Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

giải pháp giảm ô nhiễm môi trường

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (208.29 KB, 13 trang )

GV: Sử Thị Thu Hằng Kinh tế môi trường
LỜI NÓI ĐẦU
Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề cấp bách và hết sức nóng hổi hiện nay, nó đặt ra
cho các nhà quản lý, cho xã hội nhiều bài toán khó khăn. Với đề tài “giải pháp giảm ô
nhiễm môi trường” nhóm chúng em thật sự có rất nhiều vấn đề muốn chia sẻ cùng cô và
các bạn nhưng trong phạm vi thời gian ít ỏi, chúng em chỉ đưa ra một số giải giáp tâm đắc
nhất nhằm cải thiện tình hình ô nhiễm môi trường do rác thải y tế hiện nay.
Như chúng ta thấy đến năm 2010, Việt Nam có 1186 bệnh viện với công suất
187843 giường. Chúng là các nguồn thải chất thải nguy hại lớn nhất, phát sinh khoảng 350
tấn chất thải y tế ngày trong đó có 40 tấn chất thải nguy hại/ngày. Thế nhưng khâu phân
loại, quản lý, xử lý rác thải, chất thải của các cơ sở y tế là hết sức lỏng lẻo. Hầu hết rác thải
y tế chưa được phân theo đúng chủng loại, chưa được khử khuẩn trước khi thải bỏ, không
có nhà lưu chứa hoặc có nhưng không đúng tiêu chuẩn không đảm bảo vệ sinh và có nguy
cơ lây nhiễm ra cộng đồng. Hầu hết được xử lý theo phương pháp truyền thống như chôn
lấp ở các bãi rác công cộng, đốt bằng lò thủ công,… nguy cơ ô nhiễm môi trường gây ảnh
hưởng rất lớn đến sức khỏe con người. Ngoài ra sự bất cẩn hay cố ý của một số cơ sở y tế
mà một lượng lớn rác thải y tế độc hại đang tồn đọng trong môi trường sống của chúng ta
làm tăng nguy cơ lây lan các mầm bệnh truyền nhiễm. Vì vậy nhóm chúng em xin trình bày
về thực trạng xử lý hiện nay cũng như đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình ô
nhiễm do rác thải y tế gây ra.
Lớp: Kinh tế- Đầu tư K32B Trang
1
GV: Sử Thị Thu Hằng Kinh tế môi trường
CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC VỀ CHẤT THẢI Y TẾ
1.1. Khái niệm
Chất thải y tế là chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm,
nghiên cứu... trong các cơ sở y tế. Chất thải y tế nếu không được thu gom, phân loại, xử lý
đúng sẽ tạo nên nguy cơ cho sức khỏe và môi trường sống của con người.
1.2. Phân loại
1.2.1. Chất thải rắn
Chất thải rắn y tế nguy hại chiếm khoảng 10-25% được chia làm 4 nhóm sau đây:


- Chất thải lây nhiễm bao gồm chất thải sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn,
chất thải bệnh phẩm, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao.
- Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất thường dùng trong y tế, formaldehyde, hóa chất
quang hình, kim loại nặng, chất thải dược phẩm và chasats thải gây độc tế bào.
- Chất thải phóng xạ.
- Bình chứa áp suất.
1.2.2. Nước thải bệnh viện
Nước thải từ các cơ sở y tế bao gồm nước thải phát sinh từ các hoạt động chăm sóc và
sinh hoạt trong bệnh viện. Nước thải này có thể chứa vi sinh vật, kim loại nặng, hóa chất
độc, đồng vị phóng xạ, bên cạnh đó còn có nước mưa không chứa chất gây ô nhiễm..
Mỗi bệnh viện có thể thải ra khoảng 0.4 – 0.95 m
3
nước thải trên một giường bệnh
trong ngày, tùy thuộc vào khả năng cấp nước, dịch vụ bệnh viện, số lượng bệnh nhân và
người nhà v.v. Tuy nhiên, nồng độ chất thải rắn lơ lửng (SS), chất hữu cơ (như BOD5), và
các chất dinh dưỡng (như Nitơ, phốt pho) trong nước thải bệnh viện có thể không cao như
nước thải đô thị. Nồng độ BOD5 thay đổi từ 80-180 mg/l. Lo ngại chủ yếu tập trung vào vi
sinh vật gây bệnh đường ruột dễ dàng lây truyền qua nước. Nếu chất thải y tế không được
Lớp: Kinh tế- Đầu tư K32B Trang
2
GV: Sử Thị Thu Hằng Kinh tế môi trường
quản lý tốt, nước thải bệnh viện còn chứa nhiều dược phẩm, hóa chất có thể ảnh hưởng xấu
đến hiệu suất của công trình xử lý sinh học.
1.3. Nguy cơ của chất thải y tế
1.3.1. Nguy cơ đối với sức khỏe
Phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra bệnh tật hoặc thương tích. Tất cả
các cá nhân phơi nhiễm với chất thải nguy hại, cả những người ở trong hay ở ngoài bệnh
viện đều có nguy cơ tiềm ẩn. Những nhóm có nguy cơ bao gồm:
- Nhân viên y tế: bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên.
- Bệnh nhân.

