Tải bản đầy đủ (.pdf) (18 trang)

Những vấn đề pháp lý về quản lý ngoại hối trong hoạt động thanh toán quốc tế tại việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (483.13 KB, 18 trang )

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ...................................................................................................................................... 1
Chương I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGOẠI HỐI VÀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI ................. 2
1.1.

Ngoại hối ................................................................................................................................ 2

1.1.1.

Khái niệm ........................................................................................................................ 2

1.1.2.

Các hình thức của ngoại hối.......................................................................................... 2

1.2.

Quản lý ngoại hối ................................................................................................................. 2

1.2.1.

Khái niệm quản lý ngoại hối.......................................................................................... 2

1.2.2.

Mục tiêu của quản lý ngoại hối ..................................................................................... 2

1.2.3.

Đối tượng và phạm vi quản lý ngoại hối ...................................................................... 3


Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI Ở VIỆT NAM .......... 5
2.1.

Quản lý các giao dịch vãng lai............................................................................................ 5

2.1.1.

Tự do hóa các giao dịch vãng lai. .................................................................................. 5

2.1.2.

Thanh toán, chuyển tiền liên quan đến xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ ............... 5

2.1.3.

Chuyển tiền một chiều ................................................................................................... 6

2.1.4.

Mang ngoại tệ tiền mặt , VND tiền mặt, vàng khi xuất nhập cảnh. ............................ 6

2.1.5.

Đồng tiền sử dụng trong giao dịch vãng lai .................................................................. 7

2.2.

Thị trường ngoại tệ, cơ chế tỷ giá hối đoái và quản lý xuất nhập khẩu vàng ............ 7

2.2.1.


Thị trường ngoại tệ......................................................................................................... 7

2.1.2.

Cơ chế tỷ giá hối đoái .................................................................................................... 8

2.1.3.

Quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng ............................................................ 8

2.3.

Quản lý các giao dịch vốn ................................................................................................... 9

2.3.1.

Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ................................................................................ 10

2.3.2.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài............................................................................ 10

2.3.3.

Vay, trả nợ nước ngoài ................................................................................................. 11

2.3.4.

Cho vay, thu hồi nợ nước ngoài .................................................................................. 12


2.3.5.

Phát hành chứng khoán trong và ngoài nước ............................................................. 12

Chương III: KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP ĐỂ THỰC HIỆN CÓ HIỆU
QUẢ PHÁP LỆNH NGOẠI HỐI ................................................................................................... 14
KẾT LUẬN ........................................................................................................................................ 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 17


LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các giao dịch kinh tế và phi kinh tế giữa các quốc gia và
vùng lãnh thổ phát sinh ngày càng nhiều. Theo đó, các giao dịch tiền tệ quốc tế cũng không
ngừng phát triển. Mỗi quốc gia đều có đồng tiền riêng của mình, đồng tiền ấy tượng trưng cho
chủ quyền quốc gia. Các chức năng của đồng tiền quốc gia như phương tiện trao đổi, thanh toán,
cất trữ… chỉ có giá trị trong phạm vi quốc gia đó. Ra khỏi biên giới quốc gia, đồng tiền đó phải
thích nghi với những quy định và thông lệ quốc tế mới có tác dụng trao đổi.
Để bảo vệ chủ quyền quốc gia và bảo vệ giá trị đồng Việt Nam trong giao lưu quốc tế,
Nhà nước Việt Nam đã ban hành chính sách quản lý ngoại hối phù hợp với đường lối phát triển
kinh tế đất nước theo từng thời kỳ. Cùng với sự biến động của nền kinh tế, chính sách quản lý
ngoại hối đã được đổi mới triệt để về tư duy lẫn điều hành. Chính sách nới lỏng quản lý ngoại hối
đã dần dần thay thế chính sách độc quyền kiểm soát và kinh doanh ngoại hối nhà nước.
Ngành ngân hàng cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước đã có những bước tiến
đáng kể, ngày càng thể hiện rõ vai trò đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Là
người đại diện cho Nhà nước trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước đã có những
chính sách điều hành và quản lý các công cụ chính sách tiền tệ có hiệu quả.
Bài tiểu luận với đề tài “Những vấn đề pháp lý về quản lý ngoại hối trong thanh toán
quốc tế tại Việt Nam” xin trình bày những nét chính trong chính sách quản lý ngoại hối của Việt
Nam và những ảnh hưởng của nó tới hoạt động thanh toán quốc tế. Bài tiểu luận gồm 3 chương:

Chương I : Lý luận chung về ngoại hối và quản lý ngoại hối
Chương II : Những vấn đề pháp lý về quản lý ngoại hối ở Việt Nam
Chương III: Kiến nghị đối với các doanh nghiệp
Bài tiểu luận được hoàn thành với sự giúp đỡ của ThS. Nguyễn Thị Tuyết Mai, giảng viên
phụ trách lớp TCH412.5_LT. Nhóm em xin chân thành cảm ơn cô!
Với vốn kiến thức còn hạn chế và những thiếu sót trong kinh nghiệm thực tế, bài tiểu luận
của chúng em không tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, nhóm em rất mong nhận được sự góp ý tận
tình từ phía các thầy cô và các bạn!

