Tải bản đầy đủ (.pdf) (68 trang)

Vai trò của luật sư bào chữa trong hoạt động tố tụng hình sự và phương hướng hoàn thiện

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (776.27 KB, 68 trang )

TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
---

---

Tên ñề tài:

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ BÀO CHỮA TRONG
HOẠT ðỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN
Luận văn tốt nghiệp

Trung tâm Học liệu ĐH Cần
ThơCử
@Nhân
Tài liệu
Ngành:
Luậthọc tập và nghiên cứu

Giảng viên hướng dẫn:
MẠC GIÁNG CHÂU

Sinh viên thực hiện:
ðẶNG KIM THÚY
Mã Số SV: 5032154
Lớp: Luật Tư pháp – K29
CẦN THƠ 06/2007

1



LỜI CẢM ƠN
----

----

Sau bốn năm học tập tại trường ñại học, em ñã ñược các thầy cô trong trường,
trong khoa tận tình hướng dẫn và truyền ñạt những kiến thức giúp em vững bước vào
ñời.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Luật, Trường ðại Học Cần Thơ,
những người ñã hết sức tận tâm truyền ñạt kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm cuộc
sống trong suốt quá trình học tập. Qua ñó em có ñược nền tảng tri thức vững chắc cho
tương lai. Nhất là sự giúp ñỡ tận tình của cô Mạc Giáng Châu, người trực tiếp hướng
dẫn em trong suốt thời gian tìm hiểu và hoàn thành luận văn này. Nhân ñây em cũng xin
chân thành cảm ơn Luật sư Nguyễn Kì Việt Chương, người ñã giúp ñỡ em rất nhiều
trong thời gian qua.

Cần thơ,
tháng
06,tập
năm và
2007nghiên cứu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ
@ngày
Tài30,
liệu
học
Sinh viên thực hiện

ðặng Kim Thúy


2


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
1 – Tinh thần và thái ñộ trong quá trình làm việc:

2 – Văn bản luận văn:
a/ ðặt vấn ñề:

b/ Nội dung:

Chú thích, thư mục:
Trungc/tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

3 – ðánh giá xếp loại:
a/ ðánh giá:.

b/ Xếp loại:

Cần thơ, ngày , tháng 07, năm 2007

Giáo viên hướng dẫn kí duyệt

GV Mạc Giáng Châu.
3


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

1 – ðặt vấn ñề:

2 – Nội dung chính:

3 – Chú thích, Thư mục:

Trung4 tâm
liệu bày:
ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
– HìnhHọc
thức trình

5 – ðánh giá, xếp loại:
ðánh giá:

Xếp loại:

Cần thơ, ngày , tháng 07, năm 2007
Giáo viên phản biện kí duyệt

4


MỤC LỤC
----

----

LỜI MỞ ðẦU
1

2

Lí do chọn ñề tài
Phạm vi nghiên cứu ñề tài

1
1
2

3
4

Mục tiêu nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu

2
2

5

Bố cục ñề tài

2

Chương I
NHỮNG VẤN ðỀ CHUNG VỀ QUYỀN BÀO CHỮA
VÀ LUẬT SƯ BÀO CHỮA
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm bào chữa


4
4
4

1.1.1.2 Khái niệm quyền bào chữa
1.1.1.3 Khái niệm người bào chữa
1.1.1.4 Khái niệm Luật sư bào chữa
1.1.2 ðặc ñiểm quyền bào chữa
Trung 1.1.3
tâm Học
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên
Ý nghĩa quyền bào chữa
1.2 Cơ sở lý luận của quyền bào chữa và Luật sư bào chữa
1.2.1 Lược sử hình thành chế ñịnh quyền bào chữa và Luật sư bào chữa
1.2.2 Một số quan niệm về quyền bào chữa và Luật sư bào chữa
1.2.2.1 Quan niệm về quyền bào chữa
1.2.2.2 Quan niệm về luật sư bào chữa
1.2.3 Vai trò của quyền bào chữa và Luật sư bào chữa trong hoạt ñộng
tố tụng hình sự
1.2.3.1 Vai trò của quyền bào chữa trong hoạt ñộng tố tụng hình sự
1.2.3.2 Vai trò của Luật sư bào chữa trong hoạt ñộng tố tụng hình sự
Chương II
VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ BÀO CHỮA
THEO QUY ðỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
2.1 Vai trò của Luật sư bào chữa trong giai ñoạn khởi tố
2.1.1 Khái niệm và ñặc ñiểm của giai ñoạn khởi tố
2.1.2 Vai trò của Luật sư bào chữa trong giai ñoạn khởi tố bị can
2.2 Vai trò của Luật sư bào chữa trong giai ñoạn ñiều tra, truy tố
2.2.1 Khái niệm và ñặc ñiểm của giai ñoạn ñiều tra, truy tố


5
6
8
9
cứu
10
11
11
14
14
15
16
16
18

20
20
21
22
22
5


2.2.2 Vai trò của của Luật sư bào chữa trong giai ñoạn ñiều tra, truy tố
2.3 Vai trò của Luật sư bào chữa trong giai ñoạn xét xử
2.3.1 Khái niệm và ñặc ñiểm của giai ñoạn xét xử
2.3.2 Vai trò của Luật sư bào chữa trong giai ñoạn xét xử
2.4 Vai trò của Luật sư bào chữa trong giai ñoạn tái thẩm và giám ñốc thẩm


