TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ CẨM TIÊN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ LỚP ĐÀO TẠO NGHỀ NUÔI
TRỒNG THỦY SẢN CHO NÔNG DÂN VÙNG NÔNG
THÔN LONG MỸ – HẬU GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ CẨM TIÊN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ LỚP ĐÀO TẠO NGHỀ NUÔI
TRỒNG THỦY SẢN CHO NÔNG DÂN VÙNG NÔNG
THÔN HUYỆN LONG MỸ – HẬU GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
Cán bộ hướng dẫn:
TS. PHẠM THANH LIÊM
2014
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ LỚP ĐÀO TẠO NGHỀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CHO NÔNG DÂN VÙNG NÔNG THÔN HUYỆN LONG MỸ - HẬU GIANG
Nguyễn Thị Cẩm Tiên
Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ
Email:
Tóm tắt
Việc mở các lớp đào tạo nghề nuôi trồng thủy sản cho nông dân vùng nông thôn huyện
Long Mỹ tỉnh Hậu Giang đã có những tác động tích cực trong việc làm ổn định và tăng
thu nhập cho lao động nông thôn. Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 8/2014 đến
tháng 12/2014 thông qua phỏng vấn 30 hộ tham các lớp tập huấn nhằm đánh giá hiệu
quả kinh tế của nông dân sau khi tham gia học lớp đào tạo nghề, xác định những thuận
lợi và khó khăn khi tham gia lớp đào tạo, đề xuất giải pháp nhằm cải thiện lớp học. Qua
kết quả khảo sát có 83% nam, 17% nữ trong tổng số hộ tham gia học lớp đào tạo nghề
nuôi trồng thủy sản. Các hộ được phỏng vấn đều đánh giá cao chất lượng lớp học với
66,7% đánh giá là tốt, 20% đánh giá là rất tốt. Có 63,3% nông dân áp dụng thành công
kỹ thuật nuôi vào thực tế sản xuất. Nông dân nuôi thủy sản có thu nhập trung bình tăng
2,4±5,8 triệu đồng/năm so với trước khi tham gia các lớp tập huấn và đào tạo nghề..
Tuy nhiên, khi tham gia học lớp đào tạo nghề nuôi trồng thủy sản nông dân cũng gặp
một số khó khăn và cần được hỗ trợ thêm các kiến thức về phòng ngừa và điều trị bệnh.
Từ khóa: Lớp đào tạo nghề nuôi trồng thủy sản, diện tích, năng suất, lợi nhuận.
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả lớp đào tạo nghề nuôi trồng thủy sản cho nông dân vùng
nông thôn huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang.
Abstact
The opening of vocational training aquaculture classes for Long My District, Hau
Giang Province have had positive influences in stabilizing and increasing income for
countryside workforce. This research is conducted from 8/2014 to 12/2014 via
interviewing 30 families who joining training classes so as to evaluate economic effect
of the farmers after participating vocational training classes, besides that finding the
benefits and drawbacks of taking part in these classes, proposing the solutions to
improve it. The result shows tha 83% male,17% female in the total families joining
vocational training aquaculture classes. The members of the families who are
interviewed appreciate the standard of the classes with 66,7% are good, 20% are
exellent, there 63,3% the famers apply raising technique successfully into the real
productivity. The raising aquaculture famers have average income going up 7.5±11.3
million VND/ year compare with the time before hand they participate the vocational
training auqculture. However, studying in these training courses, the farmers face some
challenges and need to get support more about preventing and curing diseases.
Key words: Vocational training aquaculture classes, area, productivity, profit.
Title: Evaluating vocational training classes for the farmers in the countryside in Long
My district, Hau Giang Province.
1
1 GIỚI THIỆU
Ngành Thủy sản Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất
nước. Quy mô của Ngành Thủy sản ngày càng mở rộng và vai trò của Ngành Thủy sản
cũng tăng lên không ngừng trong nền kinh tế quốc dân. Trong các hoạt động của ngành,
nuôi trồng thủy sản (NTTS) đang ngày càng có vai trò quan trọng hơn khai thác hải sản
cả về sản lượng, chất lượng cũng như tính chủ động trong sản xuất. Tổng sản lượng
thủy sản ước đạt 6,05 triệu tấn trong năm 2013, trong đó sản lượng NTTS là 3,34 triệu
tấn và 10 tháng đầu năm 2014 sản lượng thủy sản ước đạt 5,3 triệu tấn (Tổng Cục Thủy
sản, 2014). NTTS ở vùng nông thôn chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình nên đã trở thành
nguồn thu hút lực lượng lao động, tạo nên nguồn thu nhập quan trọng góp phần xóa đói
giảm nghèo.