1


Chương I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGOẠI HỐI VÀ QUẢN LÝ
NGOẠI HỐI
1.1.

Ngoại hối

1.1.1. Khái niệm
Ngoại hối là phương tiện thiết yếu trong quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, …
giữa các quốc gia trên thế giới
Ngoại hối là những ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế, các giấy tờ có giá và các
công cụ thanh tóan bằng tiền nước ngoài. Trong đó đặc biệt là ngoại tệ có vai trò là
phương tiện dự trữ của cải, phương tiện để mua, để thanh tóan và hạch toán quốc tế.
1.1.2. Các hình thức của ngoại hối
-

Đồng tiền của quốc gia, lãnh thổ khác, đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung
khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ).


-

Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ gồm: séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối
phiếu nhận nợ, chứng chỉ tiền gửi và các phương tiện thanh toán khác.

-

Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm: trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ
phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác.

-

Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú;
vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi
lãnh thổ Việt Nam.

-

Đồng tiền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển
vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế.
1.2.

Quản lý ngoại hối

1.2.1. Khái niệm quản lý ngoại hối
Quản lý ngoại hối là việc Nhà nước áp dụng các biện pháp, chính sách tác động
vào quá trình xuất, nhập ngoại hối ( đặc biệt là ngoại tệ) và việc sử dụng ngoại hối theo
những mục tiêu đã định.
1.2.2. Mục tiêu của quản lý ngoại hối
 Điều tiết tỷ giá, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia


2


Ngân hàng Trung ương thực hiện các biện pháp nhằm thúc đẩy tập trung các nguồn
ngoại hối (đặc biệt là ngoại tệ) vào tay mình, để thông qua đó Nhà nước sử dụng một cách
hợp lý, có hiệu quả cho các nhu cầu phát triển kinh tế và hoạt động đối ngoại. Đồng thời
sử dụng chính sách ngoại hối như một công cụ có hiệu lựuc thực hiện chính sách tiền tệ,
thông qua mua bán ngoại hối trên thị trường để can thiệp vào tỷ giá khi cần thiết nhằm ổn
định giá trị đối ngoại của đồng tiền, tác động vào lượng tiền cung ứng.
 Bảo tồn quỹ dự trữ ngoại hối Nhà nước
Ngân hàng Trung ương không chỉ bảo quản và quản lý quỹ dự trữ ngoại hối Nhà
nước mà còn biết sử dụng phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế, đảm bảo an toàn không
bị ảnh hưởng rủi ro về tỷ giá ngoại tệ trên thị trường quốc tế.
 Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
Trong cả hai trường hợp cán cân thanh tóan bội thu hoặc bội chi, nếu không có sự
can thiệp của Ngân hàng Trung ương, tỷ giá sẽ tăng giảm theo nhu cầu ngoại hối trên thị
trường. Tuy nhiên ở nhiều nước, Ngân hàng Trung ương đóng vai trò điều tiết tỷ giá để
thực hiện mục tiêu của chính sách kinh tế. Nếu Ngân hàng Trung ương muốn xác lập một
tỷ giá ổn định nghĩa là giữ cho tỷ giá không tăng, không giảm, thì Ngân hàng Trung ương
hoặc là mua vào số ngoại tệ từ nước ngoài chuyền vào trong nước làm cho quỹ dự trữ
ngoại hối sẽ tăng lên tương ứng, hoặc Ngân hàng Trung ước sẽ bán ngoại tệ ra để đáp ứng
nhu cầu của thị trường khi có luồng ngoại tệ chảy ra nước ngoài, quỹ dự trữ ngoại hối
giảm xuống tương ứng.
1.2.3. Đối tượng và phạm vi quản lý ngoại hối
 Đối tượng điều chỉnh
-

Tổ chức, cá nhân là người cư trú, không cư trú có hoạt động ngoại hối tại Việt Nam.


-

Tổ chức, cá nhân là người cư trú liên quan đến hoạt động ngoại hối trong việc quản lý,
kiểm tra và xử lý vi phạm.
 Phạm vi điều chỉnh

-

Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh ngoại hối về các
hoạt động ngoại hối của người cư trú, người không cư trú trong giao dịch vãng lai,
giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối, thị trường
3


ngoại tệ và tỷ giá hối đoái, quản lý xuất nhập khẩu vàng tại nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước được thực hiện theo quy định
riêng của Chính phủ.
-

Xử lý vi phạm về ngoại hối và hoạt động ngoại hối được thực hiện theo quy định của
Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân
hàng.

