Tải bản đầy đủ (.pdf) (96 trang)

Xác minh điều kiện thi hành án dân sự luận văn ths luật

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (779.85 KB, 96 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐINH THANH HƢƠNG

XÁC MINH
ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2013

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐINH THANH HƢƠNG

XÁC MINH
ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số

: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Công Bình


HÀ NỘI - 2013

2


Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Đinh Thanh H-ơng

3


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU

1


Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN

6

THI HÀNH ÁN

1.1.

Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của xác minh điều kiện thi

6

hành án
1.1.1. Khái niệm về xác minh điều kiện thi hành án

6

1.1.2. Đặc điểm của xác minh điều kiện thi hành án

8

1.1.3. Ý nghĩa của xác minh điều kiện thi hành án

11

Cơ sở của việc pháp luật thi hành án dân sự quy định về xác
minh điều kiện thi hành án

13


1.2.1. Cơ sở lý luận của việc pháp luật thi hành án dân sự quy định

13

1.2.

về xác minh điều kiện thi hành án
1.2.2. Cơ sở thực tiễn của việc pháp luật thi hành án dân sự quy

16

định về xác minh điều kiện thi hành án
1.3.

Sơ lược sự hình thành và phát triển các quy định của pháp
luật về xác minh điều kiện thi hành án

19

1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989

19

1.3.2. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2008

22

1.3.3. Giai đoạn từ năm 2008 đến nay


27

4


Chương 2:

NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THI

30

HÀNH ÁN DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ XÁC MINH ĐIỀU
KIỆN THI HÀNH ÁN

2.1.

Chủ thể xác minh điều kiện thi hành án

30

2.1.1. Người được thi hành án

31

2.1.2. Chấp hành viên

31

2.1.3. Thừa phát lại


32

2.2.

Nguyên tắc thực hiện xác minh điều kiện thi hành án

35

2.2.1. Nguyên tắc xác minh điều kiện thi hành án một cách trực tiếp,
nhanh chóng, kịp thời, đúng thời hạn luật định

35

2.2.2. Nguyên tắc xác minh điều kiện thi hành án chặt chẽ và đầy đủ
điều kiện thi hành án của đương sự

36

Điều kiện để tiến hành xác minh điều kiện thi hành án

38

2.3.

2.3.1. Trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án

38

2.3.2. Trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu


39

2.4.

Thời hạn tiến hành xác minh điều kiện thi hành án

39

2.4.1. Đối với trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời

40

2.4.2. Đối với trường hợp thi hành quyết định thi hành án chủ động

40

2.4.3. Đối với trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu

41

2.5.

Trình tự, thủ tục xác minh điều kiện thi hành án

41

2.5.1. Lập kế hoạch xác minh điều kiện thi hành án

42


2.5.2. Thu thập thông tin và tiến hành xác minh điều kiện thi hành án

43

2.5.3. Lập biên bản xác minh điều kiện thi hành án

45

2.5.4. Đối chiếu, sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án

46

5


2.6.

Xác minh điều kiện thi hành án trong một số trường hợp cụ thể

48

2.6.1. Xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp thi hành
nghĩa vụ trả vật, trả giấy tờ, tài sản; trả nhà, giao nhà; thi hành
nghĩa vụ buộc phải thực hiện một công việc hoặc không được
thực hiện một công việc nhất định

48

2.6.2. Xác minh điều kiện thi hành án trong các trường hợp khác


49

2.7.

Chi phí xác minh điều kiện thi hành án

54

Chương 3:

58

THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỀ XÁC MINH ĐIỀU
KIỆN THI HÀNH ÁN VÀ KIẾN NGHỊ

Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về xác minh
điều kiện thi hành án

58

3.1.1. Khái quát về thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật
về xác minh điều kiện thi hành án

58

3.1.2. Những hạn chế, bất cập từ thực hiện các quy định của pháp
luật về xác minh điều kiện thi hành án


66

Các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xác minh điều kiện thi
hành án

77

3.2.1. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác minh điều kiện thi
hành án

77

3.2.2. Các kiến nghị thực hiện pháp luật về xác minh điều kiện thi
hành án

93

3.1.

3.2.

KẾT LUẬN

85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

87

6



DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TAND

: Tòa án nhân dân

TADNTC

: Tòa án nhân dân tối cao

THA

: Thi hành án

THADS

: Thi hành án dân sự

XMĐKTHA : Xác minh điều kiện thi hành án

7


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thi hành án dân sự (THADS) có vai trò quan trọng trong hoạt động tư
pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng. Bản án, quyết định của
Tòa án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế. Hoạt động THADS

bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành, góp phần bảo đảm
tính nghiêm minh của pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và lợi ích của Nhà nước,
góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả
của bộ máy nhà nước. Chính vì vậy, Điều 136 Hiến pháp năm 1992 của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: "Các bản án và quyết định
của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước,
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân
tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh thi hành" [24].
Ngoài quy định của Hiến pháp năm 1992, tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (1995), Nghị quyết Hội nghị lần
thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1997), Nghị quyết số
08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công
tác tư pháp trong thời gian tới (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 08/NQ-TW),
Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
(2004) và Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về
Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 48/NQ-TW), Nghị quyết số 49/NQ-TW
ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 49/NQ-TW) cũng đã đề cao tầm quan
trọng của hoạt động THADS. Với nhiệm vụ thể chế đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước vào hệ thống pháp luật, tại kỳ họp thứ 5, ngày 14 tháng 11
năm 2008, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật THADS.

