Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

Biện pháp thúc đẩy ngành kinh tế tăng trưởng phù hợp với chiến lược phát triển

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (153.72 KB, 22 trang )

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Hiện nay,nớc ta đang thực hiện bớc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội với
nhiều nội dung chuyển đổi về kinh tế chính trị văn hoá xã hội. Để đạt đợc
mục tiêu đa nớc ta đến năm 2020 cơ bản trở thành một nớc công nghiệp chúng
ta cần thực hiện đồng thời nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy các ngành kinh tế
tăng trởng phù hợp với chiến lợc phát triển mà Đảng đã ra.Trong đó nớc ta vẫn
chủ yếu dựa vào các ngành nông- lâm- ng nghiệp vốn là thế mạnh của chúng
ta trên trờng quốc tế.Thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng trong những năm
qua, sản xuất nông nghiệp (nông nghiệp,lâm nghiệp, thuỷ sản) nớc ta liên tiếp
thu đợc nhiều thành tựu to lớn. Thành tựu lớn nhất là trong một thời gian
không dài, từ một nền nông nghiệp tự cấp, tự túc,lạc hậu vơn lên trở thành một
nền nông nghiệp hàng hoá, đảm bảo an toàn lơng thực quốc gia và có tỉ suất
hàng hoá ngày càng lớn có vị thế đáng kể trong khu vực và thế giới. Nớc ta đã
trở thành một trong những nớc đứng đầu thế giới về xuất khẩu 4 mặt hàng:
gạo, cà phê, điều, hạt tiêu. Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, thuỷ sản là
ngành có khả năng trở thành ngành sản xuất có lợi thế lớn nhất của nền nông
nghiệp Việt Nam. Trong 40 năm qua, ngành thuỷ sản luôn giữ xu thế tăng tr-
ởng không ngừng về năng lực sản xuất, sản lợng và giá trị. Kim ngạch xuất
khẩu có mức tăng trởng tơng đối cao (22-23%/ năm). Năm 1997, kim ngạch
sản xuất đạt 776 triệu USD, năm 1998 đạt 850 triệu USD, năm 1999 đạt 950
triệu USD, năm 2000 đạt 1,45 tỷ USD và năm 2001 đạt 1,76 tỷ USD đứng thứ
2 trong các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam trong đó phải kể đến sự đóng
góp to lớn của một số công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản nh: Tổng công ty xuất
nhập khẩu thuỷ sản (Seaprodex) và các công ty thành viên, công ty xuất nhập
khẩu thủy sản An Giang (Agifish) để tăng khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nớc Chính phủ Việt Nam đã đề ra một số
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
biện pháp hỗ trợ trong đó có việc ra Nghị quyết số 09/2000/NQ- CP của Chính
phủ ngày15 tháng 6 năm 2000 về một số chủ trơng và chính sách về chuyển


dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Trong phạm vi bài viết
này, em xin đợc trình bày những tác động của Nghị quyết số 09/2000/NQ
CP đối với hoạt động xuất nhập khẩu thủy sản của công ty Seaprodex Việt
Nam.
I.Hoàn cảnh ra đời của Nghị quyết 09/2000/NQ-CP.
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.Hoạt động của công ty Seaprodex tr ớc khi có Nghị quyết .
Tổng công ty thuỷ sản Việt Nam công ty Seaprodex -đợc thành lập
vào năm 1978, kể từ đó đến nay công ty luôn là doanh nghiệp hàng đầu của
ngành thuỷ sản Việt Nam cả về năng lực sản xuất, sản lợng và giá trị xuất
khẩu. Tính đến năm 2000, công ty có 17 nhà máy chế biến thuỷ sản đông lạnh
xuất khẩu, trong đó 13 nhà máy chế biến hải sản đông lạnh xuất khẩu với tổng
công suất 200 tấn/ ngày, 4 nhà máy chế biến thuỷ sản tiêu thụ nội địa ( sản
xuất nớc mắm, bột cá, thức ăn gia súc) với tổng công suất 12000 tấn/ năm.
Ngoài ra, công ty còn có hệ thống kho thành phẩm với sức chứa 10000 tấn,
kho nớc đá 300 tấn, 50 chiếc xe lạnh, 89 xe bảo ôn. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ
sản của công ty trong giai đoạn 1990- 2000 đã không ngừng tăng lên với tốc
độ tăng trởng trung bình khoảng 17,3 %/ năm.
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của công ty Seaprodex Việt Nam 1990
2000.
Đơn vị: triệu USD
Chỉ tiêu
Năm
KNXK của
cả nớc
KNXK thuỷ
sản
KNXK của
công ty