4


Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI Ở
VIỆT NAM
Được ban hành vào ngày 13/12/2005 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/06/2006,
Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 của Ủy ban thường vụ quốc hội (Pháp

lệnh 28) được ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm lợi ích hợp pháp của các
cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động ngoại hối, trong đó có các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoại tại Việt Nam. Trong chương II của bài tiểu luận này, nhóm em xin giới
thiệu các quy định của Nhà nước về quản lý ngoại hối tại Việt Nam và các ảnh hưởng của
nó tới hoạt động thanh toán quốc tế.
2.1. Quản lý các giao dịch vãng lai
Giao dịch vãng lai là những giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú
không vì mục đích chuyển vốn. Giao dịch vãng lai gồm: giao dịch xuất nhập khẩu hàng
hóa; xuất nhập khẩu dịch vụ tài chính ( như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải bưu
chính...); giao dịch trong du lịch, giao dịch một chiều từ nước ngoài vào Việt Nam và từ
Việt Nam ra nước ngoài.
2 . 1 .1 .

T ự d o hó a cá c g i ao dị c h v ãn g l a i.

Tất cả các giao dịch thanh toán và chuyển tiền đối với giao dịch vãng lai giữa
người cư trú và người không cư trú đều được tự do thực hiện...”. Chính phủ đã nới lỏng
các quy định về những giao dịch vãng lai, tạo kiện cho hệ thống ngân hàng được mở cửa,
hội nhập nhanh hơn với các nền kinh tế khác. Trong bối cảnh nước ta, tự do hóa các giao
dịch vãng lai có thể được hiểu là mọi tiếp cận ngoại hối đối với các giao dịch vãng lai
được thực hiện một cách tự do. Điều luật này là sự đổi mới quan trọng, nó đánh dấu mốc
thời gian Việt Nam chính thức khẳng định nguyên tắc tự do hóa giao dịch vãng lai theo
điều lệ của IMF.
2 . 1 .2 .

T ha n h t o á n , c hu y ể n t iề n li ê n q u an đ ến x uấ t , n hậ p
k hẩ u hà n g hó a, dị c h v ụ

Người cư trú được mua ngoại tệ tại tổ chức tín dụng (TCTD) được phép để phục
vụ cho hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu. Lượng ngoại tệ được phép mua tùy thuộc

vào khả năng của TCTD và nhu cầu mua của khách hàng.
Khi xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài, người cư trú phải chuyển toàn bộ
ngoại tệ có được vào tài khoản ngoại tệ mở tại TCTD được phép tại Việt Nam. Nếu đối
5


tượng này có nhu cầu giữ lại ngoại tệ ở nước ngoài thì phải được sự cho phép của Ngân
Hàng Nhà Nước Việt Nam (NHNN).
Mọi giao dịch thanh toán và chuyển tiền liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá,
dịch vụ phải thực hiện thông qua TCTD được phép.
Quy định trên cho thấy: TCTD đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động
xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ của người cư trú. TCTD bán ngoại tệ cho khách hàng
để thanh toán, là nơi giữ tiền thu được từ hoạt động xuất khẩu của khách hàng qua hệ
thống tài khoản, và đặc biệt tất cả mọi giao dịch thanh toán, chuyển tiền phải qua TCTD
cụ thể ở Việt Nam là các NHTM. Bên cạnh đó các doanh nghiệp có những thuận lợi vì
được đảm bảo có ngoại tệ để thanh toán từ việc mua tại các NHTM, ngoại tệ từ việc xuất
khẩu được giữ hộ tại NHTM . Đồng thời, khi mua ngoại tệ từ TCTD của các tổ chức hay
các cá nhân dễ dàng và nhanh chóng hơn trước kia vì chỉ cần trình giấy tờ yêu cầu cho
TCTD, không cần xin phép NHNN như trước kia nữa. Đây là một trong những nội dung
thể hiện việc tự do hóa các giao dịch vãng lai.
2 . 1 .3 .

C hu y ể n t i ền mộ t c hi ề u

Số ngoại tệ của người cư trú là tổ chức ở Việt Nam thu được từ các khoản chuyển
tiền một chiều phải được: chuyển vào tài khoản ngoại tệ tại các TCTD hoặc bán cho các
TCTD. Còn số ngoại tệ là cá nhân ở Việt Nam thu được từ các khoản chuyển tiền một
chiều thì được: sử dụng cho mục đích cất giữ, mang theo người, gửi vào tài khoản ngoại
tệ tại TCTC, bán cho TCTD. Còn ngoại tệ là công dân Việt Nam thì được gửi tài khoản
tiết kiệm ngoại tệ tại TCTD.