8


Luật THADS là văn bản pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động THADS,
đã kế thừa, phát triển và pháp điển hóa được các quy định về THADS trước
đó phù hợp, tiến bộ, đồng thời tham khảo có chọn lọc các quy định của các

nước về vấn đề này. Một trong những nội dung mới của Luật THADS là quy
định rõ ràng hơn về trình tự, thủ tục THADS, thời hiệu yêu cầu thi hành án
(THA), phí THA, vấn đề xác minh điều kiện thi hành án (XMĐKTHA)... Tuy
nhiên, sau hơn bốn năm triển khai thực hiện Luật THADS cho thấy vẫn còn
nhiều vướng mắc, bất cập trong đó có vấn đề XMĐKTHA nên cần tiếp tục
nghiên cứu giải quyết. Xuất phát từ lý do đó, học viên đã chọn đề tài "Xác minh
điều kiện thi hành án" nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xác minh điều kiện THA tuy là một vấn đề mới được quy định cụ thể
trong Luật THADS nhưng trước và sau khi Luật THADS được ban hành đã
có một số công trình nghiên cứu khoa học pháp lý nghiên cứu về vấn đề này
như "Giáo trình Kỹ năng thi hành án dân sự của Học viện Tư pháp", Nhà
xuất bản Thống kê, 2005; "Luật Thi hành án dân sự Việt Nam những vấn đề
lý luận và thực tiễn", TS. Nguyễn Công Bình (chủ biên), Nhà xuất bản Công
an nhân dân, 2007; "Giáo trình Luật Thi hành án dân sự Việt Nam", Trường
Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2008; "Giáo trình
Luật tố tụng dân sự", Học viện Tư pháp, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2008;
"Những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự 2008", Đề tài nghiên cứu cấp
trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2010; "Một số lưu ý đối với chấp hành
viên trong việc thông báo thi hành án, thụ lý thi hành án và xác minh điều
kiện thi hành án", Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ Chấp hành viên, Tổng cục
THADS, Bộ Tư pháp, tháng 11 năm 2010; "Những vướng mắc từ thực tiễn thi
hành Luật Thi hành án dân sự ", Nguyễn Thị Khanh, Tạp chí Dân chủ và
pháp luật, số 5/2010; "Bàn thêm về nghĩa vụ thông tin, xác minh về tài sản,
điều kiện thi hành án của đương sự khi yêu cầu thi hành án", Bùi Thái Bình,
Số chuyên đề về THADS của Tạp chí Dân chủ và pháp luật năm 2010...

9



Do mục đích và giới hạn phạm vi nghiên cứu của các công trình này,
cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu, phân tích một cách trực
tiếp, đầy đủ và toàn diện các vấn đề về XMĐKTHA. Tuy vậy, đây vẫn là
những tài liệu quan trọng được tác giả tham khảo khi thực hiện việc nghiên
cứu đề tài luận văn của mình.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về XMĐKTHA,
các quy định của pháp luật THADS về XMĐKTHA và thực tiễn thực hiện các
quy định này trong THADS.
"Xác minh điều kiện thi hành án" bao gồm nhiều nội dung khác nhau.
Tuy vậy, trong phạm vi của đề tài luận văn thạc sĩ này, việc nghiên cứu chỉ
tập trung vào những vấn đề cơ bản về XMĐKTHA như khái niệm, đặc điểm,
ý nghĩa, cơ sở của việc pháp luật quy định XMĐKTHA; sự hình thành và phát
triển các quy định của pháp luật về XMĐKTHA; nội dung các quy định của
Luật THADS về XMĐKTHA và thực tiễn thực hiện trong tổ chức THADS
bốn năm gần đây.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận
cơ bản về XMĐKTHA; đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật
về XMĐKTHA và thực tiễn thực hiện, từ đó tìm ra các giải pháp góp phần
giải quyết những vướng mắc, bất cập trong việc XMĐKTHA để nâng cao
hiệu quả, hiệu lực trong công tác THADS.
Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài được xác định
trên những khía cạnh sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về XMĐKTHA như khái niệm,
đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở của việc quy định pháp luật về XMĐKTHA; sự hình
thành và phát triển các quy định của pháp luật THADS về XMĐKTHA qua
các thời kỳ lịch sử;