23
26
26
27
29

2.4.1 Khái niệm và ñặc ñiểm của giai ñoạn tái thẩm và giám ñốc thẩm
2.4.2 Vai trò của Luật sư bào chữa trong giai ñoạn tái thẩm
và giám ñốc thẩm
Chương III
MỘT SỐ VẤN ðỀ VỀ THỰC TIỄN VÀ
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆNVAI TRÒ
CỦA LUẬT SƯ BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
3.1 Một số tồn tại về vai trò của Luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự

29

3.1.1 Về lý luận
3.1.1.1 Về khái niệm quyền bào chữa

29

31
31
31

3.1.1.2 Về khái niệm Luật sư
32
3.1.1.3 Về quan niệm Luật sư
33

3.1.1.4 Quan niệm về vị trí của Luật sư bào chữa trong tố tụng hình sư
33
Trung 3.1.2
tâm Học
liệu
ĐH
Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Về quy
ñịnh
củaCần
pháp luật
35
3.1.2.1 Về phạm vi thực hiện quyền bào chữa của Luật sư bào chữa
35
3.1.2.2 Về các hành vi nghiêm cấm ñối với Luật sư bào chữa
36
3.2 Những tồn tại về vai trò của Luật sư bào chữa trong thực tiễn
38
3.2.1 Về hoạt ñộng bào chữa của Luật sư bào chữa trong các giai ñoạn tố tụng38
3.2.1.1
3.2.1.2

Giai ñoạn khởi tố vụ án
Giai ñoạn ñiều tra

3.2.1.3 Giai ñoạn xét xử
3.2.2 Hoạt ñộng của Luật sư bào chữa trong giai ñoạn hiện nay
3.2.2.1 Thứ nhất, là về vấn ñề ñào tạo nghề Luật sư hiện nay

38

42
48
51
51

3.2.2.2 Thứ hai là về vấn ñề ñạo ñức ngề nghiệp của Luật sư
53
3.2.2.3 Thứ ba là về vấn ñề vai trò của Luật sư bào chữa trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế hiện nay
3.2.2.4 Thứ tư là về vấn ñề oan sai trong quá trình tố tụng
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

55
56
59
61

6


LỜI MỞ ðẦU
----

----

1. Lí do chọn ñề tài
Trong những năm qua, Việt Nam ñã gặt hái ñược nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh
vực, ñặc biệt là năm vừa qua (2006) Việt Nam ñã thành công rực rỡ trên con ñường hội
nhập: Việt Nam là thành viên chính thức của WTO, tiếp ñến là tổ chức thành công Hội

nghị APEC lần thức 14 ñã mở ra cho Việt Nam con ñường rộng mở trong tương lai với
nhiều thuận lợi và thời cơ, thu hút ngày càng ñông ñảo sự ñầu tư, hợp tác của nước
ngoài vào Việt Nam. Việt Nam từ bấy lâu ñã mở cánh cửa hội nhập thì nay cánh cửa ñó
lại càng rộng mở hơn ñể chào ñón tất cả các nước láng giềng, bè bạn khắp năm châu
hãy ñến làm bạn và bắt tay hợp tác trong mọi lĩnh vực với Việt Nam.
Trước bối cảnh hội nhập hiện nay, ñòi hỏi Luật sư phải hoàn thiện hoạt ñộng nghề
nghiệp của mình, thứ nhất nâng cao vai trò của Luật sư về trình ñộ chuyên môn: Phải
học hỏi thêm ở các Luật sư nước ngoài về cách lập luận bào chữa trên phiên tòa, phong
cách làm việc năng ñộng, sáng tạo của họ; thứ hai là về sự tiếp xúc của Luật sư Việt
Nam với khách hàng nước ngoài còn nhiều hạn chế do rào cản về ngôn ngữ (trình ñộ
ngoại ngữ của các Luật sư hiện nay còn quá kém không ñủ tiêu chuẩn ñể ñáp ứng những
hỏi của
khách
hàng
nước
ngoài).
Trong
ñó, liệu
vai tròhọc
của Luật
thực tế vẫn
Trungñòitâm
Học
liệu
ĐH
Cần
Thơ
@khiTài
tậpsưvàtrênnghiên
cứu

chưa ñược nhà nước quan tâm toàn diện.
ðứng trước tình hình này, nước ta ñã ñề ra nhiều chính sách, chủ trương, ñường
lối phù hợp và ñáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Trong số ñó ñáng quan tâm là Nghị
quyết số 08-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm của
công tác tư pháp trong thời gian tới”- ñây là Nghị quyết ñầu tiên của Bộ chính trị ñề cập
một cách toàn diện về nhiệm vụ cải cách tư pháp ñề ra những ñịnh hướng, quan ñiểm
chỉ ñạo, biện pháp cụ thể ñối với công tác tư pháp. Có thể nói, Nghị quyết 08 ñã ñem lại
“sinh khí mới” cho hoạt ñộng của các cơ quan tư pháp, ñặc biệt trong lĩnh vực hỗ trợ tư
pháp của Luật sư. Vai trò chủ yếu của Luật sư là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án và giúp ñỡ, hướng dẫn kiến thức pháp lí
cho người dân, qua ñó Luật sư góp phần bảo vệ công lý, ánh sáng công minh, góp phần
phát triển kinh tế ñất nước và ñảm bảo dân chủ - công bằng - văn minh xã hội, là bộ
phận có vai trò rất quan trọng trong hoạt ñộng tư pháp. Thế nhưng, vị thế của họ cho
ñến nay vẫn chưa ñược khẳng ñịnh trong lĩnh vực hoạt ñộng này nhất là trong hoạt ñộng
tố tụng hình sự. Mặc dù theo tinh thần của Nghị quyết số 08 là ñang trên ñường từng
bước cải thiện vai trò của Luật sư nhưng vẫn còn nhiều mặt tồn tại và nhiều khó khăn
trở ngại cho việc nâng cao vai trò của Luật sư trong giai ñoạn hiện nay và những thời
gian tới.
7


