Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

Tóm tắt luận văn đạo đức hồ chí minh về tình yêu thương con người sống có tình nghĩa và vận dụng vào giáo dục đạo đức cho sinh viên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (212.96 KB, 26 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ TÂM
ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ
TÌNH YÊU THƯƠNG CON NGƯỜI,
SỐNG CÓ TÌNH NGHĨA VÀ VẬN DỤNG VÀO
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT
VĨNH PHÚC HIỆN NAY
Chuyên ngành Triết học
Mã số:60.22.03.01
Tóm Tắt Luận văn Thạc sĩ Triết học
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS: Phạm Ngọc Anh
Hà Nội-2014
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Đạo đức Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống quan điểm về đạo đức cách mạng và tấm
gương đạo đức của Người, chứa đựng nhiều giá trị bền vững, ổn định. Trong đó, tình yêu
thương con người, sống có tình nghĩa ở Hồ Chí Minh là một nét sáng về đạo đức, hàm chứa
giá trị nhân văn cao đẹp, có ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách con người Việt Nam.
Những giá trị đó rất cần được nghiên cứu kỹ, theo chiều sâu để giáo dục cho thế hệ trẻ, nhất
là thanh niên – sinh viên.
Trong “Thư gửi thanh niên và nhi đồng Toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên Đán năm
1946”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Một năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu
từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa Xuân của xã hội”. Tuổi trẻ là sức mạnh, là công cụ tạo động lực
cho sự phát triển của đất nước. Và trong đó, sinh viên là một lực lượng hùng hậu có vai trò
quan trọng. Sinh viên là lực lượng xã hội đặc thù - họ là những trí thức tương lai của đất
nước, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đặc biệt, sinh
viên hiện nay sinh ra và lớn lên trong môi trường công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ
và xu thế hội nhập quốc tế. Trong đó, sinh viên Việt Nam hiện nay là lớp người chịu nhiều


ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực từ những biến đổi của đất nước và thế giới. Sinh viên
Việt Nam mang những đặc điểm riêng ngoài các đặc điểm chung của người Việt Nam. Đó
là: trẻ, năng động sáng tạo, có tri thức, dễ tiếp thu cái mới, nhạy cảm với các vấn đề chính
trị xã hội, dễ thích nghi, luôn muốn được tự khẳng định mình trước mọi người. Nhưng nói
chung đại bộ phận sinh viên Việt Nam phát huy được những ưu điểm và truyền thống tốt
đẹp của các thế hệ sinh viên đi trước, thi đua học tập, rèn luyện, tiếp thu tiến bộ khoa học,
công nghệ, chủ động tiếp thu những nét đẹp của sinh viên thế giới, tạo nên đặc trưng lớp
sinh viên những năm đầu thế kỉ XXI.
Song, bên cạnh những mặt tích cực, sinh viên cũng đang chịu sự tác động tiêu cực
từ mặt trái của nền kinh tế thị trường và xu hướng khu vực hóa, quốc tế hóa. Một bộ phận
sinh viên chạy theo lối sống thực dụng, có biểu hiện xa rời các giá trị đạo đức truyền thống,
dễ bị dao động về mặt định hướng đạo đức và lối sống. Như Đảng ta khẳng định: “tình
trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng các tệ nạn xã hội và tội phạm,
đáng lo ngại nhất là trong giới trẻ”.
1
Cùng với xu hướng chung của sinh viên cả nước, sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế
- Kỹ thuật Vĩnh Phúc cũng có những mặt tích cực cần phát huy và những yếu tố tiêu cực
cần sửa đổi. Đặc biệt về mặt tư tưởng, đạo đức. Để xứng đáng là một “chủ nhân tương
lai”của đất nước nói chung, của tỉnh nhà nói riêng, ngoài việc nâng cao năng lực (cái tài)
còn cần phải chú trọng đến việc trau dồi phẩm chất đạo đức, lối sống (cái đức) theo tư
tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Điều đó chỉ có được khi gia đình, nhà trường và
xã hội đặc biệt chú trọng đến việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ tương lai của
chúng ta nói chung và sinh viên ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc nói riêng,
đó là lý do tôi chọn “Đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, sống có tình
nghĩa và vận dụng vào giáo dục đạo đức cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật
Vĩnh Phúc hiện nay”làm đề tài cho Luận văn thạc sĩ triết học của mình.
2. Tổng quan nghiên cứu
Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng và là một tấm gương tiêu biểu, mẫu mực về đạo
đức cách mạng nói chung. Những tư tưởng về đạo đức của Hồ Chí Minh luôn là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt, là kim chỉ nam cho cán bộ Đảng, Nhà nước và các thế hệ người dân Việt Nam

noi theo. Vì vậy, tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của
giới nghiên cứu. Thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau được
công bố trên các sách, báo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học trong và ngoài nước. Ở đây
tác giả xin được đưa ra một vài công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến phạm vi
nghiên cứu của đề tài như sau:
Các công trình nghiên cứu về đạo đức Hồ Chí Minh nói chung trong đó có tình yêu
thương con người, sống có tình nghĩa. Đó là: “Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng”(Nxb
Sự thật, năm 1976); “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng”(Nxb Chính trị
Quốc gia, năm 1993); “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh”của Lê Hữu Nghĩa (Nxb Lao động
năm 2000); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức”, của Lê Trọng Ân in trong tạp chí Triết
học số 1 năm 2005; Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức , của tác giả Thành Duy, (Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1996) … Các công trình này đã khái quái một cách hệ
thống tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, trong đó có trình bày những quan điểm đạo đức
của Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa khá đầy đủ.
- Về Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay,
có nhiều công trình nghiên cứu. Tuy nhiên ở đây, tác giả chỉ xin được đưa ra một số công
2
trình cơ bản, tiêu biểu: Văn Tùng, Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Thanh niên,
Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1999; Đoàn Nam Đàn, Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Thanh
niên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Hà Huy Thông (1995), Tư tưởng Hồ Chí
Minh về đạo đức của người cán bộ quân sự, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh…
- Về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và việc giáo dục sinh viên hiện nay có một số
công trình nghiên cứu như sau: Dương Tự Nam, Thanh niên học tập và làm theo tư tưởng
Hồ Chí Minh, 2003; Nguyễn Hữu Đức ( chủ biên), Giáo dục, rèn luyện thanh niên theo tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000; Đặng Quốc Bảo,
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, 2008, NXB Thanh niên; Trần Minh Đoàn (2002), Giáo
dục đạo đức cho thanh niên học sinh theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay, Luận
án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh…
Đặc biệt, qua việc thực hiện Chỉ thị 06 – CT/TW năm 2006 của Bộ chính trị về tổ chức

cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Chỉ thị 03 – CT/TW
năm 2011 về việc “tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”, hằng năm các tổ chức, đoàn thể, các cấp chính quyền đều có chuyên đề hướng dẫn
thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho tất cả các đối tượng.
Tầng lớp học sinh, sinh viên trong cả nước nói chung là một trong những đối tượng được chú
trọng. Tuy nhiên, để nghiên cứu đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, sống
có tình nghĩa như một đối tượng cụ thể thì chưa có công trình nào. Đồng thời ở trường Cao
đẳng Kinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc, việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức Hồ
Chí Minh về tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa cho sinh viên hiện nay vẫn chưa
có tác giả nào đề cập một cách cơ bản và có hệ thống. Vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên cứu
vấn đề này với lòng mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc luận giải cũng như đưa ra phương
hướng giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn đã và đang đặt ra.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích:
Nghiên cứu những giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về tình yêu thương con
người, sống có tình nghĩa, đánh giá thực trạng việc giáo dục tình yêu thương con người,
sống có tình nghĩa cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc, từ đó, đề
xuất một số phương hướng, nội dung, giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả giáo dục đạo
3
đức Hồ Chí Minh cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc trong điều
kiện kinh tế thị trường hiện nay.
Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Khái quát cơ sở hình thành của đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con
người, sống có tình nghĩa.
- Phân tích, làm rõ những giá trị của đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con
người, sống có tình nghĩa.
- Đánh giá thực trạng giáo dục tình yêu thương con người theo đạo đức Hồ Chí
Minh cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc trong điều kiện kinh tế
thị trường hiện nay.

- Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu, nâng cao chất lượng giáo dục đạo
đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người và sống có tình nghĩa cho sinh viên trường
Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tư tưởng đạo đức, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về tình
yêu thương con người, sống có tình nghĩa; Thực trạng giáo dục tình yêu thương con người,
sống có tình nghĩa cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc theo di sản
Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa.
- Đề tài còn nghiên cứu việc giáo dục tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa
theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc từ
năm 2007 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận văn được triển khai trên nền tảng các quan điểm của chủ nghĩa Mác–Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng về đạo đức.
Phương pháp nghiên cứu
4
Với đề tài này, tác giả vận dụng phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp, điều tra xã
hội học…
6. Đóng góp mới của luận văn
- Trong luận văn này, tác giả muốn góp phần vào việc nghiên cứu tư tưởng, tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa và vận dụng
giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay, đặc biệt cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế -
Kỹ thuật Vĩnh Phúc.
- Cũng từ đây cho chúng ta cách nhìn nhận đúng đắn, khách quan về đạo đức, lối sống
của sinh viên và việc giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế -
Kỹ thuật Vĩnh Phúc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

- Tác giả có đề xuất những phương hướng, giải pháp có tính khả thi cao trong giáo dục
đạo đức, lối sống cho sinh viên của trường.
- Luận văn cung cấp thêm những luận cứ khoa học giúp nhà trường cũng như Phòng
Công tác chính trị, các giáo viên thuộc trường Cao đẳng Kinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc trong
việc giáo dục học sinh, sinh viên theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Ngoài ra, luận văn
có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu và giảng dạy ở các lớp tập huấn
nghiệp vụ công tác Đoàn, công tác sinh viên.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
02 chương, 07 tiết.
CHƯƠNG 1: ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ TÌNH YÊU THƯƠNG CON NGƯỜI,
SỐNG CÓ TÌNH NGHĨA
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội xuất hiện từ rất sớm và có vai trò quan trọng
trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Với tư cách là bộ phận của triết học, những tư
tưởng đạo đức đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy
Lạp cổ đại.
1.1.2. Đạo đức cách mạng
5
Đạo đức cách mạng là trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hi sinh vì độc
lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào
cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn
yêu thương quý trọng con người; có tinh thần quốc tế trong sáng. Người viết: “Cũng như
sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có
gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy
cũng không lãnh đạo được nhân dân”[46, tr. 292].
Vậy đạo đức cách mạng là cái đức, cái tài hình thành trong những người làm cách
mạng, mà đối tượng cụ thể ở đây là lực lượng tham gia vào quá trình đấu tranh cho sự
nghiệp của đất nước. Đó là sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội chủ nghĩa, đưa

dân tộc Việt Nam sánh vai cùng các dân tộc khác trên thế giới.
1.1.3. Đạo đức Hồ Chí Minh
Đạo đức Hồ Chí Minh bao gồm tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh. Hai phương diện này của đạo đức Hồ Chí Minh thống nhất biện chứng,
khi bóc tách từng mặt chỉ có ý nghĩa tương đối, tiện cho việc nghiên cứu theo chiều sâu.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về vị
trí, vai trò của đạo đức, những chuẩn mực của đạo đức cách mạng cơ bản và các nguyên tắc
tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Trong đó quan điểm của Hồ Chí Minh về các chuẩn mực đạo
đức, yêu thương con người, sống có tình nghĩa là một nội dung quan trọng.
1.2. Cơ sở hình thành đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, sống
có tình nghĩa
1.2.1. Các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam
Có thể nói rằng: các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam khá đa dạng, phong phú.
Trong đó, tinh thần yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng dân tộc của dân tộc Việt
Nam, đại đoàn kết dân tộc đã hình thành và củng cố trong lịch sử dựng nước và giữ nước.
Điều này tạo thành truyền thống bền vững thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn mỗi
con người Việt Nam. Trong các giá trị truyền thống ấy, giá trị đầu tiên mà chúng ta cần
phải nói đến là: chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam.
Việt Nam có lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, chủ yếu là lịch sử đấu
tranh giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc. Điều này cho chúng ta thấy tư tưởng chủ yếu của
dân tộc Việt Nam là tinh thần yêu nước.
6
Giá trị truyền thống thứ hai ở đây cần kể đến là truyền thống cố kết cộng đồng đoàn
kết:
Một trong những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trở thành cơ sở cho việc
hình thành đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người là tinh thần tương thân,
tương ái trong con người Việt Nam. Đó cũng chính là lòng nhân ái trong truyền thống văn
hóa Việt Nam.
Cùng với các giá trị truyền thống trên trong nền văn hóa Việt Nam, tinh thần ham
học hỏi là một trong những giá trị có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống con người Việt. Dân

tộc Việt Nam là một dân tộc thông minh và có truyền thống hiếu học, ham học, người Việt
Nam lấy sự học làm điều căn bản để thực hiện đạo lý làm người.
1.2.2. Các giá trị văn hóa của nhân loại
* Những tinh hoa của Nho giáo
Một trong những giá trị lớn mà Nho giáo đã để lại là hệ thống các khái niệm, chuẩn
mực trong mối quan hệ giữa người với người. Đó là Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí,
Tín…Trong đó, những khái niệm nói rõ nhất đến tình yêu thương con người là: Nhân, Lễ,
Nghĩa, Trí.
Nho giáo còn đề cao việc học tập và giáo dục. Nho giáo cho rằng điều quan trọng
nhất của tu thân là học tập. Việc học tập cũng phải được tiến hành trong suốt cuộc đời của
mỗi người. Học tập không chỉ ở nhà trường mà còn ở bạn bè
* Những giá trị của Phật giáo
Nói đến Đạo Phật, người ta nghĩ đến một tôn giáo mà Phật Thích Ca là đấng cứu thế,
đồng thời là hiện thân của sự sáng suốt, nhân từ, đức độ. Phật giáo nhìn nhận sự vật trong
mối quan hệ nhân quả, xem cái gì cũng là kết quả của một cái có trước và là nguyên nhân
của cái có sau. Có thể nói, Phật giáo có nhiều điều giúp con người hướng thiện, xây dựng
một xã hội hạnh phúc, an lạc. Khi du nhập vào Việt Nam, kết hợp cùng văn hóa, đạo đức
bản địa đã làm phong phú thêm chủ nghĩa nhân đạo, truyền thống nhân ái của dân tộc Việt
Nam
* Những giá trị trong Kito giáo.
Trong các tôn giáo hiện nay, tư tưởng nhân văn trong Kito giáo đã ảnh hưởng không
ít đến tâm lý, đạo đức, lối sống đối với một bộ phận quần chúng nhân dân ta mà Hồ Chí
Minh là một người đã tiếp thu sâu sắc tư tưởng đó. Đó chính là tư tưởng bác ái, đức hi sinh
7
cao cả. Có thể hiểu Bác ái trong Kito giáo là tình yêu thương tha nhân, là tình yêu thương
đồng loại vô giới hạn, vô điều kiện, không phân biệt bạn hay thù và yêu thương tha nhân
như chính mình.
Như vậy, Kitô giáo là một tôn giáo thể hiện khá rõ tư tưởng nhân văn khi đề cao tình
yêu thương, sự sẻ chia đối với con người. Bỏ qua những hạn chế nói chung so với sự tiến
bộ của thời đại thì Kitô giáo đã để lại cho chúng ta những giá trị sâu sắc. Hồ Chí Minh –

