Tải bản đầy đủ (.pdf) (54 trang)

Hành vi ngôn ngữ hỏi trong hội thoại ở một số truyện ngắn của nam cao

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (376.29 KB, 54 trang )

GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

Mục lục
Phần mở đầu

1
3

1. Lý do chọn đề tài

3

2. Lịch sử vấn đề

3

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

6

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

6

5. Phương pháp nghiên cứu

7

6. Cấu trúc luận văn



7

Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý thuyết

8
8

1. Hành vi ngôn ngữ và phân loại hành vi ngôn ngữ
1.1. Hành vi ngôn ngữ
1.2. Phân loại hành vi ngôn ngữ
2. Hành vi ở lời và phân loại hành vi ở lời
2.1. Khái niệm
2.2. Phân loại hành vi ở lời
3. Hành vi ngôn ngữ hỏi
3.1. Hiểu như thế nào về hành vi ngôn ngữ hỏi
3.2. Đặc điểm của hành vi ngôn ngữ hỏi
3.3. Phân loại hành vi ngôn ngữ hỏi
4. Hội thoại
4.1. Khái niệm
4.2. Các hình thức hội thoại
4.3. Cấu trúc hội thoại
5. Hành vi ngôn ngữ hỏi trong hội thoại ở một số truyện ngắn của

8
8
8
8
8

9
9
9
10
11
12
12
12
13
14

Mục lục

Nam Cao
Chương 2: Hành vi ngôn ngữ hỏi trực tiếp trong

16

hội thoại ở một số truyện ngắn của nam cao

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

1


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

1. Hiểu như thế nào về HVNNHTT


16

2. Biểu hiện của HVNNHTT trong hội thoại ở một số truyện ngắn

17

của Nam Cao
2.1. HVNNHTT khai thác thông tin qua câu hỏi đầy đủ
2.2. HVNNHTT khai thác thông tin qua câu hỏi rút gọn
2.3. HVNNHTT khai thác thông tin qua câu hỏi đảo trật tự chủ vị
2.4. HVNNHTT khai thác thông tin qua câu hỏi lựa chọn hiển ngôn
2.5. HVNNHTT khai thác thông tin qua ngữ điệu hỏi
2.6. HVNNHTT khai thác thông tin qua từ nghi vấn
2.7. HVNNHTT khai thác thông tin qua hệ thống tiểu từ tình thái
Chương 3: Hành vi ngôn ngữ hỏi gián tiếp trong

17
18
20
21
23
25
29
35

hội thoại ở một số truyện ngắn của Nam Cao
1. Hiểu như thế nào về HVNNHGT

35


2. Biểu hiện của HVNNHGT trong hội thoại ở một số truyện ngắn
của Nam Cao
2.1. HVNNHGT có hiệu lực chào
2.2. HVNNHGT có hiệu lực yêu cầu
2.3. HVNNHGT có hiệu lực bác bỏ
2.4. HVNNHGT có hiệu lực phê phán
2.5. HVNNHGT có hiệu lực đe doạ
2.6. HVNNHGT có hiệu lực phản ánh sự ngạc nhiên
2.7.HVNNHGT có hiệu lực khuyên nhủ
2.8. HVNNHGT có hiệu lực chê
2.9. HVNNHGT có hiệu lực khẳng định
2.10. HVNNHGT có hiệu lực phủ định

35
35
36
37
39
40
41
43
44
45
47

Phần kết luận

49


Tài liệu tham khảo

51

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

2


GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Trong hội thoại, ở bất kì hoàn cảnh giao tiếp nào, các nhân vật giao tiếp
cũng luôn có nhu cầu được hiểu biết và làm rõ một số vấn đề liên quan đến
nội dung cuộc thoại. Hành vi ngôn ngữ hỏi là hành vi ngôn ngữ có khả năng
xuất hiện nhiều nhất, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các cuộc
thoại trong giao tiếp nói chung và trong tác phẩm văn học nói riêng.
Việc đi sâu tìm hiểu cách thức sử dụng, mục đích, chức năng của hành
vi ngôn ngữ hỏi trong hội thoại ở một số truyện ngắn của Nam Cao, giúp
chúng tôi hiểu sâu hơn về loại hành vi ngôn ngữ này. Từ đó góp phần hướng
dẫn cách sử dụng hành vi ngôn ngữ hỏi sao cho đạt hiệu quả giao tiếp cao
nhất; đồng thời hiểu rõ hơn về khả năng sáng tạo ngôn ngữ và tài năng nghệ
thuật của nhà văn Nam Cao.
Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi lựa chọn đề tài
nghiên cứu: Hành vi ngôn ngữ hỏi trong hội thoại ở một số truyện ngắn của
Nam Cao
2. Lịch sử vấn đề

Việc nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ nói chung và hành vi ngôn ngữ
hỏi nói riêng là một trong những nội dung cơ bản của Ngữ dụng học. Đã có
nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện, đó là :
Đại cương ngôn ngữ học Tập 2, Ngữ dụng học NXB Giáo Dục
của tác giả Đỗ Hữu Châu
Dụng học việt ngữ Tập 1 Nguyễn Thiện Giáp.
Ngữ dụng học Tập 1 Nguyễn Đức Dân.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

3


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

Những năm gần đây xuất hiện khá nhiều luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ,
những bài viết đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ bàn về vấn đề hành vi ngôn ngữ
hỏi. Cụ thể :
*Tác giả Lê Đông trong luận án Phó tiến sĩ khoa học với đề tài: Ngữ
nghĩa, ngữ dụng, câu hỏi chính danh đã phân tích những bình diện cơ bản
của câu hỏi và mối quan hệ thống nhất giữa hỏi và trả lời; đồng thời coi tiền
giả định và cái chưa biết, chưa rõ như là cái trục ngữ nghĩa, nội dung cơ bản
của câu hỏi. Mặt khác tác giả cũng đi sâu phân tích các thông tin Ngữ dụng bổ
trợ thường gặp của câu hỏi tiếng Việt trong giao tiếp.
*Tác giả Nguyễn Thị Lương trong luận án Phó tiến sĩ khoa học Tiểu từ
tình thái dứt câu dùng để hỏi và việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ trong tiếng
Việt đã chỉ ra:
- Hành vi hỏi biểu thị bằng tiểu từ tình thái dứt câu là hành vi ở lời