Người cư trú được mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài để phục vụ cho
nhu cầu hợp pháp, như: du lịch, học tập, tiêu dùng...
Đối với người nước ngoài có ngoại tệ trên tài khoản thì được chuyển ra nước
ngoài; có nguồn thu hợp pháp bằng VND thì được mua ngoại tệ để chuyển ra nước ngoài.
Điều khoản cho thấy: việc chuyển tiền của người cư trú và phi cư trú phải thực
hiện thông qua TCTD với các tài khoản ngoại tệ cụ thể và số lượng ngoại tệ, số lần
chuyển không hạn chế. Điều này tạo ra lượng kiều hối chảy vào Việt Nam một cách dễ
dàng và khá nhiều.
2 . 1 .4 .

M a n g n g oạ i tệ t iề n mặ t , V N D t iề n mặ t , v à ng k hi x uấ t
n hậ p c ản h.

Người cư trú, không cư trú khi xuất nhập cảnh mang ngoại tệ tiền mặt, VND tiền
mặt, vàng trên mức quy định của NHNN Việt Nam thì phải: khai báo với hải quan cửa
khấu đối với người nhập cảnh; khai báo với hải quan cửa khẩu đồng thời xuất trình giấy
tờ theo quy định của NHNN Việt Nam đối với người xuất cảnh.
6


Cụ thể, hạn mức tối đa mà NHNN quy định đối với người xuất nhập cảnh như sau:
theo Điều 2, Thông tư 15/2011/TT-NHNN ban hành 12/08/2011 quy định: cá nhân khi
xuất nhập cảnh được phép mang tối đa lượng tiền mặt 5000USD ( ngoại tệ khác có giá trị
tương đương) và 15.000.000 VNĐ.Theo điều 3,4, QĐ số 1165/ QĐ- NHNN ban hành
ngày 12/09/2001: cá nhân được phép mang tối đa lượng vàng tiêu chuẩn quốc tế là 1 kg;
vàng trang sức, mỹ nghệ, miếng, nguyên liệu là 300g. Hạn mức tối đa lượng ngoại tệ tiền
mặt, VND tiền mặt theo quy định NHNN liên tục thay đổi trong những năm qua, để phù
hợp với tình hình kinh tế xã hội mỗi giai đoạn. Còn hạn mức vàng không thay đổi từ năm
2001 cho đến nay.
2 . 1 .5 .


Đ ồ n g t iề n sử dụ n g t ro n g g ia o d ị c h vã n g l ai

Người cư trú được tự do lựa chọn: đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, các
đồng tiền khác được TCTD chấp nhận làm đồng tiền thanh toán trong các giao dịch vãng
lai. Đây cũng là một trong những nội dung thể hiện việc tự do hóa các giao dịch vãng lai
khi người cư trú được tự do lực chọn đồng tiền thanh toán thích hợp.
2.2.

Thị trường ngoại tệ, cơ chế tỷ giá hối đoái và quản lý xuất nhập khẩu vàng

2.2.1. Thị trường ngoại tệ
Thị trường ngoại hối hay thị trường hối đoái ngoại tệ là thị trường tiền tệ quốc tế
diễn ra các hoạt động giao dịch các ngoại tệ và các phương tiện thanh toán có giá trị như
ngoại tệ.
Cho đến nay, thị trường ngoại hối Việt Nam đã có một bước phát triển đáng kể về
quy mô cũng như loại nghiệp vụ giao dịch, thu hút được sự tham gia của nhiều doanh
nghiệp và NHTM trong và ngoài nước. Thành viên tham gia thị trường ngoại hối bao
gồm: Các ngân hàng trong đó có: các Ngân hàng Trung ương đóng vai trò tổ chức, kiểm
soát, điều hành và ổn định thị trường ngoại hối và các ngân hàng thương mại cụ thể Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện việc mua, bán ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ trong
nước để thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia và các ngân hàng đầu tư: tham
gia với mục đích kinh doanh, cung cấp dịch vụ cho khách hàng như một nhà môi giới;
Các nhà môi giới là chủ thể trung gian trong các giao dịch trên thị trường; các doanh
nghiệp tham gia chủ yếu là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, họ vừa là chủ thể cầu ngoại
tệ, vừa là chủ thể cung ngoại tệ; các cá nhân ,các nhà kinh doanh bao gồm các công dân

