Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh ở các trường THCS quận 3, Tp. Hồ Chí Minh (Qua khảo sát tại trường THCS Hai Bà Trưng, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (409.03 KB, 105 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐOÀN HỮU KHÁNH

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỂ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG
CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THCS
QUẬN 3, TP. HỒ CHÍ MINH
(Qua khảo sát tại Trường THCS Hai Bà Trưng, Quận 3,
Tp. Hồ Chí Minh)

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC


THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2012

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỂ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG
CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THCS QUẬN 3
TP. HỒ CHÍ MINH
(Qua khảo sát tại Trường THCS Hai Bà Trưng,
Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: GVC. TS. NGUYỄN THÁI SƠN
Học viên: Đoàn Hữu Khánh


Lớp Cao học 18, LL&PPDH Bộ môn Chính trị tại Đại học Sài Gòn


THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2012


LỜI CẢM ƠN
Quá trình nghiên cứu viết luận văn tác giả có tham khảo một số văn
kiện của Đảng, các sách viết về Giáo dục Chính trị tư tưởng trong học sinh và
sinh viên. Đặc biệt là được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của các Thầy, Cô,
trực tiếp là Tiến sĩ Nguyễn Thái Sơn, Phó Trưởng khoa Giáo dục Chính trị,
Trường Đại học Vinh hướng dẫn nghiên cứu viết luận văn khoa học này cũng
như sự hỗ trợ của các bạn cùng lớp LL&PPDH Bộ môn Chính trị khoá 18 tại
Đại học Sài Gòn.
Trận trọng cảm ơn Ban Giám hiệu và các Thầy, Cô khoa Giáo dục
Chính trị, Trường Đại học Vinh; Ban Giám hiệu, cán bộ quản lý phòng, khoa
Trường Đại học Sài Gòn, và cán bộ, giáo viên Trường THCS Hai Bà Trưng,
Quận 3, Tp Hồ Chí Minh đã giúp Tôi hoàn thành luận văn này.
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không tránh
khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp bổ sung của
quý Thầy Cô và các đồng nghiệp.
Tp. Hồ Chí Minh tháng 6 năm 2012
Người viết luận văn


Đoàn Hữu Khánh

NHỮNG TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCH


Ban chấp hành

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

CHXHCN

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

CMHS

Cha mẹ học sinh

CTTT

Chính trị tư tưởng

CB - GV

Cán bộ - giáo viên

CNH - HĐH

Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá

HS

Học sinh


GS

Giáo sư

GVCN

Giáo viên chủ nhiệm

GVBM

Giáo viên bộ môn

GD & ĐT

Bộ giáo dục và đào tạo

GD

Giáo dục

GDCTTT

Giáo dục chính trị tư tưởng

TW

Trung ương

THCS


Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

TNTP

Thiếu niên tiền phong

TP

Thành phố

PGS

Phó giáo sư

UBND

Uỷ ban nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU...................................................................................................10
1. Tính cấp thiết của đề tài..............................................................................10

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài..................................................12
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu..............................................................14
3.1. Mục đích...........................................................................................14
3.2. Nhiệm vụ..........................................................................................14
5. Phạm vi nghiên cứu.....................................................................................15
6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu..................................................15
7. Đóng góp của luận văn................................................................................16
8. Cấu trúc của luận văn..................................................................................16
B. NỘI DUNG................................................................................................17
Chương 1.........................................................................................................17
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG...........................17
HỒ CHÍ MINH VÀO CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG 17
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ.............................17
1.1. Khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục chính trị, tư tưởng........17
1.1.1. Khái niệm chính trị, tư tưởng................................................17
1.1.1.1. Khái niệm chính trị.........................................................17
1.1.1.2. Khái niệm tư tưởng.........................................................18
1.1.1.3. Khái niệm giáo dục và giáo dục chính trị, tư tưởng.......19
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục chính trị, tư tưởng.......22
1.2. Mục tiêu, nội dung của giáo dục chính trị, tư tưởng đối với học
sinh Trung học cơ sở...........................................................................24
1.2.1. Mục tiêu công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh
Trung học cơ sở...............................................................................24
1.2.2. Nội dung công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh
Trung học cơ sở...............................................................................26
1.2.3. Phương pháp, hình thức giáo dục chính trị, tư tưởng cho học
sinh Trung học cơ sở.......................................................................28
1.3. Các yếu tố đảm bảo hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh
Trung học cơ sở...........................................................................................30
1.3.1. Môi trường giáo dục lành mạnh............................................30

1.3.2. Tiêu chí thi đua......................................................................31
1.3.3. Phối hợp giáo dục giữa nhà trường - gia đình - xã hội..........31
1.3.4. Tổ chức sinh hoạt ngoại khóa................................................32
1.3.5. Tổ chức các ngày lễ lớn trong năm......................................33
Kết luận chương 1...............................................................34


