Tải bản đầy đủ (.pdf) (94 trang)

đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm borix godunov của alechxandr xecgheevich puskin

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (867.39 KB, 94 trang )

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NV
BỘ MÔN NGỮ VĂN








ĐẶNG THỊ THÚY VI
MSSV: 6106371

ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
TRONG TÁC PHẨM BORIX GODUNOV
CỦA ALECHXANDR XECGHEEVICH PUSKIN


Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn



Cán bộ hướng dẫn: ThS.GV. TRẦN VĂN THỊNH






Cần Thơ, 11- 2013


2
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Mục đích, yêu cầu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
B. PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ THỜI ĐẠI, TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
1.1. Vài nét về xã hội Nga thế kỷ XVII, thế kỷ XIX
1.1.1. Vài nét về lịch sử Nga những năm đầu thế kỉ XVII
1.1.2. Vài nét về xã hội Nga thế kỷ XIX
1.2. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Alechxandr Xecgheevich Puskin
1.3. Vài nét về tác phẩm Borix Godunov
1.3.1. Tóm tắt tác phẩm
1.3.2. Hoàn cảnh ra đời
1.4. Một số vấn đề lí luận chung
1.4.1. Khái niệm về thể loại kịch
1.4.2. Vài nét nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm kịch
Chương 2. ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TRONG TÁC PHẨM
BORIX GODUNOV
2.1. Bức tranh u ám về tầng lớp quý tộc Nga thế kỷ XVII
2.1.1. Sự chống đối giữa tầng lớp quý tộc với Nga Hoàng
2.1.2. Những mâu thuẫn, bất đồng về lợi ích giữa các phe phái

2.1.3. Quan điểm “phản động” của giới quý tộc về nhân dân
3
2.2. Số phận của nhân dân dưới sự cai trị và tranh giành quyền lực
2.2.1. Nhân dân là nạn nhân của sự đàn áp bóc lột
2.2.2. Nhân dân là phương tiện trong cuộc chiến tranh giành quyền lực
2.3. Sự thật lịch sử về vai trò của nhân dân
2.3.1. Nhân dân là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng
2.3.2. Nhân dân là chủ thể sáng tạo nên lịch sử
2.4. Giá trị tác phẩm qua đặc điểm nội dung trong tác phẩm Borix Godunov
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRONG TÁC PHẨM
BORIX GODUNOV
3.1. Nghệ thuật miêu tả nhân vật độc đáo
3.2. Nghệ thuật xây dựng kết cấu đa dạng
3.3. Nghệ thuật xây dựng xung đột tính cách sâu sắc
3.4. Ngôn ngữ kịch giàu tính cảm xúc
3.5. Không gian nghệ thuật mang tính tương phản, đối lập
3.6. Thời gian nghệ thuật mở rộng, phá vỡ quy tắc thời gian của kịch cổ
điển
3.7. Giá trị tác phẩm qua đặc điểm nghệ thuật trong tác phẩm Borix
Godunov
C. PHẦN KẾT LUẬN





4
A. Phần Mở Đầu
1. Lí do chọn đề tài
Là một trong những nền văn học phong phú của nhân loại, văn học Nga được thế

giới biết đến với những thành tựu rực rỡ nhất của lịch sử phát triển nghệ thuật cùng với
những thiên tài văn học như NiKoLai Vasiyevich Gogol, Fyodor Mickhaivich
Dostoevsky, Lev Tolstoi, Vitxarion Gorigorovich, Ivan Xecgayevich … Trong số đó
có Alechxandr Xecgheevich Puskin, một cây đại thụ của nền văn học hiện thực Nga,
người được mệnh danh là “Mặt trời thi ca Nga” của thế kỷ XIX. Ông là tác giả của
những tác phẩm có giá trị thẩm mĩ cao như: Epghenhi Onheghin, Người con gái viên
đại úy, Người kỵ sĩ đồng…từng làm rung động người đọc. Trong số những tác phẩm ấy
có Borix Godunov.
Được sáng tác theo bút pháp hiện đại, Borix Godunov đã trở thành vở kịch hiện
thực đầu tiên trong nền văn học Nga, phản ánh một cách đa diện, nhiều chiều tình hình
chính trị, xã hội Nga thế kỷ XVII, đề cập đến những vấn đề nóng hổi trong mối quan
hệ giữa nhân dân và Nga hoàng. Với sự thành công rực rỡ của Borix Godunov,
A.Puskin được thế giới biết đến như “một nhà viết sử biên niên” của nước Nga. Bên
cạnh đó, Borix Godunov là tác phẩm tâm huyết của A.Puskin, vở kịch chứa đựng nhiều
tầng lớp giá trị, những tư tưởng thời đại mang đậm dấu ấn của nhà văn.
Trước chúng tôi đã có nhiều nhà nghiên cứu về đại thi hào A.Puskin nhưng chủ
yếu tìm vào lĩnh vực thơ ca, một trong những sáng tác tiêu biểu của tác gia. Tuy nhiên
tài năng quan sát và óc sáng tạo của thiên tài không chỉ dừng lại ở góc độ thơ ca mà nó
còn trải dài với nhiều thể loại khác nhau như: trường ca, tiểu thuyết thơ, văn xuôi…và
dĩ nhiên kịch là một thể loại không thể thiếu. Để có thể hiểu rõ một cách sâu sắc và đa
dạng hơn khả năng sáng tác cũng như những giá trị nội dung mà A.Puskin gửi gắm
trong tác phẩm Borix Godunov, chúng tôi quyết định nghiên cứu về “Đặc điểm nội
dung và nghệ thuật trong tác phẩm Borix Godunov”.
Với văn phong phóng khoáng, không quá nghiêm ngặt, qua bàn tay nhào nặn của
A.Puskin, Borix Godunov có một sức ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền bi kịch Nga thế
kỷ XIX và về sau.
5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Là một thiên tài, một nhà lao động vĩ đại, A.Puskin được cả thế giới biết đến
như một hiện tượng kỳ lạ. Sức ảnh hưởng của tác phẩm A.Puskin đến với nhân loại là

hết sức lớn lao và mạnh mẽ. Trước chúng tôi đã có nhiều nhà nghiên cứu tiến hành tìm
hiểu về A.Puskin với toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp. Ở đây chúng tôi điểm qua một số
công trình nghiên cứu có liên quan gián tiếp hoặc trực tiếp đến đề tài “Đặc điểm nội
dung và nghệ thuật trong tác phẩm Borix Godunov”.
Đỗ Hồng Chung trong tuyển tập “Puskin – Nhà thơ Nga vĩ đại” có phần viết
đề tập tác phẩm Borix Godunov. Tác giả đi vào giới thiệu vở kịch Borix Godunov, một
trong những kiệt tác của đại thi hào A.Puskin và tóm lược một phần nội dung của tác
phẩm cùng với những nhận định về hoàn cảnh mà tác phẩm phải đối diện với sự kiểm
duyệt gắt gao của cơ quan chính phủ. Ông cho rằng “Puskin viết vở kịch Borix
Godunov từ tháng 12 năm 1824 đến tháng 11 năm 1825 nhưng vở kịch không được
phép diễn. Chỉ có một số công chúng nhỏ ở Matxcơva và Pêtécbua mấy lần được tác
giả đọc cho nghe. Phải chờ mãi đến năm 1876 nghĩa là 39 năm sau khi Puskin mất,
nghĩa là tác giả phải sống thêm một cuộc đời nữa, thì tác phẩm mới được ra mắt lần
đầu tiên trên sân khấu Pêtécbua, mà cũng chỉ được trình diễn với sự cắt xén của cơ
quan kiểm duyệt của nhà nước chuyên chế. Nếu đây chỉ là một vở kịch lịch sử “thuần
túy” thì có lẽ đã “được phép” ra mắt khán giả sớm hơn nhưng Borix Godunov lại là
kịch lịch sử có tính thời đại sâu sắc, những vấn đề đang được những người quý tộc
tiến bộ lúc bấy giờ đặc biệt quan tâm. Vấn đề chế độ nông nô, vấn đề Nga hoàng với
nhân dân, vấn đề vị trí của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh giải phóng ở
nước Nga là những vấn đề cấp thiết của đời sống hiện đại” [2; tr.110]. Ở đây, Đỗ
Hồng Chung đi vào so sánh với quyển “Lịch sử quốc gia Nga” của Caramdin để thấy
được sự khác biệt giữa hai tác phẩm. Còn về vấn đề nghệ thuật thì tác giả vẫn chưa
bàn đến. Bên cạnh đó, Đỗ Hồng Chung dành khá nhiều bút mực của mình để nghiên
cứu về văn xuôi của A.Puskin. Tác giả nhận định nhà văn đã có mười năm để viết văn
xuôi (1827 – 1837 ), trong những sáng tác của mình A.Puskin đòi hỏi văn xuôi phải
“Chính xác và ngắn gọn, đó là những phẩm chất đầu tiên của văn xuôi. Văn xuôi đòi
hỏi tư tưởng, không có nó thì lối biểu hiện hào nhoáng chẳng có ích gì” [2; tr.133].
Tiếp theo sau đó, Đỗ Hồng Chung tiến hành tìm hiểu về một số tác phẩm văn
xuôi tiêu biểu của A.Puskin. “Người da đen của Piot đại đế”, là hình ảnh trung thực
6

