Tải bản đầy đủ (.pdf) (90 trang)

quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của ngân hàng thương mại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (740.17 KB, 90 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƢƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 36 (2010 – 2014)
Tên đề tài

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ
HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
Giảng viên hƣớng dẫn:
NGỤY NGỌC ANH

Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THỊ KIM HẰNG
MSSV: 5106139
Lớp: Luật Thƣơng mại 2

Cần Thơ, tháng 12 năm 2013


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN

……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………


……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………


MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................................ 2
3. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................. 2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................................ 2

5. Bố cục luận văn........................................................................................................ 3
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động bao thanh toán .................... 4
1.1.1.Trên thế giới ................................................................................................... 4
1.1.2.Ở Việt Nam ..................................................................................................... 6
1.2. Khái niệm về hoạt động bao thanh toán ............................................................ 7
1.3. Đặc điểm của hoạt động bao thanh toán ............................................................ 10
1.4. Phân loại bao thanh toán………… ..................................................................... 11
1.4.1. Theo khả năng bảo đảm quyền lợi của tổ chức tín dụng ........................... 12
1.4.1.1. Bao thanh toán có quyền truy đòi ...................................................... 12
1.4.1.2. Bao thanh toán không có quyền truy đòi ........................................... 12
1.4.2. Theo phương thức bao thanh toán ............................................................. 12
1.4.2.1. Bao thanh toán từng lần ..................................................................... 12
1.4.2.2. Bao thanh toán theo hạn mức ............................................................ 13
1.4.2.3. Đồng thanh toán ................................................................................. 13
1.4.3. Theo phạm vi thực hiện bao thanh toán ..................................................... 14
1.4.3.1. Bao thanh toán trong nước ................................................................ 14
1.4.3.2. Bao thanh toán xuất – nhập khẩu ...................................................... 14
1.5. Phân biệt hoạt động bao thanh toán với một số hoạt động tín dụng khác của
ngân hàng ..................................................................................................................... 14
1.6.Lợi ích và rủi ro từ hoạt động bao thanh toán ................................................... 18
1.6.1. Lợi ích ........................................................................................................... 18
1.6.1.1. Đối với tổ chức tín dụng ..................................................................... 18
1.6.1.2. Đối với bên bán hàng ......................................................................... 18
1.6.1.3. Đối với bên mua hàng ........................................................................ 19
1.6.2. Rủi ro ............................................................................................................. 20


1.6.2.1. Đối với tổ chức tín dụng ................................................................................... 20

1.6.2.2. Đối với bên bán hàng ......................................................................... 20
1.6.2.3. Đối với bên mua hàng ........................................................................ 20
Chƣơng 2
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM
2.1. Chủ thể của quan hệ bao thanh toán.................................................................. 22
2.1.1. Bên bao thanh toán – Ngân hàng Thương mại .......................................... 23
2.1.1.1. Điều kiện để Ngân hàng Thương mại tiến hành hoạt động bao thanh
toán .................................................................................................................. 23
2.1.1.2. Quyền của bên bao thanh toán ........................................................... 28
2.1.1.3. Nghĩa vụ của bên bao thanh toán ...................................................... 29
2.1.2. Bên bán hàng ................................................................................................ 30
2.1.2.1. Quyền của bên bán hàng .................................................................... 30
2.1.2.2. Nghĩa vụ của bên bán hàng ................................................................ 31
2.1.3. Bên mua hàng ............................................................................................... 32
2.1.3.1. Quyền của bên mua hàng ................................................................... 32
2.1.3.2. Nghĩa vụ của bên mua hàng ............................................................... 33
2.2. Hợp đồng bao thanh toán .................................................................................... 34
2.2.1. Hình thức hợp đồng ..................................................................................... 34
2.2.2. Nội dung hợp đồng ....................................................................................... 35
2.3. Quy định của pháp luật về quy trình thực hiện hoạt động bao thanh toán ... 36
2.4. Một số quy định khác của pháp luật về hoạt động bao thanh toán ................ 42
2.4.1. Đồng tiền sử dụng trong bao thanh toán .................................................... 42
2.4.2. Lãi và phí trong bao thanh toán .................................................................. 43
2.4.3. Bảo đảm cho hoạt động bao thanh toán ...................................................... 44
2.4.4. Gia hạn thanh toán và chuyển nợ quá hạn trong hoạt động bao thanh
toán .......................................................................................................................... 47
2.4.5. Quy định về các khoản phải thu không được bao thanh toán ................... 48
2.4.6. Quy định về an toàn trong hoạt động bao thanh toán ................................ 50


Chƣơng 3
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ


HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
3.1. Thực trạng hoạt động bao thanh toán và những hạn chế ................................ 53
3.1.1. Thực trạng bao thanh toán của các ngân hàng thương mại ở nước ta..... 53
3.1.2. Những hạn chế còn tồn tại ........................................................................... 55
3.1.2.1. Quy định về lãi suất chưa rõ ràng...................................................... 55
3.1.2.2. Pháp luật về bảo đảm trong bao thanh toán còn chung chung ......... 55
3.1.2.3. Quyền và nghĩa vụ của các bên chưa được bảo đảm ......................... 57
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bao thanh toán ...................... 59
3.2.1. Về lãi suất ...................................................................................................... 59
3.2.2. Về bảo đảm trong bao thanh toán................................................................ 59
3.2.3. Về quyền và nghĩa vụ các bên ...................................................................... 61
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
LỜI NÓI ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh đất nước ta ngày càng phát triển như hiện nay, kinh tế đất nước
phát triển nhờ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều ngành nghề đa dạng.
Trong đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của hệ thống ngân hàng, tiêu biểu là sự
đóng góp của Ngân hàng Thương mại. Hiện nay, lĩnh vực ngân hàng có thể được xem
là một trong những ngành có hoạt động sôi nổi và mang lại nguồn thu khá lớn đối với