một con người có tình yêu thương cao cả đã kế thừa được những giá trị cốt lõi đó, đồng
thời biến nó thành những nội dung phù hợp với điều kiện của đất nước. Từ đó, phát huy
trong xây dựng phẩm chất quý giá của con người Việt Nam.
1.2.3. Chủ nghĩa nhân văn Mác – Lênin
Một sự tiếp cận không thể thiếu đã đem đến cho Chủ tịch Hồ Chí Minh con đường
chân chính và tình yêu thương con người bao la, cao cả đó là sự tiếp cận với chủ nghĩa Mác
– Lênin. Người đã khám phá ra chủ nghĩa này một con đường giải phóng các dân tộc thuộc
địa trong đó có Việt Nam. Đây là điều mà Hồ Chí Minh khao khát, tìm kiếm lúc bấy giờ.
Người tìm thấy trong chủ nghĩa Mác – Lênin một chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Đó là giải
phóng các dân tộc bị áp bức, bị nô dịch, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa
1.3.1. Yêu thương tất cả mọi người
Có thể nói tư tưởng yêu thương con người của Hồ Chí Minh rất rõ ràng, cao cả.
Người thương đồng bào ta bị đày đọa, đau khổ, lầm than, sống thân phận nô lệ. Và Người
đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Sống nơi xứ người mà lòng luôn canh cánh nỗi nhớ
quê hương, đất nước, luôn trăn trở với sự nghiệp giải phóng đất nước.
Tất cả là để lo cho cuộc sống của nhân dân, lo cho cái ăn, cái mặc của dân. Tuy
nhiên, lòng yêu thương con người của Người không chỉ giới hạn ở vậy mà còn được mở
rộng với tình yêu thương nhân loại. Đó cũng là những con người bị áp bức, bóc lột, những
con người nghèo khổ trên toàn thế giới, đặc biệt là người dân thuộc địa. Với tình yêu
thương đó, Người đã lên án mạnh mẽ tội ác giết người của chủ nghĩa thực dân. Hồ Chí
Minh đã chỉ rõ rằng: Lịch sử việc người châu Âu xâm chiếm châu Phi cũng như bất cứ lịch
sử xâm chiếm thuộc địa nào khác thì từ đầu đến cuối đều được viết bằng máu những người
bản xứ. Và kết quả tất nhiên của chế độ ghê tởm đó là sự tiêu diệt giống da đen. Có lẽ vậy
nên khi chứng kiến cảnh người dân Việt Nam dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, người
8
thanh niên trẻ tuổi không thể kìm hãm được lòng yêu thương cũng như quyết tâm cứu
nước, cứu dân của mình.
Tình thương yêu con người vô hạn của Hồ Chí Minh một lần nữa lại vươn xa. Người
quan tâm, chú ý tới mọi đối tượng, đặc biệt là những người già, trẻ em, phụ nữ rồi những

người có hoàn cảnh đặc biệt. Tình yêu thương con người trong Hồ Chí Minh còn được thể
hiện đối với những người có sai lầm, khuyết điểm nhưng đã biết nhận rõ những sai lầm và
cố gắng sửa chữa. Trong đó có cả kẻ thù bị thương, bị bắt hoặc đã quy hàng. Với quan điểm
rõ ràng và khoa học, Người cho rằng, ai cũng có sai lầm, khuyết điểm; có làm thì có sai;
không sợ sai mà chỉ sợ thấy sai không sửa Do vậy, tùy từng việc làm, nguyên nhân và
mức độ sai lầm mà có biện pháp giải quyết cho hợp tình hợp lý. Có thể nói, chính tình yêu
thương đó đã đánh thức những gì tốt đẹp trong mỗi con người.
1.3.2. Tin tưởng vào phẩm chất tốt đẹp của con người
Tình yêu thương con người của Hồ Chí Minh không chỉ là tình cảm quý trọng con
người mà còn là lòng tin vững chắc vào những phẩm chất tốt đẹp của con người. Hồ Chí
Minh từng dạy nhân dân: Yêu thương con người là phải biết nâng con người lên làm cho
cái tốt, cái thiện trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, phần xấu và cái ác mất đi
dần và đi đến bị loại trừ hoàn toàn. Như vậy, đối với những người có khuyết điểm thì
không phải là chúng ta đánh đập họ mà phải tìm cho ra nguyên nhân của những khuyết
điểm và phải sửa chữa bằng được. Với những người sai lầm khuyết điểm đã sửa chữa được
thì phải được đối xử bình đẳng.
Không chỉ trong đấu tranh giải phóng dân tộc mà trong công cuộc xây dựng đất
nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh cũng khẳng định đó là sự nghiệp của
chính nhân dân – những con người muốn có tự do độc lập. Không có một lực lượng siêu
nhiên hay một thế lực nào khác làm thay họ.
Như vậy, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, muốn có độc lập tự do, muốn có chủ
nghĩa xã hội hay không đều là do nhân dân quyết định. Vậy nên, trong sự nghiệp xây dựng
xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta, Người luôn dạy cán bộ: cần phải yêu thương, tin tưởng
và biết dựa vào nhân dân. Vì, theo Hồ Chí Minh “đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là
dân”. Đó cũng là niềm tin của Người vào con người vào sức mạnh của nhân dân.
9
1.3.3. Đấu tranh để giải phóng con người, thoát khỏi áp bức, bóc lột, nghèo nàn,
lạc hậu
Tình yêu thương con người là cội nguồn của sự đấu tranh để giải phóng con người
thoát khỏi áp bức, nghèo nàn, lạc hậu, để vươn tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Có thể nói, tình yêu thương trong con người Hồ Chí Minh về giải phóng con người
trước hết là ở sự khẳng định con người cần được sống cuộc sống của một con người. Thực
tế, ngày nay, chúng ta đang được hưởng thành quả từ tình yêu thương ấy. Phải chăng một
trong những điều này là xuất phát từ lòng nhân ái, khoan dung, vị tha của vị cha già của dân
tộc?
1.3.4. Tình yêu thương trong Hồ Chí Minh còn là lòng nhân ái, vị tha, khoan
dung nhân hậu, hết mực vì con người
Lòng nhân ái, vị tha, khoan dung nhân hậu trong con người Hồ Chí Minh là sự kế
thừa các yếu tố truyền thống của dân tộc và phát triển cho phù hợp với điều kiện lịch sử
mới của đất nước và xu thế chung của thời đại. Người từng nói: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản
mới cứu nhân loại, đem cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do,
bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi
người…”[42, tr. 496]. Như vậy, lòng khoan dung, nhân ái trong Hồ Chí Minh không chỉ
dừng lại ở việc đấu tranh giành quyền con người mà còn chỉ ra con đường tiếp theo để thực
hiện cao nhất quyền con người ấy.
Tinh thần khoan dung, nhân ái ở Hồ Chí Minh xuất phát từ chữ Nhân sáng suốt, có
nguyên tắc lấy chính nghĩa làm nền tảng, giải quyết vấn đề giữa con người với nhau trên cơ
sở “có tình, có lý”. Theo Người: “NHÂN là thật thà yêu thương, hết lòng giúp đỡ đồng chí
và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người; những việc có hại đến Đảng, đến
nhân dân.”[46, tr. 291]. Như vậy, có thể thấy với sự kế thừa, phát triển truyền thống khoan
dung, nhân ái của dân tộc qua hàng ngàn năm lịch sử, Hồ Chí Minh đã thể hiện tư tưởng ấy
trong hành trình cứu nước của dân tộc. Ở đây, tinh thần khoan dung, nhân ái của Người
được biểu hiện như là sức mạnh của cách mạng. Chỉ có cuộc cách mạng chân chính, được
lòng dân, mới có sức thuyết phục trái tim, khối óc của quần chúng trong đó có cả những
người lầm đường lạc lối.
10
Đối với Hồ Chí Minh, tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa không chỉ thể
hiện bằng lời nói mà nó còn biểu hiện bằng hành động, bằng các cử chỉ với những con
người cụ thể, hoàn cảnh cụ thể mà tác giả xin được đưa ra phần dưới đây.
1.4. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, sống có