và sinh động về xã hội quý tộc Pháp xa hoa phù phiếm và xã hội Nga thời Piot đại đế
với thành Petecbua như một công trình xây dựng. Hay truyện “Roxlavlep” được
A.Puskin thể hiện theo quan điểm lịch sử đúng đắn, thể hiện được tinh thần yêu nước
chống xâm lược của thời đại, khai thác và diễn tả sự sinh động những mâu thuẫn của
đời sống Nga trước sự thử thách, quyết định của lịch sử. Nhờ vào truyện ngắn “Phát
súng” người đọc có thể biết được những sinh hoạt thời bình của các sĩ quan trong quân
đội của Nga hoàng. “Puskin đã làm tròn nhiệm vụ khởi đầu của văn xuôi Nga. Công
việc của Puskin đã có những người kế tục xứng đáng” là nhận xét cuối cùng của Đỗ
Hồng Chung dành cho nhà văn A.Puskin.
Năm 2006, tiếp tục công trình nghiên cứu về tác phẩm Borix Goduov, Đỗ
Hồng Chung – Nguyễn Kim Đính – Nguyễn Hải Hà cho ra đời quyển “Lịch sử văn
học Nga”. Với công trình nghiên cứu này, Đỗ Hồng Chung tiến hành nghiên cứu về
tác phẩm Borix Godunov với nhiều đánh giá sâu sắc, rõ nét. Trong bài viết, tác giả đi
vào tìm hiểu về tác phẩm Borix Godunov chi tiết hơn cùng những nhận định về nội
dung và nghệ thuật của tác phẩm. Về nội dung, tác giả đưa ra nhiều nhận xét khi nhìn
thấy những vấn đề trọng tâm mà A.Puskin thể hiện trong vở kịch “Trong lịch sử nước
nhà, Puskin đặc biệt chú ý đến số phận thăng trầm của nhân dân trải qua bao triều đại
thịnh suy, bao lần phế lập, những cuộc ly loạn. Puskin suy nghĩ về tác động của những
biến cố lịch sử, nguyên nhân và kết quả của những thay đổi mà mỗi cuộc “bể dâu”
đều có vai trò nhất định của nhân dân. Trong vở kịch này, Puskin đã đề cập sâu sắc
vấn đề chế độ chuyên chế và chế độ nông nô ở nước Nga, hơn nữa Puskin còn đặt ra
lần đầu tiên vai trò quyết định của nhân dân trong tiến trình của lịch sử” [3; tr.70].
Bên cạnh đó tác giả còn đề cập đến cách nhìn nhận về hiện thực nước Nga của
A.Puskin trong tác phẩm Borix Godunov. Một cách nhìn nhận của con người từng trải,
hiểu người, hiểu đời “Thâm nhập vào quá khứ, Puskin biết nắm lấy “tinh thần thời
đại”, nắm lấy cái chủ yếu. Trong cuộc tranh chấp ngai vàng của cá nhân, trong cuộc
đấu tranh giành quyền vị của các phe phái, Puskin biết tìm ra bề sâu của sự việc, tìm
ra vai trò nhân dân, quyết định mọi thành bại, hưng vong và nhà soạn kịch biết cách
“soạn” cho vở kịch thể hiện được vai trò quan trọng ấy của nhân dân. Nhà soạn kịch
không bối rôi trước những tình huống phức tạp, không bị quyến rũ bởi những số liệu,

không buông thả theo những cuộc phiêu lưu nhiều tình tiết li kì. Những tội ác đẫm
máu, thủ đoạn khôn ngoai, mưu đồ đen tối, tình duyên lạ lùng…đều phải nói đến khi
7
cần thiết, nhưng Puskin biết nắm lấy sợi chỉ đỏ xuyên suốt vở kịch, đó là thái độ của
nhân dân, sự phán xử của nhân dân đối với mọi diễn biến lịch sử. Nhân dân là quan
tòa công minh. Tòa án nhân dân là tòa án lịch sử xét công, định tội mọi cá nhân.
Không một cá nhân nào, dù ai đi nữa, trốn tránh khỏi tòa án ấy” [3; tr.71]. Về nghệ
thuật, tác giả nhấn mạnh vào những cách tân nghệ thuật của A.Puskin trong tác phẩm,
đem lại cho văn học Nga những bước tiến mới “Muốn thể hiện được “tinh thần thời
đại” với “đại dương nhân dân nổi sóng” thì kích thước của kịch truyền thống không
đủ sức dung nạp, luật lệ cổ điển không còn thích hợp nữa. Nội dung mới đòi hỏi hình
thức mới. Puskin phải phá vở “những hình thức lỗi thời của sân khấu” để “cải tạo hệ
thống kịch”. Puskin phải đổi mới nghệ thuật, tạo điều kiện phát triển cho kịch…Puskin
mạnh bạo và khéo léo kết hợp đầy sáng tạo “bi” và “hài”, “thơ” và “văn xuôi” trong
một vở kịch, là những điều mà kịch truyền thống cấm kị” [3; tr.72].
Trong “Con người năm tháng và những hoài niệm”, Hồ Sĩ Vịnh đã từng nhận
định tác phẩm Borix Godunov trong mục “A.Puskin – Bậc thầy văn hóa” để chứng
minh cho “Những tư tưởng lớn, những vấn đề trung tâm của thời đại mình, Puskin đã
mạnh dạn đổi mới và sáng tạo một thứ ngôn ngữ phong phú nhất mà chúng ta chưa
thấy” [12; tr.82]
Đến với “Puskin trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI” (Trung tâm khoa học xã
hội và nhân văn quốc gia viện thông tin khoa học xã hội), công trình nghiên cứu có đi
vào tiếp cận tác phẩm Borix Godunov với vai trò là tác phẩm lịch sử của mọi thời đại
trong mục “Puskin và lịch sử”. A.Puskin khai thác lịch sử với ý thức độc lập rằng
““Borix Godunov” tuyệt nhiên không phải là sự minh họa bằng văn học cho lịch sử
mà là cách nhìn nhận lịch sử theo kiểu Shakes Peare thực thụ” [11; tr.133].
Năm 2003, Nhà xuất bản thế giới cho ra đời “Từ điển bộ mới” với nhiều nghiên
cứu về những tác phẩm nổi tiếng của Nga, trong đó có kiệt tác Borix Godunov. Với bài
nghiên cứu này chúng ta lại bắt gặp tác giả Đỗ Hồng Chung với cái nhìn khách quan,
nhiều chiều khi tiếp cận tác phẩm “Tên vở kịch là Borix Godunov nhưng nội dung

không hạn chế ở năm phần Borix Godunov hoặc ở việc tranh giành ngai vàng của cá
nhân. Đằng sau bộ ba đó là các phe phái đối lập, là bọn phong kiến trong và ngoài
nước và sau hết là nhân dân, động lực chủ yếu làm quay bánh xe lịch sử và thúc đẩy
sự phát triển của vở kịch. Đây là vở kịch về một thời đại lịch sử một đất nước đang
biến động với đầy đủ mọi tầng lớp từ vua quan đến dân thường. Nội dung vở kịch theo
8
Puskin là “con người và nhân dân”, “số phận con người và số phận nhân dân””
[tr.49]. Bên cạnh đó, tác giả còn làm sáng tỏ luận điểm quan trọng trong tác phẩm
Borix Godunov “nhân dân quyết định sự tiến hóa của lịch sử” [7; tr.49], là nhân tố
quyết định thành bại, hưng vong cho triều đại, cho đất nước.
Nhìn chung sự nghiên cứu, tìm hiểu về tác phẩm Borix Godunov đã được nhiều
nhà nghiên cứu đề cập, tiếp cận ở góc độ khái quát, có chăng chỉ là sự thoáng qua
trong lĩnh vực nghiên cứu về thể loại văn xuôi. Năm 1998, nhà xuất bản đại học quốc
gia Hà Nội đã cho ra đời quyển “Lịch sử văn học Nga thế kỷ XIX” với nhiều phát hiện
và khám phá về một số kiệt tác văn xuôi của A.Puskin, những đứa con tuyệt vời về cả
nội dung lẫn nghệ thuật, đạt đến đỉnh cao rực rỡ về mảng văn học hiện thực Nga.
Trong đó, các tác giả cho rằng Borix Godunov cùng với Epghenhi Onheghin là những
tác phẩm đầu tiên đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực, là những tác phẩm xuất
hiện sớm, đi trước một bước trên con đường phát triển tác phẩm hiện thực của thế giới.
Tác phẩm Borix Godunov đã được một số nhà nghiên cứu, phê bình giới thiệu
tóm tắt tác phẩm và nêu lên một số nhận định khái quát về nội dung và nghệ thuật của
tác phẩm. Đó cũng chính là những cơ sở để chúng tôi kế thừa khi triển khai đề tài
“Đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Borix Godunov của A.Puskin”.
Thông qua kết quả nghiên cứu chúng tôi muốn hiểu biết rõ hơn về tác phẩm cũng như
đóng góp một phần nhỏ của mình vào quá trình nghiên cứu văn học Nga tại Việt Nam.
3. Mục đích, yêu cầu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi tiến hành tiếp cận phương diện nội dung về
bức tranh tầng lớp quý tộc Nga thế kỷ XVII, tìm hiểu về số phận và vai trò của nhân
dân, những con người nhỏ bé mà nhà văn tập trung xoáy sâu, miêu tả. Bên cạnh đó,
chúng tôi cũng nghiên cứu về những nét nghệ thuật đặc sắc mà nhà văn dày công tìm