Vì thế, vấn ñề về Luật sư cần ñược quan tâm hơn nữa nhằm làm rõ thực trạng hiện
tại về vai trò và thực tiễn hoạt ñộng của Luật sư nói chung, ñặc biệt trong lĩnh vực tố
tụng hình sự từ ñó ñưa ra những thành tựụ, hạn chế và phương hướng góp phần hoàn
thiện nâng cao vai trò của Luật sư hơn nữa trong tố tụng hình sự ñể hoạt ñộng hành
nghề của Luật sư ñạt hiệu quả cao phù hợp với tình hình mới nhiều chuyển mình ñổi
mới hiện nay. ðây cũng chính là lí do tôi chọn vấn ñề “Vai trò của Luật sư bào chữa
trong hoạt ñộng tố tụng hình sự và phương hướng hoàn thiện” ñể làm ñề tài luận văn tốt
nghiệp.


2. Phạm vi nghiên cứu ñề tài
Khi nói ñến Luật sư là chúng ta luôn nghĩ họ gắn liền với hai vai trò tư vấn pháp lí
và bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án trong hoạt ñộng tố
tụng hình sự và nhiều lĩnh vực hoạt ñộng khác như tố tụng dân sự, kinh tế, …
Với bài viết này, tác giả chỉ tập trung ñi sâu làm rõ cơ sở lý luận, phân tích các
quy ñịnh của pháp luật hiện hành và thực tiễn vai trò của Luật sư với chức năng bào
chữa trong hoạt ñộng tố tụng hình sự.

3. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tham khảo một số bài viết nghiên cứu về vai trò của Luật sư cùng với
việc tìm hiểu thực tiễn qua gặp gỡ Luật sư và những người trong cơ quan tiến hành tố
người
viếtliệu
muốnĐH
ñánhCần
giá ñược
thực@
trạng
ñộng
của tập
Luật sư
chữa trong
Trungtụng,
tâm
Học
Thơ
Tàihoạt
liệu
học
vàbào

nghiên
cứu
lĩnh vực tố tụng hình sự thể hiện qua một số thành tựu, hạn chế của quá trình hành nghề
Luật sư trong thời gian qua, ñồng thời ñề ra phương hướng hoàn thiện vai trò của Luật
sư trong hoạt ñộng bào chữa ở giai ñoạn hiện nay và sắp tới.

4. Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu, người viết sử dụng một số phương pháp chính sau:
- Lô - gích;
- Lịch sử;
- Khảo sát thức tế;
- Thống kê;
- Phân tích tổng hợp, ñối chiếu và so sánh.

5. Bố cục ñề tài
Ngoài lời mở ñầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính của
luận văn gồm có ba Chương, 8 tiết, cụ thể:
+ Chương I: Những vấn ñề chung về quyền bào chữa và Luật sư bào chữa. Trong
chương này tác giả ñề cập ñến các vấn ñề về: Khái niệm bào chữa, quyền bào chữa,
người bào chữa, Luật sư và Luật sư bào chữa; lịch sử hình thành quyền bào chữa và

8


Luật sư bào chữa; các quan niệm và vai trò của quyền bào chữa và Luật sư bào chữa
trong tố tụng hình sự.
+ Chương II: Vai trò của Luật sư bào chữa theo quy ñịnh của pháp luật hiện
hành. Ở chương này, tác giả ñề cập ñến vai trò của Luật sư bào chữa theo quy ñịnh pháp
luật hiện hành qua các giai ñoạn tố tụng: Khởi tố, ñiều tra, truy tố, xét xử, giám ñốc
thẩm và tái thẩm.

+ Chương III: Một số vấn ñề về thực tiễn và phương hướng hoàn thiện vai trò của
Luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự. ðối với nội dung của chương III, tác giả khái
quát một số thành tựu, phân tích một số tồn tại và từ ñó ñưa ra các phương hướng về vai
trò của Luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự về lý luận, theo quy ñịnh của pháp luật
và trong hoạt ñộng thực tiễn.

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

9


Chương I
NHỮNG VẤN ðỀ CHUNG VỀ QUYỀN BÀO CHỮA
VÀ LUẬT SƯ BÀO CHỮA
----

----

1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm bào chữa
Ngay từ thời xa xưa, con người ñã biết lên tiếng chống lại những lời gán ghép tội
lỗi hoặc những khẳng ñịnh rằng người ñó là có tội do có những hành ñộng trái với
những tập tục, quy tắc sống của cộng ñồng. Cụ thể trong xã hội Cộng sản nguyên thủy,
con người chưa biết ñến pháp luật nhưng tồn tại trong lòng xã hội ñó những nguyên tắc
xử sự mang tính cưỡng chế do mọi người tự nguyện tuân theo. Khi một người vi phạm
một trong những quy tắc chung ñã ñược mọi người công nhận thì áp dụng các biện pháp
cưỡng chế khắc nghiệt nhưng họ thường không chấp nhận sự trừng phạt ñó mà họ sẽ
dùng lí lẽ, lời nói của mình hoặc bằng một hành ñộng cụ thể nào ñó ñể bảo vệ họ thoát
khỏi hay ñược giảm nhẹ cho tội mà họ ñã làm.

