Tải bản đầy đủ (.docx) (51 trang)

Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Đan Phượng – Hà Tây.docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (427.35 KB, 51 trang )

Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
LỜI NÓI ĐẦU
Đối với quốc gia, thất nghiệp thiếu việc làm là một sự lãng phí tài
nguyên sinh lực. Đối với gia đình và xã hội, thất nghiệp và thiếu việc làm làm
phát sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp và nóng bỏng, gây ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống và sự phát triển con người. Do đó, việc giải quyết việc làm và
tạo mở việc làm trong giai đoạn Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước
hiện nay là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của các cơ quan quản
lý nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi thành phần trong xã hội nhằm đưa đất
nước đi lên theo kịp sự phát triển chung của khu vực và của thế giới.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, qua thời gian thực tập
tại Phòng Nội vụ Lao động và Xã hội huyện Đan Phượng, cùng với sự hướng
dẫn của GS Mai Quốc Chánh, em đã lựa chọn đề tài: “Công tác tạo việc làm
cho người lao động trên địa bàn huyện Đan Phượng – Hà Tây” để nghiên
cứu cho bài báo cáo thực tập cuối khoá của mình. Đồng thời cũng mong
muốn được đóng góp những kiến thức mà bản thân đã được học tập trong
trường ĐH Kinh tế Quốc dân làm cho công tác tạo mở việc làm của huyện
được thực hiện ngày càng tốt hơn.
Chuyên đề thực tập này được chia làm ba phần:
Phần I: Những lý luận chung về vấn đề việc làm
Phần II: Thực trạng về việc làm và công tác tạo mở việc làm của
huyện Đan Phượng trong những năm vừa qua.
Phần III: Kiến nghị và đề xuất.
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cô chú cán bộ ở phòng
Nội vụ - Lao động và Xã hội huyện Đan Phượng đã nhiệt tình giúp đỡ và
hướng dẫn em trong suốt thới gian thực tập và nghiên cứu. Trong quá trình
viết bài, không tránh khỏi những sai sót vì vậy rất mong nhận được ý kiến
đóng góp của các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực
trường Đại học Kinh tế quốc dân để bài viết này được hoàn thiện hơn.
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực


1
PHẦN I: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM
I, Lao động và nguồn lao động:
1, Lao động:
Lao động theo triết học Mac-Lênin: là quá trình diễn ra giữa con người
với tự nhiên, trong đó con người bằng hoạt động của chính mình làm trung
gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên.
Ngày nay khái niệm lao đã được mở rộng hơn, đó là là hoạt động có
mục đích, có ích của con người tác động lên giới tự nhiên, xã hội nhằm mang
lại của cải vật chất cho bản thân và xã hội. Lao động là nguồn gốc và là động
lực phát triển xã hội, xã hội càng văn minh thì tính chất, hình thức và phương
pháp tổ chức lao động ngày càng tiến bộ.
Đặt trong bối cảnh Việt Nam trong giai đoạn Công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nước với nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì lao
động được đánh giá ở nhiều khía cạnh mới, cụ thể là
Thứ nhất, lao động được coi là phương thức tồn tại của con người
nhưng coi trọng lợi ích của con người. Bởi vì lao động biểu hiện bản chất của
con người còn lợi ích của người lao động là vấn đề nhạy cảm nhất, là nhân tố
thấm sâu, phức tạp trong mối quan hệ giữa con người với con người, quan hệ
giữa cá nhân với xã hội.
Thứ hai, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với phương thức
sản xuất kinh doanh xã hội chủ nghĩa thì lao động được xem xét trên khía
cạnh năng suất, chất lượng và hiệu quả.
Thứ ba, là bất cứ một hình thức lao động nào của cá nhân nếu đem lại
lợi ích cho cá nhân, cộng đồng và xã hội thì được coi là lao động có ích.
2
Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
2, Nguồn nhân lực và nguồn lao động:
Nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số trong độ tuổi nhất định theo

quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được
biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng.
* Về số lượng: là tổng số người trong độ tuổi lao động và thời gian làm
việc có thể huy động được của họ (Từ đủ 15-55 đối với nữ, từ đủ 15-60 đối
với nam). Việc quy định cụ thể độ tuổi lao động của mỗi nước là khác nhau
tuy thuộc và điều kiện và trình độ phát triển của nền kinh tế xã hội trong từng
giai đoạn. Ở Việt Nam, theo quy định của Bộ luật Lao động, dân số trong độ
tuổi lao động là những người đủ từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ đủ 15
đến 55 tuổi đối với nữ.
* Về chất lượng: Là trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật,
sức khoẻ và phẩm chất của người lao động.
Nguồn lao động (hay lực lượng lao động) là một bộ phận dân số trong
độ tuổi quy định thực tế có tham gia lao động (đang có việc làm) và những
người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm. Như vậy,
theo khái niệm nguồn lao động thì có một số người được tính vào nguồn nhân
lực nhưng không phải là nguồn lao động. Đó là những người lao động không
có việc làm nhưng không tích cực tìm việc làm; những người đang đi học;
những người làm nội trợ trong gia đình và những người thuộc tình trạng khác
(người nghỉ hưu trước tuổi quy định)…
Ở Việt Nam, khái niệm mở rộng dùng trong thống kê lao động việc làm
thì lực lượng lao động bao gồm cả những người ở ngoài độ tuổi lao động thực
tế đang làm việc trong các ngành kinh tế.
3, Vai trò của nguồn lao động đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội:
Nguồn lao động là yếu tố hàng đầu, năng động và quyết định sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Nhờ đó mà các tư liệu sản xuất được hoàn thiện
từng bước, phát huy được tác dụng, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, con người
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực
3
được đặt vào một quá trình lao động hết sức phức tạp, đòi hỏi năng lực sáng

tạo, trình độ chuyên môn cao, ý thức trách nhiệm lớn cả trong lao động cơ
bắp, lao động kỹ thuật và lao động quản lý. Có như vậy, lực lượng vật chất
mới được sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả, góp phần thúc đẩy kinh tế xã
hội ngày càng phát triển.
Lợi ích của nguồn lao động là động lực to lớn trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội.Vì lợi ích mà con người hoạt động, nó bao gồm lợi ích vật
chất và lợi ích tinh thần, trong đó lợi ích đóng vai trò quan trọng. Người lao
động dù làm ở đâu, dưới hình thức nào cũng đều nhằm đạt được lợi ích của
mình, như vậy lợi ích là nhu cầu trở thành động cơ của hành động. Thoả mãn
lợi ích chính đáng của người lao động là động lực kinh tế trực tiếp thúc đẩy
nền kinh tế xã hội phát triển.
Nguồn lao động với tư cách lực lượng tiêu dùng luôn là mục đích của
sự phát triển kinh tế xã hội. Nguồn lao động với tư cách là một bộ phận của
dân số đồng thời là động lực tiêu dùng mạnh mẽ, luôn đóng vai trò quyết định
là mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở mọi thời đại.
Nhận thức đúng đắn về vấn đề lao động không chỉ giúp ta thấy rõ hơn ý
nghĩa và tầm quan trọng của nó mà còn có cơ sở phương pháp luận để xem
xét việc sử dụng lao động trong thời gian qua, trên cơ sở đó đề ra phương
hướng và giải pháp sử dụng, phát huy vai trò của nguồn lao động trong giai
đoạn mới.
4
Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
II, Việc làm và thất nghiệp:
1, Việc làm:
a, Khái niệm việc làm:
Theo bộ luật lao động Việt Nam: Việc làm là mọi hoạt động lao động
tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm. Như vậy việc làm là:
+ Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật.
+ Những công việc tự làm để thu lợi cho bản thân hoặc thu nhập cho