nhưng không phải là hành vi ngôn ngữ chính mang hiệu lực ở lời mà người nói
cần truyền đạt.
- Các hành vi ngôn ngữ khác có liên quan đến hành vi hỏi lại là hành vi
ngôn ngữ chính thể hiện ý cần truyền đạt của người nói.
*Tác giả Nguyễn Thị Thìn trong luận án Phó tiến sĩ với đề tài: Câu
nghi vấn tiếng Việt : Một số kiểu câu nghi vấn thường không dùng để hỏi đã
miêu tả 3/11 kiểu câu nghi vấn thường không dùng để hỏi. Người viết đưa ra
tiêu chí xác định cơ bản cho kiểu câu nghi vấn là điều kiện chân thành và điều
kiện cơ bản được thoả mãn.
*Tác giả Chu Thị Thanh Tâm ở luận án phó tiến sĩ khoa học Sự cộng
tác hội thoại để hình thành đề tài diễn ngôn và các hành vi dẫn nhập đề tài
diễn ngôn đã quan tâm đến chức năng của hành vi hỏi trong hội thoại. Tác
giả đã căn cứ vào tư liệu thống kê và khẳng định rằng: Hành vi hỏi được
dùng để dẫn nhập đề tài diễn ngôn chiếm tỉ lệ 462/ 900, cao một cách tuyệt
đối so với các hành vi dẫn nhập khác. Bởi vì người dẫn nhập đề tài diễn ngôn

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

4


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

thường dùng cách nói năng kết hợp được cả hai ý nghĩa : Đề xuất đề tài và hỏi
về thái độ một cách tế nhị kín đáo ngay trong một hành vi dẫn nhập. Hỏi là
hành vi tốt nhất so với các hành vi khác thực hiện hiện nhiệm vụ hai mang nói
trên.
* Tác giả Võ Đại Quang trong bài viết đăng trên tạp chí ngôn ngữ số 3,

4 năm 2000 lại bàn về các kiểu câu hỏi: Câu hỏi lựa chọn hiển ngôn, hàm ẩn
và câu hỏi không lựa chọn.
* Tác giả Nguyễn Chí Hoà thì đi tìm hiểu sự tương tác lẫn nhau giữa
phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trên bình diện giao tiếp đăng trên tạp chí
ngôn ngữ số 1 năm 1993 đã chỉ ra: Phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trên
bình diện giao tiếp : Phát ngôn hỏi sự kiện đầy đủ và sự kiện bộ phận , phát
ngôn hỏi tình thái đầy đủ và tình thái bộ phận.
* Tác giả Bùi Minh Toán có bài viết tìm hiểu Từ loại tiếng Việt và khả
năng thực hiện hành vi hỏi đăng trên Tạp chí ngôn ngữ số 2 năm 1996. ở
đây tác giả đã chỉ ra trong tiếng Việt có từ loại có chức năng chuyên biệt dùng
để hỏi và có từ loại không có chức năng chuyên biệt dùng để hỏi mà có chức
năng khác.
* Tác giả Phạm Thị Thu Vân trong khoá luận tốt nghiệp năm 2005 đã
tìm hiểu:Tìm hiểu chức năng của câu hỏi trong một số văn bản văn xuôi
nghệ thuật. Tác giả đã đi vào lí giải các khía cạnh: Câu hỏi được nhà văn lựa
chọn, sử dụng nhằm thực hiện hành động ngôn ngữ nào? chúng có quan hệ
như thế nào đối với nội dung nghệ thuật của tác phẩm? và câu hỏi có quan hệ
thế nào đối với người sử dụng ? nhằm chỉ ra :
- Câu hỏi với chức năng tổ chức văn bản, đoạn văn bản trong văn xuôi
nghệ thuật.
- Chức năng của câu hỏi trong việc thực hiện các hành động ngôn ngữ
theo dụng ý của nhà văn.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

5


Khoá luận tốt nghiệp


GVHD : Khuất Thị Lan

* Điểm qua một số công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy
những công trình nghiên cứu này đã chỉ ra :
- Khái niệm về câu nghi vấn, về hành vi ngôn ngữ hỏi
- Sự phân loại hành vi ngôn ngữ hỏi theo đặc điểm hình thức và mục
đích phát ngôn .
- Một số đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của hành vi ngôn ngữ hỏi trong
giao tiếp.
Nhưng chưa có tác giả nào đi sâu tìm hiểu cách thức sử dụng và biểu
hiện của hành vi hỏi trong hội thoại qua tác phẩm văn học của một tác giả cụ
thể.
Luận văn này có nhiệm vụ góp phần làm rõ cách thức sử dụng và những
biểu hiện cụ thể của hành vi ngôn ngữ hỏi trong hội thoại ở một số truyện
ngắn của Nam Cao; đồng thời chỉ ra khả năng sáng tạo cũng như tài năng
nghệ thuật của nhà văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Trong phạm vi và trình độ của một luận văn tốt nghiệp, chúng tôi tiến
hành khảo sát hành vi ngôn ngữ hỏi trong hội thoại qua một số truyện ngắn
của Nam Cao, nhằm chỉ ra :
- Điều kiện sử dụng.
- Cách thức thực hiện .
- Mục đích, chức năng của hành vi ngôn ngữ hỏi.
- Khả năng sáng tạo, tài năng nghệ thuật của tác giả Nam Cao trong
việc sử dụng hành vi ngôn ngữ hỏi.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài .
Chúng tôi tìm hiểu hành vi ngôn ngữ hỏi trong hội thoại qua 12 truyện
ngắn của Nam Cao.
1. Nghèo


7. Lang rận

2. Trẻ con không được ăn thịt chó

8. Một bữa no

3. Chí phèo

9. Truyện tình

4. Lão Hạc

10. Tư cách mõ

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

6


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

5. Một truyện xúvơnia

11. Đón khách

6. Nhỏ nhen

12. Rình trộm


5. phương pháp nghiên cứu
Luận văn này chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại:
Khảo sát : 12 tác phẩm
Thống kê : 308 phiếu
Phân loại : Hành vi ngôn ngữ hỏi trực tiếp và hành vi ngôn ngữ
hỏi gián tiếp. Trong đó:
Hành vi ngôn ngữ hỏi trực tiếp 118 phiếu = 38,3%
Hành vi ngôn ngữ hỏi gián tiếp 190 phiếu = 61,6%
- Phương pháp phân tích,đánh giá .
Dựa vào kết quả thống kê, phân loại, chúng tôi đã tiến hành phân tích
đánh giá cách thức sử dụng, những biểu hiện và mục đích chức năng của hành
vi ngôn hỏi được thể hiện trong 12 truyện ngắn kể trên của Nam Cao.
6. Cấu trúc luận văn
Phần mở đầu
1.Lí do chọn đề tài.
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
6. Cấu trúc luận văn
Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Hành vi ngôn ngữ hỏi trực tiếp trong hội thoại qua
một số truyện ngắn của Nam Cao
Chương 3: Hành vi ngôn ngữ hỏi gián tiếp trong hội thoại qua
một số truyện ngắn của Nam Cao
Phần kết luận


Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

7


GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

Phần nội dung
Chương 1 : cơ sở lí thuyết
1. Hành vi ngôn ngữ và phân loại hành vi ngôn ngữ .
1.1. Hành vi ngôn ngữ .
Austin là người đặt nền tảng cho lí thuyết hành vi ngôn ngữ . Theo ông :
khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một hành
động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ để nói cho người nghe , tác động
vào người nghe nhằm thực hiện mục đích nào đó và tương ứng với nó là sự
hưởng ứng, cộng tác của người nghe[3-88]
1.2. Phân loại hành vi ngôn ngữ.
Austin chia hành vi ngôn ngữ thành 3 loại:
Hành vi tạo lời
Hành vi mượn lời
Hành vi ở lời
Trong đó hành vi ở lời là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Ngữ dụng
học.
2. Hành vi ở lời và phân loại hành vi ở lời.
2.1. Khái niệm
Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng ,
hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây
ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ỏ người nhận [3-89]

Hành vi ở lời tạo ra hiệu lực nhất định để ràng buộc người nghe vào
hoạt động giao tiếp. Mỗi hành vi ở lời là một phát ngôn nói năng. Nó có cấu
trúc hai phần rõ rệt:
+Hiệu lực ở lời - kí hiệu là f

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

8


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

+Nội dung mệnh đề - kí hiệu là p.
Một hành vi ở lời được thực hiện khi nó thỏa mãn 4 điều kiện sau:
+ Điều kiện nội dung mệnh đề
+ Điều kiện chuẩn bị.
+ Điều kiện chân thành.
+ Điều kiện căn bản.
2.2. Phân loại hành vi ở lời.
Hành vi ở lời bao gồm: Hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp
* Hành vi ở lời trực tiếp: Là hành vi ngôn ngữ sử dụng đúng với đích ở
lời và điều kiện sử dụng , chúng bao gồm đủ cả hệ điều kiện. Người ta gọi đây
là những hành vi ngôn ngữ chân thực, đòi hỏi người nghe trả lời đúng với nội
dung vấn đề mà người nói đã đưa ra.
VD1: SP1: - Vải hôm nay bán mấy xu?
SP2: - Kém 3 xu dì ạ.
* Hành vi ở lời gián tiếp: Là hành vi trong đó người nói thực hiện hành
vi ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành vi ở lời khác. Nói khác đI

đây là những hành vi ngôn ngữ dùng không đúng với đíều kiện sử dụng của
chúng.
Dựa vào đích ở lời người ta chia hành vi ngôn ngữ thành những loại sau:
Hành vi ngôn ngữ rào đón, hành vi ngôn ngữ hỏi, ra lệnh, yêu cầu, khuyên bảo
hứa hẹn, mời, khen, chê, thề,.Khóa luận này, chúng tôi tìm hiểu về hành vi
ngôn ngữ hỏi.
3. Hành vi ngôn ngữ hỏi.
3.1. Hiểu như thế nào về hành vi ngôn ngữ hỏi .
Hiện nay chưa có một khái niệm chung thống nhất về hành vi ngôn ngữ
hỏi. Có rất nhiều ý kiến, quan niệm được đưa ra xung quanh loại hành vi ngôn
ngữ này. Qua tham khảo, tìm hiểu quan niệm của nhiều tác giả, chúng tôi cho
rằng: Hành vi ngôn ngữ hỏi là hành vi ngôn ngữ có hiệu lực ở lời là hỏi với

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

9


GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

mục đích thúc giục người nghe thông báo một điều gì đó mà người nói chưa
rõ hoặc được người nói nêu ra như một yêu cầu cần phải làm sáng tỏ.
3.2. Đặc điểm của hành vi ngôn ngữ hỏi.
Hành vi ngôn ngữ hỏi là hành vi ngôn ngữ thuộc nhóm hành vi biểu cảm
(tức nhóm hành vi bộc lộ tình cảm) nên nó cũng mang những đặc điểm của
hành vi ở lời nói chung. Nó có: Biểu thức ngữ vi, kết cấu lõi,nội dung mở
rộng, và thỏa mãn đầy đủ 4 điều kiện. Ngoài ra hành vi ngôn ngữ hỏi còn có
đặc điểm:

- Là Hành vi ngôn ngữ được thực hiện khi người nói chưa rõ,chưa biết
về thông tin gì đó và có nhu cầu muốn biết về thông tin đó.
VD2: SP1:- Bà ăn cơm chưa ạ?
SP2:- Bà ăn rồi.
Sp1 là chủ thể hỏi, sp2 là đối tượng tiếp nhận hành vi hỏi.
- Là loại hành vi hướng ngoại tức là hướng vào người nghe buộc người
nghe phải trả lời dù trả lời không biết.
VD3: SP1 : -Bác làm ơn cho cháu hỏi bạn Thanh quê Thái Bình có trọ
ở đây không ạ?
SP2:- Xin lỗi, bác không biết
- Ngoài ra nó còn thực hiện những chức năng khác như: Chào hỏi, yêu
cầu, phản bác, khuyên răn, đe dọa, thách thức
VD4: - Mày muốn vu vạ bảo ông?
(Chí phèo)
Đây là lời của Lí Cường nói với Chí Phèo. Lí Cường đã thực hiện hành vi hỏi
nhưng không phải là để hỏi (để khai thác thông tin) mà có hiệu lực đe dọa đối
với Chí Phèo.
VD5: - Tiền của tao có phải vỏ hến đâu mà quẳng cho mày?Dễ tao hám
lãi của mày lắm đấy?
(Chí phèo)