7



trong và ngoài nước có nhu cầu mua và bán ngoại tệ; các tổ chức tài chính phi ngân hàng;
các công ty đa quốc gia.
Các đối tượng tham gia thị trường ngoại tệ của Việt Nam được thực hiện các loại
hình giao dịch theo thông lệ quốc tế khi đáp ứng các điều kiện do Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam quy định.
2.1.2. Cơ chế tỷ giá hối đoái
Cơ chế tỷ giá hiện nay của Việt Nam được xác định là cơ chế linh hoạt, được hình
thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, thông qua
các công cụ tỷ giá bình quân liên ngân hàng và biên độ tỷ giá.
Với cơ chế tỷ giá điều tiết thị trường thông qua công cụ tỷ giá bình quân liên ngân
hàng và biên độ tỷ giá, NHNN điều tiết thị trường, đưa ra các biện pháp điều hòa thị
trường thích hợp, góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ và tác động của biến động tỷ giá
trên thị trường ngoài nước. Mặt khác, với cơ chế tỷ giá hiện tại, NHNN có thể thông
qua công cụ can thiệp ngoại tệ để góp phần hạn chế việc sử dụng ngoại tệ cho các mục
đích không thiết yếu, từ đó góp phần hạn chế nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán
quốc tế.
Trong từng thời kì cụ thể, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định cơ chế tỷ giá
hối đoái của đồng Việt Nam phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
2.1.3. Quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng
Theo NHNN, dự thảo dược xây dựng theo hướng tổ chức lại thị trường vàng thông
qua việc NHNN quản lý chặt chẽ và can thiệp mạnh vào thị trường vàng nhằm ngăn ngừa
hoạt động đầu cơ vàng, hạn chế kinh doanh vàng miếng nhưng vẫn đảm bảo quyền tích
trữ vàng, mua bán vàng của người dân.
Cụ thể, về sản xuất vàng miếng, NHNN là cơ quan tổ chức hoặc cấp phép sản xuất
vàng miếng. Về nguyên tắc, đây là hoạt động hạn chế kinh doanh và cần được quản lý
chặt chẽ. Do đó, tùy thuộc vào điều kiện thực tế trong từng thời kỳ, NHNN sẽ tổ chức sản
xuất hoặc cấp phép cho doanh nghiệp sản xuất vàng miếng nhưng sẽ rất hạn chế.
8



Về lưu thông vàng miếng, NHNN chỉ cho phép một số doanh nghiệp và tổ chức tín
dụng có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh vàng được thực hiện mua bán vàng miếng
với tổ chức, cá nhân nhằm thu hẹp đầu mối, tạo điều kiện thuận lợi đối với việc quản lý
hoạt động mua bán này.
Về xuất, nhập khẩu vàng nguyên liệu, NHNN là cơ quan tổ chức hoặc cấp phép
hoạt động xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu.
Về sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ, NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố
cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh cho các doanh nghiệp sản xuất, gia công
vàng trang sức, mỹ nghệ. Riêng hoạt động gia công nhỏ lẻ của cá nhân, hộ gia đình, hợp
tác xã không cần xin cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện mà được thực hiện theo Giấy
chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Về mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ, tổ chức, cá nhân có nhu cầu kinh doanh
mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ phải thành lập doanh nghiệp và đáp ứng đủ một số
điều kiện theo quy định tại Nghị định nhưng không cần xin cấp giấy chứng nhận đủ điều
kiện kinh doanh.
Xây dựng cơ chế phân công trách nhiệm giữa các bộ, ngành chủ yếu về việc quản
lý chất lượng và kiểm tra, kiểm soát thị trường vàng.
Như vậy, với định hướng quản lý nêu trên, NHNN tham gia trực tiếp quản lý về
quá trình sản xuất và lưu thông vàng miếng, xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu. NHNN
cho rằng, đây là các yếu tố đảm bảo cho NHNN can thiệp hiệu quả trên thị trường vàng,
chống hoạt động đầu cơ lũng đoạn giá vàng, đảm bảo được các mục tiêu Nghị quyết 11
của Chính phủ là kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng, quản lý hoạt động kinh
doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh
doanh vàng miếng trên thị trường tự do, ngăn chặn hiệu quả các hoạt động buôn lậu vàng
qua biên giới.
2.3.

Quản lý các giao dịch vốn

Với pháp lệnh 28 này, Việt Nam từng bước mở cửa các giao dịch vốn, như khuyến

khích vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, không hạn chế vốn ODA, có cơ chế đặc biệt
9


với vốn FII, tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài chuyển vốn và lãi về nước, cho
doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, cho cá nhân được vay vốn nước ngoài, cho
các tổ chức là người cư trú cho vay thu hồi nợ nước ngoài…
2 . 3 .1 .