THỰC TRẠNG VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO QUÁ
TRÌNH GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH TẠI
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HAI BÀ TRƯNG, QUẬN 3, THÀNH PHÔ
HỒ CHÍ MINH................................................................................................35
2.1. Khái quát tình hình kinh tế- xã hội, văn hóa, giáo dục Quận 3,
Thành phố Hồ Chí Minh.....................................................................35
2.1.1. Bối cảnh kinh tế, chính trị ở Quận 3, Thành phố Hồ Chí
Minh ảnh hưởng tới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với
học sinh Trung học cơ sở................................................................35
2.1.2. Khái quát về quá trình hình thành, phát triển của Trường
Trung học cơ sờ Hai Bà Trưng, Quận 3..........................................42
2.1.2.1. Công tác chính trị tư tưởng :..........................................44
2.1.2.2. Các hoạt động nâng cao chất lượng dạy và học............46
2.2. Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình Giáo dục
chính trị, tư tưởng cho học sinh ở Trường Trung học cơ sở Quận 3, Thành
phố Hồ Chí Minh.........................................................................................51
2.2.1. Đánh giá chung về thực trạng giáo dục chính trị tư tưởng cho
học sinh ở Trường Trung học cơ sở................................................51
2.2.2. Nhận thức của học sinh đối với hoạt động giáo dục chính trị
tư tưởng cho học sinh......................................................................54
2.2.3. Các biểu hiện nhân cách của học sinh..................................56
2.2.4. Tác động của yếu tố gia đình đối với việc giáo dục học sinh
.........................................................................................................58

2.3. Về nội dung vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác giáo
dục chính trị, tư tưởng cho học sinh Trung học cơ sở.........................59
2.3.1. Thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn thể học sinh các trường
Trung học cơ sở quận 3...................................................................63
2.3.2. Tổ chức thực hiện nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng cho
học sinh............................................................................................65
2.3.3. Tổ chức các hoạt động của nhà trường đối với việc giáo dục
chính trị, tư tưởng cho học sinh Trung học cơ sở............................66
2.3.4. Các giải pháp đã sử dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động
giáo dục chính trị cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở.......67
Kết luận chương 2...............................................................69
Chương 3.........................................................................................................70
MỘT SÔ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH...............70
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ
TƯỞNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ...................70
HAI BÀ TRƯNG, QUẬN 3, THÀNH PHÔHỒ CHÍ MINH.........................70


3.1. Nguyên tắc đề xuất giải pháp......................................................70
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu.......................................70
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn.......................................70
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả.......................................71
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi..........................................71
3.2. Một số giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao
hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh trường Trung học
cơ sở Hai Bà Trưng, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.......................71
3.2.1. Xây dựng Hội đồng Giáo dục chính trị tư tưởng nhà trường,
từng bước đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ở trường
Trung học cơ sở Hai Bà Trưng, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.72

3.2.2. Nâng cao nhận thức trách nhiệm của giáo viên, đặc biệt là
giáo viên chủ nhiệm........................................................................74
3.2.3. Tạo sự gắn kết, phối hợp giữa các tổ trưởng chuyên môn,
giáo viên chủ nhiệm, giáo viên dạy môn giáo dục công dân cũng
như cán bộ tham gia công tác Đoàn- Đội- Hội................................76
3.2.3.1. Mục tiêu của giải pháp...................................................77
3.2.3.2. Nội dung của giải pháp:..................................................77
3.2.3.3. Tổ chức thực hiện giải pháp...........................................78
3.2.3.4. Điều kiện để thực hiện giải pháp....................................79
3.2.4. Tăng cường công tác quản lý mục tiêu, chương trình, nội
dung dạy học môn Giáo dục công dân............................................80
3.2.4.1. Nâng cao ý thức tự giác và trách nhiệm của đội ngũ giáo
viên..............................................................................................80
3.2.4.2. Nâng cao trình độ giáo viên...........................................80
3.2.4.3. Lập kế hoạch phát triển đội ngũ GV trên cơ sở phát triển
nhà trường mang tính chiến lược lâu dài.....................................81
3.2.5. Tăng cường công tác quản lý kiểm tra Hội đồng giáo dục
chính trị, tư tưởng nhà trường.........................................................82
3.2.5.1. Tăng cường quản lý việc thực hiện chương trình, kế
hoạch giảng dạy...........................................................................82
3.2.5.2. Quản lý việc thực hiện kế hoạch....................................82
3.2.5.3. Tổ chức chuyên đề, thao giảng để GV- HS học tập kinh
nghiệm.........................................................................................83
3.2.5.4. Quản lý sinh hoạt ngoại khóa, giáo dục truyền thống....83
3.2.5.5. Thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy, sinh
hoạt chuyên đề.............................................................................84
3.2.6. Giải pháp xây dựng “trường học thân thiện”........................86
3.2.6.1. Mục tiêu của giải pháp...................................................86
3.2.6.2. Nội dung của giải pháp...................................................86