các ngân hàng, cũng như đối với ngân sách Nhà nước. Khi kinh tế phát triển, nhu cầu
về sử dụng các dịch vụ nhằm phục vụ cho đời sống hằng ngày, việc sản xuất, kinh
doanh cũng ngày càng tăng. Ngân hàng Thương mại trở thành trung gian tín dụng, là
nơi xoay chuyển nguồn vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu để đáp ứng những nhu cầu về
vốn cho cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp. Do đó, để thu hút được khách hàng,
cũng như nhằm phục vụ tốt nhất những nhu cầu của khách hàng, các Ngân hàng
Thương mại phải cạnh tranh khốc liệt với nhau từ phát triển mạng lưới ngân hàng, hiện
đại hóa công nghệ, nâng cao chất lượng nhân viên,… và đặc biệt là phải phát triển và
đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ. Bên cạnh những dịch vụ truyền thống như cho vay,
nhận tiền gửi,… Ngày nay các Ngân hàng Thương mại còn cung cấp dịch vụ mới, đáp
ứng được nhu cầu về vốn cho bên bán hàng trong quan hệ mua, bán hàng hóa, cung
ứng dịch vụ đó là bao thanh toán.
Trên thế giới, hoạt động bao thanh toán được hình thành từ rất lâu và đến nay đã
trở thành lựa chọn hữu hiệu đối với những hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ mà bên mua không thể thanh toán ngay cho bên bán. Bao thanh toán đã mang lại lợi
ích thiết thực cho khách hàng cũng như lợi ích mà ngân hàng thu được từ hoạt động
này. Trong khi đó ở Việt Nam, mặc dù bao thanh toán đã manh nha xuất hiện cách nay
hơn 20 năm, nhưng hoạt động này vẫn còn khá mới mẻ, chưa được nhiều khách hàng
biết đến và lựa chọn dịch vụ bao thanh toán cho những quan hệ mua, bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ. Tuy rằng bao thanh toán mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng lẫn
ngân hàng, nhưng hoạt động này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi và phát triển ở nước
ta.

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

1

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng



Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
Từ thực tế đó, cần có một giải pháp hữu hiệu, lâu dài và triệt để nhằm giúp
người dân hiểu biết sâu rộng hơn về hoạt động bao thanh toán của các Ngân hàng
Thương mại ở nước ta. Thực hiện được điều này sẽ giúp cho hoạt động bao thanh toán
phát huy tối đa những lợi ích đối với khách hàng và ngân hàng, đồng thời cũng góp
phần thúc đẩy sự phát triển của hoạt động bao thanh toán lành mạnh, an toàn và theo
đúng những quy định của pháp luật, đảm bảo lợi ích hợp pháp cho các chủ thể khi tham
gia vào hoạt động bao thanh toán. Xuất phát từ những lý do trên, người viết đã chọn đề
tài “Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thƣơng mại” để
nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên việc tìm hiểu những quy định của pháp luật hiện hành đối với hoạt
động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng để thấy được những lợi ích của hoạt động
này đối với tình hình kinh tế hiện nay. Bên cạnh đó, nhận ra được những mặt còn hạn
chế trong hoạt động bao thanh toán làm ảnh hưởng đến chất lượng của họat động này,
và ảnh hưởng đến lợi ích của khách hàng, cũng như ảnh hưởng đến hoạt động của
Ngân hàng Thương mại hiện nay. Để từ đó đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục
những mặt còn hạn chế trong hoạt động bao thanh toán để bảo vệ quyền lợi hợp pháp
cho các bên, cũng như giúp cho hoạt động bao thanh toán được tiến hành thực hiện một
cách rõ ràng và chặt chẽ hơn.
3. Phạm vi nghiên cứu
Người viết nghiên cứu những quy định của pháp luật về hoạt động bao thanh
toán trong nước ở các Ngân hàng Thương mại như: Điều kiện chủ thể trong quan hệ
bao thanh toán, hợp đồng bao thanh toán, quy trình thực hiện hoạt động bao thanh toán.
Bên cạnh đó có một số quy định khác đối với hoạt động bao thanh toán như: Đồng tiền
được sử dụng trong bao thanh toán, lãi và phí, bảo đảm cho hoạt động bao thanh toán,
gia hạn thanh toán và chuyển nợ quá hạn trong hoạt động bao thanh toán, cũng như quy
định về những khoản thu không được bao thanh toán và quy định về an toàn trong hoạt
động bao thanh toán.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng các phương pháp như:
Phương pháp so sánh, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp thống kê, phương

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

2

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
pháp phân tích, đánh giá số liệu. Bên cạnh đó, tùy vào từng vấn đề cụ thể mà người
viết sử dụng phương pháp phù hợp, để tạo sự hài hòa, mạch lạc của luận văn, đồng thời
để giúp người đọc dễ dàng tiếp cận với những nội dung mà người viết đề cập, người
viết còn sử dụng phương pháp diễn dịch, quy nạp để giải quyết các vấn đề nêu trong
luận văn.
5. Bố cục luận văn
Ngoài phần mục lục, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục bố cục của luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề chung về hoạt động bao thanh toán.
Trong chương này trình bày về lịch sử hình thành hoạt động bao thanh toán,
khái niệm về hoạt động bao thanh toán, phân loại bao thanh toán, cũng như những lợi
ích và rủi ro từ hoạt động bao thanh toán đối với các bên khi tham gia vào hoạt động
này. Đồng thời người viết so sánh hoạt động bao thanh toán với một số hoạt động khác
của tổ chức tín dụng để phân biệt được những hoạt động này với nhau.
Chƣơng 2: Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán theo pháp luật
Việt Nam.
Chương này người viết trình bày những quy định của pháp luật điều chỉnh về
hoạt động bao thanh toán như điều kiện về chủ thể, hợp đồng bao thanh toán, quy trình
thực hiện hoạt động bao thanh toán, và một số quy định khác của pháp luật đối với hoạt

động bao thanh toán.
Chƣơng 3: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bao thanh
toán của Ngân hàng Thƣơng mại.
Đây là chương người viết trình bày về thực trạng hoạt động bao thanh toán của
Ngân hàng Thương mại, trong đó có những thành tựu đạt được, đồng thời cũng có tồn
tại những bất cập trong những quy định của pháp luật điều chỉnh về hoạt động bao
thanh toán, đã khiến cho hoạt động này chưa phát huy hết tác dụng đối với nền kinh tế
hiện nay. Đồng thời trong chương này người viết đã đề xuất những giải pháp để nâng
cao hiệu quả hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại.