Ở Việt Nam, vào thời phong kiến, vua chúa phán quyết người nào có tội là người
ñó phải chịu hình phạt chẳng hạn như: Xử tử, lưu ñày…hay các hình phạt khác tùy theo

Trungmức
tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ñộ phạm tội và họ không ñược quyền tự bảo vệ cho mình, vào thời ñó chưa có một
quy ñịnh nào cho phép người phạm tội ñược bảo vệ bởi người thứ hai.
Trải qua thời gian dài ñấu tranh chống giặc ngoại xâm, Việt Nam ñã giành ñược
ñộc lập và xây dựng ñất nước theo con ñường xã hội chủ nghĩa. Khi ñó, pháp luật Xã
hội chủ nghĩa ra ñời ñã thừa nhận cho con người khi bị buộc tội ñược quyền bảo vệ cho
mình bằng hành ñộng bào chữa, hành ñộng bào chữa này ñược hiểu cụ thể qua các quan
niệm xung quanh vấn ñề bào chữa.
Thứ nhất, hành vi bào chữa ñược thực hiện bởi các chủ thể: người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo. ðiều này ñược khẳng ñịnh từ quy ñịnh của Bộ luật tố tụng hình sự tại ðiều
11: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ñược quyền tự mình bào chữa hoặc nhờ người
khác bào chữa”.
Thứ hai, có thể nói bào chữa như một chức năng tố tụng, tồn tại ở tất cả các giai
ñoạn của tố tụng hình sự, từ giai ñoạn khởi tố vụ án, ñiều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
và giai ñoạn giám ñốc thẩm, tái thẩm. Như vậy hành vi bào chữa không thể chỉ dừng lại
ở giai ñoạn xét xử mà nó ñược mở rộng ra ñến giai ñoạn thi hành án và giám ñốc thẩm,
tái thẩm. Ở ñó người bị kết án sẽ thực hiện hành vi bào chữa cho mình khi bị hàm oan
hoặc khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, phát hiện ra tình tiết mới của bản
án hoặc quyết ñịnh ñã có hiệu lực pháp luật của Toà án.
10


Thứ ba, hành vi bào chữa không chỉ ñược thực hiện bởi người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo, người bị kết án mà còn ñược thực hiện bởi người bào chữa bao gồm: Luật sư;
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa

viên nhân dân. Mặc dù người bào chữa không ñược luật quy ñịnh cho quyền bào chữa
nhưng ñược thay cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện quyền
bào chữa ñể bảo vệ quyền lợi cho họ. Theo quy ñịnh của luật ở ðiều 11 Bộ luật tố tụng
hình sự thì người bào chữa ñược bảo vệ cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo từ giai ñoạn
khởi tố vụ án, ñiều tra, truy tố, xét xử. Nhưng theo thực tiễn hoạt ñộng tố tụng hình sự,
người bào chữa còn ñược bào chữa cho người bị kết án trong giai ñoạn thi hành án và
giai ñoạn giám ñốc thẩm, tái thẩm.
Tóm lại, ñến ñây ñã có thể khái quát lên khái niệm bào chữa: “Bào chữa là hành
vi của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án và người bào chữa ñưa ra các
tình tiết và chứng cứ chứng minh cho sự không có tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm pháp
lý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trước các cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án
hình sự”.
1.1.1.2. Khái niệm quyền bào chữa
Theo quan ñiểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong xã hội Xã hội chủ nghĩa, con
người là vốn quý nhất trong số tất cả các giá trị của xã hội, xã hội này khác hẳn về chất
với các xã hội trước ñây. Xã hội Xã hội chủ nghĩa luôn tạo ra mọi khả năng và ñiều
Trungsotâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
kiện thuận lợi ñể ñảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân. Việc bảo ñảm tự do
dân chủ và các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân trong xã hội Xã hội chủ
nghĩa không còn là những khẩu hiệu mang tính hình thức mà giờ ñây chẳng những nó
ñã ñược khẳng ñịnh trong các Văn kiện của ðảng Cộng sản, Hiến pháp và pháp luật của
Nhà nước Xã hội chủ nghĩa mà còn ñược thực hiện sinh ñộng trong thực tiễn của quá
trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội.
Tại ðại hội ðảng lần thứ VI ðảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung
ương ðảng ñã nhấn mạnh là phải “thực hiện dân chủ Xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo
ñảm quyền công dân”.
Một trong các quyền tự do dân chủ của con người trong xã hội Xã hội chủ nghĩa là
quyền ñược ñưa ra những bằng chứng, căn cứ ñể chứng minh về sự không có tội hoặc
ñể làm giảm tội của họ trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quyền bào chữa trong

tố tụng hình sự là một trong những nội dung của quyền trên.
Cho tới nay, những vấn ñề xung quanh quyền bào chữa như khái niệm, chủ thể
của quyền bào chữa, nội dung của quyền bào chữa vẫn là những vấn ñề còn gây tranh
cãi giữa các nhà khoa học pháp lý cũng như các cán bộ làm công tác thực tiễn áp dụng
pháp luật. ðây là vấn ñề ñược hiểu nhiều cách khác nhau, thể hiện trong các quan ñiểm
pháp lý cũng như trong các quy ñịnh của pháp luật về tố tụng hình sự.
11