3.2.6.3. Tổ chức thực hiện giải pháp...........................................87
3.2.7. Phối hợp với Hội cha mẹ học sinh và các đoàn thể...............88
3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp được đề
xuất......................................................................................................92
3.3.1. Giới thiệu về quá trình khảo sát...........................................92
.........................................................................................................92
3.3.2. Kết quả thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của một số giải
pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục chính trị
tư tưởng cho học sinh trường THCS Hai Bà Trưng trên địa bàn
quận Ba Thành phố Hồ Chí Minh...................................................92
3.3.2.1. Khảo nghiệm về tính cần thiết........................................93
Kết luận chương 3...............................................................96
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..................................................................96
1. Kết luận.......................................................................................................96
2. Kiến nghị.....................................................................................................97

MỤC LỤC BẢNG
Bảng 1.1: Thành tích Nhà trường đạt được trong 3 năm qua:.........................48
Bảng 1.2: Khảo sát, thăm dò ý kiến học sinh..................................................54
Bảng 1.3: Khảo sát, thăm dò ý kiến học sinh (tt)............................................55
Bảng 3.1: Đánh giá mức độ cần thiết của các giải pháp được đề xuất............93
Bảng 3.2: Đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất:............................93


A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh nói chung
và công tác giáo dục đạo đức cho học sinh nói riêng luôn được Đảng, nhà
nước đặc biệt quan tâm.

Hiện nay nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước trong bối cảnh kinh tế thị trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế, việc
giáo dục và đào tạo học sinh THCS không những có kiến thức phổ thông
vững vàng mà các em còn có khả năng định hướng nghề nghiệp phù hợp với
năng lực sở trường của mình sau khi tốt nghiệp THPT là một vấn đề cấp thiết.
Bên cạnh kiến thức đó, các em còn được chú trọng rèn luyện về đạo đức tác
phong công nghiệp để xứng đáng là lực lượng lao động vừa hồng, vừa
chuyên.


Hội nhập kinh tế ngoài mặt tích cực nó còn làm phát sinh những vấn đề
mà chúng ta cần quan tâm: Bản sắc văn hóa dân tộc bị đe dọa, hội nhập kinh
tế quốc tế đưa vào nước ta những sản phẩm đồi trụy, phản nhân văn, gieo rắc
lối sống tự do tư sản, làm xói mòn những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục
của dân tộc. Hiện nay một số bộ phận thanh thiếu niên có dấu hiệu sa sút
nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, kém ý thức
trong quan hệ cộng đồng, thiếu niềm tin trong cuộc sống, ý chí kém phát triển,
không có tính tự chủ, dễ bị lôi cuốn vào những việc xấu. Vấn đề đạo đức và
giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở nước ta mấy năm gần đây đã trở
thành điểm nóng không chỉ của ngành giáo dục mà còn của toàn xã hội.
Hội nghị BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam lần II khoá VIII, khi đánh
giá về công tác giáo dục đào tạo trong thời gian qua đã nêu “Đặc biệt đáng lo
ngại trong một bộ phận học sinh, sinh viên có trình trạng suy thoái đạo đức,
mờ nhạt lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp
vì tương lai của bản thân và đất nước”. Trong những năm tới cần “tăng cường
giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác
Lê Nin…tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thể
thao phù hợp với lứa tuổi và với yêu cầu giáo dục toàn diện.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, để góp phần vào công tác giáo
dục chính trị cho học sinh trong giai đoạn hiện nay. Qua nâng cao chất lượng

công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh THCS nói chung và học sinh
Trường THCS Hai Bà Trưng nói riêng. Tôi nhận thấy việc nắm rõ thực trạng
và đề ra biện pháp hiệu quả để quản lý hoạt động giáo dục lý tưởng cho học
sinh thuộc khối THCS là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của người cán bộ
quản lý giáo dục. Vì các lý do trên tôi chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho học
sinh ở các trường THCS quận 3 Tp. Hồ Chí Minh” (qua khảo sát tại Trường


THCS Hai Bà Trưng, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh) làm luận văn Cao học Thạc
sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở nước ta, việc nghiên cứu, quán triệt tầm quan trọng của công tác tư
tưởng, lý luận được tiến hành thường xuyên hàng năm, đặc biệt là ở vào các
thời điểm bước ngoặc của lịch sử, nhất là từ Đại hội VI (1986) của Đảng. Từ
đó việc nghiên cứu các hình thức, phương pháp giáo dục chính trị tư tưởng
luôn được Đảng, nhà nước và các học giả quan tâm.
Đề cập đến công tác giáo dục Chính trị, tư tưởng cho học sinh, sinh
viên đã có nhiều đề tài nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau:
Đánh giá vai trò của đạo đức, chính trị, tư tưởng trong điều kiện kinh tế
thị trường ở nước ta có nhiều tác giả nghiên cứu như: GS. TS. Nguyễn Trọng
Chuẩn và PGS. TS. Nguyễn Văn Phúc (2003) với bài viết “Mấy vấn đề về
đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, Nxb CTQG,
Hà Nội. Với công trình này, 2 tác giả đã đề cập đến sự thay đổi tư tưởng, đạo
đức, lối sống trong bối cảnh kinh tế thị trường giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên,
2 tác giả không đề cập nhiều đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của học sinh
THCS.
PGS.TS Đoàn Minh Duệ với đề tài “Tình hình tư tưởng đạo đức, lối
sống cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng thuộc các tỉnh Bắc miền
Trung” (1997) đã tập trung nghiên cứu hình hình tư tưởng, đạo đức, lối sống