tình nghĩa
1.4.1. Hồ Chí Minh – tấm gương về yêu thương, quý trọng con người
Tư tưởng yêu thương con người, sống có tình nghĩa được Hồ Chí Minh nêu lên và
vận động mọi người cùng thực hiện. Bản thân Hồ Chí Minh là một tấm gương lớn về vấn
đề này. Có thể thấy tình yêu thương của Bác Hồ là rất cụ thể, từ việc to như lo giải phóng
con người đến chăm lo từng con người cụ thể.
Việc lo giải phóng con người, chúng ta có thể thấy minh chứng rõ ràng nhất là cả
cuộc đời của Người. Cụ thể với nhân dân Việt Nam, Người đã có lời nhắn nhủ đầy tâm
huyết, rất nhân văn: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay
cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người
cũng có người thế này thế khác đều dòng dõi tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại
độ”[45, tr. 280].
Có thể nói tấm gương về tình yêu thương con người nói chung, với nhân dân Việt
Nam nói riêng của Hồ Chí Minh luôn thấm đượm và đi vào lòng các thế hệ sau. Đặc biệt là
khi nghe những câu chuyện kể về Người. Như câu chuyện Hồi trường Đảng Nguyễn Ái
Quốc còn ở căn cứ kháng chiến Việt Bắc, một lần Hồ Chí Minh đến dự lễ bế giảng của
trường. Khi Người xuống thăm nhà bếp, thấy làm cỗ có vẻ linh đình, đã nói với đồng chí
phụ trách trường: “Này, bế mạc, chứ không phải "bế bụng” đâu nhé! Kháng chiến còn khó khăn
lắm đấy, các chú ạ”. Đến bữa ăn, thấy mâm cơm chỉ có một bát, một đôi đũa, Người hỏi:
“Thế Bác ăn với ai?”. Đồng chí phụ trách gãi đầu gãi tai: “Dạ, xin để Bác ăn riêng cho
tiện…”. Người ngắt lời: “Không tiện gì cả. Thế ra các chú muốn cho Bác ăn trên ngồi trốc
à?”. Và Hồ Chí Minh đòi phải bê các món ăn của cán bộ, nhân viên nhà trường lên cho
xem, rồi Người bảo kê thêm bàn ghế cho mọi người cùng ăn. Bố trí xong xuôi cả rồi, Hồ
Chí Minh mới vui vẻ, bảo mọi người: Ngồi cả vào đây, ăn chung với Bác, ăn một mình thì
Bác ăn sao được? Khi Người lên nói chuyện với các học viên, đồng chí phụ trách trường
giới thiệu: "Bác Hồ sẽ huấn thị cho chúng ta". Hồ Chí Minh cười mà bảo rằng: "Tôi nói
chuyện với các đồng chí thôi, chứ có "huấn thị”gì đâu". Buổi tối, Người ở lại trường để làm
11
việc. Các đồng chí mang đến cho Hồ Chí Minh một chiếc đèn đăng rất sáng. Khoảng 9-10
giờ tối, Người cầm đèn đó xuống văn phòng trường và bảo rằng: "Đèn này to, tốn dầu lắm!

Bác còn làm việc khuya, một chiếc đèn con thôi cũng đủ. Các đồng chí đổi cho Bác chiếc
đèn khác". Sáng sớm hôm sau, trước khi chia tay trường, đồng chí phụ trách hỏi Người có
điều gì căn dặn thêm về công việc của trường. Hồ Chí Minh nói: "Tôi chỉ mong là các đồng
chí đừng quan tâm đến tôi quá mà phải quan tâm đến mọi người hơn".
Với tình yêu thương bao la, Người đã dành tình yêu thương cho tất cả mọi người
đồng thời chia sẻ với mỗi người những nỗi đau của họ. Người nói rằng: Mỗi một người,
mỗi một gia đình đều có nỗi đau khổ riêng và khi gộp cả những nỗi đau khổ riêng đó lại thì
thành nỗi đau của Người. Như vậy, chúng ta có thể thấy, đức hi sinh và tình yêu thương của
Hồ Chí Minh là tấm gương điển hình được thể hiện trong tư tưởng cũng như trong từng
hành động, trong mối quan hệ với đồng bào, đồng chí và bạn bè quốc tế.
1.4.2. Hồ Chí Minh – tấm gương đạo đức sống có tình nghĩa
Theo Hồ Chí Minh, yêu thương con người là phải sống với nhau có tình có nghĩa.
Cái tình nghĩa ở đây được Người biểu hiện rõ qua cách sống vị tha,khoan dung độ lượng.
Năm 1968, khi Hồ Chí Minh làm việc với cán bộ Ban Tuyên huấn Trung Ương về việc
xuất bản sách “Người tốt, việc tốt”nhằm tuyền truyền sâu rộng những gương điển hình tiên
tiến trong lao động sản xuất, trong ứng xử giữa những con người, Người đã nhắc nhở quần
chúng rằng, đã hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu
thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa không thể gọi là hiểu chủ nghĩa Mác
– Lênin
Với nhân dân ta, Hồ Chí Minh luôn khuyên phải đoàn kết yêu thương nhau, đối xử
với nhau sao cho trọn chữ tình người. Đặc biệt, đối với những người có lỗi, những người
khi lỡ lầm đường, Người luôn thể hiện thái độ mềm dẻo, tôn trọng họ, cảm hóa họ. Như
Nguyễn Hải Thần – một tri thức yêu nước nhưng sau này bị Quốc dân Đảng Trung Quốc
mua chuộc – vì ham quyền lợi mà biến chất, phản lại lợi ích của dân tộc. Sau đó, con người
này bị Chính phủ Trung Quốc giam giữ và Hồ Chí Minh đã yêu cầu Chính phủ ta cấp gạo,
tiền hàng tháng để sinh sống, để ăn năn hối lỗi. Người luôn mong đợi tình người sẽ cảm
hóa được những sai lầm mà họ mắc phải.
Với bất cứ ai và bất kỳ hoàn cảnh nào, Hồ Chí Minh đều có hành động thể hiện tình
sâu nghĩa nặng với họ. Ngay cả những người đối lập với lợi ích của dân, khi mà họ đã ăn
12