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

3

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN
Chương này tập trung tìm hiểu khái quát chung về hoạt động bao thanh toán
như: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của hoạt động bao thanh toán, khái
niệm, đặc điểm, phân loại bao thanh toán và cuối cùng là vai trò của bao thanh toán đối
với các bên tham gia vào hoạt động bao thanh toán. Đồng thời trong chương này người
viết so sánh hoạt động bao thanh toán với hoạt động tín dụng khác của Ngân hàng
Thương mại.
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động bao thanh toán1
1.1.1. Trên thế giới
Hoạt động bao thanh toán còn được gọi là Factoring, ngoài ra còn được gọi là

nhượng quyền yêu cầu thanh toán, chuyển nhượng khoản phải thu (assignment of
receivables) có lịch sử hình thành và phát triển cách nay khá lâu. Khoảng 2000 năm
trước dưới thời đế chế La Mã, khi người ta bắt đầu hoạt động giao thương và phát sinh
các khoản nợ thương mại, hoạt động bao thanh toán đã xuất phát từ hoạt động đại lý
hưởng hoa hồng. Bởi vì là đại lý nên họ nắm giữ quyền sở hữu của hàng hóa bên ủy
nhiệm (bên cung ứng sản phẩm nước ngoài), rồi giao hàng hóa đó cho người mua trong
nước, đại lý thực hiện việc ghi sổ và thu nợ khi nợ đến hạn, sau khi đã trừ phần hoa
hồng được hưởng thì họ chuyển phần dư nợ còn lại cho bên ủy nhiệm.
Vào khoảng thế kỷ XIV – XV ngành công nghiệp ở Anh phát triển đã nâng cao
tầm quan trọng của các đại lý bao thanh toán. Khi đó, các đại lý bao thanh toán đã dần
tin cậy vào khả năng trả nợ của người mua trong nước, họ bắt đầu cấp tín dụng cho bên
ủy nhiệm để hưởng hoa hồng cao hơn. Với khoản hoa hồng được hưởng cao hơn trước,
các đại lý bắt đầu bảo đảm khả năng trả nợ của người mua bằng cách hứa trả nợ đúng
hạn cho người ủy nhiệm, và kể cả trong trường hợp người mua không trả nợ đúng hạn.
1

. Nguyễn Thanh Tú, Thông tin pháp luật dân sự, Một số vấn đề pháp lý của hoạt động bao thanh toán của tổ
chức tín dụng, [10/8/2013].

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

4

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
Một số đại lý có đủ vốn họ bắt đầu cho người ủy nhiệm được ứng trước một phần tiền
dựa trên khoản thanh toán của người mua trong tương lai sẽ trả cho đại lý. Chính vì
cho ứng trước một phần tiền như vậy mà đại lý bao thanh toán được tính thêm phí hoa

hồng hoặc tính thêm lãi suất đối với khoản nợ mà bên mua phải thanh toán cho đại lý
bao thanh toán. Vì vậy mà vào thế kỷ thứ XIV – XV hoạt động bao thanh toán ở Anh
đã dần phát triển hơn trước.
Đến thế kỷ thứ XIX, bao thanh toán thật sự phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ở
Mỹ, đó là kết quả của sự phân công lao động hợp lý trong xã hội. Theo đó, người sản
xuất, phân phối hàng hóa hay cung ứng dịch vụ chỉ tập trung vào hoạt động sản xuất,
bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ; việc quản lý và thu tiền từ việc bán hàng hay cung
ứng dịch vụ sẽ được tổ chức tín dụng đảm trách2. Trong giai đoạn này hoạt động bao
thanh toán ở Mỹ phát triển sang những ngành công nghiệp điện, hóa chất, dệt may,…
Ngày nay, hoạt động bao thanh toán ở Mỹ đã mở rộng sang các ngành nghề như quảng
cáo, thiết kế đồ họa,…
Tuy đã được hình thành từ khá lâu nhưng hoạt động bao thanh toán chỉ trở thành
một loại hình dịch vụ tài chính phổ biến ở nhiều quốc gia kể từ năm 1960 và cũng
trong khoảng thời gian này, Hiệp hội bao thanh toán quốc tế (Factors Chain
International - gọi tắt là FCI) đã được thành lập. Kể từ đó hoạt động bao thanh toán
phát triển khá nhanh trên thế giới.
Bao thanh toán đã không còn mới mẻ đối với nhiều quốc gia trên thế giới và
chính hoạt động này cũng đã đóng góp một phần không nhỏ vào doanh thu của các
ngân hàng. Tính đến năm 2008 đã có hơn 1.768 đơn vị thực hiên hoạt động bao thanh
toán, trong số đó có 232 tổ chức bao thanh toán từ 63 thành viên của Hiệp hội bao
thanh toán quốc tế. Theo số liệu thống kê từ FCI thì doanh thu từ hoạt động bao thanh
toán tính trên toàn thế giới trong 03 năm gần đây nhất đang trên đà tăng trưởng. Cụ thể
là doanh thu bao thanh toán của toàn thế giới vào năm 2010 là 1.648.389 triệu Euro,
đến năm 2011 thì doanh thu từ hoạt động này tăng lên đến 2.015.037 triệu Euro, và tiếp
tục tăng lên đến 2.132.230 triệu Euro vào năm 2012. Nhìn chung doanh thu từ hoạt
động bao thanh toán trên toàn thế giới liên tục tăng trong 03 năm gần đây, nhưng do
ảnh hưởng chung về sự phát triển kinh tế của thế giới nên từ năm 2011 đến năm 2012
2

. Nguyễn Thanh Tú, Thông tin pháp luật dân sự, Một số vấn đề pháp lý về hoạt động bao thanh toán của tổ chức

tín dụng, [10/8/2013].

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

5

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
doanh thu từ hoạt động này tăng trưởng chậm hơn giai đoạn năm 2010 đến 2011. Tuy
nhiên, nhìn vào số liệu doanh thu của hoạt động này tăng trưởng dần trong 03 năm gần
đây đã thể hiện được vai trò của bao thanh toán đối với hoạt động mua, bán hàng hóa
ngày càng phổ biến hơn. Điều này cho thấy rằng hoạt động bao thanh toán ngày càng
trở nên phổ biến, được các tổ chức tín dụng quan tâm phát triển và các bên tham gia
giao dịch đã nhận ra được những lợi ích đáng kể từ hoạt động bao thanh toán.
1.1.2. Ở Việt Nam
Mặc dù hoạt động bao thanh toán đã xuất hiện trên thế giới từ rất lâu và các
quốc gia phát triển đã thu được lợi nhuận khá lớn từ hoạt động này, nhưng mãi đến
năm 1990 hoạt động bao thanh toán mới bắt đầu manh nha tại Việt Nam, tuy nhiên
hoạt động này vẫn chưa có điều kiện để phát triển. Vì là một loại hình dịch vụ mới mẻ
đối với ngành tài chính Việt Nam nên các ngân hàng còn rất bỡ ngỡ với hoạt động bao
thanh toán. Vì vậy, đến năm 2004, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quy chế hoạt
động bao thanh toán kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004
để hướng dẫn các ngân hàng thực hiện hoạt động bao thanh toán. Chính sự ra đời của
Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN đã làm tiền đề cho hoạt động bao thanh toán được
đưa vào hoạt động tại các ngân hàng và càng ngày hoạt động này càng được quan tâm
phát triển hơn.
Những tổ chức tín dụng đầu tiên thực hiện hoạt động bao thanh toán ở Việt Nam
là các chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài. Vào tháng 01/2005, Deutsche Bank