10



- Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật THADS hiện hành
về XMĐKTHA;
- Khái quát việc thực hiện các quy định của pháp luật THADS về
XMĐKTHA để tìm ra những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện các
quy định này;
- Tìm ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện các quy định
pháp luật THADS về XMĐKTHA.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu được học viên tiến hành trên cơ sở phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Hồ Chí Minh về Nhà nước và
pháp luật, những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về cải cách hành
chính, cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài cũng được
thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống
như phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp... Từ đó, rút ra những đánh giá,
kết luận và đề xuất các kiến nghị.
6. Những điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống về những
vấn đề liên quan đến việc XMĐKTHA. Những điểm mới của luận văn thể
hiện ở những điểm cơ bản sau đây:
- Hoàn thiện khái niệm XMĐKTHA, làm rõ được đặc điểm, ý nghĩa
và cơ sở của việc pháp luật quy định về XMĐKTHA;
- Khái quát sự hình thành và phát triển các quy định của pháp luật về
XMĐKTHA từ năm 1945 đến nay;
- Phân tích, làm rõ được nội dung các quy định của pháp luật THADS
hiện hành về XMĐKTHA;

11



- Đánh giá đúng thực trạng các quy định của của pháp luật THADS
hiện hành về XMĐKTHA và thực tiễn thực hiện;
- Đề xuất được những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện và thực hiện
những quy định của pháp luật THADS về XMĐKTHA.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về xác minh điều kiện thi hành án.
Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật thi hành án dân sự
hiện hành về xác minh điều kiện thi hành án.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật thi hành án
dân sự về xác minh điều kiện thi hành án và kiến nghị.

12


Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA XÁC MINH ĐIỀU KIỆN
THI HÀNH ÁN

1.1.1. Khái niệm về xác minh điều kiện thi hành án
Thi hành án dân sự xuất phát và gắn liền với hoạt động xét xử của Tòa
án. Tuy nhiên, còn có nhiều quan điểm khác nhau về THADS. Loại ý kiến thứ
nhất cho rằng, THADS là một dạng của hoạt động hành chính, bởi THADS là

hoạt động mang tính điều hành và chấp hành, đây là đặc điểm đặc trưng của
hoạt động hành chính [3, tr. 10]. Loại ý kiến thứ hai lại cho rằng, THADS là
một dạng của hoạt động hành chính - tư pháp vì THADS là hoạt động mang
tính điều hành và chấp hành quyết định của Tòa án. Hơn nữa, trong quá trình
THADS còn tiến hành các hoạt động mang tính hành chính như chứng thực
bản sao giấy tờ, ủy quyền THADS… Hoạt động xét xử và THA là hai giai
đoạn kế tiếp nhau, không cắt khúc và gián đoạn, do đó, luôn luôn có sự gắn
kết, liên thông giữa Tòa án đã ra bản án, quyết định đó bằng việc giao cho
Tòa án ra quyết định THA; cơ quan THA tổ chức thi hành theo quyết định
THA của Tòa án [3, tr. 10]. Loại ý kiến thứ ba cho rằng, THADS là một dạng
của hoạt động tư pháp vì THADS gắn liền với hoạt động xét xử và do cơ quan
tư pháp có thẩm quyền tổ chức thực hiện [3, tr. 10]. Do vậy, việc xác định bản
chất của THADS vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận cả từ góc độ lý luận và
thực tiễn. Có thể thấy, xuất phát từ các quy định của pháp luật hiện hành và
thực tiễn công tác THADS ở nước ta, nhiều ý kiến đồng tình với quan điểm
cho rằng THADS là hoạt động đặc thù, vừa có tính chất của hoạt động hành
chính, vừa có tính chất của hoạt động tư pháp bởi những lý do sau đây:

13


Thứ nhất, cơ sở của hoạt động THA là các bản án, quyết định dân sự
của Tòa án; các cơ quan tham gia vào quá trình THA chủ yếu là cơ quan tư
pháp (theo nghĩa rộng).
Thứ hai, THADS là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối
quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó. Tuy nhiên,
THA lại có tính độc lập tương đối thể hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu
bằng quyết định của Thủ trưởng Cơ quan THADS đối với THADS. Những
quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả chủ thể có trách
nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc THA.

Thứ ba, THA và các giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ nhân
quả với nhau. Nếu bản án, quyết định của Tòa án tuyên rõ ràng, cụ thể thì việc
THA sẽ dễ dàng, nhanh chóng. Ngược lại, nếu bản án, quyết định đó không rõ
ràng, không khách quan, thiếu tính khả thi sẽ gây khó khăn cho việc THA.
Đồng thời, việc THA nhanh chóng, kịp thời sẽ có tác động tích cực trở lại đối
với hoạt động xét xử, góp phần củng cố, tăng cường uy tín của cơ quan xét xử.
Thứ tư, bản chất của THA là dạng hoạt động chấp hành nhưng là chấp
hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác nhau
nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa
án phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình. Mục đích cuối cùng của THA
là bảo đảm cho các quyết định của Tòa án được ghi trong bản án, quyết định
được thực thi trên thực tế chứ không phải là ra văn bản áp dụng pháp luật
hoặc quyết định có tính điều hành - nét đặc trưng của hoạt động hành chính.
Với cách hiểu về THADS như trên thì khái niệm "thủ tục thi hành án
dân sự" được hiểu là toàn bộ các công việc được tiến hành theo một trình tự
nhất định để đưa một bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại
hoặc của Hội đồng xử lý cạnh tranh ra thi hành theo quy định của pháp luật.
Quá trình THADS được bắt đầu từ khi Tòa án cấp bản án, quyết định, cơ quan
THA tiếp nhận, thụ lý đơn yêu cầu THA, ra quyết định THA và tiến hành các
tác nghiệp cụ thể cho đến khi quyền và nghĩa vụ của đương sự được thực hiện