Tỉnh Hậu Giang hiện nay có tiềm năng nuôi thủy sản rất lớn, diện tích nuôi thủy sản cả
năm 2014 ước thực hiện hiện khoảng 10.700 ha, sản lượng 74.418 tấn (Sở Nông Nghiệp
và Phát Triển Nông Thôn, 2014). Trước đây chủ yếu nuôi để có nguồn thực phẩm cải
thiện bữa ăn gia đình, thì gần đây người nuôi chuyển sang hình thức kinh doanh để có
thêm thu nhập. Huyện Long Mỹ có thế mạnh là sản xuất lúa, mía và khai thác tiềm năng
mặt nước nuôi thủy sản. Người dân huyện Long Mỹ hiện thả nuôi trên 1.500 ha thủy
sản (Trạm Khuyến Nông Khuyến Ngư huyện Long Mỹ, 2013). Để đáp ứng nhu cầu
nuôi thủy sản của nông dân, các ngành chức năng tỉnh Hậu Giang và huyện Long Mỹ đã
mở các lớp tập huấn và đào tạo để trang bị cho nông dân những kiến thức cơ bản về
NTTS để nông dân có khả năng nuôi, sản xuất giống và điều trị được các bệnh thường
gặp trên thủy sản. Đối tượng đăng ký học lớp đào tạo nghề NTTS bao gồm 3 nhóm :
Nhóm đối tượng 1 gồm lao động là đối tượng hưởng chính sách ưu đãi có công với cách
mạng, lao động thuộc hộ nghèo, dân tộc thiểu số, lao động là người tàn tật và lao động
thuộc các hộ bị thu hồi đất canh, nhóm đối tượng này sẽ được hưỡng 15.000 đồng/ngày.
Nhóm đối tượng 2 là lao động nông thôn có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập hộ
nghèo được 10.000 đồng/ngày. Nhóm đối tượng 3 là những lao động nông thôn có nhu
cầu tham gia học nghề ( Trạm Trạm Khuyến Nông Khuyến Ngư huyện Long Mỹ,
2014).
Đề tài “Đánh giá hiệu quả lớp đào tạo nghề nuôi trồng thủy sản cho nông dân vùng
nông thôn huyện Long mỹ - Hậu Giang” được thực hiện nhằm giúp đánh giá tình hình
NTTS của các hộ nông dân ở Huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang sau khi đã áp dụng
những kiến thức học được từ lớp đào tạo vào thực tế và chỉ ra những khó khăn cũng như
giải pháp nhằm cải thiện chất lượng dạy và học góp phần tăng hiệu quả kinh tế cho
những hộ nông dân NTTS ở huyện Long Mỹ - Hậu Giang.
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phạm vi nghiên cứu
-
Thời gian thực hiện: Đề tài đã được thực hiện từ tháng 8/2014 đến tháng
12/2014
-
Địa điểm thực hiện: Số liệu được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực
tiếp 30 hộ tham gia học lớp đào tạo nghề NTTS tại huyện Long Mỹ tỉnh Hậu
Giang như xã Vĩnh Viễn, Long Phú, Tân Phú.
-
Khảo sát tỉ lệ ứng dụng các kiến thức học được vào thực tế sản xuất.
-
Đánh giá hiệu quả tài chính – xã hội của các mô hình nuôi sau khi nông dân
tham gia học lớp đào tạo nghề NTTS.
2
-
Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và đề xuất giải pháp cải thiện các lớp đào
tạo nghề NTTS.
2.2 Phương pháp thu số liệu
2.2.1 Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo của Sở NNPTNN, Sở LĐTBXH, các cơ
quan ban ngành địa phương cấp huyện trên địa bàn nghiên cứu. Các nghiên cứu có liên
quan đã được thực hiện trước đây đã được xuất bản như: Tạp chí chuyên ngành, luận
văn tốt nghiệp đại học và cao học. Biểu điều tra cán bộ phụ trách lớp đào tạo nghề để
cung cấp thêm thông tin. Bài báo và các website chuyên ngành và một số tài liệu có liên
quan.