AG là tổ chức tín dụng đầu tiên đi vào triển khai thực hiện hoạt động bao thanh toán tại
Việt Nam. Tiếp sau đó là hàng loạt các ngân hàng khác cũng bắt đầu đưa hoạt động
bao thanh toán đi vào hoạt động. Cụ thể là vào tháng 02/2005, Far East National Bank
cũng đã triển khai thực hiện hoạt động bao thanh toán. Đến tháng 03/2005, hoạt động
bao thanh toán cũng đã chính thức được UFJ Bank đưa vào hoạt động. Và cho đến
tháng 10/2005 thì City Bank cũng đã triển khai thực hiện hoạt động bao thanh toán.
Đến nay, số lượng các tổ chức tín dụng ở Việt Nam có hoạt động bao thanh toán
đã tăng lên đáng kể như: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam
(Vietcombank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB), Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn
Thương Tín (Sacombank), Tổng công ty Tài chính Cổ phần Dầu Khí Việt Nam

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

6

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
(PVFC),… Trong số các ngân hàng nêu trên, có 04 ngân hàng đã tham gia vào Tổ chức
Bao thanh toán quốc tế (FCI – Factors Chain International) đó là: Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu
(ACB), và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank). Do
còn e dè trong bước đầu thực hiện nên các ngân hàng này chỉ thực hiện hoạt động bao
thanh toán nội địa có quyền truy đòi. Sau một thời gian triển khai thực hiện, các ngân
hàng nhận ra được những ưu điểm của hoạt động bao thanh toán và đã bắt đầu cung
cấp dịch vụ bao thanh toán tập trung vào các ngành xuất khẩu được xem là thế mạnh

của Việt Nam như: Dệt may, da giày, gỗ, thủy, hải sản đông lạnh,…
Theo số liệu thống kê từ Tổ chức bao thanh toán quốc tế thì doanh thu từ hoạt
động bao thanh toán của các ngân hàng ở Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2012 như
sau: Năm 2010 là 65 triệu Euro, năm 2011 là 67 triệu Euro và đến năm 2012 là 61 triệu
Euro. Có thể thấy từ năm 2010 đến năm 2011, doanh thu từ hoạt động bao thanh toán
có sự tăng trưởng, tuy nhiên đến năm 2012 doanh thu từ hoạt động này có chiều hướng
giảm, có thể sự suy giảm này là do chịu sự ảnh hưởng của nền kinh tế chung. Mặc dù
doanh thu từ hoạt động bao thanh toán ở Việt Nam vẫn chưa thật sự phát triển mạnh,
chưa thể hiện hết những ưu điểm nổi trội của hoạt động này nhưng trên thực tế hoạt
động bao thanh toán ở nước ta đang có chuyển biến tích cực, điều này thể hiện qua số
lượng ngân hàng triển khai thực hiện hoạt động bao thanh toán ngày càng tăng, chứng
tỏ các ngân hàng cũng đã có sự quan tâm đến việc cung cấp loại hình tín dụng này.
1.2. Khái niệm về hoạt động bao thanh toán
Với lịch sử ra đời lâu dài nên khái niệm về hoạt động bao thanh toán cũng khá
đa dạng.
Theo các từ điển luật học, thuật ngữ bao thanh toán (factoring) thường được mô
tả là việc chuyển nhượng các khoản phải thu thương mại của người bán cho tổ chức
bao thanh toán (factor)3. Điều này đồng nghĩa với việc tổ chức tín dụng (tổ chức bao
thanh toán) mua khoản tiền phải thu của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ (bên bán
hàng). Sau khi nhận được các khoản phải thu từ người bán, tổ chức tín dụng sẽ trao cho

3

. Võ Đình Toàn, Giáo trình luật ngân hàng Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội 2005, tr. 225.

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

7

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng



Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
bên bán một khoản tiền mặt sau khi đã trừ đi phần chiết khấu cho tổ chức tín dụng, và
sau đó tổ chức tín dụng sẽ thực hiện việc thu nợ đối với bên mua hàng.
Xét về mặt nội dung, hoạt động bao thanh toán thực chất là sự mua bán quyền
đòi nợ. Hoạt động bao thanh toán không ảnh hưởng gì đến nội dung giao dịch thương
mại giữa bên bán hàng và bên mua hàng, ngoại trừ quyền đòi nợ và tiếp nhận sự thanh
toán đã được chuyển từ bên bán hàng sang tổ chức bao thanh toán. Quyền đòi nợ của tổ
chức bao thanh toán là tuyệt đối, tức là không bị ràng buộc bởi bất kì điều kiện nào liên
quan đến khả năng thanh toán của bên mua hàng, cũng như quá trình thực hiện giao
dịch thương mại giữa bên bán hàng và bên mua hàng. Có nghĩa rằng tổ chức bao thanh
toán vẫn tiến hành thực hiện quyền đòi nợ của mình, kể cả trường hợp bên mua hàng
đang gặp khó khăn trong vấn đề tài chính của họ. Đối tượng của quyền đòi nợ phải là
toàn bộ giá trị khoản phải thu, việc chuyển nhượng một phần khoản phải thu thường
không được chấp nhận4.
Xét về mặt hình thức, hoạt động bao thanh toán chính là việc bên bán hàng
chuyển giao cho tổ chức bao thanh toán các chứng từ thương mại liên quan đến giao
dịch mua bán giữa bên bán và bên mua. Các chứng từ này là căn cứ để xác định sự tồn
tại về mặt pháp lý và giá trị kinh tế của các khoản phải thu. Các loại chứng từ thương
mại thông thường gồm những lại sau: Chứng từ hàng hóa (hóa đơn bán hàng, hóa đơn
vận tải), chứng từ tài chính (hối phiếu, lệnh phiếu).
Ngày nay, với tầm quan trọng và sự phát triển của hoạt động bao thanh toán,
pháp luật mỗi quốc gia cũng chú trọng xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật điều
chỉnh về hoạt động bao thanh toán. Tuy nhiên, để tạo cách hiểu thống nhất về hoạt
động bao thanh toán trên phạm vi toàn thế giới, Công ước của UNDROIT về bao thanh
toán quốc tế năm 1988 (còn được gọi là Công ước Ottawa năm 1988) đã định nghĩa về
hoạt động bao thanh toán như sau:
“Bao thanh toán (factoring) là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản
nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng, theo đó

tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau: Tài trợ bên cung

4

. Võ Đình Toàn, Giáo trình luật ngân hàng Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội 2005, tr. 226.