gia đình mình nhưng không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho
công việc đó.
Theo như quan niệm này thì không chỉ những người dang làm việc
trong các ngành của nền kinh tế quốc dân, mà nhiều người khác cũng
được coi là có việc làm nếu họ giám tiếp tạo ra thu nhập miễn là không
bị pháp luật ngăn cấm.
b, Các hình thức việc làm:
Hiện nay tồn tại nhiều hình thức việc làm như: Việc làm được nhận tiền
công, tiền lương; tự tạo việc làm…
2, Tình trạng việc làm và thất nghiệp:
2.1, Việc làm đầy đủ:
Việc làm đầy đủ là việc làm cho phép người lao động có điều kiện sử
dụng hết thời gian lao động theo quy định. Theo bộ luật Lao động Việt Nam
thì người đủ việc làm là những người có số giờ là việc trong tuần lễ tính đến
thời điểm điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giờ hoặc những người có số giờ nhỏ
hơn hoặc bằng 40 nhưng không có nhu cầu làm thêm hoặc những người có số
giờ làm việc nhỏ hơn 40 giờ nhưng lớn hơn hoặc bằng giờ quy định đối với
những người làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành. Số
giờ làm việc có thể thay đổi theo từng năm hoặc từng thời kỳ.
2.2, Việc làm hợp lý và việc làm hiệu quả:
Việc làm hợp lý là việc làm phù hợp với số lượng và chất lượng của các
yếu tố con người và và vật chất của sản xuất, là bước phát triển cao hơn của
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực
5
việc làm đầy đủ. Việc làm hợp lý có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế xã
hội cao. Việc làm hợp lý còn là việc làm phù hợp với khả năng và nguyện
vọng của người lao động. Việc làm hiệu quả là việc làm đem lại mức thu nhập
cao cho người lao động.
2.3, Thiếu việc làm:
Thiếu việc làm là tình trạng người lao động không dụng hết thời gian

quy định và nhận được thu nhập thấp từ công việc khiến cho họ có nhu cầu
làm thêm.
Tình trạng thiếu việc làm còn được gọi là bán thất nghiệp. Người lao
động ở trong tình trạng này thường là lao động nông thôn, theo mùa vụ, lao
động ở khu vực thành thị không chính thức (khu vực phi kết cấu) lao động ở
khu vực sản xuất, kinh doanh đang gặp khó khăn, lao động ở khu vực nhà
nước dôi dư.
Tỉ lệ người thiếu việc làm là phần trăm những người thiếu việc so với
dân số hoạt động kinh tế (lực lượng lao động). Tỷ lệ sử dụng thời gian lao
động là phần trăm của tổng số ngày công có nhu cầu làm việc ( bao gồm số
ngày công thực tế đã làm việc và số ngày có nhu cầu làm thêm ) của dân số
hoạt động kinh tế.
2.4, Thất nghiệp:
a, Khái niệm thất nghiệp:
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại
khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể
tìm được việc làm ở mức tiền lương đang thịnh hành”.
6
Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
b, Phân loại thất nghiệp:
Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải được phân loại để
hiểu rõ về nó, Thất nghiệp có thể đựoc chia thành các loại sau:
* Theo lý do thất nghiệp:
- Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công
nào đó người lao động không muốn làm việc hoặc vì một số lý do cá nhân
như di chuyển, sinh con…Thất nghiệp loại này thường gắn với thất nghiệp
tạm thời.
- Thất nghiệp không tự nguyện: Là thất nghiệp mà ở mức tiền công nào
đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy

thoái (cung lớn hơn cầu lao động).
- Thất nghiệp trá hình (hay còn gọi là hiện tượng khiếm dụng lao động)
là hiện tượng khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng họ sẵn
sàng làm việc. Hiện tượng này xảy ra khi năng suất lao động của ngành đó
thấp và nó gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động.
* Phân loại thất nghiệp theo nguồn gốc:
Tìm hiểu nguồn gốc thất nghiệp có ý nghĩa phân tích sâu sắc về thực
trạng thất nghiệp để từ đó tìm ra hướng giải quyết. Theo cách này thất nghiệp
có bốn loại:
- Thất nghiệp tạm thời: Là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển
không ngừng của người lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữa
các giai đoạn khác nhau của cuộc sống. Thậm chí khi có đủ việc làm vẫn luôn
có sự chyển động, như: một số người tìm việc làm sau khi tốt nghiệp, di
chuyển chỗ ở từ nơi này sang nơi khác, phụ nữ có thể quay lại lưc lượng lao
động sau khi sinh con…Người thất nghiệp thuộc loại này thường xếp vào
“thất nghiệp tự nguyện”
- Thất nghiệp có tính cơ cấu: xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung-
cầu lao động (giữa các ngành nghề, khu vực…). Nó gắn liền với sự biến động
cơ cấu kinh tế và gây ra sự suy thoái của một ngành nào đó, hoặc là sự thay
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực
7
đổi công nghệ dẫn đến đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn, ai không đáp
ứng sẽ bị sa thải. hính vì vậy, loại thất nghiệp này còn được gọi là thất nghiệp
công nghệ. Khi sự chuyển biến này mạnh và kéo dài, nạn thất nghiệp sẽ trở
lên trầm trọng và chuyển sang thất nghiệp dài hạn. Nếu tiền lương rất linh
hoạt thì sự mất cân đối trong thị trường lao động sẽ mất đi, khi đó tiền lương
trong khu vực có nguồn cung lao động hạ xuống và cầu lao động tăng lên.
- Thất nghiệp do thiếu cầu: Loại thất nghiệp này xảy ra khi mức cầu
chung về lao động giảm xuống (suy giảm tổng cầu). Loại này còn được gọi là
thất nghiệp chu kỳ, bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắn liền với chu kỳ suy