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

10


GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp


ở phát ngôn này có hình thức là hỏi nhưng hiệu lực lại không phải là để hỏi
mà có hiệu lực đe doạ, từ chối. Bá Kiến từ chối việc cho Chí phèo tiền.
- Theo Searle: Mỗi hành vi ở lời đòi hỏi phải có một hệ những điều
kiện , ông còn gọi là quy tắc để cho việc thực hiện nó đạt hiệu quả đúng với
đích của nó[3-116]. Với 4 điều kiện mà Searle đưa ra thì mỗi điều kiện lại
được biểu hiện khác nhau tùy theo từng phạm trù, từng loại, từng hành vi ở lời
cụ thể. Hành vi ngôn ngữ hỏi với tư cách là một hành vi ở lời cũng cần phải
thỏa mãn những điều kiện sau:
+Điều kiện nội dung mệnh đề: Bao gồm những câu hỏi (mệnh đề) và
những câu hỏi khép kín (hàm mệnh đề).
+Điều kiện căn bản: Người hỏi không biết lời giải đáp
Cả đối với người hỏi, cả đối với người trả lời không
chắc chắn rằng bất kể thế nào người trả lời cũng cung cấp thông tin ngay lúc
trò chuyện nếu người hỏi không hỏi.
+ Điều kiện chân thành: Người hỏi thực sự mong muốn có được thông
tin về những vấn đề đã đưa ra để hỏi.
+ Điều kiện chuẩn bị: Nhằm cố gắng nhận được thông tin từ người trả
lời.
+ Ngoài 4 điều kiện trên, hành vi ngôn ngữ hỏi còn phải thỏa mãn điều
kiện : mối quan hệ liên cá nhân giữa người hỏi và người được hỏi. Đó là
mối quan hệ liên cá nhân giữa những người tham gia hội thoại . Điều kiện này
chi phối tới việc sử dụng ngôn ngữ của các nhân vật khi giao tiếp.
3.3. Phân loại hành vi ngôn ngữ hỏi.
Hành vi ngôn ngữ hỏi được chia thành hai loại: Hành vi ngôn ngữ hỏi
trực tiếp và hành vi hỏi gián tiếp.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

11



Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

3.3.1. Hành vi ngôn ngữ hỏi trực tiếp.
Là hành vi ngôn ngữ có hiệu lực ở lời là hỏi và người hỏi hoàn toàn
chưa biết về nội dung vấn đề khi đưa ra câu hỏi . Họ thực sự mong muốn nhận
được câu trả lời từ phía người tiếp nhận.
VD6: SP1: -Bà đã ăn cơm chưa ạ?
SP2: -Bà ăn rồi.
3.3.2.Hành vi ngôn ngữ hỏi gián tiếp.
Là hành vi ngôn ngữ có hình thức là hành vi ngôn ngữ hỏi nhưng lại
hướng tới hiệu lực thuộc một hành vi ở lời khác như: Đe dọa, khuyên nhủ,
phản bác, chê bai, phản ánh sự ngạc nhiên, chào, khẳng định, phủ định.
VD7: SP1:- Sao anh tàn nhẫn thế?
SP2: .
Hiệu lực ở lời trong phát ngôn của sp1 không phải khai thác thông tin
mà là phê phán trách móc về hành động ứng xử của sp2.
4. Hội thoại.
4.1. Khái niệm.
Hội thoại là hoạt động thường xuyên, phổ biến giữa người với người
trong xã hội. Nó là hoạt động mà ở đó người nói dùng ngôn ngữ để tương tác
trao đổi một vấn đề hoặc một thông tin nào đó tới người nghe. Hội thoại còn là
biểu hiện cụ thể một chức năng của ngôn ngữ. Đó là chức năng làm công cụ
để giao tiếp.
Nói như tác giả Đỗ Hữu Châu: Hội thoại là hình thức giao tiếp thường
xuyên phổ biến của ngôn ngữ nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động
ngôn ngữ khác[3-206].
4.2. Các hình thức hội thoại.

Hội thoại gồm có: song thoại, tam thoại và đa thoại(Trong đó song
thoại là điển hình).
Hội thoại diễn ra theo sự vận động: Trao lời-đáp lời và sự tương tác.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

12


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

Hội thoại là một hoạt động có đích diễn tiến theo những quy tắc nhất
định. Có 3 quy tắc quan trọng chi phối đến sự thành công hay thất bại của một
cuộc thoại,đó là:
- Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời.
- Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại.
- Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân phép lịch sự.
Vì vậy bất cứ ai muốn tham gia hội thoại bằng lời một cách thành thực cũng
phải tôn trọng 3 quy tắc trên.
4.3. Cấu trúc hội thoại.
Theo trường phái lí thuyết hội thoại ở Thụy Sĩ và Pháp thì hội thoại là
một tổ chức tôn ti như một đơn vị cú pháp bao gồm các đơn vị sau:
Đơn vị đơn thoại: Tham thoại, hành vi ngôn ngữ.
Đơn vị lưỡng thoại: Cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại.
*Sự giống và khác nhau giữa hội thoại đời thường và hội thoại trong văn
học.
- Giống nhau: Đều có các nhân vật tham gia hội thoại.
Đều diễn ra dưới hình thức đối thoại.

- Khác nhau: Hội thoại đời thường diễn ra trực tiếp giữa các nhân vật
tham gia hội thoại.
Hội thoại văn học diễn ra cả hình thức đối thoại và hình
thức độc thoại.
Hội thoại đời thường diễn ra qua ngôn ngữ của chính nhân
vật giao tiếp.
Hội thoại văn học diễn ra qua ngôn ngữ của nhân vật đã
được tác giả, nhà văn gọt giũa, sáng tạo.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