14


trên thực tế. Trong quy trình THADS, tùy theo từng vụ việc cụ thể mà Thủ
trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên hoặc Thừa phát lại có thể thực hiện
các thủ tục cần thiết khác nhau để tổ chức THA.
Theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam do Nhà xuất bản Thành phố Hồ
Chí Minh xuất bản năm 1998 thì "xác minh" được hiểu là làm cho rõ với
chứng cứ cụ thể [22, tr. 2061], còn theo Đại Từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất

bản Văn hóa Thông tin xuất bản năm 1998 thì "xác minh" được hiểu là làm rõ
thực chất sự việc với những chứng cứ cụ thể [37, tr. 1848]. Như vậy, có thể
hiểu "xác minh" là việc đi tìm các chứng cứ, tài liệu để tìm hiểu, làm rõ một
hoặc nhiều vấn đề nào đó. Xác minh được tiến hành bởi chủ thể nhất định, tùy
theo mục đích và yêu cầu của vấn đề cần được xác minh mà chủ thể tiến hành
xác minh là chủ thể nào. Cũng theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam thì "điều
kiện" là điều cần thiết phải có để đạt được mục đích [22, tr. 629] còn theo Đại
Từ điển Tiếng Việt thì "điều kiện" là điều cần phải có để có thể thực hiện
được, đạt được mục đích [37, tr. 637].
Trong pháp luật Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa có điều luật nào
định nghĩa về "có điều kiện thi hành án" và "xác minh điều kiện thi hành án".
Trong các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý về THA đã được công bố
nêu trên cũng chỉ đề cập đến những vấn đề thuộc về chủ thể, nội dung và một
vài thủ tục của XMĐKTHA mà chưa đưa ra định nghĩa, khái niệm về "có điều
kiện thi hành án" và " xác minh điều kiện thi hành án ". Từ những phân tích
trên đây có thể đi đến kết luận về XMĐKTHA như sau: XMĐKTHA là việc
Chấp hành viên, Thừa phát lại hoặc người được THA tiến hành thu thập các
chứng cứ, tài liệu về tài sản, thu nhập của người phải THA để làm căn cứ tổ
chức THADS theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm của xác minh điều kiện thi hành án
Với tính chất là một thủ tục rất quan trọng, quyết định đến kết quả,
thành công của các hoạt động tiếp theo của toàn bộ quy trình, thủ tục THA,
XMĐKTHA có đặc điểm cơ bản sau đây:

15


Thứ nhất, việc XMĐKTHA được thực hiện tại nhiều thời điểm, nhiều
địa điểm khác nhau trong quá trình THA.
Việc XMĐKTHA được thực hiện tại nhiều thời điểm khác nhau trong quá

trình THA. Chẳng hạn, trong trường hợp người được THA tự XMĐKTHA
của người phải THA thì việc xác minh được tiến hành trước khi người được
THA nộp đơn yêu cầu THA. Trường hợp THA chủ động hoặc xác minh theo
yêu cầu của đương sự thì việc XMĐKTHA được thực hiện ngay tại thời điểm ra
quyết định THA. Trường hợp sau khi người được THA tiến hành XMĐKTHA
của người phải THA và nộp đơn yêu cầu THA mà Chấp hành viên không
đồng ý với kết quả xác minh này thì Chấp hành viên sẽ tiến hành XMĐKTHA
lại. Trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì
việc XMĐKTHA được thực hiện trước, trong và sau khi áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời.
Việc XMĐKTHA cũng được thực hiện tại nhiều địa điểm khác nhau
tùy thuộc vào đối tượng xác minh. Chẳng hạn, khi xác minh hiện trạng nhà
đất thì địa điểm tiến hành xác minh là tại nơi có nhà đất, khi xác minh chủ sở
hữu phương tiện giao thông thì địa điểm tiến hành xác minh là tại Phòng cảnh
sát giao thông; khi xác minh về tiền, tài khoản thì địa điểm xác minh là tại
Ngân hàng, các tổ chức tín dụng…
Thứ hai, việc XMĐKTHA có thể do người được THA, Chấp hành
viên hoặc Thừa phát lại thực hiện.
Nghĩa vụ làm rõ điều kiện THA của người phải THADS trước hết là
của người được THA vì họ là một trong những người đưa ra yêu cầu THADS.
Tuy vậy, trong những trường hợp cơ quan THADS chủ động THA hay trong
những trường hợp người được THA không thể XMĐKTHA của người phải
THA được thì cơ quan THADS phải tiến hành xác minh THA. Ngoài ra, các
Văn phòng Thừa phát lại cũng được tổ chức THA khi đương sự yêu cầu. Vì
vậy, tương ứng với ba trường hợp này là ba chủ thể thực hiện việc
XMĐKTHA, cụ thể là:

16



- Người được THA thực hiện việc XMĐKTHA của người phải THA
trong trường hợp THA theo đơn yêu cầu. Người được THA có thể tự mình
hoặc ủy quyền cho người khác XMĐKTHA.
- Chấp hành viên thực hiện việc XMĐKTHA trong trường hợp chủ
động ra quyết định THA hoặc theo yêu cầu của người được THA sau khi họ
đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự mình xác minh được điều
kiện THA của người phải THA hoặc khi không đồng ý với kết quả xác minh
của người được THA.
- Thừa phát lại thực hiện việc XMĐKTHA trong trường hợp có yêu
cầu của đương sự. Hiện nay, với chủ trương xã hội hóa một số hoạt động
THA và thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại ở Thành phố Hồ Chí Minh
thì Thừa phát lại có quyền tổ chức THA các bản án, quyết định của Tòa án,
XMĐKTHA theo yêu cầu của đương sự. Do vậy, trong trường hợp đương sự
có yêu cầu thì Văn phòng Thừa phát lại sẽ thực hiện việc XMĐKTHA.
Thứ ba, nội dung XMĐKTHA chủ yếu là làm rõ thông tin về thu
nhập, tài sản của người phải THA.
Phần lớn nghĩa vụ THADS là nghĩa vụ về tài sản. Vì vậy, trừ những
trường hợp đặc biệt cần xác minh về nhân thân, thái độ của người phải THADS
để thi hành nghĩa vụ bắt buộc thực hiện hoặc không thực hiện một công việc
nhất định thì nội dung chủ yếu của việc xác minh là làm rõ thông tin về thu nhập,
tài sản của người phải THA. Để tổ chức THADS thì phải làm rõ tài sản, thu
nhập của người phải THADS có những gì? Số lượng và chủng loại cụ thể? Tài
sản của người phải THA do họ giữ hay do người khác giữ? Tài sản vô hình hay
tài sản hữu hình? Tài sản hiện có hay tài sản được hình thành trong tương lai?…
Thứ tư, việc XMĐKTHA phải được thực hiện một cách đầy đủ, chính
xác theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định.
Pháp luật THADS quy định cụ thể về trình tự, thủ tục THADS nhằm
đảm bảo hiệu quả THADS. XMĐKTHA là một khâu của quá trình THADS.

17



Vì vậy, việc XMĐKTHA phải được thực hiện một cách đầy đủ, chính xác
theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định từ chủ thể yêu cầu xác minh,
thể thức văn bản yêu cầu xác minh, chủ thể tiến hành xác minh, thời hạn thực
hiện việc xác minh; nơi thực hiện việc xác minh, biên bản xác minh… để
tránh những trường hợp áp dụng một cách tùy tiện.
1.1.3. Ý nghĩa của xác minh điều kiện thi hành án
Việc XMĐKTHA của người phải THA là cơ sở pháp lý để Chấp hành
viên áp dụng các biện pháp tiếp theo nhằm tổ chức THA như trả đơn yêu cầu
THA, ủy thác, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ THA, áp dụng biện pháp bảo đảm,
biện pháp cưỡng chế THA… Mặt khác, việc XMĐKTHA còn là cơ sở để phân
loại án, là căn cứ cho việc thống kê số án tồn đọng. Vì vậy, việc XMĐKTHA
có các ý nghĩa sau đây:
Thứ nhất, giúp cho việc phân loại án được chính xác, góp phần nâng
cao chất lượng và hiệu quả công tác THA, giảm bớt áp lực đối với cơ quan
THADS vì không mất nhiều thời gian, công sức để giải quyết những việc
THADS chưa có điều kiện thi hành.
Trong THADS thì án dân sự được phân làm hai loại là án dân sự có
điều kiện thi hành và án dân sự chưa có điều kiện thi hành. Căn cứ để phân
loại án dân sự có điều kiện thi hành và án dân sự chưa có điều kiện thi hành
dựa trên điều kiện THADS. Vì vậy, XMĐKTHA là thủ tục quan trọng, cần
thiết để xác định xem việc THADS đó có điều kiện thi hành hay chưa có điều
kiện thi hành. Nếu XMĐKTHA được thực hiện đầy đủ và đúng quy định của
pháp luật thì việc phân loại việc THADS (có điều kiện thi hành và chưa có
điều kiện thi hành) sẽ chính xác, từ đó cơ quan THADS sẽ tập trung thời gian,
nhân lực, chi phí cho việc thi hành những việc THADS có điều kiện thi hành
và không phải mất thời gian, công sức vào những việc THADS chưa có điều
kiện thi hành. Do đó, việc XMĐKTHA có ý nghĩa quan trọng trong việc góp
phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác THADS, giảm án tồn

đọng, giảm áp lực đối với cơ quan THADS.