thoái của chu kỳ kinh doanh. Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất hiện củ loại thất
nghiệp này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi ngành
nghề.
- Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: Nó xảy ra khi tiền lương
không được ấn định bởi các yếu tố của thị trường và cao hơn mức lương cân
bằng thực tế của thị trường lao động. Vì tiền lương không chỉ quan hệ đến
mức sống tối thiểu, cho nên nhiều quốc gia (chính phủ hoặc công đoàn) có
quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu, sự không linh hoạt của tiền lương
(ngược lại với sự năng động của thị trường) dẫn đến một bộ phận người lao
động mất việc làm hoặc khó kiếm được việc làm.
Tóm lại: Thất nghiệp tam thời và thất nghiệp cơ cấu xảy ra trong bộ
phận riêng biệt của thi trường lao động (có thể diễn ra ngay cả khi thị trường
lao động không cân bằng). Thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi nền kinh tế đi
xuống, toàn bộ thị trường lao động bị mất cân bằng. Còn thất nghiệp do yếu
tố ngoài thị trường lại do yếu tố xã hội, chính trị tác động. Sự phân biệt đó
giúp nhà phân tích có thể dự kiến tình hình chung của thị trường lao động.
c, Nhóm chỉ tiêu về thất nghiệp:
* Người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động đủ 15-60
tuổi (đối với nam) và 15-55 tuổi (đối với nữ):
+ Có khả năng lao động
8
Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
+ Trong tuần điều tra không có việc làm
+ Đang có nhu cầu tìm việc làm.
+ Có đăng ký việc làm theo quy định
* Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp trên số
người trong độ tuổi lao động thuộc lực lượng lao động.
Tỷ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu phản ánh khái quát tình trạng thất
nghiệp của một quốc gia. Cũng vì thế, còn có nhiều khái niệm khác nhau về

nội dung và phương pháp tính toán. Dưới đây là một số phương pháp tính
toán phổ biến:
Tỷ lệ Số người thất nghiệp
thất nghiệp = ---------------------------------------- X 100
Số người trong độ tuổi lao động
Thuộc lực lượng lao động
* Số người thất nghiệp dài hạn và tỷ lệ thất nghiệp dài hạn
Người thất nghiệp dài hạn gồm những người có thời gian thất nghiệp
liên tục từ 12 tháng trở lên tính từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc từ tuần lễ
tham khảo trở về trước.
Phân tổ: Chia theo giới tính, nhóm tuổi, trình độ văn hoá, trình độ
chuyên môn kỹ thuật.
Tỷ lệ thất nghiệp dài hạn là số phần trăm người thất nghiệp dài hạn
trong lực lượng lao động thuộc độ tuổi lao động.
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực
9
Phương pháp tính:
Số người thất nghiệp dài hạn
Tỷ lệ thất nghiệp = ------------------------------------------ X 100
dài hạn (%) Số người trong độ tuổi lao động
thuộc lực lượng lao động
* Tỷ lệ người thất nghiệp đã được giải quyết việc làm.
Tỷ lệ những người thất nghiệp đã được giải quyết việc làm là số phần
trăm giữa những người thất nghiệp đã được giải quyết việc làm trên tổng số
người thất nghiệp.
Phương pháp tính
Số người thất nghiệp
Tỷ lệ người được giải quyết việc làm trong kỳ báo cáo
Thất nghiệp được = ------------------------------------------------------ X 100
giải quyết việc làm Tổng số người thất nghiệp trong kỳ báo cáo

d, Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên:
Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệ thất nghiệp mà tại đó thị trường lao
động đạt mức cân bằng. Tại mức đó tiền lương và giá cả hợp lý bởi các thị
trường đều đạt cân bằng dài hạn. Số người thất nghiệp tự nhiên sẽ là tổng số
thất nghiệp tự nguyện và số người chưa có những điều kiện phù hợp để tham
gia và thị trường lao động. Nói cách khác, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệ
tác động lên xuống của tổng cung và tổng cầu đối với giá cả và tiền lương tại
vị trí cân bằng, ở tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, lạm phát do giá cả và tiền lương
là ổn định, không có xu hướng biểu thị lạm phát tăng lên hay giảm đi.
10
Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
3, Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề việc làm:
3.1, Số lượng chất lượng nguồn lao động và cơ cấu đào tạo:
Đây là yếu tố thuộc về cung lao động, chất lượng lao động và cơ cấu
đào tạo đóng vai trò quyết định đối với tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc
làm của một quốc gia cao hay thấp. Số lượng lao động càng lớn thì áp lực giải
quyết việc làm càng lớn. Ngược lại, nếu một quốc gia giảm dần được tốc độ
tăng dân số quy mô lực lượng lao động sẽ biến đổi với tốc độ chậm dần, số
lao động dư thừa trong nền kinh tế sẽ ít đi, khi đó tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm
xuống.
Chất lượng lao động và cơ cấu đào tạo quyết định khả năng đáp ứng
nhu cầu của nền kinh tế mà cụ thể là các đơn vị kinh tế sử dụng lao động, do
vậy cần phải xây dựng một cơ cấu lao động hợp lý với chất lượng cao.
3.2, Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng năng suất lao
động
Nền kinh tế tăng trưởng nhanh sẽ tạo ra nhiều chỗ làm việc cho người
lao động. Nhân tố này phụ thuộc vào việc tăng cường huy động và sử dụng
các nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài (như FDI, ODA…) và sự
phát triển của các ngành, các địa phương, các thành phần kinh tế. Việc tăng

chi tiêu của Chính phủ cũng góp phần làm giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp và thiếu
việc làm trong xã hội.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế luôn gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu
lao động của ngành sẽ làm hoặc làm giảm nhu cầu việc làm. Do vậy cần phải
nghiên cứu xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đồng thời với việc đưa ra
các biện pháp giải quyết các vấn đề về lao động việc làm.
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực
11
3.3, Sự ổn định kinh tế chính trị:
Sự ổn định về kinh tế chính trị là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
kinh tế, tạo mở việc làm. Khi nền kinh tế có sự biến động cũng có những tác
động đến việc làm theo hướng tích cực hoặc tiêu cực.
4.4. Sự di chuyển lao động:
Các dòng di chuyển lao động bao gồm sự di chuyển lao động từ vùng
này sang vùng khác, từ ngành này sang ngành khác, giữa các thành phần kinh
tế và từ nước này sang nước khác.
Có nhiều lý do khác nhau để xuất hiện tượng này (như tìm việc làm có
thu nhập cao hơn, định cư…) người lao động di chuyển từ nông thôn ra thành
thị, từ vùng đồng bằng đông dân lên vùng trung du, miền núi; từ vùng kém
phát triển này sang một vùng khác phát triển hơn. Nhìn chung sự di chuyển
lao động giữa các vùng sẽ làm giảm sức ép về việc làm của một số vùng
nhưng lai có thể gây ra tình trạng quá tải về số lượng lao động ở các vùng
khác. Tuy nhiên nó cũng có tác dụng tích cực nâng cao thu nhập, giải quyết
tình trạng thiếu việc làm của người dân nông thôn và các vùng nghèo, việc di
cư đến các vùng thưa dân như miền núi, trung du sẽ góp phần giảm bớt tình
trạng dư thừa lao động tại các vùng đồng bằng.
Sự di chuyển lao động giữa các ngành kinh tế hoặc từ khu vực Nhà
nước sang khu vực ngoài quốc doanh, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài sẽ tạo điều kiện phân bố hợp lý lực lượng lao động trong từng ngành,
từng khu vực, nhờ đó giảm bớt được số lượng lao đông dôi dư.