Về khái niệm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự hiện vẫn chưa có cách lý giải
nào thống nhất cho vấn ñề này, vì thế ñể có cách hiểu chính xác về khái niệm quyền bào
chữa trong tố tụng hình sự, chúng ta cần có sự phân biệt giữa khái niệm quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự với một số khái niệm giáp ranh khác như “quyền ñược bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân”, khái niệm “nguyên tắc bảo ñảm quyền bào
chữa”.
Bởi vì nếu chúng ta nhầm lẫn các khái niệm này với nhau sẽ dẫn ñến hậu quả cho
rằng quyền ñược bảo vệ của các ñương sự trong các vụ án dân sự, kinh tế cũng chính là
quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự. Trong khi
quyền ñược bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là bao hàm nhiều lĩnh
vực: Trong dân sự, hành chính, kinh tế… thì nguyên tắc bảo ñảm quyền bào chữa chỉ
dùng trong tố tụng hình sự.
Quyền bào chữa là một trong rất nhiều quyền của công dân, như một chức năng tố
tụng nó tồn tại ở tất cả các giai ñoạn của tố tụng hình sự, chính vì thế không thể nói
quyền bào chữa chỉ là quyền của bị can, bị cáo… bởi vì quyền bào chữa ñược thực hiện
cả khi chưa có quyết ñịnh khởi tố bị can trong trường hợp có người bị tạm giữ và chưa
hẳn nó kết thúc khi tố tụng hình sự kết thúc. ðiều này cũng có nghĩa nói lên bản chất
của quyền bào chữa là ñể bảo vệ cho bốn loại người sau: Người bị tạm giữ, bị can, bị
(người bị nghi là phạm tội) và người bị kết án.
Trungcáotâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Từ sự phân tích ở trên, chúng ta ñưa ra khái niệm tổng quát về quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự như sau: “Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là tổng hòa các
hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở
phù hợp với quy ñịnh của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội
của các cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm pháp lý của
mình trong các vụ án hình sự”.
1.1.1.3. Khái niệm người bào chữa
Như ñã phân tích, quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là nhằm ñể bảo vệ cho
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án. Những người này ñược quyền sử dụng
các biện pháp do luật ñịnh ñể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và bình
ñẳng với Kiểm sát viên trong việc ñưa ra, chứng cứ, ñưa ra yêu cầu và tranh luận trước
tòa. Nhưng trong thực tế, do có hạn chế về trình ñộ hiểu biết pháp luật nên họ không thể
thực hiện một cách ñầy ñủ các quyền ñó (như các quyền: ðề nghị thay ñổi người tiến
hành tố tụng, người giám ñịnh, người phiên dịch, quyền có ý kiến về bản cáo trạng,
quyền yêu cầu mời thêm nhân chứng,…). Những quyền nói trên dễ trở thành hình thức,
ít có hiệu quả nếu không có sự giúp ñỡ của người bào chữa bởi vì người bào chữa là
người am hiểu pháp luật và có nhiều kinh nghiệm vận dụng pháp luật trong thực tiễn xét
xử ñể ñảm bảo công lý. Chính vì vậy, có thể khẳng ñịnh công việc của người bào chữa
12


là thực hiện công việc bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, ñó
là trách nhiệm là nghĩa vụ của người bào chữa. Trách nhiệm và nghĩa vụ này này tồn tại
trên cơ sở thỏa thuận giữa những người này và người bào chữa. Sự thỏa thuận giữa
những người nói trên là một dạng của hợp ñồng dân sự và sự tham gia của người bào
chữa trong tố tụng hình sự xuất phát từ hợp ñồng này.
Mục ñích sự tham gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự là bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án và bảo
vệ họ khỏi sự vi phạm có thể có từ phía những người tiến hành tố tụng và những người
tham gia tố tụng khác. Vì vậy xuất phát từ ý thức chủ quan của mình, người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo, người bị kết án có thể nhờ và từ chối người bào chữa ở bất cứ giai ñoạn
nào của tố tụng nếu họ thấy sự tham gia của người bào chữa không làm tốt hơn hoặc
làm xấu ñi tình trạng của họ. Chính vì lẽ này chúng ta thấy rằng không thể coi người
bào chữa là người tham gia tố tụng ñộc lập. Một số tác giả dựa vào quy ñịnh của tố tụng
hình sự thực ñịnh cho phép người bào chữa quyền ñược tự mình kháng cáo bản án theo
hướng có lợi cho bị cáo khi bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược ñiểm về
thể chất hoặc tâm thần ñể coi người bào chữa là người tham gia tố tụng ñộc lập là không
ñủ cơ sở xác ñáng. Khi tham gia tố tụng hình sự, trong phạm vi ñược pháp luật cho
phép, người bào chữa có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện các hành vi tố tụng khác nhau
chữa cho người bị buộc tội một cách có hiệu quả. Trong trường hợp người
Trungnhằm
tâmbàoHọc
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
bào chữa tiến hành bào chữa cho người chưa thành niên hoặc người có nhược ñiểm về
thể chất hoặc tâm thần thì do những người này không ñủ khả năng bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình, vì vậy, người bào chữa bằng khả năng pháp lý và trách nhiệm,
sẽ tiến hành thay mặt bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược ñiểm về thể
chất hoặc tâm thần kháng cáo ñể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Khi làm
công tác bào chữa, người bào chữa luôn chú trọng thực hiện tốt cả hai nhiệm vụ: Bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; bảo vệ sự thật và pháp luật, nên họ không coi
nhẹ một nhiệm vụ nào trong hai nhiệm vụ ñó. Nếu chỉ chú trọng ñến quyền lợi của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án mà coi nhẹ pháp luật và sự thật thì dễ ñi
ñến chỗ ngụy biện thậm chí gian dối, xuyên tạc sự thật và pháp luật. Trái lại, nếu chỉ
chú trọng bảo vệ pháp chế thì dễ ñi ñến việc biến mình thành người công tố thứ hai.
Người bào chữa tham gia tố tụng với chức năng, nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án. Trong quá trình tố tụng, tìm ra những
chứng cứ gỡ tội hoặc giảm nhẹ tội cho họ và giúp ñỡ họ những vấn ñề pháp lý cần thiết,
ðiều 58 Bộ luật tố tụng hình sự quy ñịnh: “Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi
tố bị can”.
Việc quy ñịnh cho người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can là hợp lí.