sinh viên ở nhiều khía cạnh đặc biệt là vấn đề đạo đức, lối sống cho sinh viên ở
Vùng Bắc Trung Bộ, nơi có hoàn cảnh kinh tế- xã hội gặp nhiều khó khăn, tuy
nhiên trong đề tài, giải pháp, còn tập trung vào nâng cao giáo dục đạo đức ở
các Trường Đại học, Cao đẳng chưa tập trung vào các Trường THPT và THCS.
Trong luận án tiến sĩ triết học của tác giả Đỗ Tuyết Bảo đề cập khá cụ
thể vấn đề “Giáo dục đạo đức cho học sinh các trường phổ thông cơ sở ở


Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kì đổi mới hiện nay”. Tác giả nêu ra nhận
định và phân tích bối cảnh thời kì đổi mới đã ảnh hưởng đến công tác giáo
dục về đạo đức, lối sống của học sinh các trường THCS ở Thành phố Hồ Chí
Minh trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên do đây là một luận án tiến sĩ, nên
cách đặt vấn đề của tác giả cũng như hướng khai thác của luận án ở phạm vi
rộng, khái quát những quy luật chung.
Bên cạnh các đề tài trên còn có một số công trình nghiên cứu của một
số học giả như GS. Phạm Tất Dong, GS.VS Phạm Minh Hạc... Cũng theo đề
tài đó, nhà giáo Mai Văn Bính đã có công trình “Một số vấn đề thời đại và
đạo đức”, Trường Đại học Sư phạm I, Hà Nội (1991); Phạm Khắc Chương,
(1995) công tác tại Vụ Giáo viên - Bộ Giáo dục với công trình “Một số vấn đề về
giáo dục đạo đức và giảng dạy đạo đức ở THPT”; Nguyễn Văn Truy (chủ biên)
(1993) với công trình “Hồ Chí Minh về đạo đức”, Nxb CTQG, Hà Nội; … Các
tác giả đã tập trung phân tích các yếu tố của tư tưởng, đạo đức, lối sống trong
những bối cảnh khác nhau, ở các cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, các tác giả
đều có một nhận định chung là “tư tưởng, đạo đức, lối sống có vai trò rất quan
trọng trong quá trình giáo dục và định hướng nhân cách con người”.
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng luôn được các trường học trong hệ
thống đào tạo của Việt Nam quan tâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai
trò công tác giáo dục đạo đức, lối sống. Vì vậy, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn được vận dụng trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho học
sinh và sinh viên.

Năm 2007, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Hồ Chí
Minh học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh của Nguyễn Huệ Khanh
có đề cập đến vấn đề “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức vào việc
giáo dục đạo đức cho học sinh các trường PTTH ở Hà Nội hiện nay”. Tác giả
nhận định và phân tích vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như quá trình


vận dụng tư tưởng của Người vào công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học
sinh các trường THPT ở Hà Nội. Cũng trong năm này, Sở Giáo dục- Đào tạo
Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo “Nâng cao chất lượng giáo dục đạo
đức trong nhà trường phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh”. Dựa trên tình
hình thực tế và tầm quan trọng của vấn đề đạo đức học sinh THPT, Sở Giáo
dục - Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục trên phương diện đạo đức.
Với các công trình nghiên cứu đã nêu là cơ sở để các nhà quản lý giáo dục
Việt Nam nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống
cho học sinh, sinh viên. Tuy nhiên, hiện chưa có đề tài nào tập trung nghiên cứu
việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào quá trình giáo dục chính trị, tư tưởng
cho học sinh trường THCS Hai Bà Trưng, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh. Trên cơ sở
những kết quả đã nghiên cứu, chúng tôi cố gắng tiếp thu nhằm nâng cao chất
lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh THCS nói chung và học
sinh Trường THCS Hai Bà Trưng nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích.
Dưới góc độ khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luận văn
làm rõ cơ sở luận và thực tiễn của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong
công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh. Từ đó đề xuất một số giải
pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho
học sinh ở các trường THCS Quận 3 Tp Hồ Chí Minh.
3.2. Nhiệm vụ

- Tìm hiểu cơ sở lý luận của công tác giáo dục chính trị tư tưởng.
- Điều tra khảo sát thực trạng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho
học sinh ở Trường THCS Hai Bà Trưng, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.


- Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh ở
Trường THCS Hai Bà Trưng, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và
học sinh các trường THCS nói chung.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh ở trường THCS Hai
Bà Trưng, Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay chưa đi vào thực chất do
nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Do vậy, nếu luận văn thực hiện tốt, đưa
ra được hệ thống giải pháp khoa học, khả thi thì sẽ tạo điều kiện cho trường
THCS Hai Bà Trưng nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng, thực hiện
tốt nhiệm vụ giáo dục, đào tạo; góp phần đổi mới công tác quản lý giáo dục
và nâng cao chất lượng dạy và học.

5. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài giới hạn trong vấn đề vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh trong giáo dục công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho
học sinh ở các trường THCS quận 3 Tp. Hồ Chí Minh, chứ không nghiên cứu
việc giáo dục đạo đức nói chung và cũng không nghiên cứu ở các bậc học cao
hơn như THPH, cao đẳng hay đại học.
6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa
Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; lý luận bài viết của Bác Hồ; các bài viết
về tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; hệ thống các quan điểm
chỉ đạo của Đảng ta về việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.



Luận văn sử dụng phương pháp luận Mác xít, các phương pháp nghiên
cứu khoa học như: Phương pháp logic kết hợp lịch sử, phương pháp phân
tích, tổng hợp, điều tra xã hội học, thống kê,…
7. Đóng góp của luận văn
Với kết quả nghiên cứu bước đầu, luận văn góp phần làm rõ việc vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho
học sinh ở các trường THCS Quận 3 Tp. Hồ Chí Minh.
Kết quả nghiên cứu của luận văn, có thể làm tài liệu tham khảo cho các
bạn sinh viên và học viên Cao học ngành Chính trị, là tài liệu tham khảo cho
lãnh đạo trường THCS Hai Bà Trưng nói riêng và các trường THCS nói
chung trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh THCS.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào
công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh các trường Trung học cơ sở.
Chương 2. Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào quá trình
giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh tại Trường Trung học cơ sở Hai Bà
Trưng, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3. Một số giải pháp nhằm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để
nâng cao công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh ở trường Trung
học cơ sở Hai Bà Trưng, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

B. NỘI DUNG
Chương 1


CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG

HỒ CHÍ MINH VÀO CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục chính trị, tư tưởng
1.1.1. Khái niệm chính trị, tư tưởng
1.1.1.1. Khái niệm chính trị
Chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nó xuất hiện cùng với sự
phân chia xã hội thành giai cấp và nhà nước. Từ khi xuất hiện đến nay chính
trị luôn là lĩnh vực hoạt động phức tạp và quan trọng nhất. Những bước thăng
trầm của lịch sử nhân loại, xét đến cùng đều có nguồn gốc sâu xa của nó là
những thay đổi trong lĩnh vực chính trị. Bởi tính phức tạp của nó mà cho đến
nay vẫn còn nhiều tranh luận xung quanh khái niệm chính trị. Theo tiếng Hy
lạp "Politica" có nghĩa là những công việc liên quan tới nhà nước, là nghệ
thuật cai trị đất nước, đó là một tổ chức xã hội nằm dưới một quyền lực nhất
định, quyền lực nhà nước.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Chính trị là toàn bộ những hoạt
động có liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các
tầng lớp xã hội mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng
quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc nhà nước, sự xác định hình thức
tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước” [37; 216].
Kế thừa các nhân tố hợp lý trong các quan điểm về chính trị, tác giả
luận văn cho rằng: Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các lực lượng
xã hội trong vấn đề chính quyền; là sự tham gia của nhân dân vào công việc
của nhà nước; là tổng hợp những phương pháp, phương thức hoạt động thực
tiễn của các giai cấp, các đảng phái nhằm giáo dục, giác ngộ quần chúng tham
gia vào quá trình giành, giữ và điều khiển hoạt động của nhà nước để bảo vệ
lợi ích của giai cấp; với mục đích và phạm vi nghiên cứu và qua thực tế ở


Việt Nam luận văn tiếp cận đến chính trị với tư cách là những hoạt động của

Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhằm giáo dục, giác ngộ, nâng cao nhận thức cho
cán bộ, đảng viên để lãnh đạo tổ chức quần chúng xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa.
1.1.1.2. Khái niệm tư tưởng
Thuật ngữ "Tư tưởng có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ "idea", có nghĩa
là hình thức. Cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa tư tưởng khác nhau: “Tư
tưởng là sự phản ánh của hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con
người đối với thế giới chung quanh. Là những quan điểm, ý nghĩa phản ánh
thế giới vật chất trong nhận thức con người và thể hiện mặt này hay mặt khác
của thế giới khách quan” [38; 1017].
Trong xã hội có giai cấp luôn tồn tại sự đấu tranh để truyền bá, thu
phục lòng người, lôi kéo quần chúng nhân dân theo quan điểm tư tưởng của
giai cấp thống trị, nhằm biến tư tưởng thành sức mạnh hành động để giành
thắng lợi trong cuộc đấu tranh giai cấp. Về thực chất, đấu tranh tư tưởng là sự
biểu hiện của cuộc vận động đấu tranh giai cấp. Ph. Ăngghen viết: "Tất cả
mọi cuộc đấu tranh trong lịch sử, không kể nó diễn ra trong địa hạt chính trị tôn giáo, triết học, hay trên bất kỳ một địa hạt tư tưởng nào khác - thực ra chỉ là
biểu hiện ít nhiều, rõ rệt của cuộc đấu tranh giữa các giai cấp trong xã hội..."
[28; 373- 374].
Trong cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, đấu tranh tư
tưởng đã góp phần quan trọng giúp giai cấp vô sản giành chính quyền. Sau
khi có chính quyền, đấu tranh tư tưởng vẫn tiếp tục để chống các tàn dư tư
tưởng của xã hội cũ, những khuynh hướng tư tưởng lệch lạc và các tư tưởng
thù địch phản động để làm cho ý thức xã hội chủ nghĩa chiếm ưu thế tuyệt đối
trong đời sống tinh thần của xã hội.