năn, hối cải, Hồ Chí Minh vẫn trọng dụng mà không hắt hủi họ. Như trường hợp Thượng
thư Bùi Băng Đoàn, khâm sai đại thần Phan Kế Toại, và ngay cả hoàng đế Bảo Đại đã kết
án tử hình Hồ Chí Minh vào năm 1929, vậy nhưng Người vẫn sẵn lòng bao dung và sử
dụng họ. Với tình nghĩa của Người, đã cảm hóa được chữ Nhân trong bao người lầm lỡ và
cả với kẻ thù.
Ngày nay, sự vận dụng tư tưởng của Người trong giáo dục đạo đức nói chung và
tình yêu thương con người sống có tình nghĩa nói riêng cho các tầng lớp trong xã hội, đặc
biệt là thế hệ sinh viên trở nên phổ biến. Cùng với xu thế của thời đại, trường Cao đẳng
Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc cũng góp phần vào việc đào tạo những thế hệ người lao động
Việt Nam. Việc giáo dục cho học sinh, sinh viên học tập và làm theo tấm gương Hồ Chí
Minh được nhà trường chú trọng. Đặc biệt là giáo dục về tình yêu thương con người sống
có tình nghĩa.
CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ YÊU THƯƠNG CON
NGƯỜI, SỐNG CÓ TÌNH NGHĨA CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH
TẾ - KỸ THUẬT VĨNH PHÚC HIỆN NAY
2.1. Những yêu cầu đặt ra đối với việc giáo dục tình yêu thương con người, sống
có tình nghĩa cho sinh viên hiện nay
2.1.1 Những đặc điểm của thời đại hiện nay đối với việc giáo dục đạo đức cho
sinh viên
Giáo dục cho sinh viên Việt Nam hiện nay luôn gắn liền với việc vận dụng tư tưởng
đạo đức Hồ Chí Minh. Đặc biệt là giáo dục đạo đức tình yêu thương con người, sống có
tình nghĩa. Để vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo và phù hợp với sự phát triển của đất
nước, trước hết đòi hỏi chúng ta phải xuất phát từ thực tiễn tình hình thế giới và trong nước.
* Tình hình thế giới
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật có những
bước phát triển mạnh mẽ. Có nhiều lĩnh vực khoa học mới xuất hiện và nhanh chóng được
đưa vào ứng dụng. Điều này đưa nền kinh tế thế giới phát triển theo những hướng mới.
Quốc tế hóa và tổ chức phân công lao động xã hội góp phần tổ chức lại đời sống vật chất và
tinh thần của nhân loại. Đồng thời, nó cũng phá vỡ tư duy và cách làm, cách sống cũ và tạo
13

ra cách thức và lối sống mới, làm thay đổi căn bản không chỉ các xã hội công nghiệp mà cả
các xã hội nông nghiệp truyền thống trong đó có Việt Nam.
Tuy có nhiều bước phát triển, song những năm gần đây, giáo dục các nước trên thế
giới ngày càng bộc lộ dấu hiệu khủng hoảng. Cơ sở vật chất xuống cấp, chất lượng không
cao. Đặc biệt ở các nước đang và chậm phát triển. Tình trạng suy đồi trong giá trị đạo đức
mạnh mẽ bởi sự du nhập của các luồng văn hoá không chính thống. Việt Nam cũng không
nằm ngoài luồng. Điều này đòi hỏi phải có chuẩn mực giáo dục cụ thể cho chiến lược phát
triển con người mới, nguồn lao động mới.
* Tình hình trong nước
Từ năm 1986 trở lại đây, nước ta bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Nội
dung cơ bản của công cuộc đổi mới này là thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau gần 30 năm đổi mới, nước ra đã đạt
được những thành tựu to lớn về nhiều mặt. Đời sống của nhân dân được cải thiện một cách
căn bản. Trong lịch sử hàng ngàn năm của đất nước, chúng ta chưa bao giờ có bước phát
triển nhảy vọt kinh tế như vậy.
Như chúng ta biết, nền kinh tế thị trường hiện nay đang làm cho đất nước có sự phát
triển đáng kể. Song, chính nền kinh tế này làm cho sự du nhập của thị trường quốc tế vào
trong nước là khó kiểm soát. Đồng thời với sự du nhập của kinh tế là kéo theo các vấn đề
về văn hóa – xã hội, lối sống, đạo đức Mà ở đây tác giả đi sâu vào sự tác động của kinh tế
thị trường đã làm cho giá trị đạo đức suy đồi. Cụ thể hơn là nó làm giảm đi tình cảm yêu
thương giữa con người với nhau trong thế hệ sinh viên hiện nay.
* Sự tác động đối với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay.
Những tác động tích cực
Với đặc điểm của xã hội hiện nay làm cho sinh viên trở nên sáng tạo và hiếu học
hơn.
Một vấn đề nữa là xã hội hiện nay làm cho sinh viên gắn học với hành, đề cao giá trị
thực tiễn.
Tác động tích cực nữa trong cơ chế hiện nay là, sinh viên dám chấp nhận thử thách,
cạnh tranh để tồn tại và phát triển.

Những tác động tiêu cực
14
Thực tế cho thấy trong đời sống xã hội đã có những biểu hiện coi nhẹ những giá trị
đạo đức truyền thống, chạy theo lối sống không lành mạnh. Đảng và Nhà nước đã chỉ rõ:
“tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực
dụng, cá nhân vị kỷ… đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Không ít trường
hợp vì đồng tiền và danh dự mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí,
đồng nghiệp.”[16, tr. 46].
Điều đầu tiên phải kể đến là xu hướng coi trọng giá trị vật chất, xem nhẹ giá trị tinh
thần. Với cơ chế hiện nay đã kích thích lợi ích mỗi cá nhân, làm cho tâm lý làm giàu bao
trùm lên toàn xã hội. Song, tâm lý này phát triển thái quá dẫn đến nhiều sinh viên choáng
ngợp trước lợi ích đồng tiền đem lại. Vì đồng tiền con cái hành hung cha mẹ, anh em đánh
nhau, từ bỏ nhau, vợ chồng ly tán… Chính sự rối loạn trong các mối quan hệ là một trong
những nguyên nhân tạo điều kiện cho cái ác và cái bất lương phát triển.
Tác động tiêu cực thứ hai mà chúng ta thấy là việc coi nhẹ yếu tố đạo đức. Việc này
làm cho con người bị tha hóa trong lao động và cuộc sống.
Rồi từ xã hội thực tại, thế hệ trẻ nói chung, sinh viên nói riêng có lý tưởng sống mờ
nhạt. Các tệ nạn xã hội gia tăng nhanh chóng.
Như vậy, những vấn đề trên đây đã phần nào cảnh báo cho chúng ta biết được vấn đề
đạo đức và tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường
ở Việt Nam hiện nay đang diễn ra hết sức phức tạp. Các bậc thang giá trị đạo đức có phần
bị đảo lộn. Cuộc đấu tranh giữa lối sống lành mạnh, bao dung, nhân ái …với lối sống sa
đọa, ích kỷ, bạo lực; giữa cái thiện và cái ác vẫn đang không ngừng diễn ra với tốc độ ngày
càng gia tăng.
2.1.2. Những yêu cầu đặt ra
Chúng ta cần phải giáo dục tốt các giá trị đạo đức, cụ thể như: Tinh thần kế thừa và
phát triển văn hóa truyền thống; Tinh thần tôn trọng nhân phẩm và lòng yêu thương con
người…Hình thành ý thức đạo đức có tính kỷ luật cao. Từ đó, nỗ lực đóng góp vào sự phát
triển của đất nước.
Công tác tuyên truyền và giáo dục đạo đức nói chung và tình yêu thương con người