tòi, xây dựng. Mục đích cuối cùng của việc tiếp cận đó là nhằm khẳng định giá trị nội
dung và nghệ thuật của tác phẩm Borix Godunov, từ đó khẳng định vị trí của tác phẩm
trong sự nghiệp sáng tác của A. Puskin. Hơn nữa, qua đó chúng tôi còn nhận biết được
vị trí, sự nghiệp to lớn của đại thi hào và những đóng góp ý nghĩa của A.Puskin đối với
văn học nhân loại. Việc nghiên cứu về tác phẩm Borix Godunov là vấn đề không đơn
giản, để có thể thấu hiểu một cách toàn diện, bao quát về cả nội dung và nghệ thuật
của tác phẩm là điều rất khó tuy nhiên chúng tôi sẽ cố gắng hết sức trong phạm vi và
giới hạn có thể.
9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi tiến hành tiếp cận phương diện nội dung về
bức tranh tầng lớp quý tộc Nga thế kỷ XVII, tìm hiểu về số phận và vai trò của nhân
dân, những con người nhỏ bé mà nhà văn tập trung xoáy sâu, miêu tả. Bên cạnh đó,
chúng tôi cũng nghiên cứu về những nét nghệ thuật đặc sắc mà nhà văn dày công tìm
tòi, xây dựng. Mục đích cuối cùng của việc tiếp cận đó là nhằm khẳng định giá trị nội
dung và nghệ thuật của tác phẩm Borix Godunov, từ đó khẳng định vị trí của tác phẩm
trong sự nghiệp sáng tác của A. Puskin. Hơn nữa, qua đó chúng tôi còn nhận biết được
vị trí, sự nghiệp to lớn của đại thi hào và những đóng góp ý nghĩa của A.Puskin đối với
văn học nhân loại. Việc nghiên cứu về tác phẩm Borix Godunov là vấn đề không đơn
giản, để có thể thấu hiểu một cách toàn diện, bao quát về cả nội dung và nghệ thuật
của tác phẩm là điều rất khó tuy nhiên chúng tôi sẽ cố gắng hết sức trong phạm vi và
giới hạn có thể.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài “Đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Borix
Godunov” chúng tôi vận dụng một số phương pháp sau đây. Đầu tiên là phương pháp
lịch sử xã hội. Với phương pháp này chúng tôi quyết định đặt tác phẩm vào hệ thống
kịch nước Nga khi tiếp cận, nhìn nhận và đánh giá về phương diện nội dung. Về
phương diện nghệ thuật, chúng tôi dựa vào hệ thống những phương pháp, hình thức
sáng tác kịch cổ điển để tìm ra sự mới lạ, hấp dẫn trong phong cách sáng tác của
A.Puskin. Bên cạnh đó việc áp dụng phương pháp phân tích là điều cần thiết. Với

phương pháp phân tích, chúng tôi dựa vào những lí lẽ và dẫn chứng để tiến hành phân
tích từng kía cạnh nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Borix Godunov để tìm ra
những tầng ý nghĩa, tư tưởng tồn tại trong tác phẩm. Ngoài ra trong bài nghiên cứu
chúng tôi còn sử dụng một số thao tác như : chứng minh, so sánh,…để dễ dàng trong
quá trình nghiên cứu.
10
B. PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1. TỔNG QUAN VỂ THỜI ĐẠI TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
1.1. Vài nét về xã hội Nga thế kỷ XVII, thế kỷ XIX
1.1.1. Vài nét về lịch sử Nga những năm đầu thế kỉ XVII
Vào thế kỷ XVII trên khắp nước Nga diễn ra làn sống đấu tranh chống phong
kiến của nông dân và tầng lớp hạ lưu ở thành phố. Các quốc gia láng giềng lợi dụng sự
suy yếu của nước Nga, đã toan xâm chiếm một phần lãnh thổ của nước Nga, song nhân
dân Nga đã đứng lên bảo vệ Tổ Quốc và nền độc lập của mình.
Sức khỏe của Sa hoàng Ivan bị hủy hoại nghiêm trọng do cuộc chiến tranh dai
dẳng với thù trong giặc ngoài cũng như do các cuộc sinh hoạt chè chén linh đình. Đến
tuổi 50 sa hoàng là một ông già ốm yếu, tay run, nước mắt chảy ra khi quá xúc động.
Những cơn giận dữ điên cuồng ngày càng xảy ra nhiều hơn, năm 1582, Ivan IV đã làm
hoàng tử Ivan bị thương đến chết bằng cây trượng sắt. Cái chết của người con trai yêu
quý, người thừa kế ngai vàng đã làm cho sa hoàng bị choáng váng suy sụp tinh
thần….Năm 1584, sa hoàng Ivan Groznui đột ngột băng hà khi đang chờ thời cơ,
hưởng thọ 53 tuổi. Sa hoàng mất đi để lại hai người con trai: người anh là Phedor 28
tuổi, con Anastasia, người vợ đầu tiên và người em Đimitri mới sáu tháng tuổi con
Maria, người vợ thứ tám của sa hoàng. Phedor được lên ngôi vua, ông là một người
ốm yếu và đần độn, không thể đảm đương nhiệm vụ của quốc gia.
Anh trai vợ Phedor là lãnh chúa Borix Godunov bắt đầu điều hành đất nước. Theo
lệnh của Godunov, hoàng tử nhỏ tuổi Đimitri cùng mẹ và những người em họ, các lãnh
chúa dòng họ Nagi phải về sống ở Uglitch. Hoàng tử đột ngột chết khi mới 8 tuổi.
Trưa ngày 15-5-1591, mẹ hoàng tử thấy con mình bị chết nằm trên mặt đất gần nhà, cổ

họng bị cắt. Một ban điều tra do Vasil Ivanovitch Suiski dẫn đầu đến thành phố
Uglitch, đã kết luận rằng hoàng tử Đimitri bị đâm vào dao khi lên cơn động kinh.
Nhưng dân chúng tin chắc rằng hoàng tử nhỏ bị giết theo lệnh của Boris Godunov.
Tháng 1 năm 1598, sa hoàng Phedor qua đời. Ông không có con, triều đại nhà
Ivan Kalita kết thúc ở đây. Hội đồng tự quản địa phương tôn Boris Godunov lên làm
sa hoàng. Godunov là một vị hoàng đế thông minh, sáng suốt, biết nhìn xa trông rộng,
ông quan tâm đến việc khôi phục kinh tế và củng cố khả năng quốc phòng của đất
11
nước. Dưới thời trị vì của sa hoàng Godunov đã hình thành sự cai trị của Đại giáo chủ.
Nhà thờ nước Nga tách khỏi sư cai quản của Đại giáo chủ thành Constantinople.
Godunov trị vì đất nước dựa vào tầng lớp quý tộc khiến các lãnh chúa không hài lòng.
Họ cho rằng Godunov chỉ là một kẻ chơi trội, một sa hoàng trái pháp luật và họ toan
lật đổ ông ta.
Nước Nga bị mất mùa trong 3 năm đầu tiên của thế kỷ XVII, nạn đói khủng
khiếp hoành hành khắp nước. Người dân Nga phải ăn rơm, ăn cỏ. Các lãnh chúa và địa
chủ không nuôi kẻ hầu người hạ nữa, chỉ riêng trong các nghĩa trang ở Moxcva đã
chôn 127.000 người bị chết đói, ở khắp nơi diễn ra các cuộc khởi nghĩa của nông dân
cùng những người hầu và các thị dân bị đói. Năm 1603, trong thái ấp của công hầu Ba
Lan Adam Visnheveski xuất hiện một thanh niên tự gọi mình là Hoàng tử Đimitri.
Ông ta cho biết, ông đã thoát chết khỏi âm mưu ám sát Borix Godunov đặt ra. Thực ra
đó là một tu sĩ nghèo trong tu viện Trudov tên là Grigori Atrepev. Công hầu Adam
Visnheveski quyết định lợi dụng người thanh niên mạo hiểm đầy dũng cảm này, ông ta
đã giới thiệu Grigori Atrepev với chỉ huy quân đội Iuri Mnhisek ở Sandomir và đại
diện các tầng lớp nhân dân Ba Lan. Tháng 3 năm 1604 kẻ mạo danh được quốc vương
Balan, ngày Sigizmund III đón tiếp. Quốc vương đồng ý ủng hộ hoàng tử Đimitri giả
và cho phép Đimitri tuyển chọn lính đánh thuê để tấn công Moxcva. Kẻ mạo danh đã
hứa với Quốc vương Ba Lan sẽ cho ông ta thành phố Smolenk, vùng đất phía bắc
Novgorod và sẽ kí một hiệp ước liên minh bền vững với Ba Lan, cho phép truyền bá
rộng rãi đạo thiên chúa trên lãnh thổ nước Nga. Kẻ mạo danh bí mật theo đạo thiên
chúa và kí một hiệp ước với các tu sĩ dòng Tên. Trong bức thư gửi Đimitri, giáo hoàng