Tỷ trọng (%)
1990 2404 239,1 35,2 14,7
1991 2087 285,4 39,6 13,9
1992 2591 307,7 44 14,3
1993 2985 427,2 48,4 11,3
1994 4054 551,2 52,8 9,58
1995 5449 621,4 57,2 9,20
1996 7256 969,6 65,8 6,79
1997 9145 776,4 74,5 9,59
1998 9361 858,6 83,2 9,69
1999 11523 971,1 127,1 13,09
2000 14300 1450 174 12,0
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nguồn: Niên giám thống kê 1996; kinh tế 1998-1999 và 2000- 2001
Việt Nam và thế giới ( thời báo kinh tế Việt Nam); bản tin thơng mại thuỷ sản
tháng 1 năm 2000.
Nh vậy, ta có thể thấy kim ngạch xuất khẩu của công ty chiếm tỷ trọng
tơng đối lớn trong kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản cả nớc với tốc độ tăng trởng
tơng đối cao và bền vững. Đặc biệt năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của công
ty đạt 174 triệu USD, bằng 137,6% so với cùng kì; thị trờng xuất khẩu mở
rộng ra hơn 30 quốc gia; một số doanh nghiệp thành viên đã tăng kim ngạch
xuất khẩu trên 10 triệu USD/ năm so với năm 1999.
Tuy là doanh nghiệp có tiềm lực mạnh trong ngành thuỷ sản Việt Nam
nhng trong thời gian qua công ty gặp không ít khó khăn, cũng nh đa số các
công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam. Đó là công nghệ chế biến còn lạc
hậu và cha phù hợp với nguồn nguyên liệu sẵn có ở Việt Nam; nguồn cung cấp
nguyên liệu cho sản xuất hàng thuỷ sản xuất khẩu không ổn định và chất lợng
nguyên liệu cha đảm bảo; hoạt động marketing đặc biệt là hoạt động xúc tiến
thơng mại còn yếu kém.

Đối với công ty Seaprodex, đa số các nhà máy chế biến thuỷ sản đông
lạnh của công ty đều đợc xây dựng từ trớc năm 1975. Những năm gần đây, tuy
đợc đầu t nâng cấp nhng cha đồng bộ. Vì vậy, hầu hết năng lực chế biến của
các nhà máy chỉ đạt 65- 70 % công suất thiết kế, bởi ngành công nghiệp thuỷ
sản mang đậm tính chất mùa vụ và cha đợc đầu t đổi mới công nghệ kịp thời.
Từ năm 1990 đến 1998 công ty đã đầu t 4,7 triệu USD cho các cơ sở chế biến
thuỷ sản, trong đó vốn tín dụng 700.000USD còn lại là vốn tự có. Kèm theo đó
công ty còn lập phơng án quy hoạch, nâng cấp hàng thuỷ sản xuất khẩu của
công ty Seaprodex Minh Hải tại Bạc Liêu, Seaprodex miền trung tại Đà Nẵng,
Seaprodex Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, với tổng nhu cầu đầu t cho các
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công trình trên dự kiến là 250 tỷ đồng. Ngoài ra, để khắc phục những khó
khăn trên Seaprodex Việt Nam đã xác định 2 vấn đề cơ bản là xây dựng định
hớng chiến lợc và ổn định các doanh nghiệp thành viên. Cùng với việc đầu t
nâng cấp các nhà máy chế biến thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu, công ty còn xác
định lợi thế của từng doanh nghiệp thành viên, xác định các vùng sản xuất
trọng điểm, doanh nghiệp trọng điểm để xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể
cho từng thành viên và các biện pháp thực hiện nhiệm vụ. Ví dụ, năm 1999
công ty đã xác định khu vực miền Tây có lợi thế phát triển sản xuất, trong đó
lấy Seaprodex Minh Hải là trọng điểm sản xuất và xuất khẩu. Việc xác định
doanh nghiệp trọng điểm đã tạo nên động lực mạnh thúc đẩy doanh nghiệp
này phát triển; ở Seaprodex Minh Hải đã tăng từ 18 triệu USD năm 1998 lên
31 triệu USD năm 2000, chiếm tỷ trọng giá trị chế biến cao nhất ( 25,76%)
trong toàn công ty. Có thể nói định hớng của công ty Seaprodex là tiền đề, là
động lực mạnh mẽ để mỗi doanh nghiệp thành viên tăng cờng đẩy mạnh xuất
khẩu. Bên cạnh việc chủ động xây dựng định hớng đúng là việc ổn định các
doanh nghiệp thành viên để củng cố thực lực mỗi thành viên và tạo sức mạnh
của toàn công ty. Doanh nghiệp phấn đấu không phải chỉ là để năm sau cao
hơn năm trớc, mà còn để xứng đáng với uy tín công ty Seaprodex Việt Nam.