13


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

5. Hành vi ngôn ngữ hỏi trong hội thoại ở một số truyên ngắn của Nam
Cao.
Nam Cao được đánh giá là cây bút bậc thầy về truyện ngắn trong dòng
văn học hiện thực phê phán (1930-1945). Qua sự chọn lọc nghiêm khắc của
thời gian, tác phẩm của ông không những không bị rơi vào quên lãng mà
ngược lại nó đồng hành với thời gian và sống mãi trong lòng độc giả. Một
trong những yếu tố góp phần tạo lên sự thành công này là cách thức sử dụng
câu văn và yếu tố ngôn ngữ
Qua ngôn ngữ, thế giới nhân vật trong sáng tác của Nam Cao hiện lên
sống động nhiều vẻ, đa chiều và chân thực khiến cho người đọc có cảm giác
nhân vật trong tác phẩm Nam Cao nhiều khi Thật hơn con người thật.
ở khóa luận này, chúng tôi không đi vào tìm hiểu các kiểu câu và ngôn

ngữ trong sáng tác của Nam Cao, mà chỉ đi vào tìm hiểu hành vi ngôn ngữ hỏi
trong hội thoại ở một số truyện ngắn của ông. Qua khảo sát 12 tác phẩm của
Nam Cao,chúng tôi thấy hành vi ngôn ngữ hỏi xuất hiện với tần số rất lớn,
trong cả đối thoại và độc thoại.
Đối thoại : Là nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau [8336]
Độc thoại : Là nói một mình trái với đối thoại [8-338] độc thoại là hiện
tượng đối thoại có một nhân vật nhưng có sự phân đôi nhân cách: nhân cách
nói và nhân cách nghe.[3-201]
VD8 : Lão Hạc ơi! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão không muốn bán con
chó vàng của Lão.Lão chỉ còn một mình nó để làm khuây
(Lão Hạc)
Đó là dòng độc thoại nội tâm của ông Giáo, ông Giáo nói với Lão Hạc nhưng
là nói cho mình nghe về lí do Lão bán con chó vàng. Trong dòng độc thoại
của ông giáo đã có sự phân đôi nhân cách, nhân cách nói và nhân cách nghe.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

14


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

*Tóm lại :
Hành vi ngôn ngữ hỏi trong hội thoại qua một số truyện ngắn của Nam
Cao xuất hiện cả trong đối thoại và độc thoại, xuất hiện cả trong ngôn ngữ
nhân vật và ngôn ngữ tác giả, với hình thức hỏi trực tiếp và gián tiếp. Phải nói
rằng, thông qua hành vi ngôn ngữ hỏi nội dung vấn đề được làm sáng tỏ, đặc
điểm, tính cách của nhân vật trở nên sống động. Qua đó người đọc thấy được

tư tưởng tác phẩm, tài năng nghệ thuật cũng như nét riêng độc đáo không thể
lẫn trong các sáng tác của Nam Cao.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

15


GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

Chương 2: Hành vi ngôn ngữ hỏi trực tiếp
trong hội thoại ở một số truyện ngắn
của Nam Cao
1. Hiểu như thế nào về HVNNHGT .
- Hành vi ngôn ngữ hỏi nói chung và hành vi ngôn ngữ hỏi trực tiếp nói
riêng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu. Nhưng đến nay vẫn chưa
có một định nghĩa thống nhất về khái niệm này. Tác giả Đào Thanh Lan với
cách biểu hiện hành động cầu khiến giao tiếp bằng câu hỏi trên tạp chí
ngôn ngữ số 11 năm 2005; tác giả Nguyễn Chí Hoà với Thử tìm hiểu phát
ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trong sự tương tác lẫn nhau giữa chúng trên
bình diện giao tiếp trên tạp chí ngôn ngữ số 1 năm1993; tác giả Nguyễn Thị
Thìn, Chu Thị Thanh Tâm trong luận án phó tiến sĩ cũng đã rải rác đề
xuất một số quan niệm về câu nghi vấn, hành vi ngôn ngữ hỏi trong tiếng
Việt.
- Trên cơ sở tham khảo, kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đã
kể trên, chúng tôi cho rằng:
HVNNHTT là hành vi ngôn ngữ mà người thực hiện hành vi hỏi hoàn
toàn chưa biết hoặc biết nhưng chưa chính xác, đầy đủ về nội dung, thông tin

mình muốn biết nên hỏi nhằm mục đích khai thác thông tin và hướng đến nội
dung toàn thể của hành vi trả lời.
VD9: SP1 : - Cháu ăn cơm chưa?
SP2 :- Cháu ăn rồi ạ.
ở cặp thoại này Sp1 thực hiện hành vi hỏi trực tiếp với đích hướng tới là khai
thác thông tin mà mình hoàn toàn chưa biết. Hành vi hỏi của Sp1 đã nhận
được hành vi trả lời từ Sp2. Như vậy mục đích của Sp1 đã thực hiện được.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

16


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

VD10: SP1: -Em còn bị sốt nữa không ?
SP2: - Em đỡ rồi ạ.
Trong cặp thoại này SP1 đã biết SP2 bị sốt nhưng không biết đã đỡ hay chưa
nên thực hiện HVNNHTT khai thác thông tin một cách chính xác về tình
trạng sức khoẻ của SP2. Qua hành vi trả lời của SP2 thì SP1 đã thoả mãn được
mục đích giao tiếp của mình.
- HVNNHTT là hành vi ngôn ngữ được sử dụng phổ biến không chỉ
trong giao tiếp hàng ngày mà còn được các nhà văn sáng tạo một cách linh
hoạt trong các sáng tác của mình. Vậy HVNNHTT được biểu hiện như thế nào
trong hội thoại ở một số truyện ngắn của nhà văn Nam Cao? Chương này
chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu vấn đề này.
2. Biểu hiện của HVNNHTT trong hội thoại ở một số truyện ngắn của
Nam Cao.

2.1. HVNNHTT khai thác thông tin qua câu hỏi đầy đủ.
Câu hỏi đầy đủ là câu hỏi có đủ các thành phần theo cấu trúc ngữ pháp.
Cấu trúc của câu hỏi đầy đủ trong tiếng Việt là: CN +VN(từ để hỏi) +?
VD11: Con// đã học bài chưa?
Trong giao tiếp, người phát ngôn thực hiện HVNNHTT qua câu hỏi đầy đủ
không chỉ dùng để khai thác những thông tin mình chưa biết mà còn góp
phần thể hiện hoàn cảnh giao tiếp, vai giao tiếp.
Qua thống kê, chúng tôi thu được 15/118 HVNNHTTđược thực hiện
bằng câu hỏi đầy đủ.
VD12: Bá Kiến: -Anh Chí đi đâu đấy?
Chí Phèo: -Lạy cụ ạ .Con đến cửa cụ để kêu cụ một việc ạ.
(Chí Phèo)
ở VD này người thực hiện HVNNH là Bá Kiến. Xét về tuổi tác và địa
vị xã hội thì Bá Kiến là người có vị thế xã hội cao hơn Chí Phèo. Bá Kiến có