- Người nhà và khách thăm nuôi bệnh nhân.
- Công nhân làm việc trong khối hỗ trợ như thu gom, vận chuyển rác, giặt là;
- Công nhân trong cơ sở xử lý và tiêu hủy chất thải (như bãi rác hoặc lò đốt), bao gồm cả
những người nhặt rác.
1.3.2.1. Nguy cơ của chất thải lây nhiễm
Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua
nhiều đường: qua vết thương, vết cắt trên da; qua niệm mạc; qua đường hô hấp; qua đường
tiêu hóa. Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng kháng sinh và kháng hóa chất khử khuẩn
có thể liên quan đến thực trạng quản lý chất thải y tế không an toàn. Vật sắc nhọn không
chỉ gây ra vết thương trên da, mà còn gây nhiễm trùng vết thương nếu chúng bị nhiễm bẫn.
Thương tích do vật sắc nhọn là tai nạn thường gặp nhất trong cơ sở y tế. Một khảo sát của
Viện Y học lao động và môi trường năm 2006 cho thấy 35% số nhân viên y tế bị thương
tích do vật sắc nhọn trong vòng 6 tháng qua, và 70% trong số họ bị thương tích do vật sắc
nhọn trong sự nghiệp. Tổn thương do vật sắc nhọn có khả năng lây truyền các bệnh nhiễm
trùng nguy hiểm như HIV, HBV, và HCV. Khoảng 80% nhiễm trùng HIV, HBV, HCV
nghề nghiệp là do thương tích do vật sắc nhọn và kim tiêm. Việc tái chế hoặc xử lý không
an toàn chất thải lây nhiễm, bao gồm cả nhựa và vật sắc nhọn có thể có tác động lâu dài tới
sức khỏe cộng đồng.
1.3.2.2. Nguy cơ của chất thải hóa học và dược phẩm
Lớp: Kinh tế- Đầu tư K32B Trang
3
GV: Sử Thị Thu Hằng Kinh tế môi trường
Nhiều hóa chất và dược phẩm sử dụng trong cơ sở y tế là chất nguy hại (ví dụ chất
gây độc, ăn mòn, dễ cháy, gây phản ứng, gây sốc, gây độc) nhưng thường ở khối lượng
thấp. Phơi nhiễm cấp tính hoặc mãn tính đối với hóa chất qua đường da, niêm mạc, qua
đường hô hấp, tiêu hóa. Tổn thương da, mắt và niêm mạc đường hô hấp có thể gặp khi tiếp
xúc với hóa chất gây cháy, gây ăn mòn, gây phản ứng (ví dụ formaldehyde và các chất dễ
bay hơi khác). Tổn thương thường gặp nhất là bỏng. Các hóa chất khử khuẩn được sử dụng
phổ biến trong bệnh viện thường có tính ăn mòn. Trong quá trình thu gom, vận chuyển và
lưu giữ, chất thải nguy hại có thể bị rò thoát, đổ tràn. Việc rơi vãi chất thải lây nhiễm, đặc