Đ ầ u t ư nư ớ c n go à i v ào Vi ệ t N a m

Đối với đầu tư trực tiếp, việc chuyển vốn đầu tư bằng ngoại tệ vào Việt Nam, việc
chuyển vốn đầu tư gốc, lợi nhuận, trả lãi vay và các khoản thu hợp pháp ra nước ngoài
phải được thực hiện thông qua tài khoản ngoại tệ mở tại một tổ chức tín dụng được phép.
Các nguồn thu hợp pháp bằng đồng Việt Nam được chuyển đổi thành ngoại tệ để chuyển
ra nước ngoài thông qua tổ chức tín dụng được phép.
Đối với đầu tư gián tiếp, vốn đầu tư bằng ngoại tệ phải được chuyển sang đồng
Việt Nam để thực hiện đầu tư. Vốn đầu tư, lợi nhuận và các nguồn thu hợp pháp bằng
đồng Việt Nam được chuyển đổi thành ngoại tệ để chuyển ra nước ngoài thông qua tổ
chức tín dụng được phép.
2 . 3 .2 .

Đ ầ u t ư c ủa Vi ệt Na m r a n ư ớc ng o ài

Người cư trú được phép đầu tư ra nước ngoài được sử dụng các nguồn vốn sau đây
để đầu tư:
-

Ngoại tệ trên tài khoản ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép;


-

Ngoại tệ mua tại tổ chức tín dụng được phép;

-

Ngoại tệ từ nguồn vốn vay.
Về việc chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài, pháp lệnh 28 có quy định:

-

Người cư trú là tổ chức tín dụng được chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài theo quy định
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

-

Người cư trú là tổ chức kinh tế, cá nhân và các đối tượng khác được phép đầu tư ra
nước ngoài phải mở một tài khoản ngoại tệ tại một tổ chức tín dụng được phép và
đăng ký với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài để
đầu tư phải được thực hiện thông qua tài khoản này.

10


Vốn, lợi nhuận và các khoản thu nhập từ việc đầu tư tại nước ngoài phải chuyển về
Việt Nam theo quy định của pháp luật về đầu tư và các quy định khác của pháp luật có
liên quan; vốn, lợi nhuận và các khoản thu nhập từ việc đầu tư khi chuyển về Việt Nam
phải thực hiện thông qua tài khoản ngoại tệ mở tại tổ chức tín dụng được phép.
Việc Nhà nước cho phép một số doanh nghiệp đủ điều kiện được đầu tư ra nước
ngoài là một chủ trương lớn, đúng đắn. Tuy nhiên trong điều kiện thực tế của Việt Nam,

cán cân thanh toán thường xuyên bị thâm hụt, nguồn cung về ngoại tệ chưa được đảm
bảo, áp lực lên tỷ giá lớn, nếu khuyến khích việc chuyển vốn ngoại tệ đầu tư ra nước
ngoài, càng làm cho cung cầu về ngoại tệ mất cân đối, chưa kể những rủi ro kinh tế khi
đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp rất lớn.
2 . 3 .3 .

V a y , t rả n ợ nư ớ c n go à i

 Vay, trả nợ nước ngoài của Chính phủ
Chính phủ và các tổ chức được Nhà nước, Chính phủ ủy quyền thực hiện vay, trả
nợ nước ngoài trên cơ sở Chiến lược quốc gia về nợ nước ngoài và tổng hạn mức vay vốn
nước ngoài do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hằng năm.
 Vay, trả nợ nước ngoài của người cư trú là tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng và cá
nhân
Trước sức ép của hội nhập quốc tế, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập WTO đến
nay, các quy định về giao dịch vốn trong Pháp lệnh Ngoại hối được điều chỉnh theo
hướng nới lỏng và dần dần tự do, các doanh nghiệp và cá nhân cũng dễ dàng tiếp cận vay
vốn nước ngoài. Cụ thể, điều 17 Pháp lệnh ngoại hối quy định:
-

Người cư trú là tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng và cá nhân được vay, trả nợ nước
ngoài theo nguyên tắc tự vay, tự chịu trách nhiệm trả nợ phù hợp với quy định của
pháp luật. Điều này rất có ý nghĩa khi các Ngân hàng trong nước không đáp ứng được
nhu cầu ngoại tệ trên thị trường.

-

Người cư trú là tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng và cá nhân phải tuân thủ các điều
kiện vay, trả nợ nước ngoài, thực hiện đăng ký khoản vay, mở và sử dụng tài khoản,
rút vốn và chuyển tiền trả nợ, báo cáo tình hình thực hiện khoản vay theo quy định của

11


Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác nhận đăng ký
khoản vay trong phạm vi tổng hạn mức vay vốn nước ngoài do Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt hằng năm.
-

Người cư trú được mua ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép trên cơ sở xuất trình
chứng từ hợp lệ để thanh toán nợ gốc, lãi và phí có liên quan của khoản vay nước
ngoài và sử dụng các hình thức bảo lãnh, tái bảo lãnh và các hình thức bảo đảm khoản
vay khác.
2 . 3 .4 .