Sự tham gia tố tụng ngay từ khi khởi tố bị can không những có lợi cho bị can trong việc
13


bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ, giúp ñỡ họ những vấn ñề pháp lý cần thiết mà còn
góp phần bảo ñảm cuộc ñiều tra ñược khách quan, ñầy ñủ, chính xác.
Theo ðiều 56 Bộ luật tố tụng hình sự những người sau ñây có thể là người bào
chữa: “Luật sư; người ñại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa
viên nhân dân”.
Từ những vấn ñề phân tích trên, ta có thể rút ra khái niệm về người bào chữa:
“Người bào chữa là người tham gia tố tụng hình sự ñể làm sáng tỏ những tình tiết của
vụ án, nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án và giúp họ những hoạt ñộng pháp lý cần thiết”.
1.1.1.4. Khái niệm Luật sư bào chữa
Hiện nay, chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về Luật sư và nghề luật sư trong các
tác phẩm khoa học pháp lý và các văn bản pháp luật hiện hành. Nguyên nhân của tình
trạng trên có nguồn gốc về măt lịch sử, khi những người làm công việc bào chữa trước
Tòa án trong một thời gian dài chưa ñược coi là một nghề theo sự phân công lao ñộng
xã hội. Trong xã hội ngày nay, nghề luật sư ñã ñược công nhận và Luật sư ñã có vị thế
trong xã hội. Ở Việt Nam, nghề luật sư ñã bắt ñầu ñược coi trọng, pháp luật ñã thực sự
ghi nhận vai trò của Luật sư.
Khi Pháp lệnh Luật sư ra ñời năm 2001 vẫn chưa có một ñịnh nghĩa thật sự hoàn
Luật sư. Trong Pháp lệnh năm 2001chỉ quy ñịnh: “Luật sư là người có ñủ ñiều
Trungchỉnh
tâmvềHọc
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
kiện hành nghề theo quy ñịnh của pháp lệnh này và tham gia hoạt ñộng tố tụng, thực
hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của các cá nhân, tổ chức
nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy ñịnh của pháp luật” (tại khoản 1,
ðiều 1).

ðến khi Luật Luật sư năm 2006 chính thức có hiệu lực ngày 01/01/2007 ñã ñưa
ra khái niệm về Luật sư tương ñối hoàn chỉnh. Cụ thể tại ðiều 2 Luật Luật sư 2006 ñã
ñịnh nghĩa: “Luật sư là người có ñủ tiêu chuẩn, ñiều kiện hành nghề theo quy ñịnh của
luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau ñây
gọi chung là khách hàng)”. Nội dung dịch vụ pháp lý của Luật sư ñược liệt kê cụ thể
trong ðiều 4 bao gồm các hoạt ñộng: Tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, ñại diện ngoài
tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác.
Từ ñịnh nghĩa về Luật sư vừa nêu trên, chúng ta thấy một người Luật sư thực hiện
rất nhiều chức năng, khi Luật sư tham gia bào chữa trong tố tụng hình sự thì gọi ñó là
Luật sư bào chữa, trong các vụ án phi hình sự thì gọi là Luật sư bảo vệ, ngoài chức năng
này thì gọi là Luật sư tư vấn pháp lý. Mặc dù pháp luật Việt Nam chưa có sự phân loại
Luật sư cụ thể theo từng chức năng nhưng trên thực tế chúng ta có thể hiểu ñược các
thuật ngữ này. Vì thế cần phải phân biệt thuật ngữ “Luật sư bào chữa” với “Luật sư bảo
vệ” và “Luật sư tư vấn pháp lý”. Bởi vì thuật ngữ “Luật sư bào chữa” chỉ xuất hiện
14


trong các vụ án hình sự với chức năng là bên gỡ tội cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo,
người bị kết án còn Luật sư trong các vụ án phi hình sự như: dân sự hay kinh tế thì ñược
gọi là “Luật sư bảo vệ”. Thêm một vấn ñề nữa là chúng ta phải phân biệt khái niệm
“Luật sư là người bảo vệ quyền lợi của ñương sự trong vụ án hình sự” với khái niệm
“Luật sư bào chữa”. Theo ðiều 59 Bộ luật tố tụng hình sự, trong các vụ án hình sự,
người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ñến vụ án hình sự… có quyền
nhờ Luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình, khi Luật sư thực hiện công việc này thì ta gọi
Luật sư lúc này với tư cách là “người bảo vệ quyền lợi của ñương sự” chứ không phải là
Luật sư bào chữa. Như vậy, chỉ khi Luật sư bảo vệ quyền lợi cho người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo mới gọi là Luật sư bào chữa. Chính vì những lý do này mà chúng ta cần nắm
rõ các thuật ngữ về Luật sư ñể có cách hiểu chính xác về Luật sư bào chữa.
Từ sự phân tích trên ñây, chúng ta có thể rút ra ñược khái niệm về Luật sư bào
chữa như sau: “Luật sư bào chữa là những người có ñủ ñiều kiện hành nghề chuyên

nghiệp theo quy ñịnh của pháp luật chủ yếu thực hiện chức năng ñại diện theo ủy
quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tình nghi là tội phạm và người bị
kết án trong các vụ án hình sự”.

