Tải bản đầy đủ (.docx) (41 trang)

Tình hình hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận kho vận tại Vietrans.docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (247.97 KB, 41 trang )

GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
KHỐI KINH DOANH
DỊCH VỤ
Phòng hàng không
Phòng công trình
Phòng vận tải quốc tế
Phòng xuất nhập khẩu
Phòng gửi hàng
Phòng chuyển tải
Phòng giao nhận vận tải
Phòng Marketing
Xí nghiệp dịch vụ xây dựng
Kho Yên Viên
Kho Pháp Vân
Đội xe
KHỐI PHÒNG
QUẢN LÝ
Phòng kế toán tài vụ
Phòng pháp chế
Phòng tổ chức cán bộ
Phòng tổng hợp
Phòng hành chính quản trị
CÁC CHI NHÁNH TRỰC THUỘC
Vietrans Hải Phòng
Vietrans Nghệ An
Vietrans Đà Nẵng
Vietrans Nha Trang
Vietrans Quy Nhơn
Vietrans Sài gòn
CÁC CÔNG TY LIÊN DOANH


Lotus Joint Venture Co.Ltd Vietrans- (Liên doanh giữa Mỹ- Ucraina)
TNT- VIETRANS
Express worldwide VietNam Ltd ( Việt Nam – Hà Lan )
CÁC VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN Ở NƯỚC NGOÀI

1 . ODESSA
MOSCOW
VLADIVOSTOCK
BANGKOK
SINGAPORE

GIÁM ĐỐC
LỜI NÓI ĐẦU
Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước có sự đóng góp
không nhỏ của cộng đồng các doanh nghiệp. Chân dung nhà doanh nghiệp đã
được nhìn nhận và đánh giá đúng đắn, chính xác trong mối quan hệ gắn bó
hữu cơ giữa sự phát triển của nền kinh tế đất nước với sự lớn mạnh của cộng
đồng các doanh nghiệp Việt Nam. Trong các nguồn nội lực tiềm năng chưa
được phát huy thì điều đáng chú ý nhất là trí tuệ và tinh thần dân tộc của nhân
dân ta, đặc biệt là đội ngũ trí thức và các nhà kinh doanh.
So với buôn bán hàng hoá, buôn bán dịch vụ ngày càng gia tăng,
chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Giao thông vận tải là một loại hình kinh
doanh đặc thù, là một khâu trong quá trình đưa hàng hoá từ tay người bán đến
tay người mua. Hoạt động giao nhận vận tải kịp thời và hợp lý sẽ giúp hàng
hoá luân chuyển nhanh chóng, đáp ứng kịp thời nhu cầu của cả người gửi lẫn
người nhận hàng. Trong giai đoạn hiện nay đất nước ta đang thực hiện chính
sách mở cửa, giao lưu quốc tế, do đó lượng hàng hoá lưu chuyển ngày càng
nhiều, kim ngạch xuất nhập khẩu cũng ngày càng lớn. Với tư cách là một dịch
vụ phục vụ đắc lực cho hoạt động xuất nhập khẩu, hoạt động giao nhận vận
tải đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình. Hoạt động giao