2.2.2 Số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 30 nông dân tham
gia lớp đào tạo NTTS ở xã Vĩnh Viễn, Tân Phú. Long Phú.
Các thông tin sơ cấp được phỏng vấn trực tiếp từ các chủ nuôi bằng bảng câu hỏi soạn
sẵn với những nội dung chính về thông tin về hộ nông dân: Địa chỉ, họ tên chủ hộ, tuổi,
giới tính, trình độ văn hóa, số năm kinh nghiệm nuôi thủy sản, đơn vị đào tạo, năm đào
tạo. Đánh giá chung sau khi nông dân tham gia lớp đào tạo, nhận xét chất lượng dạy, số
khóa học, kiến thức học được, kiến thức áp dụng thành công. So sánh lợi nhuận trước và
sau khi tham gia học lớp đào tạo: Chi phí, tổng doanh thu, thu nhập khác, lợi nhuận.
Thông tin khác: Về ảnh hưởng môi trường, thuận lợi và khó khăn khi tham gia lớp học.
2.3 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu
Các số liệu phỏng vấn sau khi thu về sẽ được kiểm tra và xữ lí bằng phần mềm excel để
phân tích số liệu. Các số liệu được thể hiện thống kê mô tả: tần suất xuất hiện, giá trị
trung bình và độ lệch chuẩn, tỉ lệ phần trăm, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất (Lê Xuân
Sinh, 2010).
3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 Thông tin chung về nông hộ tham gia lớp đào tạo nghề NTTS ở huyện Long
Mỹ
Trong các hộ được phỏng vấn, nông dân theo học lớp đào tạo nghề NTTS thuộc nhóm
đối tượng 1 chiếm 20%, nhóm đối tượng 2 chiếm 27%, và nhóm đối tượng 3 chiếm
53%. Có 4 đơn vị đã đào tạo cho 30 hộ phỏng vấn gồm: Trung tâm đào tạo nghề huyện
Long Mỹ chiếm 36,6%, Khoa Thủy Sản trường Đại học Cần Thơ 20%, Trung tâm
khuyến nông khuyến ngư tỉnh Hậu Giang 33,4% và Chi cục Thủy Sản Hậu Giang chiếm
10%.
Bảng 1: Đơn vị đào tạo nghề NTTS huyện Long Mỹ
Đơn vị đào tạo
Tỉ lệ (%)
n
Trung tâm đào tạo nghề huyện Long Mỹ
11
36,6
Khoa Thủy Sản trường Đại học Cần Thơ
6
20
10
33,4
3
10
Trung tâm khuyến nông khuyến ngư tỉnh Hậu Giang
Chi cục Thủy Sản Hậu Giang
Tuổi trung bình của nông dân tham gia lớp học là 47 tuổi. Nhỏ nhất là 27 tuổi và lớn
nhất là 61 tuổi. Những nông dân tham gia học phần lớn thuộc độ tuổi trung niên. Qua
3
khảo sát cho thấy trong 30 người tham gia học thì có 5 người nữ chiếm 17%, nam là 25
người chiếm 83%. Số lượng nam giới tham gia học cao hơn so với nữ là vì đa số phụ nữ
ở nông thôn phải làm công việc nội trợ gia đình nên đều do nam giới tham gia học cũng
như NTTS.
Số nhân khẩu trung bình là 4,57 người/hộ, số lao động tham gia lớp đào tạo trung bình
là 1,10 người/hộ, hộ tham gia học nhiều nhất là 2 người và ít nhất là 1. Số lao động
NTTS trung bình là 1,7 người/hộ, cao nhất là 3 người và thấp nhất là 1. Số năm kinh
nghiệm trung bình mà các hộ tham gia NTTS là 4,37. Hộ có kinh nghiệm lâu năm nhất
là 10 năm và thấp nhất là 3 năm. Những hộ có kinh nghiệm nuôi lâu năm hơn sẽ có
nhiều lợi thế cho việc chăm sóc, phòng ngừa dịch bệnh nên hiệu quả nuôi sẽ cao hơn
những hộ ít kinh nghiệm.