1.1.2. ðặc ñiểm quyền bào chữa
Thứ nhất, quyền bào chữa là một trong các bộ phận cấu thành của quyền công dân
bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình; vì vậy, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị
Trungñểtâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
kết án bằng quyền bào chữa của mình, ñưa ra các tình tiết và chứng cứ chứng minh cho
sự không có tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý của mình trong tố tụng hình sự trước

cơ quan tiến hành tố tụng.
Thứ hai, quyền bào chữa chỉ xuất hiện trong tố tụng hình sự,và một ñiểm ñặc
trưng của thuật ngữ “bào chữa” là cũng chỉ dùng trong tố tụng hình sự. Vì vậy bản chất
của quyền bào chữa là chỉ bảo vệ cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án.
Ngoài ra, người nào bị coi là có lỗi hành chính, lỗi kỷ luật, lỗi dân sự thì họ có quyền
gọi là quyền bảo vệ mà không gọi là quyền bào chữa. Vì vậy, không thể dùng khái niệm
“quyền bào chữa” chung chung ñể ám chỉ cả “quyền bảo vệ” của các ñương sự như ñã
kể trên và tất nhiên cũng không thể ñồng nhất khái niệm “quyền bào chữa” trong tố
tụng hình sự với “quyền bảo vệ” quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Mối quan hệ
giữa “quyền bảo vệ” quyền và lợi ích hợp pháp của công dân với “quyền bào chữa”
trong tố tụng hình sự là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, nội hàm của chúng
không thể ñồng nhất với nhau.
Thứ ba, quyền bào chữa tồn tại ở tất cả các giai ñoạn của tố tụng hình sự từ giai
ñoạn khởi tố vụ án ñến giai ñoạn thi hành án.
Thứ tư, chủ thể của quyền bào chữa bao gồm người bị tình nghi và người bị kết
án. Khi chưa có quyết ñịnh khởi tố bị can trong trường hợp có người bị tạm giữ thì
15



người bị tạm giữ ñược quyền thực hiện quyền bào chữa của mình theo quy ñịnh của của
Bộ luật tố tụng hình sự: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc
nhờ người khác bào chữa” (ðiều 11). Như vậy, người bị tình nghi ñã phạm tội trong vụ
án hình sự có quyền bảo vệ mình trước sự tình nghi của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền (cơ quan tiến hành tố tụng) trong suốt các giai ñoạn khởi tố, ñiều tra, truy tố, xét
xử. Cho ñến khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, họ trở thành tội phạm,
hay còn gọi là người bị kết án. Người bị kết án cũng có quyền bảo vệ mình trước sự
buộc tội của Tòa án, ñiều này ñược thể hiện rõ nhất và càng trở nên ñặc biệt có ý nghĩa
trong các trường hợp việc kết tội của Tòa án gây ra oan sai. Quyền này ñược thể hiện
trong giai ñoạn tái thẩm và giám ñốc thẩm sau khi bản án ñã có hiệu lực pháp luật. ðiều
ñó ñã nói lên rằng, chủ thể của quyền bào chữa bao gồm bốn loại người sau: Người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án.

1.1.3. Ý nghĩa quyền bào chữa
Quyền bào chữa tạo ñiều kiện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết
án có quyền ñưa ra những bằng chứng ñể bảo vệ mình trước sự buộc tội của cơ quan có
thẩm quyền. Khi một người hoặc một nhóm người cụ thể bị buộc tội thì có thể là tội
phạm nhưng cũng có thể không phải là tội phạm vì có thể họ bị bắt nhầm, bị Cơ quan
ñiều tra, Viện kiểm sát truy cứu sai ñối tượng. Từ ñó họ sẽ áp dụng quyền bào chữa mà
luật quy ñịnh ñã dành cho họ và bằng chính khả năng của mình hoặc nhờ vào sự
Trungpháp
tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
bào chữa của người khác ñể chứng minh cho sự vô tội của mình ñồng thời còn góp phần
làm rõ các yếu tố phức tạp hoặc còn mập mờ trong vụ án, và chính nhờ có quyền bào

chữa tồn tại, gắn liền với sự buộc tội làm xuất hiện quá trình tranh tụng. Và lại chính
nhờ quá trình tranh tụng ñó có sự ñối ñáp trực tiếp giữa những người tham gia tố tụng
với những người tiến hành tố tụng làm sáng tỏ những vấn ñề cần làm rõ trong vụ án, từ

