạc.
Giáo viên làm mẫu: người nhạc sĩ, ca sĩ hoạt động chính của họ sáng tác nhạc
và ca hát thuộc môn âm nhạc.
- Tôi đính từ âm nhạc lên bảng phụ.
- Tương tự với các từ chỉ môn Nghệ thuật khác, học sinh thảo luận theo nhóm
đôi để tìm và ghi vào phiếu học tập.
- Hết thời gian quy định, đại diện một số nhóm trình bày kết quả. Cả lớp nhận
xét bổ sung, thống nhất.
- Tôi đính lần lượt các từ chỉ môn Nghệ thuật vào bảng phụ tương ứng với
những từ ở hai cột đầu.
Qua các ví dụ về cách sử dụng phương pháp và các hình thức tổ chức dạy – học
của các dạng bài tôi đã nêu, cho thấy rằng:
+ Cách tổ chức hoạt động cá nhân trong tiết học, đã phát huy được tính độc lập,
sáng tạo hình thành cho các em thói quen tự học, tự bổ sung kiến thức gíup các em thu
nhận kiến thức kĩ năng một cách sâu sắc.
+ Theo tôi hoạt động nhóm là một hoạt động phát huiy tính tích cực học tập của
học sinh, cụ thể: đem lại cho học sinh cơ hội được sử dụng các kiến thức và kĩ năng
vốn có mà các em được lĩnh hội và rèn luyện. Cho phép các em được diễn đạt những
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 20
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

ý tưởng, những khám phá của mình, được chia sẻ cùng bạn. Mở rộng suy nghĩ và thực
hành các kĩ năng tư duy phân tích tổng hợp.

+ Còn qua hoạt động trò chơi, học sinh vừa được học được chơi một cách hài
hòa,giờ học sôi nổi trôi qua một các nhẹ nhàng, phát huy được tính tích cực học tập
của mỗi học sinh. Học sinh chơi đó mà rõ ràng phải tư duy, suy nghĩ, phản ứng nhanh
nhẹn để đáp ứng trò chơi. Hiệu quả cao, học sinh rất thích học.
Trên đây là 1 trong những giải phát huy tích cực chủ động của học sinh trong
việc dạy- học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3 mà chúng tôi đã vận dụng ở năm học
này.
 Dạng bài so sánh:
Kiến thức lý thuyết về so sánh tu từ được đưa vào giảng dạy trong chương trình lớp
3 ở phân môn: "Luyện từ và câu". Toàn bộ chương trình Tiếng Việt 3 đã dạy về so
sánh gồm 8 bài với các mô hình sau:
a) Mô hình 1:
So sánh: Sự vật - Sự vật.
b) Mô hình 2:
So sánh: Sự vật - Con người.
c) Mô hình 3:
So sánh: Hoạt động - Hoạt động.
d) Mô hình 4:
So sánh: Âm thanh - Âm thanh.
Sách giáo khoa đã giúp học sinh nhận diện dạng, loại và phân biệt hiệu quả so
sánh qua các dạng bài tập theo các mô hình đã nêu trên.
Để học sinh học tốt dạng bài tu từ so sánh học sinh cần nắm và làm theo các yêu
cầu sau: Đọc kỹ đề bài, xác định đúng yêu cầu của bài sau đó mới làm bài.
Muốn học sinh của mình có một kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh vững
vàng đòi hỏi người giáo viên phải có nghệ thuật khi hướng dẫn bài mới như:
a) Mô hình 1:
- So sánh: Sự vật - Sự vật.
Mô hình này có các dạng sau:
A như B.
A là B.

A chẳng bằng B.
A x B; x triệt tiêu (Từ chỉ quan hệ so sánh triệt tiêu).
* Ví dụ: Tìm sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn dưới đây:
"Hai bàn tay em
Như hoa đầu cành"
(Huy Cận)
"Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch"
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 21
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