Bảng 2: Thông tin về tuổi, số lao động tham lớp đào tạo, số năm kinh nghiệm
Nội dung
Giá trị
Tuổi của người học lớp đào tạo (tuổi)
46,9±9,07
Tổng số nhân khẩu (người/hộ)
4,57±2,03
Số lao động tham gia lớp đào tạo
(người/hộ)
1,10±0,31
Số lao động NTTS (người/hộ)
1,70±0,59
Số năm kinh nghiệm NTTS (năm)
4,37±1,61
Về trình độ học vấn của những hộ tham gia học lớp đào tạo nghề NTTS cho thấy học
vấn chưa cao. Số nông dân có trình độ cấp I đạt 13,3%, trình độ cấp II chiếm tỉ lệ cao
nhất là 53,3%, trình độ cấp III và trung cấp đều đạt 16,7%. Trong khu vực khảo sát,
không có nông dân nào ở trình độ trình độ cao đẳng và đại học. Với trình độ học vấn
chưa cao này cũng là một khó khăn đối với nông dân trong việc tiếp thu kiến thức khi
tham gia học, đây cũng là khó khăn đối với cán bộ phụ trách lớp học.
Hằng năm huyện Long Mỹ đều có mở các lớp đào tạo nghề NTTS với nhiều nghề khác
nhau. Mục tiêu là đào tạo cho các đối tượng từ một người chưa biết hoặc ít biết về
NTTS có kiến thức để nuôi thủy sản hoặc trở thành kỹ thuật viên có kiến thức cơ bản ở
trình độ sơ cấp nghề. Qua khảo sát các hộ nông dân tham gia học lớp đào tạo nghề
NTTS đều trong khoảng 3 năm trở lại là năm 2011 với 6,7%, năm 2012 là 40% và năm
gần nhất là năm 2013 chiếm 53,3%.
Trong quá trình giảng dạy lớp đào tạo nghề NTTS các giáo viên sẽ tiến hành lựa chọn
địa điểm phù hợp để xây dựng mô hình và lựa chọn các con giống nuôi có nguồn gốc rõ
ràng, sạch bệnh. Lớp tập huấn và đào tạo nghề nuôi trồng thủy sản rất đa dạng với nhiều
đối tượng nuôi như lươn, cá thác lác, ếch, cá rô, cá lóc. Trong 30 hộ được phỏng vấn thì
đối tượng nuôi là cá thác lác chiếm 53,33%, lươn 26,78%, cá rô 13,33%, ếch và cá lóc
có tỉ lệ bằng nhau là 3,33%.
3.2 Đánh giá chung của nông dân sau khi tham gia học lớp đào tạo nghề NTTS
huyện Long Mỹ
Trong số 30 nông dân theo học lớp đào tạo thì có 66,7% nông dân cho rằng lớp học ở
mức tốt, 20% là rất tốt và 13,3% cho rằng lớp học chỉ ở mức bình thường, không có
nông dân nào cho rằng chất lượng lớp học không tốt. Đều này cho thấy phần lớn nông
dân đều hài lòng về chất lượng giảng dạy khi tham gia lớp học.
4
Khi tham gia các khóa tập huấn hay học lớp đào tạo nghề nuôi trồng thủy sản nông dân
sẽ được giảng dạy nhiều kiến thức. Qua khảo sát cho thấy 100% nông dân đều được dạy
về kỹ thuật nuôi. 89,3% được học kiến thức phòng trị bệnh. Nông dân được học về đặc
điểm sinh học chiếm 20% và 30% nông dân được học kỹ thuật sản xuất giống.
Bảng 3: Kiến thức được học khi tham gia lớp đào tạo
Nội dung
Tỉ lệ (%)
Kỹ thuật nuôi
100
Kiến thức phòng trị bệnh
89,3
Đặc điểm sinh học
20
Kỹ thuật sản xuất giống
30
Tuy kiến thức được học từ lớp đào tạo nghề NTTS rất đa dạng nhưng khi áp dụng vào
thực tế sản xuất thì 63,3% là áp dụng thành công kỹ thuật nuôi. Áp dụng thành công cả
kỹ thuật nuôi và kỹ thuật sản xuất giống chỉ chiếm 6,7%. Và 30% áp dụng thành công
kỹ thuật nuôi và kiến thức phòng trị bệnh. Không chỉ áp dụng thành công một số kiến
thức vào thực tiễn sản xuất mà qua khảo sát cho thấy những nông dân này còn nâng cao
tính cộng đồng bằng cách truyền đạt lại kiến thức đã học được cho những nông dân
khác, ngoài ra còn khuyến khích mọi người NTTS và tham gia học lớp đào tạo nghề
NTTS. Qua khảo sát các hộ nông dân có 100 % nông dân truyền đạt lại kiến thức học
được cho nông dân khác, 66,7% khuyến khích nông dân khác tham gia NTTS và 33,3%
là khuyến khích nông dân tham gia lớp học NTTS. Đều này cho thấy rằng những nông
dân ở nông thôn ngoài việc biết chăm lo cho cuộc sống của bản thân họ còn ý thức được
việc giúp đỡ những người xung quanh giúp phát triển kinh tế cho cả địa phương.