nhận giờ đây không chỉ bó gọn trong việc nhận hàng tại cảng bốc để chuyên
chở đến cảng đích mà còn mở rộng dịch vụ đưa hàng từ bất cứ địa điểm nào
theo yêu cầu của người gửi đến tận tay người nhận.
Ý thức được tầm quan trọng và sự phức tạp của hoạt động kinh doanh
dịch vụ giao nhận, em đã chọn đề tài “Tình hình hoạt động kinh doanh dịch
vụ giao nhận kho vận tại Vietrans “.
Nội dung bài báo cáo này được chia thành 3 phần:
1
PHẦN 1: Dịch vụ kho vận giao nhận ngoại thương và vai trò của nó
trong nền kinh tế thị trường.
PHẦN 2: Thực trạng hoạt động giao nhận tại VIETRANS.
PHẦN 3: Một số giải pháp phát triển dịch vụ giao nhận, kho vận ở
VIETRANS.
Để hoàn thành bản thu hoạch thực tập này, em xin chân thành cám ơn
sự giúp đỡ tận tình của thầy Bùi Văn Lưu và trưởng phòng xuất nhập khẩu Hà
Duy Lợi. Tuy nhiên trong một giới hạn cho phép về thời gian và kiến thức ít
ỏi của bản thân, nên báo cáo này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất
mong được sự chỉ bảo, đóng góp của quý thầy, cô và các bạn.
Sinh viên thực hiện
Vũ Kim Ngân
PHẦN I
2
DỊCH VỤ GIAO NHẬN KHO VẬN NGOẠI THƯƠNG
VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
I. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM VỀ DỊCH VỤ GIAO NHẬN KHO VẬN.
1. Dịch vụ.
Cùng với sự phát triển kinh tế, tỷ trọng của dịch vụ, đặc biệt là các dịch
vụ bao hàm mức độ trí tuệ cao, trong tổng thu nhập xã hội ngày càng tăng, ở
các nước phát triển, dịch vụ chiếm 70-75% GNP. Ngày nay, dịch vụ đã thực

sự trở thành một ngành có tầm quan trọng lớn, thúc đẩy kinh tế phát triển và
xã hội đi lên. Vì vậy mà các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng: “ Sau xã hội
công nghiệp là xã hội dịch vụ, và nó là lĩnh vực sản xuất vật chất lớn nhất của
xã hội hiện đại “. Vậy dịch vụ là gì?
- Theo nghĩa rộng: Dịch vụ được hiểu là lĩnh vực thứ ba trong nền
kinh tế quốc dân. Theo cách hiểu này, các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai
ngành công nghiệp, nông nghiệp đều thuộc ngành dịch vụ.
- Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ là những hoạt động hỗ trợ cho quá trình kinh
doanh, bao gồm cả các hỗ trợ trước, trong và sau khi bán.
Khác với hàng hoá vật chất, dịch vụ là một quá trình và có bốn đặc
điểm riêng biệt sau:
Một là, các dịch vụ là vô hình: chất lượng của dịch vụ chủ yếu
phụ thuộc vào sự cảm nhận của khách hàng.
Hai là, dịch vụ không đồng nhất, luôn luôn biến động.
Ba là, sản xuất và tiêu dùng dịch vụ luôn diễn ra đồng thời.
Bốn là, dịch vụ không thể cất giữ được trong kho tàng làm phần
đệm, điều chỉnh sự thay đổi nhu cầu thị trường.
3
Cùng với đà phát triển của xã hội ngày càng có nhiều loại hình dịch vụ
mới ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Nói chung có hai loại hình
dịch vụ chính như: dịch vụ mang tính sản xuất( dịch vụ vận tải, cho thuê máy
móc...) và dịch vụ mang tính thương mại thuần tuý( dịch vụ quảng cáo, giám
định hàng hóa, tư vấn...). Và đây chính là một thị trường rộng mở đối với các
doanh nghiệp.
2. Dịch vụ giao nhận.
a. Khái niệm:
Theo luật Thương Mại Việt Nam 1997: Dịch vụ giao nhận hàng hoá là
hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng
từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục giấy tờ, các
dịch vụ khác có liên quan để giao nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của