C ho v a y, t hu hồ i n ợ nư ớ c n g oà i

Cho vay, thu hồi nợ nước ngoài của Chính phủ
Chính phủ quyết định việc cho vay, thu hồi nợ nước ngoài của Nhà nước, Chính phủ

và các tổ chức được Nhà nước, Chính phủ uỷ quyền.


Cho vay, thu hồi nợ nước ngoài của người cư trú là tổ chức tín dụng, tổ chức
kinh tế
Tổ chức tín dụng được thực hiện cho vay, thu hồi nợ nước ngoài theo quy định cụ

thể của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Còn tổ chức kinh tế chỉ được phép cho vay, thu
hồi nợ nước ngoài nếu đáp ứng được các điều kiện sau đây:

-

Được Chính phủ cho phép;

-

Thực hiện mở và sử dụng tài khoản, chuyển vốn ra và thu hồi vốn, báo cáo tình hình
thực hiện cho vay và thu hồi nợ nước ngoài theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam;

-

Nguồn thu vốn gốc, thu lãi và các khoản phí có liên quan phải được chuyển vào tài
khoản ngoại tệ mở tại tổ chức tín dụng được phép.
2 . 3 .5 .

P há t hà n h c hứ n g k ho á n t ro n g và ng o ài nư ớ c

 Người cư trú là tổ chức phát hành chứng khoán bên ngoài lãnh thổ Việt Nam
Khi được phép phát hành chứng khoán bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, người cư trú
là tổ chức phải mở tài khoản tại một tổ chức tín dụng được phép; mọi giao dịch liên quan

12


đến hoạt động phát hành chứng khoán bên ngoài lãnh thổ Việt Nam phải được thực hiện
thông qua tài khoản này.
 Người không cư trú là tổ chức phát hành chứng khoán trên lãnh thổ Việt Nam
Khi được phép phát hành chứng khoán trên lãnh thổ Việt Nam, người không cư trú
là tổ chức phải mở tài khoản tại một tổ chức tín dụng được phép; mọi giao dịch liên quan

đến hoạt động phát hành chứng khoán trên lãnh thổ Việt Nam phải được thực hiện thông
qua tài khoản này.

13


Chương III: KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP ĐỂ
THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LỆNH NGOẠI HỐI
Nước ta đang trên lộ trình hội nhập khu vực và quốc tế. Xu hướng chung của thế
giới hiện nay là thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động thương mại và giao lưu quốc tế trên cơ
sở bình đẳng và cùng có lợi giữa tất cả các nước phát triển, đang phát triển và chậm phát
triển. Đi đôi với phát triển thương mại và mở rộng giao lưu quốc tế, giao dịch của thị
trường ngoại hối quốc tế cũng ngày càng sôi động và phát triển. Trong bối cảnh ấy, thị
trường ngoại hối và công tác quản lý ngoại hối ở Việt Nam cũng phải đổi mới để không
lạc lõng, tụt hậu trước xu thế chung của thời đại.
Ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong 09 nhiệm vụ mà Nghị quyết đề ra, Nghị quyết thứ 4 chỉ rõ: “Tích cực tạo lập đồng
bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; thúc đẩy sự hình thành, phát
triển và từng bước hòan thiện các loại hình thị trường hàng hóa, dịch vụ, lao động, khoa
học công nghệ, vốn, bất động sản…, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, bình đẳng
cho mọi thành phần kinh tế, đặc biệt chú trọng đổi mới và củng cố hệ thống tài chính –
ngân hàng”.
Dưới ánh sáng Nghị quyết của Bộ Chính trị, công tác quản lý ngoại hối cần tiếp tục
đổi mới tăng cường cả về chất và lượng để góp phần đặc lực vào sự nghiệp công nghiệp
hóa hiện đại hóa đất nước. Sau đây nhóm thuyết trình xin kiến nghị một số giải pháp sau:
-

Phát huy những kết quả đã đạt được, lấy đó làm nguồn động viên khắc phục những
mặt còn yếu kém bất cập. Trong công tác quản lý ngoại hối hiện nay vấn đề cấp thiết
nhất là nắm bắt và xử lý kịp thời những thông tin về diễn biến thị trường tiền tệ trong

nước, ngoài nước. Trên cơ sở đó, đề ra những biện pháp điều hành nhanh chóng các
công cụ lãi suất, tỉ giá; chấn chỉnh những quy địng về tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại
tệ, về thị trường ngoại tệ, về biên độ giao dịch mua bán ngoại tệ, hóan đổi tiền tệ phù
hợp với thực tế và sát với cũng cầu thị trường, từng lúc, từng nơi.