Kliment VIII đã gọi Đimitri là con trai yêu quý và ngài quý tộc.
Tháng 10 năm 1604, kẻ mạo danh Đimitri cùng một đoàn kỵ binh Ba Lan dưới
sự chỉ huy của tướng Mnhisek đã vượt sông Bniep, bắt đầu tấn công Moxcva. Những
người nông dân, những người Kozak và thị dân thành phố ủng hộ ông ta chống lại các
lãnh chúa và địa chủ. Một số tướng lĩnh bất mãn với Sa Hoàng Godunov đã liên minh
với Đimitri. Tháng 4 năm 1605, Borix Godunov đột ngột qua đời, con trai ông là
Phedor mới 16 tuổi lên nối ngôi sa hoàng. Kẻ mạo danh Đimitri cùng quân đội đã tiến
gần đến Moxcva, tháng 6 năm 1605 Đimitri gửi sứ giả Moxcva. Nhân dân thành
Moxcva tập trung ở quảng trường Đỏ đọc lời kêu gọi của kẻ mạo danh. Vasili Suixki
phát biểu ở đó vì ông ta điều tra về cái chết của hoàng tử Đimitri nên ông đã biết tình
12
hình ở đó rõ hơn người khác, bởi vậy khi Suixki tuyên bố rằng những kẻ mưu sát
Borix Godunov cử đến Uglitch đã không giết chết hoàng tử mà giết chết con một linh
mục. Nhân dân đã tin tưởng ông ta, đám đông điên cuồng kéo vào cung điện Kremlin.
Dòng họ Godunov bị đuổi ra khỏi cung điện và chuyển sang một ngôi nhà khác để
sống. Người của Đimitri mạo danh đã lẻn vào ngôi nhà này giết chết Phedor Godunov
và mẹ ông ta. Nhân dân được tin tưởng rằng dòng họ Godunov đã uống thuốc độc tự
vẫn. Ngày 20-6-1605, kẻ mạo danh Đimitri đã long trọng tiến vào cung điện Moxcva
trong tiếng chuông ngân vang, sa hoàng Đimitri tập trung quanh mình là những đại
thần Ba Lan, phân phát nhiều tiền cho những người phục vụ trong cung, những quý tộc
Nga phục vụ ông ta và lính đánh thuê Ba Lan đến mức làm trống rỗng ngân sách quốc
gia và phải chi lạm vào lợi tức của các tu viện
Đimitri quyết định lấy Marina Mnhisek làm vợ, nên ông ta gửi thư cho bố vợ
một khoảng tiền lớn. Quân lính đánh thuê của Đimitri mạo danh đã xử sự như những
tên giặc chiếm Moxcva, chúng không trả tiền cho các loại hàng hóa mà chúng lấy,
chúng cư xử với phụ nữ rất thô lỗ và coi thường dân chúng. Kẻ mạo danh Đimitri đã
cưỡng ép con gái Borix Godunov làm tình nhân của ông ta, dân chúng không hài lòng
với vị vua mới. Các lãnh chúa dưới sự lãnh đạo của Vasili Suiski bắt đầu chuẩn bị lật
đổ vị sa hoàng mới này. Tháng 5-1606, Marina Mnhisek cùng 2000 quý tộc Ba Lan
đến Moxcva, sau đám cưới long trọng là yến tiệc linh đình liên miên. Quân xâm lược

uống rượu say và càn quấy trong thành Moxcva, sáng 17-5-1606 vang lên những hồi
chuông dóng dả, dân Moxcva xông vào nhà quân Ba Lan ở, họ đánh đập những vị
khách không mời mà đến. Gần 200 người do lãnh chúa Vasili Suiski dẫn đầu đã tiến
vào cung điện Kremlin. Đimitri mạo danh cố chạy thoát, nhảy qua cửa sổ và bị gãy
chân, đám đông rượt đuổi theo bắt được và giết chết kẻ mạo danh. Xác của ông ta
được đưa ra quãng trưởng Đỏ và bị thiêu ở đó. Vasili Ivanovich Suixki, người chủ
mưu của tầng lớp lãnh chúa được đưa lên ngai vàng.
1.1.2. Vài nét về xã hội Nga thế kỷ XIX
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX ở châu Âu là thời kỳ chế độ phong kiến tan
rã trước sức tấn công của cách mạng tư sản. Nhưng lúc này nước Nga vẫn còn là một
nước nông nghiệp lạc hậu, chủ nghĩa tư bản chỉ mới bắt đầu phát triển. Năm 1810 mới
có khoảng 6,5 phần trăm dân số sống ở thành thị và 2500 xí nghiệp. Đến năm 1825 số
xí nghiệp tăng lên 5261.
13
A lếch xan I (làm vua từ 1800 đến 1825) run sợ trước ảnh hưởng của cách mạng
Pháp nên phải đeo chiếc mặt nạ tự do chủ nghĩa. Y ban bố một số đạo dụ nói về việc
cấm bán người không kèm theo ruộng đất, về “những nông dân tự do”…Nhưng trên
thực tế cả hai đạo dụ này đều không được thực hiện. Nhà vua cùng với M.Xpê-ran-xki,
một người trí thức có tài, vào triều thảo dự luật chung về quản lí quốc gia. A-lếch-xan
còn tiến hành một số cải cách khác nữa về giáo dục, văn hóa…Nhưng tất cả những cải
cách này đều không động chạm gì đến cơ sở của chế độ nông nô chuyên chế.
Cuộc chiến tranh ái quốc năm 1812 đã thức tỉnh ý thức dân tộc và tinh thần cách
mạng trong nhân dân Nga. Chính những người dân Nga đã đánh tan hơn 60 vạn quân
xâm lược của Na-pô-lê-ông, giải phóng đất nước và góp phần giải phóng châu Âu, rút
cuộc vẫn còn nằm trong cảnh nô lệ. Bất bình trước cảnh nô lệ đó, làn song đấu tranh
của nông nô dân cao, riêng trong phần tư đầu thế kỷ đã có tới 280 vụ biến động.
A-lếch-xan sợ hãi vội vứt bỏ chiếc mặt nạ tự do chủ nghĩa, hiện nguyên hình là
một tên chuyên chế. Y cấu kết với Áo và Phổ lập ra “liên minh thần thánh” để chống
lại cách mạng tư sản Pháp. Y gạt bỏ Xpê-ran-xki và dùng kẻ bảo thủ như Si-scốp làm
quốc vụ khanh, kẻ tàn bạo như A-rắc-sê-ép làm thượng thư bộ chiến tranh.

Cao trào yêu nước năm 1812 và tinh thần đấu tranh của quần chúng đã ảnh
hưởng mạnh mẽ đến một số người quý tộc tiến bộ. Các tổ chức cách mạng bí mật ra
đời. Đáng chú ý nhất là “Nam xã” (1812) do Pê-xten đứng đầu và “Bắc xã” (1812) do
Mu-ra-vi-ốp và nhà thơ Rư-lê-ép đứng đầu. Những nhà cách mạng này, theo Lênin là
“những người ưu tú trong giới quý tộc”. Thừa dịp ngày lễ đăng quang của Ni-cô-lai I
lên ngôi thay A-lếch-xan vừa chết, họ đã dựa vào lực lượng của một số đơn vị bộ đội
tiến hành cuộc khởi nghĩa ngày 14 tháng Chạp năm 1825 ở Pê-téc-bua nhằm lật đổ chế
độ nông nô chuyên chế. Khởi nghĩa bị thất bại vì thiếu sự ủng hộ của nhân dân, vì
những nhà tháng Chạp “xa rời nhân dân qua đỗi”.
Cuộc khởi nghĩa tháng Chạp có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với lịch sử xã
hội Nga và sự phát triển văn học Nga. Ni - cô - lai I mở đầu triều đại của mình bằng
hành động khủng bố tàn nhẫn những người tham gia cuộc khởi nghĩa tháng Chạp.
A.Puskin đã gọi đúng tên của thời kỳ thống trị tàn bạo của Ni - cô - lai I là “thế kỷ tàn
bạo”. Đây là một trong những thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử nước Nga.
Ni - cô - lai I là kẻ chuộng bạo lực, y ra sức củng cố nhà nước chuyên chế. Y
thẳng tay đàn áp các vụ biến động của nông dân (riêng từ 1825 đến 1839 đã có 145
14
vụ), dập tắc cuộc khởi nghĩa của nhân dân Vác-xô-vi (1830-1831). Năm 1842 y tuyên
bố ruộng đất là thuộc quyền sở hữu vĩnh viễn không thể xâm phạm của địa chủ. Y lập
phòng III tức cơ quan mật thám do tên tay sai Ben-ken-đóoc đứng đầu, thiết lập một
chế độ cảnh sát hà khắc, bóp nghẹt tự do ngôn luận, theo dõi nghiêm ngặt hệ thống
giáo dục.
Run sợ trước cách mạng Pháp 1830, Ni - cô - lai I càng xiết chặt ách áp bức hơn
nữa vì y lo rằng Pa-ri “Cái ổ hoạt động xâu xa sẽ gieo rắc chất độc ra khắp châu Âu”
[3]. Để chống lại ách áp bức của Ni - cô - lai I, làn sóng đấu tranh của quần chúng
nông nô ngày càng dâng cao. Nếu như từ 1826 đến 1839 chỉ có 145 vụ biến động thì
từ năm 1845 đến năm 1854 đã có tới 348 vụ. Những cuộc nổi loạn “khoai tây” lan hầu
khắp nước Nga trong những năm 40. Mức độ và ý nghĩa của phong trào đấu tranh của
nhân dân lớn đến mức tên trùm mật thám Ben-ken-đóoc phải báo cáo với Nga hoàng
toàn bộ tinh thần nhân dân nước Nga chỗ nào cũng có bọn vô công rồi nghề đi nhen