người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác.
Trước đây, khi sản xuất và lưu thông chưa phát triển thì giao nhận là
một khâu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Khi sản
xuất và lưu thông phát triển ở mức độ cao, nhu cầu vận chuyển hàng hoá lớn
thì hoạt động giao nhận tách riêng thành một nghề mới. Hiện nay, giao nhận
đã trở thành ngành kinh doanh dịch vụ rất phát triển, đánh dấu cho sự phát
triển đó là sự ra đời của các tổ chức và các điều ước quốc tế về giao nhận như:
FIATA, IATA, IMO....
Người kinh doanh dịch vụ giao nhận hay còn gọi là người giao nhận có
thể là chủ tàu, công ty xếp dỡ, người giao nhận chuyên nghiệp. . . hay bất kỳ
người nào có đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá. Ngày nay,
người giao nhận không chỉ làm đại lý, thực hiện thủ tục giấy tờ, thuê tàu...
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và thương mại quốc tế họ còn
cung cấp dịch vụ trọn gói về quá trình vận tải và phân phối hàng hoá .
4
Trong thực tế, việc giao và nhận hàng cũng như việc thực hiện các công
việc khác không phải chỉ diễn ra trong phạm vi một quốc gia mà nó đồng thời
diễn ra ở nhiều nước khác nhau. Do vậy một Công ty giao nhận không thể có
đủ cơ sở vật chất, phương tiện vận chuyển cũng như các điều kiện khác để
đáp ứng được yêu cầu này mà họ thường phải đi thuê các nhà chuyên chở :
hãng tàu, hãng hàng không, đường sắt. . . để hoàn thành công việc của mình.
Dây chuyền vận tải này có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dịch vụ. Do
vậy, khi tổ chức một dây chuyền vận tải, người giao nhận cần phải nắm rõ:
+ Các thị trường
+ Những trở ngại
+ Những yêu cầu về chứng từ
+ Các chi phí
+ Các phương tiện vận tải khác nhau, lợi ích và bất lợi của mỗi loại, giá
cả.
+ Theo kịp những thay đổi của các hãng tàu và các công hội hàng hải

+ Tiến hành nghiên cứu vận tải đối với việc vận chuyển hàng công trình.
Người giao nhận quốc tế có khả năng và sẵn sàng giải quyết mọi vấn đề về
hậu cần và vận tải trên quy mô toàn thế giới.
b. Đặc điểm:
+ Do đặc điểm của loại dịch vụ này là phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố
bên ngoài như các đơn vị nguồn hàng, các đơn vị vận chuyển, các đơn vị nhận
hàng. . . nên trong quá trình thực hiện không thể hoàn toàn chủ động được.
+ Dịch vụ giao nhận mang tính thời vụ do chịu ảnh hưởng của tính thời
vụ trong hoạt động xuất nhập khẩu.
+ Dịch vụ giao nhận còn mang đặc điểm của dịch vụ vận tải, bởi dịch
vụ giao nhận bao hàm cả dịch vụ vận tải.
3. Dịch vụ kho vận
a. Khái niệm:
5
Dịch vụ kho vận là hình thức dịch vụ phục vụ khách hàng ở kho bao
gồm các dịch vụ chính như cho thuê kho để chứa, bảo quản và vận chuyển
hàng hoá...; ngoài ra còn có các dịch vụ khác như: xếp dỡ, đóng gói, giám
định chất lượng hàng hoá...
Vì cũng là một loại hình dịch vụ nên dịch vụ kho vận cũng có những
điểm giống với các ngành dịch vụ khác. Tuy nhiên, dịch vụ kho cũng có
những đặc điểm riêng:
+ Phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu khách hàng nên hoạt động dịch
vụ có thể diễn ra thất thường, không liên tục.
+ Khối lượng hàng gửi qua kho phụ thuộc vào tuyến đường và
phương tiện chuyên chở. Nếu phương tiện chuyên chở tiện lợi và liên tục thì
nhu cầu gửi hàng sẽ tăng.
II. VAI TRÒ CỦA DỊCH VỤ GIAO NHẬN KHO VẬN NGOẠI THƯƠNG
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
Giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu là ngành nghề dịch vụ thương
mại gắn liền và liên quan mật thiết tới hoạt động ngoại thương và vận tải