sống có tình nghĩa nói riêng cần được quan tâm thực sự. Chúng ta không chỉ làm tốt điều
này trong gia đình, nhà trường mà còn trong toàn xã hội. Đầu tiên là công tác giáo dục
trong gia đình.
15
Kết hợp với giáo dục đạo đức trong gia đình là công tác giáo dục trong nhà trường.
Nhà trường là nơi đào tạo con người không những về kiến thức mà còn giáo dục cả đạo
đức, lối sống cho học sinh, sinh viên. Do vậy, nhà trường còn phải giữ kỷ cương nề nếp học
đường, tạo môi trường lý tưởng cho học sinh, sinh viên hình thành và phát triển nhân cách.
Nhà trường cần giao dục cho sinh viên nhận thức được những giá trị đạo đức nào là cần
thiết, có ý nghĩa thiết thực với bản thân và xã hội trong điều kiện hiện nay. Đồng thời, nhà
trường cũng cần làm cho họ nhận thức được những giá trị đạo đức truyền thống như: tình
nhân ái, yêu thương con người; tinh thần yêu nước; tinh thần vị tha, khoan dung; sự trung
thực, thẳng thắn…
Chúng ta cần quan tâm đến điều kiện sinh tồn và hoàn cảnh sống của các cá nhân,
các nhóm tập thể, đoàn thể thì mới phát huy được hết sự nhận thức của họ với nội dung
chương trình, hoạt động giáo dục đạo đức.
Một trong những nội dung chính của chương trình tuyên truyền và giáo dục đạo đức
là giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh và cụ thể hơn là giáo dục tình yêu thương con người sống
có tình nghĩa. Bởi lẽ, sự tha hóa về đạo đức trong xã hội hiện nay của thanh niên, sinh viên
là khởi nguồn từ lối sống thực dụng, không được quan tâm và dạy dỗ bằng tình yêu thương
chân thành từ môi trường sống.
Như vậy, cơ chế thị trường cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã tạo
ra những tác động tích cực cho sự phát triển chung của xã hội. Tuy nhiên, nó cũng tạo ra
những ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân ta nói chung và tới đạo đức, lối
sống của thế hệ trẻ nói riêng trong đó có tầng lớp sinh viên. Tình yêu thương trong thế hệ
này ngày càng giảm sút. Vì vậy, việc giáo dục đạo đức nói chung, giáo dục tình yêu thương
con người, sống có tình nghĩa nói riêng đối với sinh viên trong giai đoạn hiện nay là hết sức
quan trọng. Và Trường Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc không nằm ngoài xu hướng
chung này. Để có thể đào tạo ra cho địa phương cũng như cho đất nước những lực lượng
lao động vừa có “tài”vừa có “đức”, vừa “hồng”vừa “chuyên”. Trường đã và đang có các

chiến lược cụ thể trong việc giáo dục tình yêu thương con người sống có tình nghĩa cho
sinh viên trường.
16
2.2. Thực trạng giáo dục tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa cho sinh
viên trường Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc từ 2007 đến nay
2.2.1. Đặc điểm chung của sinh viên trường Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Vĩnh
Phúc
Trường Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc được thành lập theo quyết định ngày
28/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tiền thân là trường Trung học kinh tế -
kỹ thuật Vĩnh Phúc được thành lập ngày 08/6/1998 trên cơ sở Trường Dạy nghề Nông
nghiệp Vĩnh Phú thành lập năm 1987 (Hợp nhất hai trường: Trường Cơ khí nông nghiệp và
Trường Quản lý Nông nghiệp được thành lập từ những năm 1960).
Trong quá trình xây dựng và trưởng thành, trường đã có những bước phát triển
nhanh về quy mô, đa dạng hóa các ngành nghề, loại hình và trình độ đào tạo. Cho đến hiện
nay, trường có 7 khoa chuyên môn: Kinh tế, Điện – điện tử, Cơ khí, Kỹ thuật Nông nghiệp,
Công nghệ thông tin, Lý luận chính trị. Trong đó, 6 khoa có học sinh, sinh viên đào tạo.
Đối tượng học sinh, sinh viên chủ yếu là có hộ khẩu trong tỉnh. Nên các em có nhiều
thuận lợi khi học tại trường. Tuy nhiên, do trường đào tạo nhiều hệ nên trình độ văn hóa có
sự khác nhau nhiều. Trong phạm vi nghiên cứu về đối tượng, tác giả chỉ xin đề cập đến đối
tượng cụ thể là sinh viên thuộc hệ cao đẳng.
Là một trong những trường cao đẳng trọng điểm của Tỉnh Vĩnh Phúc, sinh viên của
trường có nhiều ưu điểm so với các trường khác trong tỉnh.
Thứ nhất là về năng lực học tập và nghiên cứu khoa học
Thứ hai là về phẩm chất năng động, nhanh nhẹn trong học tập cũng như trong cuộc
sống.
Thứ ba là: Sinh viên của trường nói chung có phẩm chất chính trị tư tưởng vững
vàng, đạo đức tốt, có lối sống lành mạnh.
Trường Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc là trường trọng điểm chất lượng cao
của Tỉnh, đào tạo nhân lực kinh tế - kỹ thuật - dịch vụ đáp ứng nhu cầu phát triển của tỉnh
Vĩnh Phúc và các tỉnh lân cận; đồng thời là trung tâm nghiên cứu khoa học, chuyển giao

công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh, góp phần làm cho Vĩnh Phúc trở thành tỉnh công
nghiệp, hiện đại. Nói chung, cho đến thời điểm hiện nay, trường đã có những thành quả
vượt bậc trong đào tạo nguồn lao động trẻ cho tỉnh nhà. Bên cạnh đó, trường cũng tạo nên
một môi trường giáo dục đào tạo tốt thu hút con em trong tỉnh cũng như một số địa phương
17
của các tỉnh lân cận. Vì vậy, cùng với xu hướng phát triển của cả nước, nhà trường ngày
càng quan tâm, sát xao hơn đến nội dung, chương trình giáo dục. Đặc biệt là giáo dục tư
tưởng, giáo dục đạo đức mà cụ thể là giáo dục tình yêu thương con người, sống có tình
nghĩa cho tất cả học sinh, sinh viên trong trường.
2.2.2. Thực trạng tình hình giáo dục tình yêu thương con người, sống có tình
nghĩa.
2.2.2.1. Những thành tựu đạt được
Thứ nhất là những bài giảng về đạo đức cũng như về tình yêu thương con người,
sống có tình nghĩa được lồng ghép trong chương trình giảng dạy và trong các môn học.
Cùng với chương trình chung của Bộ Giáo dục và đào tạo, Nhà trường đưa vào khung
chương trình giáo dục các môn cơ bản về lý luận chính trị như: Những Nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa Mác – Lê nin; Tư tưởng Hồ Chí Minh; Đường lối Cách mạng của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Bên cạnh đó còn có môn Pháp luật đại cương cũng góp phần không
nhỏ đến việc giáo dục tình yêu thương con người cho sinh viên. Tuy rằng môn Đạo đức học
không được giảng dạy trong chương trình đào tạo của trường, nhưng các bài giảng về đạo
đức cũng như về tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa được các giảng viên giảng
giải trong quá trình dạy học.
Đầu tiên phải kể đến là học phần Những Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê
nin. Môn học này không có nội dung cụ thể về giáo dục tình yêu thương con người cho sinh
viên, song với việc cung cấp thế giới quan và phương pháp luận cho sinh viên, môn học
này giúp sinh viên nhìn nhận sự việc một cách khách quan. Từ đó sinh viên có hành vi ứng
xử đúng đắn hơn với thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng.
Một trong số những môn học đồng hành cùng môn Những Nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lê nin là môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. Với số lượng là hai tín chỉ được giảng
dạy trong vòng 39 tiết học trên lớp, trong đó nội dung về đạo đức, cụ thể là đạo đức Hồ Chí