nhóm những tư tưởng ấy lên…
Nói chung, tình trạng của nông nô là hầm thuốc nổ đặt dưới nhà nước và nguy
hiểm hơn nữa là quân đội lại bao gồm những nông nô đó. Đối ngoại, Ni –cô-lai I đã trở
thành tên sen đầm quốc tế. Y giúp Pháp đàn áp cách mạng ở Pa-ri, trực tiếp đem
14000 quân sang dập tắt cách mạng 1848 ở Hung-ga-ri. Mặt khác, y gây chiến tranh ở
miền Nam để mở rộng lãnh thổ. Cuộc chiến tranh Cơ-ri-mê giữa Nga và Thổ liên minh
với Anh, Pháp kéo dài trong gần một năm (1855-1856). Đó là cuộc chiến tranh phi
nghĩa về cả hai phía. Mặc dầu binh lính Nga chiến đấu rất anh dũng, cuối cùng nước
Nga vẫn bị thất bại. Cùng với cái chết của Ni-cô-lai I vào năm 1855, chiến tranh Cơ-ri-
mê đã chấm dứt một giai đoạn đen tối trong lịch sử nước Nga. Lê nin viết “Cuộc chiến
tranh Cơ-ri-mê đã chứng tỏ cảnh thối nát và bất lực của nước Nga phong kiến” [13].
1.2. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Alechxandr Xecgheevich Puskin
Alechxandr Xecgheevich Puskin sinh ngày 6-6-1799 tại Matxcova. Gia đình
thuộc dòng dõi quý tộc đã sa sút. Cha thi sĩ là một người rất ham mê văn học, thích sân
khấu, ông đã từng làm thơ bằng tiếng Pháp. Chính vì thế thi sĩ đã sớm được tiếp xúc
không khí văn học.
Năm 1811, A.Puskin vào học tại trường Li xê. Ở đây thi sĩ được tiếp xúc với
những thầy giáo, bạn bè có tư tưởng tự do. Do đó tư tưởng tự do đã bắt rễ ngay vào
tâm hồn nhạy cảm của A.Puskin. Thời gian này nhà văn bắt đầu sáng tác liên tục “Gửi
15
Na ta sa” (1813), “Gừi bạn thơ” (1814) “Hồi ức ở Hoàng thôn” (1814) “Gửi Li xi
nhi” (1815). “Tu sĩ” (1813), “Bô va”(1814), kịch “Bước vào xã hội thượng lưu như
thế”, “Nhà hiền triết”….
Nhìn chung nội dung sáng tác của A.Puskin thời kì học ở Li xê tương đối phong
phú. Về mặt nghệ thuật thì trình độ còn non, chịu ảnh hưởng của các nhà thơ lớn đàn
anh. Tuy nhiên, có nhiều dấu hiệu chứng tỏ rằng A.Puskin sẽ vươn cao hơn, đi xa hơn
các bậc nghệ sĩ tiền bối của mình.
Năm 1817 A.Puskin tốt nghiệp trường Li xê. Sau đó thi sĩ được bổ nhiệm vào
cơ quan ngoại giao. Do liên hệ với các nhà hoạt động cách mạng, làm bạn với những
thanh niên có tư tưởng tự do, lập trường chính trị và văn học của A.Puskin được xác

định. Đó là lập trường của những người chiến sĩ đấu tranh cho một nền văn học nghệ
thuật Nga tiến bộ chống lại các nhà văn phản động, bảo thủ.
Giờ đây sáng tác của A.Puskin đã đề cập đến những vấn đề xã hội lớn lao. Thi sĩ
viết hàng loạt các bài thơ nói lên tư tưởng, tình cảm của tầng lớp tiến bộ nhất của nước
Nga bấy giờ như “Tự do” (1817), “Nô en” (1818), “Làng quê” (1819 đặc biệt là bản
trường ca “Ru xlan và Li út mi la” (1820).
Năm 1820, A.Puskin bị đày xuống phương Nam vì những bài thơ nói lên tinh
thần tự do và chống đối chế độ nông nô. Tinh thần yêu nước, yêu tự do vốn có của thi
sĩ lại được thể hiện trong hàng loạt các bài thơ trữ tình “Gửi O vít” (1821), “Người tù”
(1821), “Con chim nhỏ” (1818), “Cô nàng Hy lạp thủy chung” (1821), “Chiến tranh”
(1821), “Chiếc dao găm” (1821).
Song song với thơ trữ tình, từ năm 1820 trở đi A.Puskin viết hàng loạt trường ca
“Người tù Cáp ca”(1820-1821), “Đài phun nước Bác khơ si xa rai”(1820-1821),
“anh em kẻ cướp” (1821-1822). Một trào lưu mới đã được hình thành trong văn học
Nga. Nhờ thế, tính nhân dân, tính lịch sử trong sáng của A.Puskin dần dần tiến đến chủ
nghĩa hiện thực. Đại thi hào viết hàng loạt những bài thơ “Người gieo tự do”, “Qủy
sứ”(“1823), “Câu chuyện của người bán sách với thi nhân”, trường ca “Những người
Xư gan”. Mặt khác, A.Puskin cũng thể hiện thực tế bằng phương pháp mới hơn,
phương pháp hiện thực qua tiểu thuyết bằng thơ, trung tâm sáng tác của A.Puskin là
“Epghenhi Onheghin” (1823).
Tháng 8-1824 A.Puskin bị đày lên phía Bắc ở xã Mi-khai-lôp-xcôi- ê thuộc trại
ấp của cha mình. Trong năm 1825, trong sáng tác của nhà văn có một bước ngoặt quan
16
trọng. Tác giả đã từ bỏ chủ nghĩa lãng mạn chuyển sang phương pháp hiện thức. Thơ
ca của ông trở thành phương tiện nhận thức thực tế: “19-10”, “Bức thư bị đốt”, “Gửi
Kéc”(1825), những bài thơ viết về đề tài chính trị : “An đơ rê Sê nhi ê”…và các
chương 3, 4 của tiểu thuyết thơ “Epghenhi Onheghin”
Tiếp theo sau đó hàng loạt bài thơ của A.Puskin thể hiện sự đấu tranh giữa nỗi
buồn đau và lòng tin vào cuộc sống. Tuy nhiên, lòng tin vào cuộc sống, vào lí tưởng
cuối cùng cũng đã chiến thắng : “A ri ôn”, “Gửi đi xi bia” (1827), “Cây thuốc độc”

(1828), “Pôu ta va” (1828).
Nửa sau những năm 20 cũng là giai đoạn A.Puskin viết những chương chính
của tiểu thuyết “Epghenhi Onheghin” (5,6,7,8) và bắt đầu chú ý đến văn xuôi, truyện
ngắn “Người da đen của Piôt đại đế” (1827)
Giai đoạn cuối cùng trên bước đường sáng tác của A.Puskin có thể kể từ 1830
trở đi. Tháng 2-1831 nhà văn lập gia đình. So với thời kỳ trước thì giai đoạn này
A.Puskin sáng tác ít hơn: “Tôi trở lại thăm” (1835), “Đài kỷ niệm” (1836), “Người kỵ
sĩ đồng” (1833). Năm 1831, A.Puskin kết thúc tiểu thuyết “Epghenhi Onheghin”.
Trong giai đoạn sáng tác cuối cùng này, thiên tài chú ý nhiều đến kịch (4 bi
kịch ngắn (1830), “Rút xan ca” (1833), “Những màn từ thời hiệp sĩ” (1835), và đặc
biệt là văn xuôi. Trong văn xuôi, A.Puskin đề cập đến các tầng lớp nhân dân “Lịch sử
làng Gô ri u khi nô” (1830) đến cuộc đấu tranh của nông dân chống địa chủ “Đu bơ
rốp xki” (1833). Xuất sắc nhất là quyển “Người con gái viên đại úy” (1836) mô tả
cuộc khởi nghĩa nông dân thật sự.
Để bảo vệ danh dự gia đình trước dư luận xã hội, A.Puskin buộc phải quyết đấu
với tên Đăng tét. Cuộc quyết đấu xảy ra buổi chiều ngày 8-2-1837. Thế là “Mặt trời
thi ca Nga đã lặn”.
1.3. Vài nét về tác phẩm Borix Godunov
1.3.1. Tóm tắt tác phẩm
Vở kịch Borix Godunov kể về nhân vật lịch sử có thật, tên là Borix Godunov. Mở
đầu vở kịch là cảnh ở cung điện Cremli, khi hoàng đế băng hà, không có người kế vị,
vì em trai nhà vua là Đimitri đã bị sát hại khi mới bảy tuổi. Bấy giờ các triều thần, các
cha cố và dân chúng phải tìm người trao vương miệng, lãnh đạo đất nước. Đại thần
Borix Godunov là anh vợ của nhà vua, cũng là người bấy lâu nay vẫn phò vua trị nước
được tôn lên làm vua nước Nga. Một triều đại mới bắt đầu. Năm năm sau, vào một
17
đêm trăng, dưới ánh đèn le lói trong một căn phòng tu sĩ, đức cha Pimen, người là tác
giả cuốn sử biên niên đã kể lại cho Grigori, một học trò tu sĩ nghe câu chuyện về cái
chết của hoàng tử Đimitri cùng tội ác của nhà vua sát nhân Borix Godunov cách đây
mười hai năm. Grgori đã chạy trốn khỏi tu viện, vượt qua biên giới Litva và trở thành