Ngoài ra, nguồn cung cấp nguyên liệu cho sản xuất hàng thuỷ sản xuất
khẩu không ổn định và chất lợng nguyên liệu cha đảm bảo cũng là khó khăn
cho toàn bộ các công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam nói chung cũng
nh công ty Seaprodex nói riêng. Trên thực tế, theo báo cáo của Bộ Thơng mại
gần nh toàn bộ các nhà máy chế biến thuỷ sản của nớc ta đều dựa vào nguồn
nguyên liệu khai thác tự nhiên, lệ thuộc vào thiên nhiên do nuôi trồng cha phát
triển và trở thành nguồn cung cấp ổn định. Phụ thuộc vào thiên nhiên và tính
chất mùa vụ của các loài hải sản nhiệt đới cùng với điều kiện kết cấu hạ tầng
cho việc khai thác ( nh đội tàu và kỹ thuật viên, hệ thống cảng và chợ chuyên
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dụng) cha phát triển tơng ứng đã làm cho chất lợng nguyên liệu không cao
và không ổn định. Đó là do Việt Nam hiện nay, khai thác thuỷ hải sản tự
nhiên chủ yếu đợc thực hiện bằng đội tầu có kích cỡ nhỏ của ng dân, rất khó
có điều kiện áp dụng công nghệ mới hiện đại trong việc bảo quản sau thu
hoạch (nh các khoang sơ chế tại tàu, các hầm lạnh cỡ lớn đảm bảo chất lợng
nguyên liệu cho các chuyến đánh bắt xa bờ dài ngày).
Đối với các công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam thì đó vẫn cha
phải là khó khăn cuối cùng, mà các công ty của Việt Nam còn yếu kém trong
khâu marketing đặc biệt là hoạt động xúc tiến thơng mại. Trong điều kiện hiện
nay, để có thể thành công trong kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải tạo ra
sản phẩm tốt giá thành hạ, các dịch vụ cung cấp sản phẩm đến khách hàng
thuận tiện đồng thời họ cũng phải đặc biệt quan tâm đến hoạt động xúc tiến th-
ơng mại. Bởi vì nếu sản phẩm ít đợc khách hàng biết đến, không đợc phân
phối hợp lý, không hiểu rõ về đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp rất khó
giành vị thế thắng cuộc trong thơng trờng. Thực tế cho thấy, các hoạt động nh
nghiên cứu thị trờng, quảng cáo kể cả thị trờng nội địa hầu nh cha đợc các
doanh nghiệp sản xuất hàng thuỷ sản Việt Nam lu tâm thực hiện. Việc tiêu thụ
sản phẩm chủ yếu dựa trên các quan hệ truyền thống, chờ khách hàng tìm
đến. Thêm vào đó, việc hỗ trợ của các cơ quan quản lý Nhà nớc( Bộ Thuỷ sản,