3.3 Hiệu quả kinh tế sau khi nông dân tham gia học lớp đào tạo NTTS nông thôn
huyện Long Mỹ
Trước khi nông dân học lớp đào tạo nghề NTTS, thì 100% đã tham gia nuôi thủy sản
với mục đích tăng thu nhập gia đình. Qua khảo sát cho thấy có 86,7% các hộ tham gia
nuôi sau khi tham gia lớp đào tạo là có thu nhập hăng năm tăng. Do đối tượng nuôi thủy
sản khác nhau nên có sự chênh lệch khá lớn về diện tích, sản lượng thu hoạch và thu
nhập giữa các hộ với nhau.
Hộ nuôi cá lóc trước khi tham gia lớp đào tạo có diện tích nuôi là 2000 m2, năng suất
nuôi là 0,5 kg/m2, và thu nhập/năm là 520 triệu, trong đó thu nhập từ NTTS là 4 triệu
đồng/năm. Sau khi tham gia lớp đào tạo nghề hộ có diện tích nuôi và năng suất thu
hoạch giảm còn 0,3 kg/m2 do cá mắc bệnh không điều trị kịp dẩn đến lổ 5 triệu đồng và
thu nhập/năm giảm còn 500 triệu.
Hộ nuôi ếch có thu nhập chính là từ NTTS và không có thêm thu nhập từ nghề nào
khác. Trước khi tham gia lớp đào tạo NTTS, hộ nuôi ếch có diện tích 50 m2, năng suất
nuôi là 6 kg/m2 và thu nhập là 30 triệu đồng/năm. Sau khi tham gia lớp đào tạo, hộ nuôi
ếch có diện tích 75 m2, năng suất thu hoạch là 6,3 kg/m2 và thu nhập là 50 triệu
đồng/năm. Do biết áp dụng kiến thức học được và tăng diện tích nuôi nên thu nhập/năm
của hộ gia đình đã tăng 20 triệu đồng.
Diện tích NTTS, năng suất thu hoạch, thu nhập từ NTTS và tổng thu nhập trung bình
trước và sau khi tham gia lớp đào tạo nghề NTTS được thể hiện qua bảng bên dưới (
Bảng 4).
5
Những hộ nuôi lươn sau khi tham gia lớp đào tạo, diện tích nuôi trung bình tăng
17±29,1 m2/hộ, năng suất thu hoạch tăng 1,9±2,7 kg/m2, thu nhập từ nuôi lươn trung
bình giảm 0,75±5,3 triệu đồng do chi phí nuôi lươn cao hơn trước nhưng giá bán ra lại
không cao.
Hộ nuôi thác lác có diện tích nuôi trung bình tăng 186±381 m2/hộ, năng suất thu hoạch
tăng 0,05±0,4 kg/ m2, thu nhập trung bình từ cá thác lác tăng 2,6±3,1 triệu đồng. Việc
tăng diện tích nuôi đã giúp những hộ nuôi cá thác lác tăng thêm thu nhập hằng năm cho
gia đình.
Đối với hộ nuôi cá rô, sau khi tham gia lớp đào nghề diện tích NTTS vẩn không thay
đổi do vẩn giữ ao nuôi cố định chỉ tăng thêm số lượng con giống thả nuôi, năng suất thu
hoạch trung bình tăng 0,6±0,4 kg/m2 và thu nhập từ nuôi cá rô tăng 6,25±4,8 triệu
đồng/năm.