Đimitri giả mạo khi hắn biết mình và hoàng thái tử đồng lứa tuổi. Grogori đã trở thành
một kẻ mạo danh, hắn được sự ủng hộ của bọn phong kiến Ba Lan và sức mạnh của
giới quý tộc kéo quân tiến đánh Borix Godunov với lí do rất chính đáng là giành lại
ngôi báo của tổ tiên mình. Trong khi đó, Borix Godunov luôn ra sức củng cố vương
quyền, tìm cách lấy lòng bàn dân thiên hạ trong những năm mình cai trị nhưng đều
thất bại. Dân chúng không ủng hộ nhà vua, còn quý tộc thì luôn ngấm ngầm chống đối
chờ đợi thời cơ phản động trong khi đó bọn phong kiến láng giềng luôn dòm ngó với
mưu đồ xâm lấn. Borix Godunov đã thi hành nhiều biện pháp quyết liệt nhưng tất cả
đều vô hiệu. Nhà vua càng lo lắng, lao đao hơn trước cái tên Đimitri giả mạo, rằng đó
sẽ là một cái cớ cho một cuộc chiến tranh giành quyền lực nổ ra. Giữa những ngày bão
tố chiến đấu quyết liệt Borix Godunov đã ra đi, khi hàng loạt toán quân đang kéo về
Matxcova, nào là quân của người mạo danh được dân chúng ủng hộ, nào là bọn quý
tộc làm nội ứng. Ngai vàng được Borix Godunov trao lại cho con trai là Phedor trẻ dại
dưới sự phò tá của tướng Baxmanov. Kết thúc vở kịch là cảnh tượng dân chúng ồ ạt
kéo vào lâu đài Cremli, người mạo danh chiếm được ngai vàng dưới sự đầu hàng của
tổng tư lệnh Baxmanop, còn mẹ con Phedor thì bị bọn quý tộc sát hại. Đáp lại lời kêu
gọi của Môxanxki “Hô to lên: Vạn tuế Sa hoàng Đimitri Ivanoich ” [8; tr.127] thì
“Dân chúng im lặng” [8; tr127]
1.3.2. Hoàn cảnh ra đời
Tháng 8-1824 A.Puskin bị đày lên phía Bắc ở xã Mi-khai-lop-xcoi-e thuộc trại
ấp của cha mình. Nhà văn bị quản chế khá chặt chẽ. Sống xa bạn bè, cô độc, A.Puskin
chỉ gần gũi với vú nuôi A-ri-na-ro-di-nop-na. Ông thường xuyên liên hệ với nhân dân,
những ngày phiên chợ, A.Puskin thường ăn mặc quần áo nông dân đi nhảy múa, ghi
chép các sáng tác dân gian.
Nhờ gần gũi với nhân dân, A.Puskin đã vượt qua được cơn khủng hoảng thế
giới trầm trọng của bản thân.Trong năm 1825, trong sáng tác của nhà văn có một bước
ngoặt quan trọng. A.Puskin đã từ bỏ chủ nghĩa lãng mạn chuyển sang phương pháp
hiện thực. Muốn hiểu biết thực tế đương thời một cách sâu sắc, A.Puskin nghiên cứu
18
quá khứ, tái hiện những giai đoạn quan trọng trong lịch sử đấu tranh của dân tộc. Tác

phẩm “Borix Godunov”, vở bi kịch hiện thực đầu tiên trong văn học Nga ra đời.
1.4. Một số vấn đề lí luận chung
1.4.1. Khái niệm về thể loại kịch
Kịch được hiểu theo hai cấp độ:
Ở cấp độ loại hình, “Kịch là một trong ba phương thức cơ bản của văn học (bên
cạnh tự sự và trữ tình). Kịch vừa thuộc về sân khấu, vừa thuộc về văn học. Kịch vừa để
diễn là chủ yếu vừa để đọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch. Song
nói đến kịch là phải nói đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn viên bằng hành
động, cử chỉ, điệu bộ và những lời nói” [5; tr.169], sân khấu là cơ sở đầu tiên của vở
diễn, vừa được cảm thụ bằng việc đọc.
Ở cấp độ thể loại, “Thuật ngữ kịch được dùng để chỉ những thể loại văn học –
sân khấu có vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch. Với ý nghĩa này kịch cũng còn
gọi là chính kịch. Cũng giống như hài kịch, kịch tái hiện cuộc sống riêng của con
người bình thường nhưng mục đích chính không phải là cười nhạo, chế giễu các thói
hư tật xấu mà là mô tả cá nhân trong các mối quan hệ chứa đựng kịch tính đối với xã
hội. Và giống với bi kịch, kịch chú trọng tái hiện những mâu thuẫn gay gắt song những
xung đột của nó không căng thẳng đến tột độ, không mang tính vĩnh hằng và về
nguyên tắc có thể giải quyết được ổn thỏa” [5; tr.169]
Kịch hình thành trên cơ sở sự tiến triển của các diễn xướng mang tính sân khấu,
việc đẩy lên tiền cảnh những diễn viên kết hợp trình diễn pantomin với trình diễn lời
đã dẫn tới sự xuất hiện của kịch. Cơ sở của kịch là những mâu thuẫn xã hội, lịch sử,
hoặc những xung đột muôn thuở của con người nói chung. Nét chủ đạo ở kịch là kịch
tính - một đặc tính tinh thần của con người do các tình huống gây nên, khi những điều
thiên liêng, cốt thiết không được thực hiện hoặc bị đe dọa.
Kịch thường được xây dựng trên những diễn biến của duy nhất một hành động
bên ngoài, gắn liền với sự đấu tranh của các nhân vật. Hành động kịch hoặc được theo
dõi từ thắt nút đến mở nút, bao quát một khoảng thời gian dài hoặc được nắm bắt chỉ ở
đỉnh điểm, gần tới cởi nút.
Cơ sở chung cho kết cấu của kịch là việc phân chia tác phẩm thành các hồi và
cảnh, bằng cách đó mỗi thời điểm (được miêu tả ở mỗi hồi) nối tiếp với các thời điểm

khác, thời gian được miêu tả (thời gian thực tại) ứng với thời gian cảm thụ (thời gian
19
nghệ thuật). Trong sáng tác kịch ở những thời đại khác nhau của những kịch tác gia
khác nhau có những xử lí khác nhau về kết cấu, về miêu tả thời gian…
1.4.2. Vài nét nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm kịch
Hành động và cốt truyện
“Phương tiện biểu đạt chủ yếu của kịch dựa trên cơ sở một chuỗi biến cố,
xung đột phát sinh và kết thúc theo quy luật nhân quả của các quan hệ xã hội tâm lí.
Hành động kịch gắn với các mâu thuẫn xã hội và tính cách, thể hiện thành các hành
động, biến cố của nhân vật tạo thành cơ sở của cốt truyện” [5; tr.140]. Kịch diễn trên
sân khấu là phải thông qua hành động, hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cử chỉ, thái độ,
quan hệ của diễn viên. Đó là vấn đề thuộc nghệ thuật biểu diễn dưới sự chỉ đạo của
đạo diễn, nhưng phải dựa trên cơ sở của kịch bản. Mỗi diễn viên trên sân khấu sẽ có
một hệ thống hành động chính gọi là hành động xuyên, nhằm thể hiện sứ mạng tư
tưởng của nhân vật mà mình sắm vai. Toàn bộ buổi biểu diễn sẽ có một hệ thống tập
hợp tất cả những hành động xuyên của nhân vật thành hành động quán xuyến thể hiện
tư tưởng chủ đề chung của toàn vở kịch. Từng hành động của diễn viên bắt nguồn ở
những chi tiết kịch bản, thì hành động quán xuyến chính là phải dựa vào cốt truyện của
kịch bản. Do thời gian và không gian sân khấu hạn chế quy mô và quá trình biểu diễn,
cũng do sự thưởng thức của một tập thể khán giả phức tạp, phải cùng liên tục theo dõi
buổi trình diễn, hành động quán xuyến của vở kịch phải thật thống nhất, không thể quá
phong phú, phức tạp. Trong một vở kịch mà hành động tản mạn, thiếu tập trung, thống
nhất thì kịch tính không cao, hiệu lực kịch của tác phẩm cũng bị giảm sút, khó gây
được xúc động mạnh đối với công chúng.
Chính vì thế mà cốt truyện của kịch bản cũng phải thật tập trung, đó cũng là ý
kiến thống nhất của các nhà lí luận và kịch tác gia xưa nay. Hiểu theo tinh thần truyền
thống thì “Cốt truyện là hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng
và nghệ thuật nhất định tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức
động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch” [5; tr.101], bên cạnh đó
chúng ta còn có thể hiểu cốt truyện theo hướng “Là toàn bộ các biến cố, sự kiện được