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

8

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
ứng gồm cho vay và ứng trước tiền, quản lý sổ sách liên quan đến các khoản phải thu,
thu nợ các khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng”5.
Hoạt động bao thanh toán đã được mô tả một cách cụ thể để minh họa cho khái
niệm này, đồng thời giúp chúng ta hiểu hơn về hoạt động này:
Đầu tiên, bên bán hàng hóa sẽ chuyển giao cho bên bao thanh toán các khoản
phải thu phát sinh từ các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa bên bán và bên mua (con
nợ).
Sau đó, bên bao thanh toán sẽ thực hiện ít nhất 02 trong số các nghiệp vụ sau:
Tài trợ tài chính cho người bán hàng (cho vay, hoặc thanh toán trước các khoản phải
thu); quản lý giấy tờ, sổ sách kế toán liên quan đến khoản phải thu; thực hiện việc thu
nợ từ người mua; tiến hành các biện pháp phù hợp để giải quyết các hành vi gian lận
của người mua.
Sau cùng, bên mua hàng phải được thông báo chính thức bằng văn bản về việc
khoản phải thu đã được bao thanh toán6.
Bên cạnh Công ước Ottawa 1988, Tổ chức bao thanh toán quốc tế (FCI) cũng có
định nghĩa về hoạt động bao thanh toán như sau: “Bao thanh toán là môt loại hình dịch

vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro
tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ”7. Theo định nghĩa này, ta có
thể hiểu hoạt động bao thanh toán là một sự thỏa thuận giữa bên bao thanh toán (factor)
với bên bán hàng trong quan hệ mua bán hàng hóa. Theo như thỏa thuận này thì bên
bao thanh toán sẽ mua lại các khoản phải thu từ người bán dựa trên khả năng trả nợ của
người mua.
Ngoài ra, theo một số tổ chức tín dụng cung cấp dịch vụ bao thanh toán, nghiệp
vụ bao thanh toán được hiểu đơn giản là việc mua lại các khoản phải thu, hay việc cung
cấp tài trợ tài chính ngắn hạn thông qua việc trả các khoản phải thu ngay lập tức bằng
tiền mặt để cải thiện dòng ngân lưu của khách hàng, đồng thời nhận lấy rủi ro tín dụng.

5

. Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Nxb. Thống kê, Tp.Hồ Chí Minh, 2009, tr. 461.
. Võ Đình Toàn, Giáo trình luật ngân hàng Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội 2005, tr. 227.
7
. Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Nxb. Thống kê, Tp.Hồ Chí Minh, 2009, tr. 461.
6

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

9

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
Các dịch vụ đi kèm gồm có quản lý nợ, quản lý sổ cái bán hàng, xếp hạng hạn mức tín
dụng và thu hộ8.
Tuy có khá nhiều khái niệm về hoạt động bao thanh toán nhưng để tạo cách hiểu

thống nhất và để dễ dàng quản lý việc thực hiện hoạt động bao thanh toán ở Việt Nam,
tại khoản 17 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã nêu định nghĩa về bao
thanh toán như sau: “Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc
bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu
hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo
hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ”.
Tuy nhiên để mọi người dễ hiểu hơn và dễ dàng trong việc thực hiện hoạt đông
bao thanh toán, Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam ban hành Quy chế hoạt động bao thanh toán của Tổ chức tín dụng,
khái niệm bao thanh toán đã được giải thích rằng: “Bao thanh toán là một hình thức
cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản
phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng
thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng hóa”.
Mặc dù hoạt động bao thanh toán được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau,
nhưng chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản về hoạt động bao thanh toán là hình thức
tài trợ cho những khoản thanh toán chưa đến hạn, phát sinh từ các hoạt động sản xuất
kinh doanh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ, tóm lại đó là việc mua bán nợ. Tuy nhiên,
nhờ có sự chuyên môn hóa trong việc thu hồi nợ nên sau khi mua lại các khoản nợ,
phía tổ chức tín dụng có thể nâng cao khả năng thu hồi nợ và giảm đi chi phí thu hồi
nợ. Đối với bên bán hàng, sau khi đã bán các khoản phải thu cho tổ chức tín dụng, họ
không còn bận tâm đến việc thu nợ mà chỉ cần tập trung vào sản xuất kinh doanh. Từ
khái niệm nêu trên, hoạt động bao thanh toán ở Việt Nam cũng có những đặc điểm
riêng của nó.
1.3. Đặc điểm của hoạt động bao thanh toán
Thứ nhất, hoạt động bao thanh toán chính là một hình thức cấp tín dụng ngắn
hạn của tổ chức tín dụng. Khi thực hiện quan hệ bao thanh toán, tổ chức tín dụng ứng
8

. Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Nxb. Thống kê, Tp.Hồ Chí Minh, 2009, tr. 462.


GVHD: Ngụy Ngọc Anh

10

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
trước cho khách hàng của mình (bên bán hàng) một khoản tiền nhất định thấp hơn giá
trị thực tế của các khoản phải thu. Phần chênh lệch này chính là phần phí và lãi tín
dụng. Thông thường những khoản thu được chấp nhận bao thanh toán là những khoản
thu có thời hạn không quá 180 ngày.
Thứ hai, hoạt động bao thanh toán dựa trên quan hệ về mua bán quyền tài sản
đó là quyền đòi nợ. Do quyền đòi nợ là một loại tài sản được xác định từ một giao dịch
thương mại cụ thể nên khi thực hiện hoạt động bao thanh toán, tổ chức tín dụng phải
tiến hành phân tích toàn diện và trực tiếp các giao dịch làm phát sinh các khoản phải
thu, tình hình tài chính và hoạt động của bên bán hàng và bên mua hàng. Khi thực hiện
hoạt động bao thanh toán, bên bán hàng phải chuyển giao toàn bộ chứng từ và các giấy
tờ liên quan đến giao dịch mua, bán để xác lập và chuyển giao quyền đòi nợ cho tổ
chức tín dụng.
Thứ ba, hợp đồng bao thanh toán chỉ liên quan đến khoản phải thu. Bên mua
không được đòi lại số tiền đã thanh toán cho đơn vị bao thanh toán trong trường hợp
bên bán hàng không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ các điều khoản quy
định tại hợp đồng mua, bán hàng (điểm c khoản 2 Điều 25 Quy chế hoạt động bao
thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐNHNN).
Thứ tư, hoạt động bao thanh toán liên quan đến hai bên: Tổ chức tín dụng thực
hiện hoạt động bao thanh toán và khách hàng được tổ chức tín dụng bao thanh toán.
Trong đó, tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động bao thanh toán là các tổ chức tín dụng
thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng, bao gồm:

Ngân hàng thương mại Nhà nước;
Ngân hàng thương mại cổ phần;
Ngân hàng liên doanh;
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài;
Ngân hàng nước ngoài được mở chi nhánh tại Việt Nam theo Luật các tổ chức
tín dụng;
Công ty tài chính;
Công ty cho thuê tài chính.

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

11

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
Khách hàng được tổ chức tín dụng bao thanh toán là các tổ chức kinh tế Việt
Nam và nước ngoài cung ứng hàng hóa và được thụ hưởng các khoản phải thu phát
sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận giữa bên bán và bên
mua trong hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Đối với Công ty cho thuê
tài chính, chỉ được thực hiện bao thanh toán đối với khách hàng là bên thuê của Công
ty cho thuê tài chính.
1.4. Phân loại bao thanh toán
Hiện nay bao thanh toán có nhiều loại, nhưng theo ý kiến người viết có 03 căn
cứ để phân loại bao thanh toán đó là: Theo khả năng đảm bảo quyền lợi của tổ chức tín
dụng, theo phương thức bao thanh toán, và theo phạm vi thực hiện bao thanh toán.

1.4.1. Theo khả năng bảo đảm quyền lợi của tổ chức tín dụng
Phân loại theo khả năng bảo đảm quyền lợi của tổ chức tín dụng bao gồm 02

loại bao thanh toán đó là: Bao thanh toán có quyền truy đòi, và bao thanh toán không
có quyền truy đòi.
1.4.1.1. Bao thanh toán có quyền truy đòi
Bao thanh toán có quyền truy đòi được hiểu là đơn vị bao thanh toán có quyền
đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng
hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu (điểm a khoản 1 Điều 11 Quy chế hoạt
động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số
1096/2004/QĐ-NHNN). Điều này cũng có nghĩa rằng nếu bên mua hàng không trả
được nợ hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì người bán hàng có trách nhiệm hoàn
trả lại số tiền đã được ứng trước cho đơn vị bao thanh toán.
1.4.1.2. Bao thanh toán không có (miễn) quyền truy đòi
Bao thanh toán không có quyền truy đòi là đơn vị bao thanh toán chịu toàn bộ
rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải
thu. Đơn vị bao thanh toán chỉ có quyền đòi lại số tiến đã ứng trước cho bên bán hàng
trong trường hợp bên mua hàng từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán hàng
hàng giao hàng không đúng như thỏa thuận tại hợp đồng mua, bán hoặc vì một lý do

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

12

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua hàng (điểm b khoản 1 Điều
11 Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo
Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN). Ở loại hình bao thanh toán này, hiểu đơn giản
là tổ chức bao thanh toán phải gánh chịu mọi rủi ro khi bên mua hàng không có khả
năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

1.4.2. Theo phương thức bao thanh toán
Phân loại bao thanh toán theo phương thức bao thanh toán bao gồm 03 loại bao
thanh toán, đó là: Bao thanh toán từng lần, bao thanh toán theo hạn mức và đồng bao
thanh toán.
1.4.2.1. Bao thanh toán từng lần
Bao thanh toán từng lần là đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thực hiện các
thủ tục cần thiết và ký hợp đồng bao thanh toán đối với các khoản phải thu của bên bán
hàng (khoản 1 Điều 12 Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban
hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN). Tức là mỗi khi có khách hàng
có nhu cầu bao thanh toán tại một ngân hàng, thì phải làm đúng những thủ tục, quy
trình ký kết hợp đồng bao thanh toán.
Ví dụ: Khách hàng A muốn được ngân hàng B bao thanh toán cho những khoản
phải thu phát sinh từ hợp đồng mua, bán hàng hóa của mình thì khách hàng A phải làm
đúng những thủ tục mà ngân hàng B yêu cầu để ký kết 01 hợp đồng bao thanh toán.
Nếu như, khi hợp đồng bao thanh toán giữa ngân hàng B và khách hàng A đã chấm
dứt, khách hàng A lại muốn ngân hàng B bao thanh toán cho những khoản phải thu
phát sinh từ hợp đồng mua, bán hàng hóa khác thì khách hàng A phải bắt đầu những
thủ tục mới để ký kết 01 hợp đồng bao thanh toán mới với ngân hàng B.
1.4.2.2. Bao thanh toán theo hạn mức
Bao thanh toán theo hạn mức là đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thỏa
thuận xác định một hạn mức bao thanh toán duy trì trong một khoảng thời gian nhất
định (khoản 2 Điều 12 Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban
hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN).
Ví dụ: Khách hàng làm hồ sơ xin cấp hạn mức bao thanh toán gửi đến ngân
hàng, ngân hàng xem xét và cấp hạn mức bao thanh toán là 1 tỷ cho khách hàng đó.