(Vũ Tú Nam)
"Cánh diều như dấu á
Ai vừa tung lên trời"
(Lương Vĩnh Phúc)
"Ơ cái dấu hỏi
Trông ngộ ngộ ghê
Như vành tai nhỏ
Hỏi rồi lắng nghe"
(Phạm Như Hà)
Để làm tốt bài tập này học sinh phải nắm chắc các từ chỉ sự vật, từ đó học sinh sẽ
tìm được sự vật so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn trên là:
+ "Hai bàn tay em" so sánh với "hoa đầu cành"
+ "Mặt biển" so sánh với "tấm thảm khổng lồ".
+ "Cánh diều" so sánh với "dấu á"
+ "Dấu hỏi" so sánh với "vành tai nhỏ".
Nếu giáo viên hỏi ngược lại là vì sao "Hai bàn tay em" được so sánh với "Hoa
đầu cành" hay vì sao nói "Mặt biển" như "tấm thảm khổng lồ"? Lúc đó giáo viên phải
hướng học sinh tìm xem các sự vật so sánh này đều có điểm nào giống nhau, chẳng
hạn:
+ Hai bàn tay của bé nhỏ xinh như một bông hoa.

+ Mặt biển và tấm thảm đều phẳng, êm và đẹp.
+ Cánh diều hình cong cong, võng xuống giống hệt như dấu á.
(Giáo viên có thể vẽ lên bảng "Cánh diều" và "Dấu á")
+ Dấu hỏi cong cong, nở rộng ở hai phía trên rồi nhỏ dần chẳng khác gì vành tai.
(Giáo viên có thể cho học sinh nhìn vào vành tai bạn).
b) Mô hình 2:
- So sánh: Sự vật - Con người.
Dạng cuả mô hình so sánh này là:
A như B: + A có thể là con người.
+ B sự vật đưa ra làm chuẩn để so sánh.
* Ví dụ: Tìm các hình ảnh so sánh trong các câu dưới đây:
"Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan"
(Hồ Chí Minh)
"Bà như quả ngọt chín rồi
Càng thêm tuổi tác càng tươi lòng vàng".
(Võ Thanh An)
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 22
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

Với dạng bài tập này học sinh sẽ dễ dàng tìm sự vật so sánh với con người nhưng
các em chưa giải thích được "Vì sao?". Chính vì thế điều đó giáo viên giúp học sinh
tìm được đặc điểm chung của sự vật và con người, chẳng hạn:
"Trẻ em" giống như "búp trên cành". Vì đều là những sự vật còn tươi non đang
phát triển đầy sức sống non tơ, chứa chan niềm hy vọng.
"Bà" sống đã lâu, tuổi đã cao giống như "quả ngọt chín rồi" đều phát triển đến độ
già giặn có giá trị cao, có ích lợi cho cuộc đời, đáng nâng niu và trân trọng.
c) Mô hình 3:
- So sánh: Hoạt động - Hoạt động.
Mô hình này có dạng như sau: A như B.

* Ví dụ: Trong các đoạn trích sau, những hoạt động nào được so sánh với nhau:
+ "Con trâu đen lông mượt
Cái sừng nó vênh vênh
Nó cao lớn lênh khênh
Chân đi như đập đất"
(Trần Đăng Khoa)
+ "Cau cao, cao mãi
Tàu vươn giữa trời
Như tay ai vẫy
Hứng làn mưa rơi"
(Ngô Viết Dinh)
Dạng bài này giáo viên giúp học sinh nắm chắc được từ chỉ hoạt động, từ đó học
sinh sẽ tìm được các hoạt động được so sánh với nhau. Chẳng hạn:
+ Hoạt động "đi" so sánh với hoạt động "đập đất" qua từ "như".
d) Mô hình 4:
- So sánh: Âm thanh - Âm thanh:
Mô hình này có dạng sau:
A như B: + A là âm thanh thứ 1.
+ B là âm thanh thứ 2.
* Ví dụ: Tìm những âm thanh được so sánh với nhau trong mỗi câu thơ văn dưới đây:
Với dạng bài tập này giáo viên giúp học sinh nhận biết được âm thanh thứ nhất và
âm thanh thứ hai được so sánh với nhau qua từ "như". Chẳng hạn:
+ "Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai"
(Nguyễn Trãi)
"Tiếng suối" được so sánh với "Tiếng đàn cầm" qua từ "như".
Ngoài các mô hình so sánh trên học sinh còn được làm quen với kiểu so sánh:
Ngang bằng và hơn kém. Chẳng hạn:
+ Trong câu: "Cháu khỏe hơn ông nhiều!"
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 23

Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

(Phạm Cúc)
Kiểu so sánh hơn kém:
+ Trong câu: "Ông là buổi trời chiều
Cháu là ngày rạng sáng"
(Phạm Cúc)
Kiểu so sánh ngang bằng:
+ Trong câu: "Trăng khuya trăng sáng hơn đèn"
(Trần Đăng Khoa)
Kiểu so sánh hơn kém:
+ Trong câu: "Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con"
(Trần Quốc Minh)
3. Biện pháp ôn tập, củng cố thông qua trò chơi:
Sau khi học xong một chủ điểm nào đó, để củng cố lại kiến thức vừa học, tôi
đưa ra ô chữ mà các từ ngữ trong đó có liên quan đến chủ điểm vừa học. Tôi suy nghĩ
chọn từ hàng dọc là những từ ngữ có nghĩa hoặc gần nghĩa với chủ điểm, trên cơ sở đó
chọn các từ hàng ngang với những gợi ý về các từ đó. Các gợi ý có thể là nghĩa của
các từ, cũng có thể là các hoạt động tương ứng của các sự vật theo chủ điểm đã học
với mục đích củng cố lại kiến thức các em vừa học, giúp các em hứng thú học tập.
CHỦ ĐIỂM MĂNG NON
Ô chữ: MĂNG NON
1. MỤC ĐÍCH:
- Tìm nhanh được các từ chỉ tính nết tốt của trẻ em;
- Củng cố và mở rộng vốn từ ngữ về trẻ em;
- Rèn trí thông minh, khả năng phân tích, khái quát nhanh các nghĩa của từ.
2. CHUẨN BỊ:
Phần mềm PowerPoint để trình chiếu ô chữ
Hoặc: Kẻ trên giấy rôki loại to để hoạt động cả lớp và in phiếu học tập tới từng HS.

( Phần chuẩn bị để thực hiện giải các ô chữ giống nhau)
Dựa vào từ hàng dọc trong ô chữ hãy tìm các từ hàng ngang, mỗi hàng ngang là
là từ chỉ đức tính tốt của trẻ em.
Gợi ý: Các từ ở hàng ngang số 1, 4, 6 được ghi trong " 5 điều Bác Hồ dạy". Nếu
HS gặp khó khăn khi giải ô chữ, GV có thể gợi ý bằng chữ cái.
1 M
2 Ă
3 N
4 G
5 N
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 24
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

6 O
7 N
Đáp án: Các từ hàng ngang lần lượt là: khiêm tốn, chăm chỉ, siêng năng, dũng
cảm, ngoan ngoãn, đoàn kết, cần cù.
CHỦ ĐIỂM CỘNG ĐỒNG
Ô chữ: CỘNG ĐỒNG
MỤC ĐÍCH:
- Rèn kĩ năng đoán nhanh từ khi biết nghĩa;
- Củng cố nghĩa từ và mở rộng vốn từ ngữ cho HS đồng thời rèn trí thông minh
và khả năng phản ứng nhanh.
Hãy tìm từ hàng dọc trong ô chữ với những gợi ý về các từ hàng ngang theo thứ
tự. Các từ hàng ngang là những từ có tiếng cộng hoặc tiếng đồng có nghĩa chung là
những người trong cộng đồng.
1. Những người cùng chí hướng
2. Những người cùng làm một việc
3. Những người cùng tuổi
4. Những người cùng học một khoá

5. Những người cùng đội ngũ
6. Những người cùng độ tuổi từ 6 đến 9 tuổi.
7. Cùng nghĩa với đồng niên
8. Những người cùng nghề
1 C
2 Ộ
3 N
4 G
5 Đ
6 Ồ
7 N
8 G
Đáp án: Các từ hàng ngang lần lượt là: Đồng chí, cộng sự, đồng niên, đồng
khoá, đồng đội, nhi đồng, đồng nghiệp.
Ô chữ: ĐỒNG CA
Các từ hàng ngang là những từ có tiếng cộng hoặc tiếng đồng có nghĩa chung là
những hoạt động trong cộng đồng.
1. Cùng ý với nhau
2. Cùng ý với nhau trong một tình huống
3. Cùng một lòng
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 25

×