Minh được giảng viên giảng dạy chi tiết.
Không thể không kể đến học phần Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt
Nam. Trong môn học này, các giáo viên trong trường đã chỉ ra cho sinh viên thấy rõ Đảng
đã vận dụng những tư tưởng, tình yêu nước, yêu thương con người sâu rộng của Hồ Chí
Minh và thực tế cách mạng của đất nước.
18
Ngoài ra, nhà trường cũng chủ trương giáo dục đạo đức nói chung cho sinh thông
qua các môn học khác như Pháp luật đại cương. Môn học này giúp sinh viên hiểu được, ý
thức được và điều chỉnh hành vi của mình theo pháp luật nhà nước ban hành. Từ đó có lối
sống lành mạnh có tình người hơn.
Bên cạnh đó, việc giáo dục đạo đức hay giáo dục tình yêu thương con người, sống
có tình nghĩa còn được lồng ghép vào các môn học thuộc các chuyên ngành của sinh viên.
Một trong những thành tựu mà nhà trường đạt được trong các năm qua về giáo dục
tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa đó là công tác giảng dạy trong những đợt
sinh hoạt chính trị, giáo dục công dân đầu khóa. Vào đầu năm học hàng năm, trường tổ
chức tuần giáo dục chính trị cho sinh viên năm đầu tiên. Cùng với việc tìm hiểu các vấn đề
chung về pháp luật, về nội quy đào tạo… công tác phổ biến “triển khai cuộc vận động học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay”được chú trọng.
Một trong những thành tựu không thể không kể đến là việc tổ chức các buổi sinh
hoạt tập thể của Đoàn thanh niên, Hội học sinh, sinh viên … với các cuộc thi, các bài viết
về giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên. Trong những năm qua, Đoàn, Hội đã tiếp tục
đổi mới công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên. Các tổ chức đã đưa ra nhiều nội dung,
hình thức và phương pháp giáo dục để nâng cao trình độ nhận thức của sinh viên như: Tổ
chức các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, các cuộc thi tìm hiểu, các phong
trào thi đua … Lớn nhất phải kể đến cuộc “Vận động học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh”theo chỉ thị số 03 – CT/TW của Bộ Chính trị.
Có thể nói rằng, bằng những hoạt động phong phú và sôi nổi, Đoàn thanh niên và
Hội sinh viên của trường đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng đạo đức
cách mạng, hình thành lối sống có lý tưởng, có mục đích đúng đắn, giàu tình nhân ái cho
sinh viên trong trường nói riêng.

Trên đây là những thành tựu tiêu biểu mà nhà trường đã đạt được trong công tác
giáo dục đạo đức nói chung và giáo dục tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa nói
riêng cho sinh viên. Tuy nhiên, bên cạnh đó thì công tác này còn nhiều hạn chế, bất cập.
2.2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân
Những hạn chế
19
Thứ nhất là trong công tác giảng dạy: Về nội dung giảng dạy, hầu như các trường
thuộc khối kinh tế - kỹ thuật đều chưa đưa môn “đạo đức học”vào giảng dạy. Do đó, việc
tiếp cận kiến thức về đạo đức đôi khi còn mơ hồ.
Mặt khác, nhiều sinh viên mải mê làm thêm, say sưa kiếm tiến nên dành ít thời gian
cho việc học tập và rèn luyện đạo đức. Xuất hiện một số ăn chơi, tiêu xài hoang phí, chưa
có thói quen tiết kiệm. Thậm chí có một số có thái độ thờ ơ khi tham gia giao thông công
cộng…
Còn tồn tại một số quan điểm của các cán bộ giáo viên trong trường nhận thức chưa
đúng tầm quan trọng của vấn đề giáo dục đạo đức, giáo dục tình yêu thương con người,
sống có tình nghĩa trong các môn học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng
chỉ cần tập trung vào giảng cái mà sinh viên cần là những kiến thức chuyên môn. Thậm chí
các môn Mác - Lênin bị coi nhẹ đến mức ngày càng cắt giảm số tín chỉ, ghép các học phần
với nhau…
Bên cạnh việc học tập và giáo dục các môn thuộc chủ nghĩa Mác - Lênin, trong các
môn thuộc chuyên ngành cũng chưa đưa vào chương trình nội dung giáo dục đạo đức
ngành cụ thể.
Về phương pháp dạy học; vẫn chủ yếu là phương pháp truyền thống, truyền đạt một
chiều mang tính thụ động trong sinh viên. Thầy đọc, trò ghi; thầy giảng, trò nghe. Chú
trọng nhiều lý thuyết, ít liên hệ thực tiễn. Do đó ít phát huy được tính chủ động, tích cực
của người học.
Hạn chế thứ hai cần phải đề cập ở đây là: Việc tổ chức các hoạt động của các đoàn
thể chưa thường xuyên, liên tục mà chỉ tập trung vào kỷ niệm các ngày lễ.
Như vậy, với những hạn chế trên đã làm cho công tác giáo dục tình yêu thương con
người, sống có tình nghĩa trong sinh viên của Trường chưa thật sự hiệu quả và còn nhiều

bất cập cần giải quyết triệt để. Trước khi chỉ ra cách giải quyết cho tình trạng này phải chỉ
ra nguyên nhân của nó là gì?
Nguyên nhân của những tồn hạn chế
Về nguyên nhân khách quan:
Thứ nhất là chưa có sự quan tâm đúng mức của các ngành, các cấp, đặc biệt là ngành
giáo dục và đào tạo đối với môn học giáo dục đạo đức trong các trường kinh tế - kỹ thuật.
20
Thứ hai: Do xu thế hội nhập, toàn cầu hóa và sự chuyển đổi của cơ chế kinh tế, từ
tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường đã là điều kiện cho sự nảy sinh và tồn tại các
chuẩn mực đạo đức khác nhau. Mặt trái của nó tác động không nhỏ đến đời sống đạo đức
của nhân dân ta.
Thứ ba: Vấn đề kết hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội chưa tốt.
Thứ tư: Dù là hệ tuyển sinh cao nhất của trường nhưng đầu vào tuyển sinh lại là thấp
so với các trường đại học. Những đối tượng này thường ít được quan tâm, giáo dục một
cách sát xao.
Về nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất: Công tác giáo dục đạo đức, giáo dục tình yêu thương con người, sống có
tình nghĩa cho sinh viên còn bị buông lỏng, chậm đổi mới và chưa thực sự phù hợp với đặc
điểm tâm lý của lứa tuổi sinh viên.
Thứ hai: Một số bộ phận thanh thiếu niên chưa chịu tu dưỡng đạo đức.
2.3. Phương hướng và giải pháp giáo dục tình yêu thương con người, sống có
tình nghĩa cho sinh viên trường Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc hiện nay dưới
ánh sáng đạo đức Hồ Chí Minh
2.3.1. Phương hướng
Phương hướng chung
Nhà trường đã có phương hướng chung cho những năm tới như sau: Tiếp tục quán
triệt và triển khai thực hiện hiệu quả Chỉ thị, Nghị quyết của Tỉnh ủy, Thành ủy. Thực hiện
tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Xây dựng nhà
trường trở thành cơ sở đào tạo cán bộ kinh tế - kỹ thuật, dịch vụ có trình độ cao, thực hiện
đào tạo toàn diện cả về phẩm chất đạo đức, kỷ luật lao động để thích ứng nhanh với thị