nhà văn kể ra, là cái mà người đọc có thể đem kể lại” [5; tr.101]. Cốt truyện phải thật
tập trung, không thừa không thiếu cho nên nhiều kịch tác gia có kinh nghiệm khi viết
kịch bản xong, phải tự mình rút gọn. Nếu tác giả không tự cắt thì buộc đạo diễn cũng
phải bỏ bớt. Cốt truyện và hành động kịch phải thống nhất tập trung, đòi hỏi chi tiết,
20
tình tiết, sự kiện không những phải cô đúc, gãy gọn mà còn phải liên đới nhau một
cách chặt chẽ, lôgích, tất yếu, tự nhiên. Mối liên hệ chặt chẽ ở đây theo đúng quy luật
nhân quả. Tất nhiên quy luật này cũng có hai hình thức trực tiếp và gián tiếp.Trong
hình thức nhân quả trực tiếp, bất kì một hành động chính nào cũng là nguyên nhân và
kết quả trực tiếp của cái liền trước và sau đó. Trong hình thức nhân quả gián tiếp, tác
động nhân quả không liền mạch kề nhau mà cách quãng.
Cốt truyện và hành động kịch phải tập trung, thống nhất nhưng không có nghĩa là
đơn nhất, đơn giãn. Cốt truyện là nhằm triển khai xung đột, những xung đột đòi hỏi
nghệ thuật phải góp phần giải quyết, có nghĩa là không dễ dàng giải quyết trong thực
tế.
Nhân vật kịch
Nhân vật kịch được chia thành nhiều loại có thể là nhân vật chính – phụ, nhân
vật phản diện – chính diện. Thông qua những lời thoại và hành động tính cách, xung
đột kịch thể hiện chủ đề của vở kịch.
Do hạn chế của thời gian và không gian sân khấu, cốt truyện nên trong kịch bản
văn học phải thật tập trung, điều đó tất yếu cũng sẽ kéo theo một hệ quả là số lượng
nhân vật không thể nào quá nhiều như trong tiểu thuyết được. Đặc biệt, kịch bản viết
ra là để diễn viên trình diễn trên sân khấu, cho nên không có nhân vật kể chuyện.
Cũng do những hạn chế như trên, nhân vật trong kịch không thể được khắc họa
với nhiều khía cạnh tỉ mỉ. Hơn nữa những tính cách quá phức tạp như trong tiểu thuyết
không thể nào thích hợp với việc thương thức liền mạch của một tập thể khán giả trong
cùng một thời gian ngắn ngủi. Người đọc tiểu thuyết có thể lật lại những đoạn đã đọc
để tìm ra những khúc mắc. Khán giả sân khấu không thể làm như thế, tính cách trong
kịch, do đó phải thật nổi bật. Đó cũng là điều được xác nhận xưa nay, nhưng tính cách
nổi bật, xác định không có nghĩa là đơn giản một chiều. Xoay quanh nết tính cách nổi

bật đó còn những nét tính cách khác vừa liên đới vừa biến thái làm cho gương mặt
nhân vật sinh động và đa dạng hơn. Một số tính cách của nhân vật kịch trong chủ
nghĩa cổ điển đơn nhất, độc diện như lão hà tiện, tên đạo đức giả…, nhưng đó là vấn
đề của phương pháp của sáng tác chứ không phải là do đặc trưng của thể loại.
Nhân vật trong kịch cũng thường chứa đựng những cuộc đấu tranh nội tâm. Dĩ
nhiên nhân vật trong các thể loại văn học khác cũng vậy, nhưng trong kịch phổ biến
hơn. Bởi vì đặc trưng của sự chiếm lĩnh nghệ thuật đối với hiện thực của kịch, như trên
21
đã nói, là hướng về những xung đột. Đứng trước những xung đột đó, những người dao
động, nghiêng ngả đấu tranh nội tâm đã đành, mà ngay cả những con người tốt cũng
không tránh khỏi cuộc đấu tranh có những hình thức, mức độ và tính chất nhất định.
Ngôn ngữ kịch
“ Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học vì vậy văn học được gọi
là loại hình nghệ thuật ngôn từ. Maxi Gorkij khẳng định ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất
của văn học” [5; tr.215]. Sự quan trọng của ngôn ngữ đối với tác phẩm văn học luôn
luôn là điều cần thiết và đối với tác phẩm kịch cũng thế “Ngôn ngữ trong tác phẩm
kịch là ngôn ngữ được các nhân vật cấu trúc qua hệ thống đối thoại và gẫn gũi với
tiếng nói thông thường của nhân dân, là ngôn ngữ đa dạng, ngôn ngữ của nhiều tính
cách” [5; tr.215]. Trong kịch không có nhân vật người kể chuyện, cho nên sẽ không có
ngôn ngữ của người kể chuyện. Tuy vậy vẫn có những lời chú thích trực tiếp của tác
giả, trước hết là nhằm nêu rõ thời gian, địa điểm, bối cảnh của câu chuyện, hoặc để
nói rõ những hành động không lời của nhân vật. Ngôn ngữ nhân vật có ba dạng: đối
thoại, độc thoại và bàng thoại.
Đối thoại là nói với nhau, nhưng không phải cứ nói với nhau là đối thoại trong
kịch. Mà đối thoại trong kịch phải mang nội dung tấn công - phản công, thăm dò - lãng
tránh, chất vấn - chối cãi, thuyết phục - phủ nhận, đe dọa -coi thường, cầu xin – từ
chối…
Độc thoại là nói với chính mình. Trong kịch biện pháp này dùng để bộc lộ nội
tâm của nhân vật, trong những trường hợp nội tâm phức tạp, dằn vặt thì độc thoại
chính là cuộc đối thoại giữa con tim và khối ốc của bản thân. Cần lưu ý rằng có lẽ độc

thoại là biện pháp quan trọng nhất, nhưng không phải là biện pháp duy nhất để miêu tả
nội tâm của nhân vật. Người ta còn dùng những phút im lặng, những lời ngâm, sự quan
sát của những nhân vật khác, thậm chí cả sự phục hiện hoặc tái hiện những tình huống
và tâm trạng trong quá khứ hoặc hiện tại của nhân vật bằng những lớp kịch xen kẽ.
Bàng thoại là lời nói riêng với khán giả. Có khi đang đối đáp với một nhân vật
khác, bỗng nhiên nhân vật tiến lên hướng về phía khán giả nói vài câu để giải thích
một cảnh ngộ, một tâm trạng, một điều bí mật. Loại này rất hiếm, chỉ thấy trong kịch
tự sự.
Ngôn ngữ trong kịch phải có tính hành động, tính khẩu ngữ, tính hàm súc, tính
tổng hợp và phải phù hợp với tính cách nhân vật. Diễn viên lên sân khấu không phải
22
chỉ đọc lại kịch bản mà là biểu diễn với nhiều loại hành động khác nhau: hành động
hình thể, hành động tâm lí và hành động ngôn ngữ. Chính vì thế “Trong tác phẩm,
ngôn ngữ văn học là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện ca tính sáng tạo,
phong cách tài năng của nhà văn. Mỗi nhà văn lớn bao giờ cũng là tấm gương về mặt
hiểu biết sâu sắc ngôn ngữ nhân dân, cần cù và lao động để trau dồi ngôn ngữ trong
quá trình sáng tác” [5; tr.215],
Xung đột, không gian, thời gian trong kịch
Xung đột là đặc điểm về đề tài và chủ đề của kịch bản văn học. Tác phẩm văn học
thông qua việc phản ánh hiện thực, nêu lên một vấn đề trước mắt công chúng, không
thể không trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến những mâu thuẫn trong cuộc sống.
Những mâu thuẫn này mặc dù có những trạng thái, mức độ và tính chất khác nhau
nhưng đều tồn tại trong hiện thực. Nhưng chỉ đến một giai đoạn phát triển nhất định
thì những mâu thuẫn mới trở thành những xung đột đối lập và bộc lộ rõ bản chất hiện
thực. Nhưng do không hạn chế về không gian và thời gian cho nên tiểu thuyết có thể
phản ánh cả những mâu thuẫn trong cuộc sống một cách tỉ mỉ, sâu rộng. Nó có thể đề
cập đến những mâu thuẫn trong trạng thái manh nha, âm ỷ cũng như ở những giai đoạn
đối lập, đấu tranh, xung đột. Nhưng kịch bản văn học chủ yếu là để diễn trên sân khấu,
xét hai mặt trình diễn cũng như thưởng thức, phải chịu nhiều hạn chế về không gian và
thời gian. Dĩ nhiên không thể đánh đồng một cách thô thiển không gian thời gian sân

khấu đích thực với không gian ước lệ trên sân khấu. Cần thiết và có thể phân biệt một
cách dễ dàng không gian, thời gian của câu chuyện ngoài được mô tả trong kịch bản
văn học với mấy chục mét vuông và ba, bốn tiếng đồng hồ của mỗi đêm trong rạp
kịch. Các kịch tác gia xưa nay với những thủ pháp ước lệ của nghệ thuật nói chung,
của kịch nói riêng, có thể phóng đại không gian, thời gian sân khấu kịch địch thực lên
gấp nhiều lần để phù hợp với không gian, thời gian của câu chuyện kịch. Mặc dầu vậy,
kịch bản không thể nào như tiểu thuyết muốn mở ra bao nhiêu cảnh trí, trường diện với
những thời gian và địa điểm khác nhau bao nhiêu cũng được. Nhưng là nghệ sĩ, là nhà
văn, kịch tác gia vẫn mong muốn và cần phải phản ánh cuộc sống bản chất đến mức
tối đa có thể được. Chính vì thế họ buộc phải chỉ hướng vào những mâu thuẫn, đòi hỏi
phải được giải quyết bằng cách này hay cách khác. Xung đột do đó là một đặc điểm cơ
bản của kịch.