18


Thứ hai, góp phần bảo đảm quyền của người được THA.
Trong các giao dịch dân sự, các bên thực hiện trên nguyên tắc tự do,
tự nguyện, cam kết, thỏa thuận và được pháp luật bảo vệ. Tại Điều 4 Bộ luật
dân sự năm 2005 quy định:
Quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền,
nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận
đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã
hội. Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên
nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào.
Cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối
với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn
trọng [25].
Như vậy, pháp luật bảo vệ các giao dịch dân sự bằng cơ chế tài phán:
Khi một trong các bên không tôn trọng, không thực hiện các cam kết, thỏa
thuận thì tranh chấp phát sinh và các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do các giao dịch dân sự được xác lập trên nguyên tắc tự nguyện, các bên tự
thỏa thuận và tự giao kết giao dịch với nhau nên để yêu cầu Tòa án giải quyết
tranh chấp thì các bên có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu
cầu của mình (khác với vụ án hình sự). Người được THA có được THA hay
không phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện THA của người phải THA. Do vậy,
việc quy định người được THA có nhiệm vụ XMĐKTHA của người phải
THA cũng là một hình thức để bảo đảm quyền, lợi ích của người được THA
do họ có trách nhiệm hơn trong việc chủ động tìm kiếm thông tin về tài sản và
điều kiện THA của người phải THA.
Thứ ba, XMĐKTHA còn góp phần nâng cao ý thức của người dân

trong việc THA.
Căn cứ vào kết quả XMĐKTHA, Chấp hành viên sẽ tiến hành các
công việc tiếp theo như áp dụng biện pháp bảo đảm THA, áp dụng biện pháp

19


cưỡng chế THA… Nếu người phải THA không tự nguyện thi hành bản án,
quyết định của Tòa án thì sau khi người được THA hoặc Chấp hành viên tiến
hành XMĐKTHA thì họ sẽ có thể bị áp dụng biện pháp bảo đảm THA, biện
pháp cưỡng chế THA và họ chắc chắn phải chịu những chi phí phát sinh
không đáng có. Do vậy, việc quy định về XMĐKTHA góp phần nâng cao ý
thức của người dân nói chung và ý thức của người phải THA nói riêng trong
việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
Tóm lại, việc XMĐKTHA có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng
trực tiếp đến kết quả giải quyết việc THA vì việc xác minh này là căn cứ, cơ sở
để Chấp hành viên ra các quyết định tác nghiệp của mình. Kết quả XMĐKTHA
như là chứng cứ để chứng minh, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên
trong vụ án dân sự. Vì vậy, để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì
người làm đơn yêu cầu THA phải chứng minh được người phải THADS có
điều kiện THA, làm cơ sở cho cơ quan THADS thụ lý hồ sơ và tổ chức THA.
Việc quy định XMĐKTHA có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao ý thức của người
dân trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tăng tính chủ
động cho các bên đương sự, đồng thời giảm sức ép đối với cơ quan THADS,
giảm án tồn đọng và góp phần nâng cao chất lượng hoạt động THADS.
1.2. CƠ SỞ CỦA VIỆC PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ QUY ĐỊNH
VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN

1.2.1. Cơ sở lý luận của việc pháp luật thi hành án dân sự quy
định về xác minh điều kiện thi hành án

XMĐKTHA là một trong những hoạt động cơ bản của THADS. Việc
pháp luật THADS quy định về XMĐKTHA xuất phát từ những cơ sở lý luận
sau đây:
Thứ nhất, từ yêu cầu bảo đảm hiệu lực các bản án, quyết định của Tòa
án được thi hành.

20


Thi hành án là giai đoạn cuối cùng nhằm bảo đảm cho bản án, quyết
định của Tòa án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của
pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước. Với tầm quan trọng như vậy,
THA có mục đích và nhiệm vụ làm cho các quyết định của Tòa án trong các
bản án, quyết định trở thành hiện thực trên thực tế. Tuy vậy, điều này lại phụ
thuộc rất nhiều vào khả năng thực tế người phải THA có tài sản, thu nhập để
THA hay không? Nói cách khác là người phải THA có điều kiện THA hay
không? Vì vậy, để tổ chức thi hành được các bản án, quyết định của Tòa án
thì trước khi tổ chức THA cần phải làm rõ người phải THA có điều kiện THA
hay không, tức là phải XMĐKTHA của người phải THA. Chính vì vậy, việc
pháp luật THADS quy định XMĐKTHA là để bảo đảm việc tổ chức thi hành
có hiệu quả các bản án, quyết định của Tòa án và bảo đảm tính nghiêm minh
của pháp luật.
Thứ hai, từ yêu cầu xã hội hóa công tác THA.
Chủ trương xã hội hóa đã được đề cập nhiều trong các văn kiện, nghị
quyết của Đảng. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị
về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã xác định
cần xã hội hóa một số hoạt động tư pháp. Trong lĩnh vực THA, đặc biệt là
THADS cần phải tích cực xã hội hóa, bởi có xã hội hóa thì mới chia sẻ được
gánh nặng công việc THA cho Nhà nước, mới nâng cao được hiệu quả công

tác THA. Hiện nay, một số công việc về THA mà tư nhân có thể thực hiện
được thì nên chuyển giao cho tư nhân thực hiện như việc sao, gửi các bản án,
quyết định của Tòa án; đôn đốc các bên tự nguyện THA; xác minh tài sản,
điều kiện THA của người phải THA… Đây là chủ trương vừa phù hợp với
truyền thống THADS của Việt Nam, vừa phù hợp với xu hướng phát triển của
kinh tế - xã hội. Do đó, Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị đã khẳng
định: "Từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ
tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số