Từ sự phân tích trên có thể đi đến khái niệm về tư tưởng như sau: Tư
tưởng là sự phản ánh khái quát hiện thực khách quan trong ý thức con người,
biểu hiện những lợi ích của con người, giai cấp về xã hội. Đó là ý thức phản
ánh tồn tại xã hội dưới dạng khái quát, phản ánh lợi ích của một con người,

một tập đoàn người, một giai cấp, một dân tộc trong một thời đại nhất định.
Tuỳ thuộc vào trình độ, tính chất và nội dung sự phản ánh mà có tư tưởng đúng
hay tư tưởng sai, có tư tưởng tiến bộ hay tư tưởng lạc hậu, hay tư tưởng phản
động kìm hãm sự phát triển của xã hội. Vì vậy, trong xã hội có giai cấp luôn
luôn có sự đấu tranh giữa các giai cấp về mặt tư tưởng. Nội dung chủ yếu của
đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng là đấu tranh giữa hai hệ tư tưởng: Hệ
tư tưởng của giai cấp thống trị và hệ tư tưởng của giai cấp bị thống trị.
1.1.1.3. Khái niệm giáo dục và giáo dục chính trị, tư tưởng
Xét về mặt cấu trúc của khái niệm thuật ngữ chính trị tư tưởng là từ
ghép giữa chính trị và tư tưởng được sử dụng ở đây như một bổ ngữ của công
tác giáo dục nhằm phân biệt làm rõ nội dung của giáo dục. Theo cách diễn đạt
của Từ điển tiếng Việt năm 1994: Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một
cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào
đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như
yêu cầu đề ra. Trong thực tế ta thấy có giáo dục kinh tế, giáo dục lao động,
giáo dục đạo đức, giáo dục quân sự...
Với cách tiếp cận về chính trị và tư tưởng như phần trên đã trình bày,
bản chất của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là quá trình tác động có
mục đích, có hệ thống của một Đảng, một giai cấp, một tổ chức của quần
chúng, nhằm giác ngộ nâng cao nhận thức tư tưởng của họ về quan điểm,
đường lối chính trị, để quy tụ tập hợp quần chúng tham gia các quá trình đấu
tranh cách mạng để giành và bảo vệ, thực thi quyền lực chính trị nhằm đáp
ứng, thoả mãn các nhu cầu về lợi ích. Những lợi ích đó có thể là lợi ích chính


trị, lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế... Trong đó, lợi ích kinh tế là mục đích sâu
xa nhất, cốt lõi nhất phản ánh quan hệ đấu tranh giữa các giai cấp, nhưng lại
được thể hiện ở mục tiêu trực tiếp trước mắt là lợi ích chính trị.
Điều đó có nghĩa, trong cuộc đấu tranh giữa các giai cấp giành quyền
lực chính trị tức là quyền lực nhà nước, một công cụ duy trì quyền lực chính

trị của giai cấp này đối với giai cấp khác và đối với toàn xã hội. Vấn đề chính
quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng. Đó là lợi ích chính trị đầu
tiên của các cuộc đấu tranh giai cấp mà các giai cấp lãnh đạo phong trào cách
mạng đều hướng tới, tìm mọi cách để giành lấy. Tuy nhiên, trong xã hội cũng
như ngay trong một giai cấp, nhận thức về nhu cầu, lợi ích không hoàn toàn
giống nhau về mức độ. Do đó, các giai cấp đều thông qua các tổ chức chính
trị của mình để xây dựng đội ngũ cán bộ tư tưởng (nhà tư tưởng), xây dựng hệ
thống tổ chức cùng các thể chế tư tưởng thống trị toàn xã hội, thông qua nhiều
con đường, nhiều hình thức và phương pháp khác nhau để đưa hệ tư tưởng đó
tác động vào nhận thức của quần chúng nhân dân, lực lượng cơ bản quyết
định thắng lợi của Cách mạng.
Hiện nay, khái niệm về công tác tư tưởng còn có những ý kiến khác
nhau về cách tiếp cận nhưng đã thống nhất trên những nét cơ bản như:
Thứ nhất: Đó là quá trình bao gồm việc sáng tạo, phát triển hệ tư tưởng.
Hai là: Việc vận dụng sáng tạo, phát triển hệ tư tưởng để xây dựng
cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng, chiến lược, sách lược của một giai
cấp, một chính đảng.
Ba là: Việc giáo dục truyền bá hệ tư tưởng, đường lối quan điểm của
Đảng nhằm giác ngộ, nâng cao tính tự giác và thúc đẩy hành động cách mạng
của quần chúng nhân dân tham gia thực hiện nhiệm vụ cách mạng.
Chủ thể của công tác tư tưởng bao gồm: Chủ thể của hệ tư tưởng (một
giai cấp, một chính đảng), các cơ quan và các thiết chế tư tưởng được chủ thể