Bộ Thơng mại) trong cung cấp thông tin thị trờng, tổ chức hội chợ, giới
thiệu sản phẩm Việt Nam đến khách hàng thông qua các văn phòng đại diện ở
nớc ngoài cha đợc thực hiện một cách thờng xuyên.
Nh vậy, trong hoàn cảnh các công ty xuât nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam
nói chung và công ty Seaprodex nói riêng điều gặp những khó khăn nh trên,
nên chăng các cơ quan quản lý Nhà nớc cần đa ra các giải pháp phù hợp nhằm
tháo gỡ những khó khăn trên. Trớc tình hình đó Chính phủ đã ban hành Nghị
quyết 09/2000/ NQ- CP ngày 15/6/2000 về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thụ sản phẩm nông nghiệp nhằm giải quyết một số vấn đề khó khăn đối với
ngành thuỷ sản Việt Nam. Kèm theo đó Bộ Thuỷ sản cũng ra thông t số
05/2000/ TT- BTS ngày 3/11/2000 hớng dẫn thực hiện Nghị quyết trên.
2.Một số nội dung chính của Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP.
Theo đánh giá của các chuyên gia, thuỷ sản là ngành sản xuất sản
phẩm đạm động vật có nhu cầu ngày càng tăng ở thị trờng trong nớc và xuất
khẩu lớn, có khả năng trở thành ngành sản xuất có lợi thế lớn nhất của ngành
nông nghiệp Việt Nam. Sản lợng thủy sản đạt 3- 3,5 triệu tấn/năm, đáp ứng
nhu cầu thị trờng trong nớc, nâng kim ngạch xuất khẩu vơn lên hàng đầu trong
khu vực châu á. Chính phủ đã đa ra một số chủ trơng, chính sách để tăng khả
năng tiêu thụ sản phẩm thủy sản, thúc đẩy sản xuất phát triển nh sau:
a.ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học- công nghệ mới vào sản xuất
thuỷ sản.
Về nuôi trồng thuỷ sản, điều tra nghiên cứu, lập kế hoạch phát triển
nuôi trồng thuỷ sản trên các loại hình mặt nớc thuộc các vùng nớc mặn, lợ
và ngọt. Các Viện nghiên cứu nuôi trông thuỷ sản I, II và Trung tâm khuyến
ng các tỉnh phối hợp với các cơ quan nghiên cứu và đào tạo ngoài ngành
liên quan tổ chức để chuyển giao các công nghệ sinh học cho các tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân sản xuất thuỷ sản nhằm khai thác sử dụng có hiệu quả
các loại đất, mặt nớc.

Về khai thác thuỷ sản, nghiên cứu điều tra xác định nguồn lợi hải sản
vùng xa bờ, các vùng hải sản trọng điểm, phân bố tập trung, tập tính sinh
học, quy luật di c và biến động của các đối tợng khai thác. Nghiên cứu cải
tiến một số nghề khai thác hải sản ven bờ quan trọng hiện có, tiến hành
trang bị máy định vị, máy dò cáĐối với công nghệ khai thác hải sản xa
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bờ, tăng cờng nghiên cứu cải tiến kết cấu ng cụ, phơng pháp đánh bắt và
một số công nghệ của nớc ngoài để khai thác các loại thuỷ-hải sản.
Về chế biến thuỷ sản, nhập khẩu công nghệ chế biến, đa dạng hoá
mặt hàng để nâng cao giá trị của sản phẩm đông lạnh. Đồng thời đào tạo
nâng cao tay nghề cho công nhân, nhập khẩu công nghệ đông rời (IQF) có
công suất thích hợp với từng vùng nguyên liệu.
b.Tạo thêm các nguồn lực phát triển kinh tế thuỷ sản .
Tổ chức thực hiện tốt những chính sách về đất đai theo quy định của
luật đất đai, giao quyền sử dụng đất mặt nớc bãi bồi, bãi cát ven biển, hải
đảo, đầm phá, hồ chứa, sông lớn vẫn còn bỏ hoang ít sử dụng cho các tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào việc phát triển nuôi trồng thuỷ
sản.
Tăng cờng hợp tác liên doanh liên kết, thành lập các hội nghề nghiệp
giữa các hộ sản xuất, các chủ trang trại, các thành phần kinh tế để mở rộng
quy mô, tăng khả năng đầu t vốn, thu hút lao động sản xuất ra hàng hoá
thuỷ sản có giá trị kinh tế, gắn kết sản xuất- xây dựng cơ sở chế biến thuỷ
sản với việc giao lu mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nớc.
c.Mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản.
Phải tăng cờng công tác thông tin thị trờng, nâng cao khả năng tiếp
thị; gắn thị trờng với sản phẩm, thị trờng nớc ngoài với thị trờng trong nớc,
gắn hợp tác thơng mại, quan hệ đối ngoại với trao đổi buôn bán xuất khẩu
hàng hoá thuỷ sản. Gắn chất lợng hàng hoá, mẫu mã và đa dạng hoá sản
phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm thuỷ sản, với yêu cầu thị hiếu của khách

hàng nhập khẩu (nhất là thị trờng Mĩ, Nhật Bản, EU).
8

×