đối ngoại. Đây là một loại hình dịch vụ thương mại không cần đầu tư
nhiều vốn nhưng mang lại một nguồn lợi tương đối chắc chắn và ổn định
nếu biết khéo léo tổ chức và điều hành trên cơ sở tận dụng hệ thống cơ sở
hạ tầng hiện có. Trong xu thế quốc tế hoá đời sống như hiện nay thì hoạt
động giao nhận càng có vai trò quan trọng. Điều này thể hiện ở:
- Đặc điểm nổi bật của thương mại quốc tế là người mua và người bán
ở những nước khác nhau. Sau khi hợp đồng mua bán được ký kết, người bán
thực hiện việc giao hàng tức là hàng được vận chuyển từ người bán sang
người mua. Để cho quá trình vận chuyển đó được bắt đầu, tiếp tục và kết
thúc tức là hàng hoá tới tay người mua, cần phải thực hiện một loạt các công
việc khác nhau liên quan tới chuyên chở như: đưa hàng ra cảng, làm thủ tục
6
gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyển tải hàng ở dọc đường, dỡ hàng ra khỏi tàu
và giao cho người nhận. . . tất cả những công việc đó là nghiệp vụ của người
giao nhận. Như vậy, trước tiên nghiệp vụ giao nhận là điều kiện không thể
thiếu cho sự tồn tại và phát triển của thương mại quốc tế.
- Hoạt động giao nhận tạo điều kiện cho hàng hoá lưu thông nhanh
chóng, an toàn, tiết kiệm mà không cần có sự tham gia hiện diện của người
gửi cũng như người nhận hàng.
- Giúp người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ vòng quay của các phương
tiện vận tải; tận dụng một cách tối đa và có hiệu quả dung tích, trọng tải của
các phương tiện vận tải, các công cụ vận tải cũng như các phương tiện hỗ trợ
khác.
- Tạo điều kiện cho các nhà xuất nhập khẩu có thể tập trung vào hoạt
động kinh doanh của họ.
- Góp phần giảm giá thành hàng hoá xuất nhập khẩu.
- Bên cạnh đó, giao nhận cũng giúp các nhà xuất nhập khẩu giảm bớt
các chi phí không cần thiết khác như: chi phí xây dựng kho tàng, bến
bãi nhờ vào việc sử dụng kho tàng, bến bãi của người giao nhận, chi
phí đào tạo nhân công.

III.PHẠM VI CÁC DỊCH VỤ GIAO NHẬN:
Các dịch vụ này bao gồm:
1. Thay mặt người gửi hàng (người xuất khẩu):
Theo chỉ dẫn của họ người giao nhận sẽ:
- Chọn tuyến đường, phương thức vận tải và người chuyên chở thích
hợp
- Lưu cước với người chuyên chở
- Nhận hàng từ người xuất khẩu và cấp những chứng từ thích hợp
7
- Nghiên cứu những điều khoản trong tín dụng thư và các điều kiện có
liên quan.
- Đóng gói hàng hoá (trừ phi việc này do người gửi hàng làm trước
khi giao hàng cho người nhận) có tính đến tuyến đường, phương thức vận
tải, bản chất của hàng hoá và những luật lệ áp dụng.
- Lo liệu việc lưu kho hàng hoá nếu cần.
- Cân đo hàng hoá.
- Lưu ý người gửi hàng mua bảo hiểm nếu được yêu cầu.
- Vận chuyển hàng hoá tới cảng, lo việc khai báo Hải quan và các thủ
tục chứng từ có liên quan, giao hàng cho người chuyên chở.
- Lo việc giao dịch ngoại hối nếu có.
- Thanh toán phí và những chí phí khác bao gồm cả tiền cước.
- Nhận vận đơn đã ký của người chuyên chở giao cho người gửi hàng.
- Thu xếp việc chuyển tải trên đường nếu cần.
- Giám sát việc vận chuyển hàng hoá trên đường đi
- Ghi nhận những tổn thất của hàng hoá nếu có.
- Giúp người gửi hàng khiếu nại nếu cần.
2. Thay mặt người nhận hàng.
Theo những chỉ dẫn giao hàng người giao nhận sẽ:
- Tổ chức và giám sát việc vận chuyển hàng hoá.
- Nhận và kiểm tra những chứng từ có liên quan.