-

Tích cực phát triển thêm những giao dịch ngoại hối tiên tiến như giao dịch kỳ hạn
(Forward), giao dịch quyền chọn mua, chọn bán ngoại tệ (Option), giaô dịch hóan đổi
tiền tệ (Swap), hoán đổi lãi suất ( Swap rates). Phổ biến sâu rộng và hướng dẫn khách
14


hàng làm quen với những dịch vụ, sản phẩm mới của ngân hàng. Với chất lượng cao,
chi phí hợp lý. Đi đôi với việc mở thêm và cải tiển các nghiệp vụ, dịch vụ mới về
ngoại hối, một mặt cần nâng cao phong cách giao tiếp, thực sự tôn trọng khách hàng;
mặt khác tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành chính sách quản lý
ngoại hối trong nội bộ ngành ngân hàng và ngoài xã hội.
-

Để tiến bước vững chắc trên lộ trình hội nhập và trong điều kiện cạnh tranh gay gắt
với các tổ chức tín dụng trong nước và các ngân hàng nước ngoài, vấn đề nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực (nhất là ở các ngân hàng cấp cơ sở) về trình độ, năng lực
quản lý điều hành, trình độ tác nghiệp, trình độ ngoại ngữ ở trong nước và nước ngoài
cần được đặt ra một cách cấp thiết. Đi đôi với vấn đề đào tạo cán bộ, cần quan tâm
phát triển mạng lứoi, tăng cướng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ ngân hàng để giữ
vững và mở rộng thị phần.

-


Một khi mọi giao dịch ngoại tệ đều thông qua quan hệ mua bán thì cần chấm dứt việc
huy động vốn và cho vay vốn bằng ngoại tệ. Quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu đều được thực hiện thông qua ngân hàng. Đặt ra vấn đề
này nhằm phòng ngừa những rủi ro bất khả kháng. Khi các doanh nghiệp vay vốn
ngoại tệ trung dài hạn không có khả năng tái rạo ngoại tệ để trả nợ ngân hàng đúng
hạn gốc và lãi, hoặc khi gặp sự cố người gửi ngoại tệ rồng rắn đòi rút tiền ra, ngân
hàng sẽ mất khả năng thanh toán. Trong trường hợp ấy, Ngân hàng Nhà nước không
thế đóng vai trò là người cho vay cuối cùng để cứu hộ các ngân hàng thương mại và tổ
chức tín dụng khác bởi vì Ngân hàng Nhà nước không có quyền năng phát hành ngoại
tệ.

15


KẾT LUẬN
Quản lý và kinh doanh ngoại hối là một mảng hoạt động rất khó khăn nhưng rất
quan trọng của ngành ngân hàng và các doanh nghiệp. Nó đem lại nguồn lợi nhuận lớn
cho đất nước, song nó cũng phải thường xuyên đối mặt với những rủi ro khó lường. Kinh
doanh ngoại hối không phải chỉ vì lợi ích của riêng ngân hàng mà thông qua các nghiệp
vụ, dịch vụ ngoại hối, nó có vai trò thúc đẩy các ngành khác liên quan đến hoạt động kinh
tế đối ngoại của Nhà nước.
Trong những năm qua, công tác quản lý và kinh doanh ngoại hối đã thu được
những kết quả đáng ghi nhận, giữ được ổn định giá trị đối nội, đối ngoại của đồng tiền
Việt Nam, góp phần phục vụ và thúc đấy nên kinh tế phát triển ổn định và bền vững.
Những thiếu sót, bất cập đang tồn tại là những khuyết điểm khó tránh trong quá trình hội
nhập và phát triển. Như vậy hoạt động của ngân hàng nói chung, hoạt động ngoại hối của
các doanh nghiệp nói riêng cần ra sức khắc phục những tồn tại, khó khăn, dũng cảm vượt
lên chính mình để không bị tụt hậu trước những đổi mới của thời đại và cố gắng phấn đấu
để VNĐ sớm trở thành đồng tiền có khả năng chuyển đổi.


16


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Website Ngân hàng Nhà nước Việt Nam />2. GS. NGƯT. Đinh Xuân Trình, Giáo trình Thanh toán quốc tế - Trường Đại học
Ngoại Thương
3. Thị trường hối đoái và thị trường tiền tệ - NXB Tài chính Hà Nội 1996
4. Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng
5. Phí Đăng Minh, Cần xem lại quyền sở hữu ngoại tệ, báo điện tử Vnexpress.net,
truy cập ngày 24/9/2011 < />6. Pháp lệnh ngoại hối, Ủy ban thường vụ Quốc hội Số 28/2005/PL-UBTVQH11
ngày 13/12/2005
7. Nghị định 160/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Pháp lệnh Ngoại hối của Thủ tướng
chính phủ

17



×