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

17


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

thể hỏi: Đi đâu đấy? Nhưng ở đây nhằm khai thác thông tin về mục đích đến
nhà mình của Chí Phèo, Bá kiến đã sử dụng chủ ngữ: anh Chí. Việc sử
dụng chủ ngữ không những tạo thành hành vi ngôn ngữ hỏi đầy đủ mà còn
thể hiện một dụng ý khác. Đó là Bá Kiến đã tỏ ra trân trọng kẻ có vị thế xã hội
thấp hơn mình nhằm tạo thiện cảm cho Chí Phèo. Để đáp lại hành vi hỏi đó,
Chí Phèo đã phản hồi bằng hành vi trả lời rất đầy đủ : Con// đến cửa cụ để

kêu cụ một việc ạ. Như vậy giữa hành vi hỏi và hành vi trả lời có sự tương
đồng về hình thức thể hiện và ở đây rõ ràng người hỏi đã đạt được mục đích
giao tiếp của mình .
VD13: Tôi:- Anh định kết như thế nào ?
Lưu:- Như sự đã xảy ra, bởi vì truyện này là truyện thật
(Truyện tình)
Nhân vật Tôi thực hiện hành vi hỏi một cách trực tiếp với câu hỏi đầy đủ
:Anh//định kết như thế nào? Thông tin mà Tôi cần biết là bạn mình kết thúc
truyện ngắn như thế nào? Đáp lại hành vi hỏi của bạn, Lưu đã trả lời đúng vào
câu hỏi. Như thế mục đích của người hỏi đã đạt được .
Tương tự còn nhiều dẫn chứng tiêu biểu cho cách thức sử dụng này
nhưng chúng tôi không thể trích dẫn tất cả trong luận văn mà chỉ đưa ra một
số dẫn chứng tiêu biểu để thấy được một dạng biểu hiện hình thức của hành vi
ngôn ngữ hỏi.
2.2. HVNNHTT khai thác thông tin qua câu hỏi rút gọn.
Câu hỏi rút gọn là câu hỏi không có đầy đủ các phần theo cấu trúc ngữ
pháp.
Theo thống kê chúng tôi thu được 27/118 HVNNHTT khai thác thông
tin qua câu hỏi rút gọn .
Câu hỏi rút gọn không chỉ dùng để khai thác thông tin mà còn thể hiện
mối quan hệ giữa các nhân vật trong giao tiếp. Ngoài ra còn thể hiện thái độ
của các nhân vật khi tham gia giao tiếp.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

18


GVHD : Khuất Thị Lan


Khoá luận tốt nghiệp

VD14: Chị Chuột: - Sao thế?
Cái Gái : - Nhạt quá bu ạ.
(Nghèo)
Chị Chuột thực hiện HVNNHTT để khai thác thông tin về hành động của cái
Gái qua câu văn chỉ với hai từ sao thế đáp trả lại câu hỏi của mẹ, cái Gái đã
giải thích một cách cụ thể và đầy đủ. ở đây câu trả lời đáp ứng đúng mục đích
của người hỏi .
Cách thức thực hiện HVNNHTT của chị Chuột đã thể hiện được quan hệ
giữa các nhân vật tham gia giao tiếp, đó là quan hệ mẹ con hết sức thân mật,
gần gũi .Đồng thời còn thể hiện tấm lòng, tình cảm của người mẹ đối với con
gái mình.
VD15: Bà Cựu: - Gì thế?
Cô Đính: - Lang Rận vào buồng mụ Lợi.
Bà Cựu: - Mới vào à?
Cô Đính: - Mới vào, mà vào xong, chúng đóng cửa ngay.
( Lang rận)
Trong đoạn thoại trên có 4 lượt lời. Trong đó có 2 lượt lời thực hiện hành vi
ngôn ngữ hỏi được Bà Cựu nói ra. Tương ứng với nó là 2 hành vi trả lời của Cô
Đính . Hành vi hỏi được thực hiện bằng cách dùng câu hỏi rút gọn gì thế?
và mới vào à?. Cả 2 hành vi hỏi đều không có chủ ngữ, đều hướng trực tiếp
vào người được hỏi. Nó thể hiện mối quan hệ thân thiết, gần gũi giữa hai nhân
vật (chị dâu nói với em chồng). Giao tiếp vì thế mà hết sức tự nhiên.
Với cách thức sử dụng HVNNHTT như trên, có thể nói đây là hình thức
được ưa chuộng trong hội thoại giữa những người cùng vai giao tiếp. ở đây họ
không câu lệ, rập khuôn mà linh động hướng trực tiếp vào người đối diện.Loại
HVNNHTT này được sử dụng với tần số rất cao trong các sáng tác văn học
nói chung và trong các truyện ngắn của Nam Cao nói riêng.


Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

19


GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

2.3. Hành vi ngôn ngữ hỏi trực tiếp khai thác thông tin qua câu hỏi đảo
trật tự chủ vị.
Như chúng ta đã biết, trong tiếng Việt câu thường được sắp xếp theo trật
tự: CN/ VN Tuy nhiên, tuỳ vào hoàn cảnh giao tiếp mà người nói có thể
thay đổi trật tự thông thường này để đạt được mục đích giao tiếp nhất định.
Qua thống kê, chúng tôi đã thu được 10/118 HVNNHTT khai thác thông tin
qua hình thức câu hỏi đảo trật tự chủ vị.
VD16 : Trong truyện Nghèo thằng Cu con trai chị Chuột đói quá
không có gì ăn, thấy bu nó đang nấu nồi chè trên bếp lâu quá nó hỏi :
Thằng cu : - Sắp chín chưa, bu?
Chị Chuột :- (chép miệng): Thôi đây, chín chả chín thì đừng, bắc mẹ nó
ra cho chúng mày ăn không có chúng mày làm tội cũng chết.
(Nghèo)
ở đây câu hỏi mà thằng cu hỏi mẹ theo đúng trật tự sẽ phải là :
- Thưa bu sắp chín chưa ạ?
Việc đảo vị trí vị ngữ lên trước chủ ngữ nhằm nhấn mạnh vào đối tượng
được nói tới. ở đây đối tượng mà thằng cu hướng tới không phải là mẹ nó mà
là nồi chè trên bếp. Vì vậy, để nhấn mạnh thông tin về đối tượng tác giả đã
đưa vị ngữ lên trước chủ ngữ .
Có thể nói chính sự thấu hiểu, sự cảm thông xót xa trước cái đói khổ
của người lao động đã giúp ngòi bút Nam Cao lựa chọn được cách diễn đạt

hợp lý cho nhân vật của mình. Nhân vật qua lời thoại đặc biệt là qua hành vi
ngôn ngữ hỏi đã được hiện lên rõ nét, ấn tượng trong tâm tưởng người đọc.
VD17 :