- Nhận hàng của người chuyên chở nếu cần thì thanh toán cước.
- Khai báo Hải quan và trả lệ phí, thuế và những chi phí có liên quan.
- Thu xếp việc lưu kho quá cảnh nếu cần.
- Giao hàng đã làm thủ tục Hải quan cho người nhận hàng.
- Giúp người nhận hàng khiếu nại nếu cần.
8
- Giúp người nhận hàng trong việc lưu kho và phân phối hàng nếu cần.
3. Những dịch vụ khác.
Ngoài những dịch vụ nêu trên tuỳ thuộc vào yêu cầu của khách hàng,
người giao nhận cũng có thể cung cấp các dịch vụ khác như: cung cấp thông
tin về nhu cầu tiêu dùng mới, thông báo về tình hình cạnh tranh, thực hiện
dịch vụ tư vấn, cung cấp các dịch vụ đặc biệt khác( vận chuyển hàng công
trình, vận chuyển quần áo treo trên mắc, chuyên chở hàng triển lãm ở nước
ngoài).
Như vậy qua Phần 1 ta đã có một cái nhìn chung nhất về dịch vụ giao
nhận kho vận và vai trò của ngành này trong sự phát triển chung của nền kinh
tế. Nhưng để có một cái nhìn sâu sắc hơn cũng như có sự hiểu biết tường tận
chúng ta hãy tìm hiểu về hoạt động của Công ty VIETRANS ở phần 2 của bài
Báo Cáo này.
PHẦN II
9
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN KHO VẬN
TẠI VIETRANS
I. VÀI NÉT VỀ CÔNG TY
1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty giao nhận kho vận ngoại thương - VIETRANS là một doanh
nghiệp nhà nước thuộc Bộ Thương Mại, hoạt động theo chế độ hạch toán
kinh tế tự chủ tài chính. Là tổ chức giao nhận đầu tiên được thành lập ở
Việt Nam theo quyết định số 554/BNT ngày 13/8/1970 của Bộ Thương
Mại. Khi đó công ty lấy tên là cục kho vận kiêm Tổng Công Ty giao nhận

ngoại thương. Hiện nay tên chính thức của công ty là “ Công ty giao nhận
kho vận ngoại thương “, tên giao dịch là “ VietNam National Foreign Trade
Forwarding and Warehousing Corporation “, tên viết tắt là VIETRANS
được thành lập theo quyết định số 337/TCCB ngày 31/3/1993 của Bộ
Thương Mại.
Trước năm 1986, do chính sách Nhà nước nắm độc quyền ngoại
thương nên VIETRANS là đơn vị duy nhất hoạt động trong lĩnh vực giao
nhận kho vận ngoại thương, nhưng hoạt động chủ yếu chỉ giới hạn ở các
kho, cảng, cửa khẩu. Sau đại hội đảng lần thứ VI, tình hình kinh tế nước ta
có nhiều biến chuyển mới. Việc buôn bán trao đổi hàng hoá giữa Việt nam
với các nước ngày càng phát triển, VIETRANS đã mở rộng phạm vi hoạt
động và vươn lên trở thành một công ty giao nhận quốc tế có quan hệ đại lý
rộng khắp trên thế giới. VIETRANS đã tham gia nhiều tổ chức, nhiều hiệp
hội khác nhau và chính thức trở thành hội viên của FIATA từ 1989. Thời kỳ
từ 1989 tới nay, nền kinh tế nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường.
Trong bối cảnh đó, VIETRANS mất thế độc quyền và phải bước vào cuộc
cạnh tranh gay gắt với các tổ chức kinh tế khác hoạt động trong lĩnh vực
10
giao nhận kho vận. Để thích ứng với môi trường hoạt động kinh doanh
mới, VIETRANS đã tiến hành đổi mới toàn diện từ định hướng chiến lược,
phương thức hoạt động đến quy mô, hình thức và cách tổ chức hoạt động,
điều hành. Công ty không chỉ chú ý đặc biệt tới tăng cường cơ sở vật chất
mà còn chú ý đào tạo ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ nhằm không ngừng
nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như uy tín của công ty.
Cho tới nay, VIETRANS đã trở thành một công ty giao nhận quốc tế,
là một trong những sáng lập viên của VIFFAS , là một đại lý hàng không
của IATA và còn là thành viên của Phòng Thương Mại và Công nghiệp
Việt Nam. Hiện nay, VIETRANS có 6 chi nhánh ở các tỉnh thành phố: Hải
Phòng, Nghệ An, Đà Nẵng, Nha Trang, Quy Nhơn, thành phố Hồ Chí
Minh, hai liên doanh (TNT-VIETRANS; LOTUS) và văn phòng đại diện ở