của hệ tư tưởng lập ra, có chức năng nhiệm vụ nghiên cứu, vận dụng sáng tạo,
giáo dục, truyền bá, bảo quản, lưu giữ hệ tư tưởng.
Khách thể của công tác tư tưởng là ý thức và các hành vi của cá nhân,
tập thể của các giai tầng trong xã hội; là quá trình tư tưởng và các quan hệ xã
hội trong đó con người là khách thể của sự tác động của công tác tư tưởng. Tuy
nhiên mỗi con người đều gắn với nhau trong một kết cấu giai tầng xã hội là lực

lượng cách mạng, đối tượng chủ yếu chịu sự tác động của công tác tư tưởng.
Khi xem xét công tác tư tưởng như một quá trình tư tưởng, công tác tư
tưởng có những hình thái cơ bản sau: Công tác lý luận, công tác tuyên truyền,
công tác cổ động. Trong đó, công tác lý luận tư tưởng ứng với quá trình sáng
tạo, phát triển hệ tư tưởng và vận dụng hệ tư tưởng để xây dựng cương lĩnh,
đường lối chính trị... của Đảng.
Công tác tuyên truyền và công tác cổ động tương ứng với quá trình
truyền bá hệ tư tưởng, đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước tới quần chúng nhân dân, cổ vũ, động viên, thúc đẩy họ hành
động thực hiện mục tiêu của Cách mạng do Đảng đề ra.
Như vậy, công tác lý luận là cơ sở nền tảng của công tác tư tưởng,
quyết định phương hướng, nội dung của công tác tuyên truyền và cổ động.
Công tác tuyên truyền tiếp nối công tác lý luận làm cho lý luận có sức sống
mạnh mẽ, thể hiện sinh động trong thực tiễn. Công tác cổ động là khâu cuối
cùng quyết định việc chuyển hoá lý luận đã được nhận thức, niềm tin được
xây dựng và củng cố thành hành động cách mạng.
Ngoài bản chất hình thái cơ bản trên, trong mỗi hình thái lại có nhiều
lĩnh vực công tác khác có tính chất chuyên sâu phù hợp với tính chất, đối
tượng tác động mục tiêu của nhiệm vụ... nhằm đạt hiệu quả cao trong hoạt
động thực tiễn của công tác tư tưởng. Trong đó, công tác giáo dục chính trị, tư


tưởng thuộc hình thái của công tác tuyên truyền, một trong ba hình thái của
công tác tư tưởng.
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục chính trị, tư tưởng
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm lo đến công tác giáo dục
chính trị tư tưởng, Người cho rằng: “Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt
sai lầm”; “Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ
nhiệm vụ mới thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động
mới thống nhất”. Công tác tư tưởng tự bản thân nó đã hàm chứa những vấn đề

nhạy cảm, phức tạp, đa chiều, liên quan đến tâm tư nguyện vọng của cán bộ,
đảng viên, nhân dân; liên quan đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng.
Người nói: “Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư
tưởng của mỗi cán bộ để có giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng
thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc”. Trong
báo cáo tại Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá II
(15/7/1954), trong mười công tác được xác định thì công tác lãnh đạo tư
tưởng là quan trọng nhất. Hồ Chí Minh luôn yêu cầu cán bộ lãnh đạo và cán
bộ các Ngành, tư tưởng phải thông, phải thật thông. Phải có quyết tâm khắc
phục khó khăn, làm tròn nhiệm vụ. Phải đánh thông tư tưởng và động viên
sáng kiến và lực lượng của toàn Đảng, toàn dân. Mọi người quyết tâm làm
cho được và tin tưởng làm nhất định được. Mỗi lần về thăm các nhà máy,
công trường, hợp tác xã, Bác Hồ luôn nhắc nhở, động viên cán bộ, đảng viên,
nhân viên “Muốn quản lý tốt thì cán bộ và công nhân phải thông suốt tư
tưởng”.
Trên cơ sở quy luật của công tác tư tưởng, Người đã trù liệu hệ quả khi
đảng viên chưa thông suốt tư tưởng sẽ dẫn tới những biến dạng khôn lường
“Nếu tư tưởng và hành động của Đảng viên không nhất trí, thì khác nào một
mớ cắt rời”, “Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Như vậy, thì không thể lãnh