biệt là chất thải lây nhiễm có nguy cơ cao có thể lan truyền bệnh trong bệnh viện, như có
thể gây ra đợt bùng phát nhiễm trùng bệnh viện trong nhân viên và bệnh nhân, hoặc gây ô
nhiễm đất và nước.
1.3.2.3. Nguy cơ của chất thải gây độc tế bào
Nhiều thuốc điều trị ung thư là các thuốc gây độc tế bào. Chúng có thể gây kích thích
hay gây tổn thương cục bộ trên da và mắt, cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu
hoặc viêm da. Nhân viên bệnh viện, đặc biệt là những người chịu trách nhiệm thu gom chất
thải, có thể phơi nhiễm với các thuốc điều trị ung thư qua hít thở hoặc hạt lơ lửng trong
không khí, hấp thu qua da, tiêu hóa qua thực phẩm vô tình nhiễm bẩn với thuốc gây độc tế
bào.
1.3.2.4. Nguy cơ của chất thải phóng xạ
Cách thức và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ quyết định những tác động đối
với sức khỏe, từ đau đầu, chóng mặt, buồn nôn cho đến các vấn đề đột biến gen trong dài
hạn.
1.3.2. Nguy cơ đối với môi trường
1.3.2.1. Nguy cơ đối với môi trường nước
Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do các chất độc hại có trong chất thải bệnh viện.
Chúng có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh. Chúng có thể chứa kim loại nặng, phần lớn là
thủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửa phim X quang. Một số dược phẩm nhất
định, nếu xả thải mà không xử lý có thể gây nhiễm độc nguồn nước cấp. Bên cạnh đó, việc
Lớp: Kinh tế- Đầu tư K32B Trang
4
GV: Sử Thị Thu Hằng Kinh tế môi trường
xả thải bừa bãi chất thải lâm sàng, ví dụ xả chung chất thải lây nhiễm vào chất thải thông
thường, có thể tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do làm tăng BOD.
1.3.2.2. Nguy cơ đối với môi trường đất
Tiêu hủy không an toàn chất thải nguy hại như tro lò đốt hay bùn của hệ thống xử lý
nước thải rất có vấn đề khi các chất gây ô nhiễm từ bãi rác có khả năng rò thoát ra, gây ô
nhiễm đất và nguồn nước, và cuối cùng là tác động tới sức khỏe cộng đồng trong dài hạn.
1.3.2.3. Nguy cơ đối với môi trường không khí

Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải nguy hại được thiêu đốt
trong điều kiện không lý tưởng. Việc thiêu đốt không đủ nhiệt độ trong khi rác thải đưa vào
quá nhiều sẽ gây ra nhiều khói đen. Việc đốt chất thải y tế đựng trong túi nilon PVC, cùng
với các loại dược phẩm nhất định, có thể tạo ra khí axit, thường là HCl and SO
2
. Trong quá
trình đốt các dẫn xuất halogen (F, Cl,. Br, I..) ở nhiệt độ thấp, thường tạo ra axit. như
hydrochloride (HCl). Điều đó dẫn đến nguy cơ tạo thành dioxins, một loại hóa chất vô cùng
độc hại, ngay cả ở nồng độ thấp. Các kim loại nặng, như thủy ngân, có thể phát thải theo
khí lò đốt.
Những nguy cơ môi trường này có thể tác động tới hệ sinh thái và sức khỏe con người
trong dài hạn.
1.3.2.4. Sự nhạy cảm của cộng đồng
Công chúng và cộng đồng xung quanh bệnh viện rất nhậy cảm với những tác động thị
giác của chất thải giải phẫu, trong khi đó, việc vận hành kém lò đốt có thể dẫn đến xả ra khí
thải gây khó chịu cho nhà dân xung quanh.
1.4. Những nguy cơ liên quan tới xử lý và tiêu hủy không phù hợp
1.3.1. Xử lý và tiêu hủy chất thải rắn
Chất thải rắn, nếu không được xử lý và tiêu hủy đúng cách có thể gây ra các tác động
tiêu cực tới môi trường và sức khỏe con người như ở trên đã mô tả. Vận hành và bảo dưỡng
kém lò đốt có thể dẫn đến xả ra khí thải chứa nhiều chất ô nhiễm như các kim loại nặng
(chì, thủy ngân, cat-min), bụi, axid HCl, SO2, CO, NOx và cả dioxin/furans. Hai khảo sát
do Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường thực hiện năm 2003 và 2008 thấy rằng nồng
Lớp: Kinh tế- Đầu tư K32B Trang
5

×