trong và ngoài nước.
2.Chức năng và nhiệm vụ của công ty
2.1 Chức năng:
-Tiến hành và nhận uỷ thác dịch vụ kho vận, giao nhận, vận chuyển hàng
hoá, thuê và cho thuê kho bãi, lưu cước các phương tiện vận tải (tàu biển, máy
bay, sà lan...) và các dịch vụ khác có liên quan như gom hàng, làm thủ tục
Hải quan, mua bảo hiểm hàng hoá....
- Tư vấn về các vấn đề giao nhận, vận tải và các vấn đề khác có liên quan.
- Nhận uỷ thác xuất nhập khẩu hoặc kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp.
- Thực hiện kinh doanh vận tải công cộng phù hợp với quy định của nhà
nước.
- Làm đại lý cho các hãng tàu nước ngoài và làm các công tác phục vụ cho
tàu biển của nước ngoài vào cảng của Việt Nam.
11
- Liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước trong các
lĩnh vực vận chuyển, giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu, thuê tàu ... ..
2.2 Nhiệm vụ
- Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo hoạt động kinh doanh của
Công ty và các đơn vị trực thuộc theo quy chế hiện hành.
- Bảo đảm việc bảo toàn và bổ sung vốn trên cơ sở tự tạo nguồn vốn,
sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, làm chọn nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà
nước.
- Thường xuyên cải tiến, nâng cấp các phương tiện kỹ thuật để đảm bảo
việc giao nhận, chuyên chở hàng hoá an toàn.
- Nghiên cứu tình hình thị trường dịch vụ giao nhận, kho vận, đề ra các
biện pháp nhằm thu hút khách hàng, củng cố và nâng cao uy tín của Công ty
trên thị trường trong nước và quốc tế.
- Đào tạo và bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ quản lý, nghiệp vụ
chuyên môn, ngoại ngữ cho cán bộ công nhân viên của Công ty để đáp ứng
được yêu cầu, nhiệm vụ kinh doanh ngày càng cao.

3. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của công ty VIETRANS
Đứng đầu Công ty là Tổng Giám đốc do Bộ trưởng Bộ Thương Mại bổ
nhiệm hoặc miễn nhiệm. Giúp việc có hai Phó giám đốc, trong đó có một Phó
tổng giám đốc thứ nhất. Các Phó giám đốc do tổng giám đốc đề nghị và được
thủ trưởng cơ quan chủ quản là Bộ thương Mại bổ nhiệm hoặc miễm nhiệm.
Trong trường hợp Tổng giám đốc vắng mặt thì Phó tổng giám đốc thứ nhất là
người thay mặt Tổng Giám Đốc điều hành mọi hoạt động của Công ty.
Hiện nay Công ty có các khối phòng ban sau:
+ Khối kinh doanh dịch vụ: Bao gồm các phòng ban có chức năng kinh
doanh nhằm tự trang trải và nuôi sống cán bộ văn phòng Công ty.
12
+ Khối quản lý: Các Phòng Ban trong khối có nhiệm vụ giúp Tổng
Giám Đốc trong công tác quản lý mọi hoạt động của Công ty: quản trị, quản
lý và theo dõi tình trạng máy móc, trang thiết bị, vật tư ....lập kế hoạch xây
dựng cơ bản cải tạo, mở rộng, sửa chữa, xây dựng mới Xí nghiệp, Văn phòng
công ty .. ., tham gia quản lý các công trình xây dựng, giải quyết các thủ tục
về xây dựng.
13
II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ GIAO NHẬN
KHO VẬN TẠI CÔNG TY
1. Tình hình hoạt động kinh doanh chung của Công ty trong
những năm qua
Là một trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực giao nhận ở Việt
Nam, sau những bước thăng trầm tưởng chừng không thể vượt nổi thì trong
những năm gần đây, do ổn định cơ cấu, Vietrans bước đầu đã có những bước
tiến vững chắc trong hoạt động kinh doanh.
Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Vietrans.
Đơn vị: triệu VND
Chỉ tiêu 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Doanhthu(DT) 27.876

28.87
6
27.76
2
25.30
8
27.54
2
28.051
Lợi nhuận(LN) 2.389 2.163 1.802 1.684 1.902 2.005
Nộp ngân sách 5.805 4.955 5.672 7.452 6.322 6.872
LN/DT 0,075 0,065 0,066 0,069 0,071
(Nguồn: Báo cáo tổng kết cuối năm)
Doanh thu của công ty trong những năm gần đây
Nhìn vào bảng kết quả kinh doanh và biểu đồ trên ta thấy:
14
- Doanh thu năm 1998, 1999 giảm so với năm 1996, 1997(từ 28476
triệu VND xuống còn 25308 triệu VND), lợi nhuận cũng giảm nhiều(từ 5805
triệu VND xuống còn 1684 triệu đồng). Có thể nói kết quả kinh doanh năm
1999 thấp nhất so với các năm. Qua phân tích và tìm hiểu, công ty đã đưa ra
một số nguyên nhân sau:
+ Do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ khu
vực Châu á năm 1997 làm cho tốc độ đầu tư của các nước vào Việt Nam
chững lại, lượng vật tư thiết bị nhập khẩu giảm đi mà đây lại là loại hàng
hoá có khối lượng lớn, do đó sản lượng giao nhận hàng nhập khẩu giảm đi
rõ rệt.
+Hoàn cảnh kinh tế nước ta lúc đó gặp nhiều khó khăn: tốc độ tăng
trưởng kinh tế giảm, hiệu quả và năng lực cạnh tranh còn thấp, thị trường kém
sôi động đặc biệt là thiên tai lũ lụt liên tiếp xảy ra.
+ Ngoài việc cạnh tranh và san sẻ thị trường với các tổ chức dịch vụ

giao nhận vận tải ngoại thương trong nước kể cả quốc doanh và ngoài quốc
doanh, VIETRANS còn phải đối mặt với lực lượng cạnh tranh mạnh hơn là
các công ty giao nhận quốc tế. Đặc biệt là việc nhiều đại lý giao nhận nước
ngoài được phép mở văn phòng đại diện tại Việt Nam đã làm cho quy mô,
mức độ uỷ thác giao nhận vận tải hàng hoá theo đó cũng thu hẹp dần, thậm
chí cắt hẳn hợp đồng đại lý. Các hãng tàu nước ngoài như: APM, HAPAG -
LlOYd.. .cũng đã tổ chức vận chuyển và cung ứng những dịch vụ phụ trợ cho
hoạt động giao nhận tại Việt Nam, do đó làm cho mức độ cạnh tranh trên thị
trường ngày càng gay gắt.
+ Lượng hàng xuất khẩu đã qua chế biến của Việt Nam ngày càng tăng,
đó là điều đáng mừng, song sản lượng hàng hoá xuất khẩu tính trên khối
lượng giảm xuống.
15

×