Bảng 4: Diện tích, sản lượng, thu nhập trung bình của từng đối tượng nuôi trước và
sau khi tham gia học lớp đào tạo NTTS
Nội dung
Trước khi
tham gia
lớp đào
tạo nghề
NTTS
Nuôi lươn
Tổng diện
tích nuôi
thủy sản
(m2/hộ)
Tổng năng
suất thu
hoạch (kg/
m2)
Thu nhập từ
NTTS/năm
(Triệu
đồng)
Tổng thu
nhập/năm
(Triệu
đồng)
25±7,53
3±1,7
11,1±7,8
59±28
1139±604
0,48±0,33
14,6±13,5
42,5±24,7
Nuôi cá rô
3350±1989
4,4±3,3
Sau khi
tham gia
lớp đào
tạo nghề
NTTS
Nuôi lươn
42±31,4
4,9±2,8
10,4±11,1
66,3±33,7
1325±639
0,53±0,3
17,3±13,4
46,9±26,7
Nuôi cá rô
3350±1989
5±3,6
97,5±73,2
130±76,2
So sánh
trước và
sau khi
tham gia
lớp đào
tạo NTTS
Nuôi lươn
17±29,1
1,9±2,7
-0,75±5,3
7,3±10,1
Nuôi cá thác
lác
186±381
0,05±0,4
2,6±3,1
4,43±3,65
0
0,6±0,4
Nuôi cá thác
lác
Nuôi cá thác
lác
Nuôi cá rô
91,3±77 106,3±64,2
6,25±4,8 23,75±14,9
Nhờ vào việc tham gia các lớp học đào tạo nghề NTTS mà đa số nông dân đều tự tin
tăng thêm diện tích nuôi thủy sản đối với hộ nuôi lươn, cá thác lác và ếch. Năng suất thu
hoạch của những hộ nuôi lươn, cá rô và ếch cũng tăng. Nhưng năng suất thu hoạch tăng
không nhiều do vẫn gặp một số khó khăn do dịch bệnh. Thu nhập trung bình hằng năm
của những hộ từ NTTS là 26,5 triệu đồng/năm so với trước kia là 24,1 triệu đồng/năm
đã tăng 2,4 triệu đồng/năm. Tổng thu nhập trung bình hằng năm là 78,4 triệu đồng tăng
7,5 triệu đồng.
3.4 Những thuận lợi và khó khăn của nông dân khi tham gia lớp đào tạo nghề
NTTS huyện Long Mỹ và ảnh hưỡng môi trường
Bảng 4 thể hiện những thuận lợi của nông dân khi tham gia học lớp đào tạo nghề
NTTS. Kết quả cho thấy nông dân tham gia lớp NTTS là vì muốn học được
6
những kiến thức về kỹ thuật NTTS. Việc học này giúp họ có thêm nhiều kinh
nghiệm nên sẽ có nhiều lợi thế để NTTS.
Bảng 5: Thuận lợi khi tham gia các lớp đào tạo nghề NTTS
Nội dung
Điểm
Xếp hạng
Học được kiến thức về kỹ thuật NTTS
30
1
Có cơ hội để trao đổi kinh nghiệm nuôi
25
2
Biết cách phòng ngừa và điều trị khi có dịch bệnh
20
3
Có chi phí hổ trợ người người đi học
9
4
Củng cố lại những kiến thức đã biết về NTTS
6
5
Ngoài ra khi đến với lớp học, nông dân còn có cơ hội để trao đổi kinh nghiệm nuôi với
nhau cũng như được giáo viên hướng dẫn cách phòng ngừa và điều trị khi có dịch bệnh
xảy ra. Khi tham gia học nông dân còn có thêm thuận lợi về chi phí hỗ trợ người đi học
theo từng đối tượng khác nhau. Những nông dân đã có kinh nghiệm lâu năm về NTTS
sẽ được cũng cố lại kiến thức của mình khi tham gia các lớp tập huấn ngắn hạn hoặc lớp
đào tạo nghề NTTS.