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

13


SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
Khi có nhu cầu bao thanh toán đối với khoản phải thu từ hợp đồng mua, bán có giá trị
là 300 triệu, thì khách hàng sẽ thông báo để ngân hàng thực hiện bao thanh toán đối với
khoản phải thu đó. Lúc này hạn mức bao thanh toán còn lại là 700 triệu, và khách hàng
có thể tiếp tục yêu cầu ngân hàng thực hiện bao thanh toán đối với các khoản phải thu
hợp pháp khác có giá trị không quá 700 triệu, thì ngân hàng sẽ tiếp tục thực hiện bao
thanh toán để đáp ứng nhu cầu của khách hàng mà không đòi hỏi khách hàng phải làm
thủ tục như bắt đầu một quan hệ bao thanh toán mới.
1.4.2.3. Đồng bao thanh toán
Đồng bao thanh toán là hai hay nhiều đơn vị bao thanh toán cùng thực hiện hoạt
động bao thanh toán cho một hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, trong đó
một đơn vị bao thanh toán làm đầu mối thực hiện việc tổ chức đồng bao thanh toán
(khoản 3 Điều 12 Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành
kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN).
Ví dụ: Một khách hàng đề nghị bao thanh toán tại ngân hàng A, nhưng nhu cầu
của khách hàng vượt quá khả năng của ngân hàng A, nên ngân hàng A đã thông báo
cho ngân hàng B, và ngân hàng C cùng thực hiện bao thanh toán đối với khách hàng
này (sau khi khách hàng chấp nhận để ba ngân hàng cùng thực hiện bao thanh toán cho
mình), trường hợp này được gọi là đồng bao thanh toán.
1.4.3. Theo phạm vi thực hiện bao thanh toán
Ở cách phân loại theo phạm vi, bao thanh toán được phân thành 02 loại, đó là:
Bao thanh toán trong nước và bao thanh toán xuất – nhập khẩu.
1.4.3.1. Bao thanh toán trong nước
Bao thanh toán trong nước là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng mua, bán
hàng, trong đó bên bán hàng và bên mua hàng đều cư trú trong cùng một quốc gia và
việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua, bán hàng đó cũng trong cùng quốc gia đó.
1.4.3.2. Bao thanh toán xuất – nhập khẩu

Bao thanh toán xuất – nhập khẩu là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng xuất
– nhập khẩu.
1.5. Phân biệt hoạt động bao thanh toán với một số hoạt động tín dụng khác của
ngân hàng

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

14

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
Để hiểu rõ hơn về hoạt động bao thanh toán, người viết so sánh những điểm
khác nhau giữa hoạt động bao thanh toán với các hoạt động khác ngân hàng dựa trên
những quy định của pháp luật hiện hành. Người viết so sánh hoạt động bao thanh toán,
cho vay, bảo lãnh ngân hàng, và chiết khấu với nhau dựa trên các tiêu chí như: Khái
niệm, đối tượng, chủ thể, hình thức cấp tín dụng, và đối tượng bị đòi nợ.
 Khái niệm
Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng
thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản
phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán
hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (khoản 17 Điều
4 Luật các tổ chức tín dụng).
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao
cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian
nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (khoản 16 Điều 4
Luật các tổ chức tín dụng).
Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết
với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho

khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã
cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận .
(khoản 18 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010).
Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công
cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh
toán (khoản 19 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010).
Từ các khái niệm về các hoạt động của tổ chức tín dụng vừa nêu đã bộc lộ phần
nào những điểm khác biệt cơ bản về chủ thể, đối tượng, đối tượng bị thu nợ của hoạt
động bao thanh toán, cho vay, bảo lãnh ngân hàng, và chiết khấu. Trước hết người viết
so sánh đối tượng mà các hoạt động này hướng tới.
 Đối tượng

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

15

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
Bao thanh toán: Đối tượng của hoạt động này chính là những khoản phải thu
phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ.
Cho vay: Đối tượng của hoạt động cho vay là một khoản tiền mà tổ chức tín
dụng sẽ cấp cho bên đi vay theo hợp đồng tín dụng.
Bảo lãnh ngân hàng: Đối tượng của hoạt động bảo lãnh là nghĩa vụ tài chính mà
bên được bảo lãnh không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ như đã thỏa thuận
với bên nhận bảo lãnh.
Chiết khấu: Đối tượng của hoạt động chiết khấu là các công cụ chuyển nhượng9
(hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc,…) và các loại giấy tờ có giá10 (trái phiếu, tín

phiếu, chứng chỉ tiền gửi).
 Về chủ thể
Bao thanh toán: Chủ thể của hoạt động này gồm có bên bao thanh toán và bên
được bao thanh toán. Bên bao thanh toán là tổ chức tín dụng được cấp phép để tiến
hành thực hiện hoạt động bao thanh toán bằng hình thức cấp tín dụng cho khách hàng
thông qua việc mua lại các khoản thu thương mại.
Cho vay: Chủ thể trong hoạt động cho vay gồm bên cho vay là tổ chức tín dụng,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài và bên đi vay là cá nhân, tổ chức thỏa mãn các điều
kiện vay vốn do pháp luật quy định11.
Bảo lãnh ngân hàng: Gồm có bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo
lãnh. Ở đây bên bảo lãnh thường là các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài. Bên được bảo lãnh là tổ chức (bao gồm tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài), cá nhân là người cư trú và tổ chức là người không cư trú được tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bảo lãnh. Bên nhận bảo lãnh là tổ chức, cá nhân
là người cư trú hoặc người không cư trú có quyền thụ hưởng bảo lãnh do tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành (các khoản 2, 3, 4, Điều 3 Thông tư
số 28/2012/TT-NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng).
9

. Khoản 1 Điều 4 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005.
. Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 04/2013/TT-NHNN quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng,
giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
11
. Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế cho
vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN.
10

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

16


SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
Chiết khấu: Chủ thể trong hoạt động chiết khấu gồm bên chiết khấu (tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) và bên nhận chiết khấu là cá nhân, tổ chức thỏa
mãn những điều kiện theo quy định của pháp luật12.
Từ những quy định về chủ thể vừa nêu, chủ thể trong hoạt động bao thanh toán
chỉ có bên bao thanh toán (tổ chức tín dụng) và bên được bao thanh toán (bên bán
hàng), nhưng khi tiến hành hoạt động này thì lại có sự xuất hiện của bên mua hàng, là
bên sẽ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho tổ chức tín dụng, nhưng bên mua lại không
được nhắc đến trong hợp đồng bao thanh toán. Bên mua chỉ biết về khoản phải thu
được bao thanh toán thông qua thông báo được gửi từ bên bán. Song, đối với hoạt động
cho vay, bảo lãnh ngân hàng, và chiết khấu, thì những chủ thể được đề cập đến trong
hợp đồng cũng chính là người sẽ được hưởng những quyền lợi hợp pháp và thực hiện
những nghĩa vụ như đã thỏa thuận trong hợp đồng.
 Hình thức cấp tín dụng
Bao thanh toán: Ngắn hạn.
Cho vay: Ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn.
Bảo lãnh ngân hàng: Ngắn hạn, trung hạn hoặc hoặc dài hạn.
Chiết khấu: Ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn.
Có thế thấy rằng trong 04 hoạt động trên, chỉ riêng hoạt động bao thanh toán có
hình thức cấp tín dụng duy nhất là ngắn hạn. Bởi vì những khoản phải thu được bao
thanh toán là những khoản thu có thời hạn thanh toán không dài hơn 180 ngày. Trong
khi đó, hoạt động cho vay, bảo lãnh ngân hàng, và chiết khấu thì các bên tham gia có
thể thỏa thuận chọn hình thức cấp tín dụng ngắn hạn hoặc trung hạn hoặc dài hạn, sao
cho phù hợp với nhu cầu của mình.
 Đối tượng bị thu nợ
Bao thanh toán: Bên mua hàng.