Sự di chuyển của lao động ra khỏi lãnh thổ Quốc gia dưới dạng xuất
khẩu lao động hoặc xuất cảnh cũng góp phần điều chỉnh và làm giảm bớt sức
ép về việc làm trong nước. Đây là biện pháp mà các quốc gia đang phát triển
trong đó có Việt Nam đã và dang thực hiện.
12
Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
3.5, Cơ chế, chính sách và các biện pháp phát triển kinh tế xã hội:
Là các chủ trương, biện pháp ở tầm vĩ mô nhằm phát triển kinh tế xã
hội. Yếu tố này đóng vai trò hết sức quan trọng đối với vấn đề lao động việc
làm. Do vậy, khi ban hành các cơ chế chính sách mới, Nhà nước cần nghiên
cứu, phân tích đánh giá ảnh hưởng của chúng đến vấn đề lao động việc làm,
từ đó có những điều chỉnh kịp thời nhằm duy trì và đảm bảo mối quan hệ hài
hoà giữa phát triển kinh tế xã hội và mục tiêu giải quyết việc làm của đất
nước.
3.6, Hỗ trợ cộng đồng và dịch vụ việc làm:
Hỗ trợ cộng đồng bao gồm sự tham gia giải quyết việc làm của cá đoàn
thể quần chúng, sự tương trợ lẫn nhau về thông tin, vốn, kỹ thuật để tạo mở
và giải quyết việc làm trong xã hội.
Dich vụ việc làm là hoạt động hỗ trợ trực tiếp đối với người lao động.
Nó thường được thực hiện qua các trung tâm việc làm. Nhờ các hoạt động
này, người sử dụng lao động cũng được cung cấp dịch vụ cần thiết theo hợp
đồng.
Đây là các nhân tố tác động tích cực và đóng vai trò quan trọng trong
công tác giải quyết việc làm của quốc gia.
3.7, Trợ giúp Quốc tế và giải quyết việc làm:
Các quốc gia nhất là các nước đang phát triển thường nhận được các
khoản trợ cấp quốc tế để giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề lao
động việc làm. Một số nước phát triển còn cung cấp các khoản hỗ trợ song
phương đối với lao động nước ngoài từng sinh sống và làm việc tại các quốc

gia đó nhưng hết hạn hợp đồng hoặc phải trở về do có lý do về kinh tế hay
chính trị, sự trợ giúp này là rất cần thiết trong công tác giải quyết việc làm ở
Việt Nam.
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực
13
III, Ý nghĩa của vấn đề việc làm đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
xã hội:
1.Về mặt kinh tế:
Giải quyết việc làm là vấn đề được đặt ra ở nhiều quốc gia, kể cả các
nước phát triển và đang phát triển. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với một
bộ phận dân cư, những người thiếu việc làm và thất nghiệp mà quan trọng
hơn, nó tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Ở Việt Nam hiện
nay, giải quyết việc làm cho người lao động trước hết sẽ tạo điều kiện để khai
thác được tối đa những nguồn lực quan trọng còn đang tiềm ẩn như tài
nguyên vốn, ngành nghề… thông qua lao động của con người. Khi người lao
động có việc làm sẽ mang lại thu nhập cho bản thân họ và từ đó tạo ra tích
luỹ. Nhà nước không những không phải chi trợ cấp cho những người nghèo
không có việc làm mà khi giải quyết việc làm cho họ, họ có thể mang lại tích
lũy cho nền kinh tế quốc dân. Tăng tích luỹ sẽ giúp cho sản xuất được mở
rộng, thu hút thêm nhiều lao động. Mặt khác, khi người lao động có thu nhập,
họ sẽ tăng tiêu dùng, từ đó làm tăng sức mua của toàn xã hội. Tăng tích luỹ sẽ
giúp cho sản xuất được mở rộng, tức là tác động đến tổng cung, tăng tiêu
dùng sẽ làm cho tổng cầu của nền kinh tế tăng lên kích thích sự phát triển của
sản xuất, từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Nước ta luôn tồn tại tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm nghiêm
trọng, đại bộ phận dân cư có mức sống thấp, nhiều người lao đông cần có việc
làm hoặc việc làm có hiệu quả hơn. Giải quyết việc làm ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay có ý nghĩa to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế, góp phần
đẩy nhanh tốc độ tăbg trưởng và nâng cao thu nhập quốc dân.
14

Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
2, Về mặt xã hội:
Giải quyết việc làm là một vấn đề mang tính xã hội. Mỗi con người khi
trưởng thành đều có nhu cầu và mong muốn làm việc, đó là nhu cầu chính
đáng và cũng là quyền lợi của người lao động. Chính vì vậy, giải quyết việc
làm đầy đủ cho người alo động có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi cá nhân và cả
xã hội. Khi Chính phủ có chính sách tạo việc làm thoả đáng, điều đó sẽ đem
lại công bằng cho xã hội, tạo công ăn việc làm cho tất cả lao động. từ đó mà
mọi người lao động đều có thu nhập, không phải lo ăn bám, hạn chế được sự
phân hoá giàu nghèo, tệ nạn xã hội có thể giảm bớt.
Ngược lại, nếu không giải quyết tốt việc làm cho người lao động, hiện
tượng thất nghiệp, thiếu việc làm sẽ tăng lên. Điều này luôn gắn liền với sự
gia tăng các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, ma tuý…làm rối loạn trật tự
an ninh xã hội, tha hoá nhân phẩm người lao động. Thất nghiệp ở mức cao
còn gây ra sự bất ổn định về kinh tế và chính trị, làm mất niềm tin của nhân
dân đối với Nhà nước.
Giải quyết việc làm trên phạm vi rộng còn bao gồm cả các vấn đề liên
quan đến phát triển nguồn lực và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động. Trên
giác độ này, công tác giải quyết việc làm góp phần nâng cao chất lượng nguồn
lao động nhằm đáp ứng những yêu cầu của thị trường, đồng thời xây dựng
nguồn lực lâu dài cho đất nước.
Giải quyết việc làm gắn liền với quá trình phân công lao động theo
ngành và theo lãnh thổ. Nếu không có các biện pháp tạo mở việc làm hợp lý
cho khu vực nông thôn, nhiều người lao động ở khu vực này sẽ ra thành thị để
tìm việc làm, gây sức ép cho khu vực thành thị trên tất cả các mặt như: nhà ở,
điện nước, y tế, phúc lợi xã hội…
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực
15
IV, Vai trò của nhà nước và xã hội trong lĩnh vực giải quyết việc làm:

Sự ra đời và phát triển của Nhà nước gắn liền với sự hình thành và
hoàn thiện các chức năng của mình. Giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội là
một chức năng bao trùm mà Nhà nước thường xuyên phải thực hiện. Khi vấn
đề thất nghiệp và thiếu việc làm nảy sinh, Nhà nước phải đứng ra giải quyết
nhằm ngăn chặn và giảm bớt các hậu quả về kinh tế - xã hội mà nó có thể gây
ra, đồng thời hướng những tác động đó vào phát triển đất nước. Chính vì đó,
khi tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm càng cao thì vai trò của Nhà nước trong
lĩnh vực giải quyết và tạo việc làm sẽ càng lớn.
Nhà nước có thể đưa ra nhiều chính sách và biên pháp khác nhau để
giải quyết việc làm. Nhà nước tạo ra khuôn khổ pháp lý để giải phóng sức lao
động, khuyến khích toàn dân tham gia vào phát triển sản xuất, tự tạo việc làm,
khuyến khích các đơn vị kinh tế thu hút thêm nhiều lao động. Nhà nước sử
dụng công cụ tài chính, phát huy vai trò của bộ máy Nhà nước, các đoàn thể
xã hội để thực hiện các chính sách, biện pháp đưa ra như cho các đối tượng
vay vốn với lãi suất thấp (hoặc ưu đãi), phát triển các dịch vụ việc làm và dạy
nghề, tạo chỗ làm mới trong các ngành, các địa phương, các thành phần kinh
tế…Kết quả giải quyết việc làm ở các quốc gia sẽ phụ thuộc rất lớn vào mức
độ quan tâm của Nhàn nước cũng như các chính sách và biện pháp mà Nhà
nước đã thực thi.
Việc làm có mối quan hệ mật thiết tới chất lượng cuộc sống của người
lao động và gia đình họ. Vì vậy, giải quyết việc làm không những là nhiệm vụ
cuả Nhà nước mà còn là trách nhiệm của mọi người lao động và toàn xã hội.
Trong đó các tổ chức kinh tế xã hội, các đoàn thể quần chúng đóng vai trò
tích cực trong việc hướng dẫn giúp đỡ người lao động trang bị kiến thức nghề
nghiệp, tìm việc làm và tạo việc làm cho họ. Sự tham gia của các tổ chức,
đoàn thể này sẽ góp phần quan trọng cùng với Nhà nước giải quyết có hiệu
quả những vấn đề lao động, việc làm đang được đặt ra.
16
Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"

Đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: Nền kinh tế
nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng Xã hội chủ nghĩa, do đó, Nhà nước và các đoàn thể xã hội cần phát
huy mạnh mẽ vai trò của mình trong lĩnh vực giải quyết việc làm, một trong
những vấn đề kinh tế xã hội cấp bách hiện nay.
V, Sự cần thiết khách quan của tạo việc làm và giải quyết việc làm trên
địa bàn huyện Đan Phượng:
Sự phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc rất lớn vào việc khai thác, quản
lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực của đất nước bao gồm các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, trình độ khoa học, kỹ thuật công
nghệ và tiềm lực về con người hay nguồn nhân lực.
Việc tạo việc làm nhằm khai thác có hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên
sẵn có trên địa bàn huyện, đồng thời, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp và
các tệ nạn xã hội hiên đang có xu hướng gia tăng do hiện tượng thất nghiệp
gây ra.
Trong khoảng 8-10 năm trở lại đây, huyện Đan Phượng đang chuyển mình
mạnh mẽ cùng hoà nhịp với quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá của đất
nước. Cơ sở hạ tầng và điều kiện kinh tế của huyện đang ngày càng được hiện
đổi mới theo hướng hiện đại hoá, trong khi đó trình độ nguồn nhân lực của huyện
lại chưa theo kịp được với yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội.
Để phục vụ cho quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá trên địa bàn
huyện, có một diện tích lớn đất sản xuất nông nghiệp được chuyển thành khu
công nghiệp, kéo theo nhiều lao động hoạt động trong lĩnh vực này lâm vào tình
trạng thất nghiệp hoặc thiếu việc làm.
Từ các nguyên nhân trên cho thấy công tác giải quyết việc làm và tạo việc
làm cho người lao động huyện Đan Phượng là một yêu cầu cần thiết khách quan
và đóng vâi trò hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của
huyện
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực
17

PHẦN II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TẠO MỞ VIỆC LÀM CỦA
HUYỆN ĐAN PHƯỢNG TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA.
I, Giới thiệu chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Đan
Phượng:
1, Đặc điểm về vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên của huyện:
Huyện Đan Phượng nằm về phía Tây Bắc tỉnh Hà Tây, phía Tây của Thủ đô
Hà Nội. Cách trung tâm tỉnh khoảng 20 km, là huyện đồng bằng có diện tích tự
nhiên khoảng 76.82 km
2
; diện tích đất canh tác là 3.600 ha. Giáp với các huyện
Phúc Thọ, Quốc Oai của tỉnh ở phía Tây, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nội và
huyện Hoài Đức ở phía Đông. Với vị trí địa lý là cửa ngõ của thủ đô như vậy đã
tạo cho huyện nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt là
trong giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá hiện nay.
2, Đặc điểm về kinh tế-xã hội, thành tựu đã đạt được và mục tiêu trong những
năm tới:
Trong những năm vừa qua (từ năm 2002-2007) các cấp uỷ Đảng, chính quyền
trong huyện Đan Phượng đã quán triệt, vận dụng sáng tạo các chủ trương của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội ở địa phương, tạo những bước tiến quan trọng, những khâu
đột phá mang tính quyết định, đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu
ngành nghề, cơ cấu lao động; thu ngân sách khá và tăng dần hàng năm; giảm
mạnh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, kết cấu hạ tầng được tăng cường, nhất là hệ
thống đường giao thông nông thôn và các công trình phúc lợi công cộng, an ninh
quốc phòng được giữ vững; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày một
nâng cao. Cụ thể như sau:
- Tổng sản phẩm GDP năm 2007 ước thực hiện 645 tỷ đồng bằng 116.85%
so với năm 2006.
- Tổng giá trị sản xuất ước thực hiện 1312 tỷ đồng bằng 112,33% năm 2006.
Cơ cấu ngành: nông nghiệp thuỷ sản chiếm 21,4%; công nghiệp xây dựng chiếm

39,6% và dịch vụ chiếm 39%
18

×