Bảng 6: Khó khăn khi tham gia lớp đào tạo nghề NTTS
Nội dung
Điểm
Xếp hạng
Chưa áp dụng thành công 1 số kiến thức học vào thực
tiễn
24
1
Chưa được hỗ trợ khi có dịch bệnh xảy ra
22
2
Thời gian dạy lí thuyết và thực hành chưa hợp lí
20
3
Do bản thân người học khó tiếp thu kiến thức
13
4
Giáo viên truyền dạy kiến thức khó hiểu
11
5
Mặc dù khi tham gia các lớp đào tạo nghề NTTS mang lại nhiều thuận lợi cho người
học nhưng cũng gặp phải một số khó khăn nhất định ( Bảng 6) như chưa áp dụng thành
công một số kiến thức vào thực tiển sản xuất như là điều trị bệnh. Chưa được hỗ trợ khi
có dịch bệnh xảy ra. Thời gian dạy lí thuyết và thực hành chưa hợp lí, thời gian thực
hành chưa nhiều để nắm hết kỹ thuật. Do bản thân người học khó tiếp thu kiến thức vì
đa phần nông dân đều ở trình độ không cao nên dẫn đến khó hiểu, khó nắm bắt được
kiến thức khi giáo viên giảng dạy.
Về kiến thức điều trị bệnh cần dạy cho nông dân cách phòng ngừa ngay từ đầu và sẵng
sàng giúp đỡ khi có dịch bệnh xãy ra. Dạy cho nông dân điều trị những bệnh cơ bản
thường gặp và thực hành nhiều lần để những nông dân khó tiếp thu kiến thức cũng có
thể làm được. Cần tăng thêm thời gian thực hành để thực hiện các mô hình nhằm giúp
nông dân nắm rõ về kỹ thuật nuôi.
Qua khảo sát 30 hộ thì môi trường nước tại địa phương hiện nay đều tốt do dân cư
không đông đúc, không có nhà máy gây ô nhiễm, không có chất thải ra sông ngòi. Mô
hình nuôi có ảnh hưỡng xấu đến môi trường nước công cộng hiện nay qua khảo sát cao
nhất là nuôi cá rô. Các hộ tham gia học lớp đào tạo nghề NTTS đều được dạy về cách
bảo vệ môi trường, nên các mô hình nuôi của các hộ phỏng vấn đều không ảnh hưỡng
đến môi truường do xử lí chất thải tốt và không thải trực tiếp ra môi trường.
7
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1 Kết luận
-
Trong số những nông dân tham gia lớp đào tạo nghề NTTS tỉ lệ nam giới chiếm
83%, nữ là 17%. Tất cả đều đánh giá cao chất lượng của lớp học với 66,7% là
tốt và 20% đánh giá là rất tốt.
-
Trong các kiến thức học được từ lớp đào tạo nghề NTTS thì có 63,3% đã áp
dụng thành công kỹ thuật nuôi vào thực tế sản xuất.
-
Sau khi tham gia học lớp đào tạo NTTS, Cả 100% nông dân đều truyền đạt kiến
thức lại cho nông dân khác, 66,7 % khuyến khích họ tham gia học và 33,3%
khuyến khích họ NTTS.
-
Tổng thu nhập trung bình từ NTTS của hộ nông dân sau khi tham gia lớp đào tạo
nghề NTTS tăng 2,4 triệu đồng/năm, số hộ tăng thu nhập là 86,7%.
-
Qua kết quả cho thấy khi tham gia học lớp đào tạo nghề NTTS nông dân đã có
những hiệu quả tích cực về mặt kinh tế nhưng bên cạnh đó cũng gặp một số khó
khăn.
4.2 Đề xuất
-
Thường xuyên mở các các lớp tập huấn, đào tạo nghề NTTS để khuyến khích
nông dân tham gia học và NTTS
-
Hỗ trợ cho nông dân khi có dịch bệnh xảy ra bằng cách có những khuyến cáo để
nông dân kịp thời điều trị khi có bệnh và nhờ chuyên gia điều trị.
-
Giúp nông dân theo học các lớp tập huấn và đào tạo nghề NTTS dễ nắm bắt kiến
thức bằng các phương pháp dạy như tăng thời gian thực hành, cải tiến bài giảng,
chiếu phim minh họa thực tế.
8
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Báo cáo của sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2014.
Danh sách phân bố các lớp đào tạo nghề nuôi trồng thủy sản huyện Long Mỹ, 2014.
. Truy cập ngày 15/9/2014.
Lê Xuân Sinh, 2010. Giáo trình kinh tế thủy sản, nhà xuất bản Đại học Cần Thơ
Thuysanvietnam.com.vn. Truy cập ngày 26/11/2014.
Tổng cục Thủy Sản, 2014.
Trạm khuyến Nông khuyến Ngư huyện Long Mỹ, 2013.
Trạm khuyến Nông khuyến Ngư huyện Long Mỹ, 2014.
9