Cho vay: Chính người ký hợp đồng vay với tổ chức tín dụng.

12

. Khoản 3 Điều 2 Thông tư số 04/2013/TT-NHNN quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng,
giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

17

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
Bảo lãnh ngân hàng: Bên được bảo lãnh. Hoặc trong trường hợp bên được bảo
lãnh không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ như đã cam kết với bên
nhận bảo lãnh thì đối tượng bị thu nợ là bên bảo lãnh.
Chiết khấu: Chính khách hàng ký hợp đồng chiết khấu với tổ chức tín dụng.
Tương tự như phần so sánh về chủ thể, trong cả 04 hoạt động này chỉ có hoạt
động bao thanh toán có đối tượng bị thu nợ là chủ thể không trực tiếp ký vào hợp đồng
với tổ chức tín dụng. Đối với ba hoạt động còn lại, đối tượng bị thu nợ chính là một
trong những người đã ký kết hợp đồng với tổ chức tín dụng. Qua những so sánh trên,
có thể thấy cả 04 hoạt động đều là những hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng,
nhưng nét đặc trưng của hoạt động bao thanh toán đó là một hình thức cấp tín dụng
ngắn hạn. Đối tượng của quan hệ bao thanh toán là những khoản phải thu phát sinh từ
hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Trong hợp đồng bao thanh toán chỉ có
khách hàng (bên bán hàng) và tổ chức tín dụng. Theo như thỏa thuận đã ký kết trong
hợp đồng bao thanh toán với tổ chức tín dụng, khách hàng sẽ được ứng trước một
khoản tiền theo giá trị đã thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch

vụ, nhưng đối tượng bị đòi nợ chính là bên mua (không tham gia trong việc ký kết hợp
đồng bao thanh toán). Chính vì vậy, mục đích của việc so sánh các hoạt động tín dụng
trên là để phân biệt được những điểm khác biệt cơ bản giữa các hoạt động, tránh sự
nhầm lẫn mỗi khi nhắc đến một trong các hoạt động trên.

1.6. Lợi ích và rủi ro từ hoạt động bao thanh toán
1.6.1. Lợi ích
1.6.1.1. Đối với tổ chức tín dụng (Đơn vị bao thanh toán)
Khi các tổ chức tín dụng triển khai thực hiện hoạt động bao thanh toán thì chính
tổ chức tín dụng cũng được hưởng một số lợi ích từ hoạt động này.
Thứ nhất, việc thực hiện bao thanh toán sẽ góp phần đa dạng hóa các sản phẩm
dịch vụ của tổ chức tín dụng. Điều này đã mang lại tiện ích cho khách hàng, đồng thời
cũng mang về nguồn thu không nhỏ cho tổ chức tín dụng. Bên cạnh những hình thức

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

18

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
cấp tín dụng phổ biến như cho vay, chiết khấu,… nay khi có thêm hoạt động bao thanh
toán, thì tổ chức tín dụng có thêm một loại tín dụng mới, điều này sẽ làm đa dạng hóa
các loại hình dịch vụ của mình, đồng thời sẽ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng
hơn. Cũng chính vì thế, mà lãi suất và phí khi giao dịch bao thanh toán cũng góp phần
làm tăng doanh thu cho tổ chức tín dụng.
Thứ hai, các tổ chức tín dụng có cơ hội tiếp xúc với bên mua hàng, vì vậy đã
giúp cho tổ chức tín dụng có thêm khách hàng mà không phải tốn nhiều cho chi phí
giới thiệu, quảng cáo, tìm kiếm khách hàng,… Khi tham gia vào hoạt động bao thanh

toán, ngoài việc tiếp xúc với bên bán thì trong quá trình tiến hành thu các khoản phải
thu như trong hợp đồng mua, bán hàng hóa đã thỏa thuận, tổ chức tín dụng sẽ có cơ hội
tiếp xúc với bên mua, từ việc tiếp xúc đó, tổ chức tín dụng có cơ hội giới thiệu đến bên
mua những hoạt động của mình mà không phải tốn chi phí giới thiệu, quảng cáo về tổ
chức tín dụng, cũng như những sản phẩm mà tổ chức tín dụng muốn được khách hàng
biết đến.
1.6.1.2. Đối với bên bán hàng
Thứ nhất, bao thanh toán giúp cải thiện dòng lưu thông tiền tệ được nhanh hơn.
Lượng tiền mặt của doanh nghiệp sẽ tăng lên, giúp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh
thuận lợi hơn. Bao thanh toán có thể được xem như là chuyển hóa các khoản phải thu
thành tiền mặt. Đối với bên bán hàng, tiền mặt rất cần thiết trong việc trữ hàng và cả
việc trả lương cho nhân viên. Vì vậy, khi ký kết hợp đồng bao thanh toán, tổ chức tín
dụng đã giúp cho bên bán tránh được sự thiếu hụt tiền mặt tạm thời trong khoảng thời
gian từ lúc giao hàng cho đến hạn thanh toán như đã thỏa thuận. Do đó, hoạt động sản
xuất, kinh doanh của bên bán không bị ngưng trệ vì phải chờ đợi bên mua thanh toán
tiền mua hàng.
Thứ hai, bên bán hàng sẽ giảm được chi phí, công sức quản lý trong việc theo
dõi sổ sách. Những công việc như quản lý nợ, thu nợ,… thay vì bên bán hàng phải theo
dõi, quản lý, thì khi tiến hành giao dịch bao thanh toán, những công việc này sẽ được
chuyển giao cho đơn vị bao thanh toán, vì vậy mà bên bán hàng sẽ giảm được chi phí,
công sức trong việc quản lý sổ sách.
Thứ ba, bao thanh toán giúp cho bên bán hàng có nguồn tài chính mới mà
không phụ thuộc vào các khoản vay ngân hàng. Bởi vì khi đi vay ở ngân hàng thì đến

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

19

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng



×