21


công việc thi hành án" [14]. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ
Chính trị cũng nêu: "Nghiên cứu chế định Thừa phát lại (thừa hành viên);
trước mắt, có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ
sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo" [14].
Xã hội hóa là một trong những giải pháp quan trọng trong việc cải
cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm tăng cường trách
nhiệm của các cá nhân, tổ chức và huy động các nguồn lực cho sự phát triển
xã hội. Xã hội hóa được nhắc đến nhiều với ý nghĩa như một giải pháp cải
cách tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, tăng cường trách nhiệm và sự
tham gia của nhân dân, mà trọng tâm là chuyển cho các tổ chức xã hội những
công việc không nhất thiết do Nhà nước trực tiếp thực hiện. Đối với hoạt
động tư pháp, việc đổi mới nhằm tăng cường hiệu quả, hiệu lực hoạt động tư
pháp là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm.
Trong đó, xã hội hóa một số nội dung hoạt động tư pháp, bao gồm cả việc thí
điểm thừa phát lại là một trong những giải pháp được thực hiện. Bản chất của
việc xã hội hóa là chuyển những công việc không nhất thiết cứ phải do các cơ
quan nhà nước trực tiếp thực hiện cho các cá nhân, tổ chức tư nhân thực hiện.
Vì vậy, xã hội hóa THADS thực chất là việc chuyển giao cho các cá nhân, tổ

chức tư nhân thực hiện một số công việc về THADS.
Mục đích của THADS là thực hiện các quyết định trong bản án, quyết
định dân sự được đưa ra thi hành nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của Nhà nước. Công tác THADS bao
gồm nhiều công việc khác nhau, nếu chỉ do cơ quan THADS thực hiện thì
nhiều khi cơ quan này không thể thực hiện được vì bị quá tải trong công việc
và sẽ dẫn đến sự chây ỳ, chậm trễ trong THADS. Nếu việc THADS chỉ do các
cơ quan THADS thực hiện thì cũng không thể huy động được các nguồn lực
trong xã hội để tạo ra sức mạnh tổng hợp cho công tác tổ chức THADS. Việc
THADS chỉ do các cơ quan THADS thực hiện sẽ rất lớn và là một trong
những nguyên nhân gây bội chi ngân sách nhà nước. Hơn nữa, THADS trước

22


hết là vì quyền, lợi ích của các đương sự vì các đương sự là người được
hưởng lợi ích trực tiếp từ việc THADS cho nên nếu mọi việc về THADS đều
do cơ quan THADS đảm nhiệm thực hiện là chưa phù hợp. Vì vậy, việc xã
hội hóa một số nội dung hoạt động trong THADS sẽ mang nhiều ý nghĩa quan
trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của THADS.
Như vậy, qua phân tích trên cho thấy, việc pháp luật THADS quy định
XMĐKTHA là dựa trên cơ sở yêu cầu của việc bảo đảm hiệu lực các bản án,
quyết định của Tòa án được thi hành và thực hiện chủ trương xã hội hóa công
tác THA mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, đã được đề cập trong nhiều văn kiện
của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
1.2.2. Cơ sở thực tiễn của việc pháp luật thi hành án dân sự quy
định về xác minh điều kiện thi hành án
Ngoài cơ sở lý luận được phân tích ở trên thì quy định về XMĐKTHA
còn xuất phát từ cơ sở thực tiễn như sau:
Thứ nhất, trong suốt thời gian dài từ trước cho đến khi ban hành Luật

THADS, chúng ta vẫn luôn cho rằng những việc tranh chấp đã được Tòa án
thụ lý giải quyết thì cơ quan THADS phải có trách nhiệm thi hành, có trách
nhiệm sử dụng quyền lực nhà nước để bảo vệ, khôi phục quyền lợi cho các
đương sự. Người dân luôn nghĩ rằng việc cơ quan THADS buộc người phải
THA nộp tiền hoặc xử lý phát mãi tài sản là việc rất hiển nhiên và việc này
được thực hiện đơn giản, nhanh chóng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy thì mặc dù
người phải THA có tài sản, có điều kiện thi hành nhưng nếu họ không tự
nguyện thi hành thì việc cưỡng chế xử lý tài sản của họ cũng phải tuân thủ
nghiêm ngặt các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, tốn khá nhiều thời
gian, công sức. Thực tế thì rất nhiều người được THA cho rằng, việc họ được
thi hành bản án, quyết định của Tòa án là việc đương nhiên, họ chỉ cần đến cơ
quan THADS nhận tiền, tài sản của mình mà không cần biết cơ quan THADS
khó khăn, vất vả mới có được để trao trả cho họ. Khi được cán bộ THA giải