23
Kết cấu
Kết cấu là một phương tiện cơ bản của sáng tác nghệ thuật. Trên một mức độ lớn, có thể
nói sáng tác tức là kết cấu. Nhiệm vụ của nhà văn là nhào nặn vốn sống để xây dựng thành
những sinh mệnh nghệ thuật, tái hiện những bức tranh đời sống giàu tính khái quát, nghĩa là
phải tổ chức lại chất liệu sống, bỏ đi những cái thừa, phát triển thêm cái chưa có, nối liền cái
xa nhau tạo thành một chỉnh thể mang giá trị nghệ thuật. Có thể nói kết cấu là toàn bộ tổ chức
tác phẩm phục tùng đặc trưng nghệ thuật và nhiệm vụ cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình.
Kết cấu tác phẩm không chỉ là liên kết các hiện tương, con người. Mối quan tâm hàng đầu của
nhà văn là làm sao sắp xếp tài liệu để cho cái chính yếu được nổi bật lên, cái quan trọng gây
được ấn tượng mạnh mẽ. Có hai loại kết cấu đó là kết cấu hình tượng và kết cấu văn bản nghệ
thuật.
24
Chương 2. ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA TÁC PHẨM
BORIX GODUNOV
2.1. Bức tranh u ám về tầng lớp quý tộc Nga thế kỷ XVII
2.1.1. Sự chống đối giữa tầng lớp quý tộc với Nga hoàng

Trong bất kì một đất nước, ngoài mặt thống nhất mang tính chất bắt buộc giữa
tầng lớp thống trị và tầng lớp bị trị thì luôn luôn tồn tại những mối mâu thuẫn, sự chống
đối ngấm ngầm giữa các thành viên. Trải dài từ đầu đến cuối vở kịch Borix Godunov,
A.Puskin cho chúng ta thấy sự “Chống đối giữa tầng lớp quý tộc với Nga hoàng” là
một trong những vấn đề trọng tâm mang đến cho nước Nga thế kỷ XVII nhiều u ám,
bóng tối bao trùm. Mối quan hệ giữa các nhân vật đều nảy sinh nhiều vấn đề trái chiều,
tạo nên những mâu thuẫn gay gắt.
Việc lên ngôi sa hoàng của nhân vật Borix Godunov đã tạo nên một làn sóng dư
luận, những sự chống đối, thái độ không thỏa hiệp của tầng lớp quý tộc. “Dân chúng sẽ
cầu khẩn, khóc mếu, Borix sẽ cau có thêm giống thằng nát rượu nhăn nhó trước cốc
rượu vang, nhưng cuối cùng mở lòng độ lượng dễ dãi thuận lòng nhận cây quyền
trượng còn sau đó ông ta lại sẽ trông coi bọn chúng ta như trước” [8; tr.9], những lời
nhận xét không mấy thiện chí của nhân vật Suixki dành cho vị sa hoàng sắp lên ngôi
kèm theo một thái độ dửng dưng, bất hợp tác. Suixki hay Vorotưnxki cho rằng xuất
thân của Borix vốn thuộc dòng dõi không lấy gì làm vinh quang và tự hào, ông ta chỉ
thích hợp với những con người bần tiện, sống cuộc đời nô lệ vì thế lẽ tất nhiên là không
xứng đáng với ngôi vị cao sang “Thật là vinh dự đối với chúng ta, với cả nước Nga!
Một tên vốn thân nô lệ, một gả Tartar rể của Maliuta tên đao phủ và chính bản thân
thực ra cũng là một tên đao phủ, ông ta rồi đây sẽ nhận vương miệng và áo bào
Monomakh Nga hoàng” [8; tr.12].
Borix trong con mắt giới quý tộc chỉ là một kẻ tầm thường, dưới quyền cai quản
của họ, vốn dĩ ông ta thuộc một tầng lớp thấp kém trong xã hội. Khi một điều gì đó đã
ăn sâu vào tiềm thức của một con người thì trong một thời gian ngắn nó khó mà có thể
thay đổi và chấp nhận được cái mới. Nếu ở nhân vật Suixki ta nhận thấy thái độ không
thỏa hiệp, chống đối thì với Vorotưnxki ngài lại cho rằng “Ông ta vốn không phải hạng
dòng dõi mà chúng ta còn quyền quý hơn” [8; tr.12]], đã có những sự so sánh xuất hiện
khi những con người không cùng chung chí hướng, mục tiêu. Đáng lẽ ra, ngôi vị đầy
quyền lực kia phải được trao cho một người thuộc dòng dõi và quyền quý hơn. Sự kiện
25
Borix Godunov thừa kế ngai vàng là một điều bất thường, không hợp lí, làm sao một

tên đầy tớ có thể trung thành với chủ nhân của họ trong khi luôn xuất hiện những ý
nghĩ tiêu cực, tư tưởng chống đối, hàm chứa những hành động vùng dậy, đứng lên đấu
tranh.
Điều gì sẽ xảy ra khi những mối mâu thuẫn, bất đồng ấy luôn tồn tại, sôi sục
trong tâm thức của giới quý tộc?. Chúng tôi nhận thấy đó chỉ có thể là những âm mưu,
những kế hoạch được sắp xếp, dàn dựng chờ ngày phản kháng “Khi Borix không thôi
trò lươn lẹo ầm ào, ta khéo léo khuấy lòng dân chúng cứ để họ gạt Godunov xuống.
Công tước chúng ta có thiếu gì đâu, cứ để họ lựa chọn lấy một người đặt lên ngôi Sa
hoàng” [8; tr.13]. Những mưu mô, toan tính ấy dự báo cho một ngày không bình yên
trên đất nước, chắc chắn sẽ có những cuộc dậy sóng, biến động lớn diễn ra trên xứ sở
nước Nga. Khởi đầu cho cuộc chiến tranh giành quyền lực là sự xuất hiện của nhân vật
Puskin, một vị khách không mời mà đến trong buổi tiệc của nhà Suixki. Người khách lạ
ấy mang đến cho cả giới quý tộc một câu chuyện lạ, kèm theo niềm hy vọng mới “Đứa
cháu viết cho hay một tin lạ lắm, con trai lôi đế Ivan hoàng thái tử tiểu đồng do bệnh
cuồng của Borix mà chết oan…Đimitri vẫn còn sống đấy” [8; tr.50], đây quả là cái tin
mới lại, hấp dẫn người nghe, nhất là đối với Suixki khi trong lòng ông ta luôn nung nấu
những ý nghĩ tầy đình, mang tính chất phản nghịch “Ra thế đây! Cái tin mới kỳ thay!
Hoàng thái tử còn sống! chà thực tuyệt vời” [8; tr.51]. Mọi thái độ vui sướng, bất ngờ
đều được nhà quý tộc thể hiện qua lời nói đầy hào hứng và thích thú, nhưng đằng sau
nụ cười đầy mãn nguyện kia là cái nhìn đầy sắc bén cùng đôi mắt tinh tường khi phán
xét mọi việc “Nhưng có thật thế không?” [8; tr.51], “Anh ta là ai! Từ đâu ra kia chứ”
[6; tr.51]. Suixki có đủ tỉnh táo và hiểu biết để nhận ra những bất thường trong sự việc
vừa nghe thấy “Không còn nghi ngờ gì, đây là tên mạo nhận giả danh” [8; tr.52], bởi
chính bản thân ngài đã tận mắt chứng kiến cái chết đau lòng của hoàng thái tử nhỏ tuổi
từ mười mấy năm trước “Tôi xin thưa máu hài nhi thế tử vừa qua đã đổ xuống uổng
oan, sự thể nếu thế này, lẽ ra Đimitri phải được sống bình an ” [8; tr.10].
Niềm hy vọng tưởng chừng có thể thay đổi số phận của mình và cho cả tầng lớp
quý tộc lẫn nước Nga của Suixki dường như như tan vỡ cùng nhiều sự thất vọng.
Nhưng không, với một khối óc lắm mưu nhiều kế cùng sự từng trải và tinh nhuệ, Suixki
nhanh chóng lấy lại tinh thần và nhận ra những giá trị to lớn cùng những ảnh hưởng

khủng khiếp mà cái tên mạo danh Đimitri mang đến “Nhưng xin thú thật là một hiểm

×