trường lao động, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh nói riêng, của đất nước nói chung. Tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động: nói
không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục; mỗi thầy cô là tấm gương
học tập và sáng tạo để học sinh noi theo. Phát huy cao độ công tác giáo dục chính trị tư
tưởng, giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên. Để làm được điều này, nhà trường có
những phương hướng cụ thể như sau.
Phương hướng cụ thể
Các cán bộ, giáo viên trong trường cần gương mẫu trong mọi lĩnh vực.
21
Nhà trường nên thường xuyên tuyên truyền, biểu dương những sinh viên chăm
ngoan, học giỏi, vượt khó trong học tập và tu dưỡng đạo đức, để làm tấm gương tốt cho các
sinh viên khác học tập và noi theo.
Kết hợp chặt chẽ giữa học và hành, gắn lý luận với thực tiễn trong việc giảng dạy và
học tập tại trường.
Ngoài ra, nhà trường cần tạo điều kiện tốt nhất cho việc học tập và vui chơi của sinh
viên. Những chính sách của nhà trường đề ra phải được thực hiện một cách nghiêm túc.
Đặc biệt, trong giáo dục tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa cần chú trọng vào
các nội dung như sau:
Giáo dục cho sinh viên lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc
Giáo dục cho sinh viên sống nhân ái, trọng nghĩa tình, yêu thương con người, chân
thành, thủy chung trong tình bạn cũng như tình yêu.
Giáo dục cho sinh viên lý tưởng xã hội chủ nghĩa và niềm tin vững chắc vào sự
nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.
Giáo dục cho sinh viên các phẩm chất: dũng cảm, trung thực, khiêm tốn, sáng tạo, tự
lập, sống giản dị, tiết kiệm
Như vậy, với các phương hướng được đưa ra, nhà trường đã, đang và sẽ tiếp tục thực
hiện có hiệu quả công tác giáo dục tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa dưới ánh
sáng đạo đức Hồ Chí Minh.
2.3.2. Những giải pháp chủ yếu
- Nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy nhà trường

- Phát huy vai trò của Ban giám hiệu, các phòng, khoa chức năng
- Nâng cao chất lượng và đổi mới hình thức hoạt động của các tổ chức chính trị - xã
hội của sinh viên
- Nêu cao tinh thần trách nhiệm và phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ giáo viên
- Phát huy tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu của sinh viên trong việc
học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
22
KẾT LUẬN
Yêu thương con người, sống có tình nghĩa là một phẩm chất cao đẹp trong đạo đức
Hồ Chí Minh. Người đã tiếp thu truyền thống nhân nghĩa của dân tộc và nâng nó lên thành
một tình cảm rộng lớn. Yêu thương là trước hết dành cho những người cùng khổ; yêu
thương được thể hiện trong mối quan hệ hàng ngày với những người trong gia đình, bạn bè,
đồng chí ; và yêu thương còn dành cho cả những người có sai lầm, khuyết điểm nhưng đã
nhận rõ khuyết điểm, sai lầm và cố gắng sửa chữa. Với quan điểm này, Người đã thể hiện
cụ thể bằng hành động, bằng thực tế trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng. Từ việc nhỏ
như khoác tấm áo cho người chiến sĩ đỡ lạnh đến việc giải phóng dân tộc thoát khỏi lầm
than giành tự do, độc lập Tất cả những gì Hồ Chí Minh làm cho dân tộc ta đã đưa Người
trở thành tấm gương sáng. Đặc biệt trong giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay, giá trị
đạo đức ngày càng có ý nghĩa.
Tư tưởng, tấm gương Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức nói chung, giáo dục tình yêu
thương con người, sống có tình nghĩa nói riêng có vai trò quan trọng cho công tác giáo dục
đạo đức, lối sống cho sinh viên. Người đã chỉ ra nội dung và phương châm, phương pháp
giáo dục nhằm giúp sinh viên hình thành những phẩm chất đạo đức mới đáp ứng được các
yêu cầu của sự nghiệp cách mạng.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, xu thế chung của thế giới và trong nước đã có
ảnh hưởng sâu rộng đến việc đời sống tinh thần của con người. Nhất là cơ chế thị trường
của nền kinh tế mở đã tác động trực tiếp đến người dân Việt Nam nói chung, tầng lớp sinh
viên nói riêng. Bên cạnh những tích cực, có không ít tác động tiêu cực, thậm chí làm tha
hóa lối sống, tình cảm con người của sinh viên. Việc chạy theo lối sống thực dụng, vì đồng
tiền khiến nhiều sinh viên có những hành động mất nhân tính. Đôi khi, họ làm theo nhân

vật trong game mà không biết hành vi của mình có tác hại ra sao. Hay như sa đọa vào ma
túy làm họ không kiểm soát được hành vi và hủy hoại bản thân, không nghe người khác
khuyên bảo Điều này đặt ra những yêu câu bức thiết trong giáo dục đạo đức, lối sống
cũng như giáo dục tình yêu thương con người cho thế hệ trẻ, trong đó có sinh viên.
Cùng xu thế chung của sinh viên cả nước, sinh viên trường Cao đẳng kinh tế - kỹ
thuật Vĩnh Phúc cũng chịu sự tác động của nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa. Về cơ
bản, đại bộ phận sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc tin tưởng vào
23
đường lối và sự lãnh đạo của Đảng, sống có ước mơ, có hoài bão, chấp nhận dấn thân, tình
nguyện vì cộng đồng. Nhiều sinh viên đã biết gắn lợi ích bản thân với lợi ích dân tộc, thi
đua rèn đức, luyện tài vì ngày mai lập thân, lập nghiệp. Khắc phục mọi trở ngại, thiếu thốn,
sinh viên ra sức học tập, tích cực nghiên cứu khoa học, không ngừng trau dồi đạo đức tác
phong, giữ gìn nhân cách. Thực hiện lối sống đẹp, đông đảo sinh viên hăng hái tham gia
các hoạt động tình nguyện vì Tổ quốc, vì cộng đồng. Các tấm gương tiêu biểu xuất sắc
trong học tập và rèn luyện xuất hiện ngày càng nhiều.
Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một bộ phận có lối sống thực dụng, thờ ơ trước những
vấn đề chính trị – xã hội của đất nước, thiếu ý chí vươn lên trong học tập và cuộc sống,
thiếu tích cực, chủ động trong hoạt động đoàn thể.
Những hạn chế, bất cập trong công tác giáo dục đạo đức, lối sống là nguyên nhân chủ
yếu dẫn tới sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận. Đổi mới công tác giáo dục,
nhất là giáo dục đạo đức nhằm đào tạo ra một đội ngũ trí thức trẻ có đủ phẩm chất và năng
lực cần thiết đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với
phát triển kinh tế tri thức đã trở thành một nhiệm vụ hàng đầu của các trường đại học, cao
đẳng trong giai đoạn hiện nay. Đây là yêu cầu bức thiết của nhà trường, đồng thời cũng là
mục tiêu trong đào tạo giáo dục đạo đức cho sinh viên. Hơn nữa, nó cho chúng ta thấy tầm
quan trọng của việc giáo dục tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa trong sinh viên.
Để thực hiện điều này, Nhà trường đã đưa ra các giải pháp cụ thể cho từng bộ phận khi
tham gia hoạt động của trường. Bên cạnh đó, với những đặc điểm riêng chịu ảnh hưởng của
địa phương, ngành và hệ đào tạo, sinh viên trong trường cần có biện pháp giáo dục cụ thể
phù hợp. Đặc biệt chú trọng hơn công tác thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo

đức Hồ Chí Minh. Ánh sáng đạo đức của Người mãi là kho báu cho thế hệ sinh viên Việt
Nam trong đó có sinh viên trường Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc tu dưỡng, phấn
đấu, học tập và làm theo.
24

×