23


thích việc làm đơn yêu cầu THA phải thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp
luật quy định; khả năng bản án, quyết định được thực hiện đến đâu phụ thuộc
vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố là điều kiện THA của người phải THA
mà không hẳn là do cơ quan THADS quyết định… thì đa phần họ tỏ thái độ
bức xúc, khó chịu với cơ quan THADS. Thực tế này cho thấy, người dân
không nghĩ rằng hiệu lực thi hành trên thực tế của bản án, quyết định của Tòa
án không chỉ phụ thuộc vào việc tổ chức thi hành của cơ quan THADS mà
còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Trong THADS, quyền và nghĩa vụ
dân sự được xác lập, phát sinh từ bản án, quyết định của Tòa án cũng có thể
được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau. Đương sự có quyền thỏa thuận
trực tiếp với nhau về THADS, người có quyền cũng có thể từ bỏ quyền lợi
của mình. Thực tế là nhiều trường hợp sau khi có phán quyết của Tòa án thì
các bên đã trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ với nhau mà không cần có

sự can thiệp nào của cơ quan THADS. Hơn nữa, cơ quan THADS chỉ đứng ra
tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án khi hai bên đương sự không tự
thỏa thuận được cách thực hiện. Quan trọng nhất của việc bản án, quyết định
của Tòa án có được thực hiện hay không chính là điều kiện THA của người
phải THA là như thế nào. Hơn ai hết, chính người được THA là người biết và
cần phải biết về điều kiện THA của người phải THA như tình hình tài sản, thu
nhập... của người phải THA. Vì vậy, pháp luật quy định người được THA
phải cung cấp thông tin về điều kiện THA của người phải THA là hợp lý, phù
hợp với thực tiễn và giảm áp lực cho cơ quan THADS, tiết kiệm thời gian và
chi phí cho công tác THADS.
Thứ hai, ở nước ta trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Thừa phát lại
có nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng trong hoạt động THADS. Dù với tư cách
là người làm dịch vụ nhưng Thừa phát lại không được từ chối yêu cầu của
người được THA nếu thuộc phạm vi chức năng của mình, vì vậy, hiệu quả
của THADS rất cao. Thừa phát lại vẫn có nhiệm vụ THADS sau Cách mạng
Tháng 8 năm 1945 đến năm 1950. Với quy định của Sắc lệnh ngày

24


10/10/1945 về việc tạm thời giữ các luật lệ hiện hành của chế độ cũ với điều
kiện những điều khoản trong luật này không trái với nền độc lập của nước
Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa [11], chế định Thừa phát lại trong
pháp luật của chế độ cũ vẫn được áp dụng và Thừa phát lại với đầy đủ chức
năng, nhiệm vụ của thời kỳ trước đã mang lại những hiệu quả nhất định trong
những năm đầu xây dựng chính quyền cách mạng. Với những ưu điểm vốn có
của nó, lực lượng Thừa phát lại đã có những đóng góp rất lớn trong việc hỗ
trợ hoạt động tư pháp, bảo đảm cho mọi bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật được thi hành nghiêm minh, tình trạng án tồn đọng hầu như
không xảy ra.

Đến năm 1950, theo Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ
máy tư pháp và luật tố tụng thì các thẩm phán huyện làm nhiệm vụ THA dưới
sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án. Ở Miền Bắc, sau khi giải phóng trở đi thì
không có Thừa phát lại. Tuy vậy, ở Miền Nam, chính quyền Sài Gòn vẫn duy
trì tổ chức Thừa phát lại và Thừa phát lại là một cơ chế trợ giúp cho các cơ
quan tư pháp trong hoạt động tố tụng như hỗ trợ đắc lực cho hoạt động xét xử
của Tòa án và hoạt động THA của cơ quan THA. Trải qua nhiều thời kỳ phát
triển của đất nước, cho dù Thừa phát lại được pháp luật quy định một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp, mô hình tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa
phát lại được quy định khác nhau trong từng giai đoạn nhưng có thể thấy
rằng, hoạt động Thừa phát lại đã góp phần không nhỏ vào hiệu quả hoạt động
của THA. Kết quả THADS của Thừa phát lại đã chứng minh cho việc cần tiếp
tục quy định chế định "Thừa phát lại", trong đó quy định đầy đủ và chi tiết
hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại; quy định phạm vi, công việc
mà Thừa phát lại được làm nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa, trong đó
đặc biệt lưu ý đến các quy định về XMĐKTHA. Có như vậy thì mô hình
Thừa phát lại mới phát huy được năng lực, góp phần bảo đảm quyền và nghĩa
vụ cho các bên trong quá trình THA, đồng thời giảm tải cho cơ quan THADS
trong việc thi hành án, góp phần giảm án tồn đọng, nâng cao hiệu lực, hiệu

25


×