đạo quần chúng, không thể làm cách mạng. Do đó, Người luôn canh cánh kỳ
vọng làm sao tư tưởng tiên tiến, tư tưởng XHCN phải trở thành chủ đạo,
trường tồn cùng với Đảng, với cán bộ, đảng viên và nhân dân. Người chỉ rõ
“Tư tưởng thông suốt thì mọi việc làm đều tốt. Phải làm cho tư tưởng xã hội
chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại” [20; 93].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa nhưng tư tưởng của Người nói chung,
tư tưởng về công tác tư tưởng nói riêng vẫn còn sống mãi với thời gian, với
Đảng ta. Đó là hành trang, phương pháp luận quý báu để Đảng ta, đội ngũ làm
công tác tuyên truyền vững tin hơn, trí tuệ sắc sảo hơn nhằm góp phần nâng

cao chất lượng công tác tư tưởng của Đảng lên một tầm cao mới. Đặc biệt
càng có ý nghĩa cấp bách khi Đảng ta thực hiện chủ trương mở cửa, hội nhập;
khi các lực lượng thù địch chưa từ bỏ mưu toan chống phá cách mạng nước
ta, hòng chia rẽ Đảng với nhân dân; khi “Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén,
tính chiến đấu còn hạn chế…; chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư
tưởng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, những quan
điểm mơ hồ, sai trái; thiếu quan tâm giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống”.
Khắc phục và thực hiện tốt các nhiệm vụ đó là nhân tố để “Đảng ta là một tập
thể lớn, tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí” trong tiến trình kiến tạo đất
nước theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”.
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ của nhà
trường, gia đình và toàn xã hội; trong đó nhà trường giữ vai trò chủ đạo. Để
làm tốt nhiệm vụ này, nhà trường cần được trang bị cơ sở lý luận, nội dung,
phương pháp và các điều kiện cần thiết để tổ chức các hoạt động GD chính trị
tư tưởng cho học sinh mà cốt lõi là việc vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng
Hồ Chí Minh trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.


1.2. Mục tiêu, nội dung của giáo dục chính trị, tư tưởng đối với học
sinh Trung học cơ sở
1.2.1. Mục tiêu công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh Trung
học cơ sở
Điều 2 Luật Giáo dục của nước CHXHCN Việt Nam 2005 ghi rõ:
“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có
đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách,
phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc” .

Giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh trong nhà trường là hoạt động
truyền bá lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối
của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Bước đầu xây dựng thế giới
quan; phương pháp luận khoa học; nâng cao nhận thức, ý thức chính trị; xây
dựng niềm tin cộng sản chủ nghĩa; niềm tin vào chế độ góp phần xây dựng đất
nước giàu mạnh sau này.
Bất cứ dân tộc, quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển đều phải quan
tâm đến việc đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ bởi đó chính là lực lượng
quyết định vận mệnh của dân tộc và sự phát triển của đất nước. Thực tế lịch
sử qua các thời kỳ cách mạng đã chứng minh Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng
công tác thanh thiếu niên, mà trọng tâm là giáo dục, bồi dưỡng thanh thiếu
niên về lí tưởng cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, vì mục tiêu xây dựng
những lớp người kế tục trung thành tuyệt đối theo lí tưởng độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội. Lý tưởng ấy đã được cụ thể hoá trong mỗi giai đoạn
cách mạng thành những sứ mệnh lịch sử mang tính thời đại của thanh niên.
Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Thanh niên là người chủ tương lai của
nước nhà… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các


thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện
tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị
cho cái tương lai đó”. Giáo dục lí luận chính trị, mà cốt lõi là giáo dục chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, để xây dựng và bồi đắp lý tưởng
cách mạng cho đoàn viên thanh niên chính là nội dung quan trọng, có tính
quyết định trong việc rèn luyện “tinh thần và lực lượng” cho thế hệ trẻ vì
tương lai của nước nhà, tương lai của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam.
Với học sinh THCS - những thanh thiếu niên đang ở độ tuổi có bước
chuyển mạnh mẽ cả về nhân cách lẫn tư tưởng, mặc dù các em chưa hiểu rõ
lắm về chính trị tư tưởng nhưng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho học

sinh trung học cơ sở cần phải được quan tâm sâu sắc và đầy đủ.
Mục tiêu giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh trung học cơ sở là
giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có những hiểu biết cơ bản về
chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Từ đó hình thành nhân cách và cách hành xử đúng đắn: Biết yêu thương bạn
bè, chăm học, chăm hành, hiếu thảo, giúp đỡ ông bà, cha mẹ, khiêm tốn, thật
thà, dũng cảm.
Luật Giáo dục đã chỉ rõ mục tiêu của giáo dục là “Đào tạo người học có
phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và
năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ,
đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Như vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục đào tạo đã
chỉ rõ: giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức lối sống, giáo dục chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong
giáo dục Đại học nói chung và trong giáo dục học sinh nói riêng.


×