Lão Hạc : - Tôi muốn nhờ ông một việc
Ông giáo: - Việc gì thế, cụ?
Lão Hạc : - Ông giáo để tôi nói, Nó hơi dài một tý.
(Lão Hạc)

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

20


GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

Lão Hạc nhờ ông Giáo trông giúp mình mảnh vườn, nhưng ông chưa
nói luôn mà rào trước đón sau. Trước hành vi rào đón của Lão Hạc, ông Giáo
đã hỏi: Việc gì thế cụ? Lẽ thường ông Giáo sẽ phải hỏi là: Thưa cụ có việc gì
thế ạ?
Nhưng ông Giáo đã đưa vị ngữ lên trước chủ ngữ nhằm nhấn mạnh vào cái
đích hướng tới của mình. Muốn biết việc Lão Hạc nhờ mình là gì một cách
nhanh nhất, rõ ràng nhất vì thế ông Giáo đã không thực hiện hành vi rào đón
đáp trả Lão Hạc mà thực hiện hành vi hỏi trực tiếp. Cái đích muốn biết thông
tin từ Lão Hạc của ông Giáo đã được thoả mãn.
Như vậy, bằng việc sử dụng những câu hỏi đảo trật tự tác giả hướng vào mục
đích nhấn mạnh nội dung thông tin mà nhân vật muốn nói ra. Đồng thời thể
hiện văn hoá của người Việt : Kính trọng, lễ phép đối với người hơn tuổi.

2.4. HVNNHTT khai thác thông tin qua câu hỏi lựa chọn hiển ngôn.
Câu hỏi lựa chọn hiển ngôn là câu hỏi mà trong nội dung mệnh đề
của nó có khả năng lựa chọn được biểu hiện trên bề mặt của câu.[5 - 34]
Câu hỏi lựa chọn hiển ngôn được thể hiện qua hai hình thức:
+ Câu hỏi được cấu tạo: Cókhông?; đãchưa?; (có) phải không?
+ Câu hỏi có từ: Hay, hay là
2.4.1. Câu hỏi cấu tạo theo cấu trúc cókhông?; (có) phải không?
- Câu hỏi cókhông?: Là câu hỏi đưa ra một nội dung mệnh đề và
buộc người được hỏi trả lời bằng cách lựa chọn có hoặc không.
Qua thống kê, chúng tôi thu được 5/118 HVHTT qua cấu tạo:
cókhông?
VD18: Lang Rận : - Bếp có rỗi không?
Mụ Lợi : - Rỗi.
(Lang Rận)
Lang Rận muốn nhờ bếp nấu cơm nên đã thực hiện hành vi hỏi trực tiếp
qua câu hỏi lựa chọn: Có rỗi không? Phản hồi câu hỏi của Lang Rận, mụ Lợi

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

21


GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

đã thực hiện hành vi trả lời bằng cách lựa chọn rỗi tức là câu hỏi và câu trả
lời đều tường minh, dễ hiểu.
Câu hỏi (có) phải không? Là câu hỏi người hỏi đưa ra nội dung
mệnh đề nhằm nhấn mạnh vào vấn đề mình đưa ra với mục đích tìm

hiểu thông tin mình chưa biết và đang rất muốn biết.
Qua thống kê, chúng tôi thu được 5/118 HVHTT qua cấu tạo: (có) phải
không?
VD19: Anh Đĩ Chuột: - Lúc nãy, mẹ con mày ăn cám có phải không?
Cái Gái

: - Ăn chè đấy chứ
(Nghèo)

Người chồng, người bố ốm đau bệnh tật không thể nuôi được vợ con, thấy
vợ con đói khát mà đau lòng nhưng đành bất lực. Vì chưa biết chính xác việc
vợ con mình có ăn cám hay không nên đã hỏi đứa con gái. Anh hỏi con một
cách trực tiếp, cụm từ có phải không đã tạo cho cái Gái thực hiện hành vi trả
lời phủ định nội dung mệnh đề bố nó đưa ra là ăn chè chứ không phải là ăn
cám. Như vậy anh Đĩ Chuột đã đạt được mong muốn của mình là khai thác
thông tin mà mình chưa biết rõ.
2.4.2. Câu hỏi lựa chọn hiển ngôn có chứa từ: hay, hay là.
- Hay, hay là là từ biểu thị quan hệ tuyển chọn giữa những điều
được nói đến (có điều này thì không có điều kia và ngược lại).
Qua thống kê, chúng tôi thu được12/118 HVHTT có sử dụng hayvà
hay là.
VD20: Bà Đồ Cảnh : - Cậu mua thật hay mua dối?
Sinh

: - Mua thật ạ.
(Đón khách)

Bà Đồ đưa ra câu hỏi qua việc lựa chọn từ hay giữa mua thật và mua dối.
Người thực hiện hành vi hỏi đã đưa ra nội dung và bản thân chưa biết ngươì
được hỏi sẽ trả lời như thế nào. Câu hỏi trực tiếp với câu trả lời hoặc mua


Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

22


GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

thật hoặc mua dối. Người hỏi đã nhận được câu trả lời trực tiếp và như vậy
đã được mục đích của mình.
VD21: Bà Đồ :- Nước được rồi đấy. Có pha gì hay không?
Ông Đồ :- Đợi xem sao đã chứ.
(Đón khách)
Bà Đồ hỏi trực tiếp ông Đồ có pha gì hay không? Ông Đồ đã phản hồi lại bằng
câu trả lời: Đợi xem thế nào đã. Câu trả lời của ông Đồ đã không trực tiếp
lựa chọn có hay không mà đưa ra câu trả lời ngầm ý là không.
-Hay là về cơ bản giống như hay. Ngoài ra nó còn biểu thị điều
sắp nêu ra là một khả năng mà người nói chưa thể khẳng định, đang còn hồ
nghi. Hoặc nó biểu thị điều sắp nêu ra là một giải pháp người nói nghĩ là nên
nhưng không khẳng định mà muốn biết ý kiến của người đối thoại.
VD22: Cụ Tiên Chỉ: - Hay là ta cho tìm anh ấy đến dỗ anh ấy xem sao?
(Tư cách mõ)
Hành vi ngôn ngữ hỏi trực tiếp của cụ Tiên Chỉ biểu thị nội dung mà cụ đưa ra
là một giải pháp theo ý kiến của cụ. Nó không mang tính khẳng định mà ngầm
ý thăm dò. Như vậy, mục đích của người thực hiện hành vi hỏi là tham khảo ý
kiến mọi người về việc: Dỗ anh cu Lộ làm mõ và hành vi hỏi này đã được đáp
trả bằng thực tế: Anh cu Lộ trở thành mõ làng.
2.5. HVNNHTT khai thác thông tin qua ngữ điệu hỏi.

- Ngữ điệu hỏi là những biến đổi về độ cao của giọng khi nói, khi đọc
nó tạo cho lời thoại có điểm nhấn.
- Qua tìm hiểu chúng tôi thu được 12/118HVHTT khai thác thông tin
qua ngữ điệu hỏi. Chúng tôi nhận thấy trong các cuộc thoại ngữ điệu là yếu tố
góp phần tạo nên thành công cho mỗi cuộc thoại.
VD23: Bà Đồ Cảnh:- Cái gì mà mày chạy bình bịch thế?
Con trai

: - Xe cậu Phán
(Đón khách)

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

23


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

Bà Đồ hỏi thằng Tình về hành động của nó khi thấy nó cắm đầu chạy từ
ngõ về. Với hành vi hỏi của bà đã có sự hỗ trợ rất lớn của ngữ điệu hỏi, đó là
giọng cao và kéo dài thể hiện ở cuối câu văn. Chính nhờ ngữ điệu này đã góp
phần tạo nên sự gấp gáp cho câu hỏi, nó thôi thúc người được hỏi phải trả lời
ngay câu hỏi mà người hỏi đưa ra. Nó giúp cho người hỏi đạt được mục đích
giao tiếp cao nhất.
VD24: Chí Phèo : - Tao đã bảo tao không đòi tiền
Bá Kiến : - Giỏi, hôm nay mới thấy anh không đòi tiền. Thế thì
anh cần gì?
Chí Phèo : - Tao muốn làm người lương thiện

(Chí phèo)
Trong cặp thoại giữa Chí Phèo và Bá Kiến, Bá Kiến đã thực hiện hành
vi hỏi đối với Chí Phèo: Thế thì anh cần gì?. Bá Kiến hỏi nhằm khai thác
thông tin mà ông ta chưa biết về mong muốn và ý định của Chí Phèo. Theo lẽ
thường Bá Kiến có thể hỏi Chí Phèo: Mày cần gì? Câu hỏi đầy đủ thành phần
và bao quát được mục đích của người hỏi. Nhưng ở đây Nam Cao đã sử dụng
ngữ điệu cao và có điểm nhấn ở đầu câu. Nó là sự nối tiếp với ý của câu trước
đồng thời nhấn mạnh vào câu hỏi. Nó thể hiện tính cách, thái độ, mục đích
của người nói. Đó là thái độ bực mình, khó chịu của Bá Kiến. Ngoài ra nó còn
thể hiện sự nóng lòng muốn biết thông tin từ Chí Phèo. Với cách hỏi của mình
Bá Kiến đã nhanh chóng đạt được mục đích.
Qua những ví dụ trên, chúng ta thấy rằng ngữ điệu có vai trò quan trọng
trong việc hỗ trợ thể hiện mục đích và mong muốn thu nhận thông tin của
người hỏi. Ngữ điệu còn góp phần tạo nên sự gần gũi họăc gián cách giữa
những người tham gia giao tiếp.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

24


GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

2.6. HVNNHTT khai thác thông tin qua từ nghi vấn.
Trong tiếng Việt có một hệ thống từ ngữ có chức năng cơ bản là để hỏi.
Chúng họp thành một khối riêng gọi là các từ nghi vấn. Có thể chia làm hai
loại từ nghi vấn
- Từ nghi vấn độc lập: Là các từ có thể tự mình tạo nên câu hỏi tối thiểu

mà không cần có thêm từ nào khác.
- Từ nghi vấn không độc lập: Là các từ cũng có chức năng để hỏi nhưng
không một mình tạo nên câu hỏi tối thiểu mà phải đi kèm với các từ khác.
Qua khảt sát, thống kê 12 truyện ngắn của Nam Cao, chúng tôi thu
được 32 hành vi ngôn ngữ hỏi qua từ nghi vấn. Tác giả Nam Cao đã sử dụng
cả từ nghi vấn độc lập và từ nghi vấn không độc lập
Những từ nghi vấn không độc lập, chúng tôi đưa vào tìm hiểu ở nội
dung tình thái từ. Vì thế ở nội dung này, chúng tôi đi vào tìm hiểu từ nghi vấn
độc lập: Ai, nào, sao, tại sao, thế nào, bao nhiêu, bao giờ
2.6.1.HVNNHTT sử dụng từ Sao, tại sao
- Sao: Là từ mà người hỏi đưa ra với mục đích mong muốn nhận
được câu trả lời từ người được hỏi về một vấn đề gì đó. Nó đòi hỏi người được
hỏi không chỉ trả lời mà phải giải thích cặn kẽ mới đáp ứng được câu hỏi. Và
như vậy thì người hỏi mới đạt được mục đích của mình.
VD25: Lưu

: - Sao mẹ ra được sớm thế ?

Mẹ Lưu : - Mẹ ra, đi bằng chiều đi chợ vải đến cầu sắt thì giờ
mới sáng.
(Truyện tình)
Lưu được nghỉ hè nhưng không chịu về nhà mẹ anh phải ra tìm anh về, bà đến
từ rất sớm. Anh đã không dấu được sự tò mò, ngạc nhiên nên đã hỏi luôn mẹ
mình. Bình thường anh có thể hỏi: Mẹ ra sớm thế ? Nhưng Nam Cao để nhân
vật của mình sử dụng từ sao đằng trước để khai thác thông tin về việc mẹ
mình ra được sớm. Không những thế anh còn muốn mẹ giải thích lý do ra sớm

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

25



×