ñó sẽ giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng có hướng ñi ñúng trong việc giải quyết vụ
án theo phương châm không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Hội ñồng xét
xử và Kiểm sát viên sẽ lắng nghe những lời bào chữa của bị cáo và của Luật sư bào
chữa ñể ñi ñến một kết luận chuẩn xác rằng bị cáo ñó có tội hay không có tội. Hơn thế
nữa, quyền bào chữa không phải chỉ bắt ñầu từ giai ñoạn xét xử mà xuất hiện từ khi có
sự sự tình nghi và sự tình nghi ñó ñôi khi xuất hiện cả khi chưa có quyết ñịnh khởi tố bị
can trong trường hợp có người bị tạm giữ. Ngay từ giai ñoạn ñó, người bị tình nghi có
quyền làm rõ sự thật theo hướng có lợi cho bản thân trong khuôn khổ quy ñịnh của pháp
luật nhằm giảm nhẹ tội cho mình. Và thậm chí nếu có những vấn ñề khúc quẩn trong vụ
án mà nhiều khi Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chưa kịp thời phát hiện ra ñược
mà nhờ vào quyền bào chữa của người bị tình nghi giúp các cơ quan ñó xử lý vụ án kịp
thời công minh các hành vi pham tội và người phạm tội. Tóm lại, quyền bào chữa có ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt ñộng pháp luật nói chung.
16


1.2. Cơ sở lý luận của quyền bào chữa và Luật sư bào chữa
1.2.1. Lược sử hình thành chế ñịnh quyền bào chữa và Luật sư bào chữa
Về phương diện lịch sử, Luật sư với tính chất như một nghề nghiệp thật sự xuất
hiện từ khi nào hiện vẫn là một vấn ñề tranh cãi trong giới nghiên cứu khoa học pháp lý.
Tuy nhiên, theo nhận xét của một số nhà nghiên cứu thì quyền bào chữa xuất hiện sớm
nhất ở châu Âu cùng với sự xuất hiện của Tòa án và Luật sư bào chữa xuất hiện cùng
Thẩm phán. Trong nhà nước Hi Lạp cổ, khi mà tổ chức Tòa án ñã hình thành, nguyên
cáo hoặc bị cáo ñược nhờ người thân thuộc của mình bào chữa trước Tòa án.
Vào giai ñoạn cuối cùng của nền Cộng hòa thứ IV trước công nguyên, chế ñịnh
bào chữa bắt ñầu phát triển. Việc bào chữa xuất phát tự nhiên nhằm minh oan cho bạn
bè hoặc người thân bị giai cấp thống trị bắt giam vô cớ và trừng trị một cách ñộc ñoán.
Nó xuất phát từ quyền lợi của nhân dân bị áp bức nên nhân dân ñồng tình ủng hộ và dần
dần thu hút nhiều người tham gia bào chữa trước tòa.
Từ thế kỷ thứ I trước công nguyên ñến thế kỷ thứ II sau công nguyên, tại Hy Lạp

và La Mã ñã xuất hiện một loại hiệp sĩ ñặc biệt. Loại hiệp sĩ này không dùng khí giới
hay bắp thịt ñể chiến thắng kẻ ñịch, mà chỉ dùng thiên tài ngôn ngữ và sự hiểu biết rộng
rãi về cổ luật ñể ñứng ra bênh vực cho những kẻ nghèo, yếu thế, thấp cổ bé miệng hoặc
phụ nữ bị ngược ñãi bởi các thế lực ñương thời, họ ñược gọi tên là “Advocatus” - người
hộ. Học
Các hiệp
sĩ này
càngThơ
ñông @
và ñến
kỷ thứ
IV sau
họ tập
Trungbiện
tâm
liệu
ĐHngày
Cần
Tàithếliệu
học
tậpcông
vànguyên,
nghiên
cứu
hợp tại Rome thành một ñoàn thể ñược ñộc quyền biện hộ trước Hoàng ñế. ðến cuối thế
kỷ thứ VIII mới có danh xưng “Advocats” cho 17 vị và ñược vua chúa công nhận có
quyền biện hộ trước các Tòa án. ðịnh chế Luật sư ñã trải qua nhiều giai ñoạn thăng
trầm, khi thì phát triển rạng rỡ, khi bi tiêu diệt rồi sinh thành lại cho ñến ngày nay. Sự
ghi nhận của lịch sử cho thấy vai trò của Luật sư trong việc bảo vệ quyền lợi của bị cáo,
của các ñương sự trước Tòa án không phải lúc nào và ở nơi nào cũng ñược công nhận.

Ở Việt Nam, bắt ñầu nhen nhóm chế ñịnh về quyền bào chữa và Luật sư bào chữa
ngay từ thời kỳ phong kiến, nổi bật lên thời ấy là “Bộ luật Hồng ðức” ñã xác ñịnh
nguyên tắc bảo ñảm quyền bào chữa của người phạm tội. Cụ thể, tại ðiều 691 quy ñịnh:
“Những án xét và tội nhẹ, nhưng tình lý ñáng ngờ, thì giao cho quan Viện Thẩm hình
hội ñồng bàn xét, hỏi tội nhân cho ñến lúc nhận tội; nếu tội nhân không chịu nhận tội
thì cho phép ñược bào chữa rồi phải xét lại kỹ càng…”, bảo ñảm có sự “biện luận”, xét
xử thấu tình ñạt lý, tâm phục khẩu phục. Thật vậy, ðiều 667 quy ñịnh: “Khi lấy khẩu
cung người phạm tội, Quan tra án phải xem xét kỹ tìm ra sự thật ñể cho kẻ phạm phải
nhận tội; không ñược hỏi quá rộng cả ñến người ngoài ñể tìm chứng cớ bậy…”
Những dữ kiện lịch sử nêu trên cho thấy trong xã hội phong kiến Việt Nam, về cơ
bản, nghề thầy cung, thầy kiện không ñược coi trọng bởi cách nhìn không ñúng về loại
nghề này, trong ñó nguyên nhân chính xuất phát từ quan niệm các bậc vua, chúa phong
17


kiến luôn tự coi mình là “kẻ bảo vệ dân và bảo vệ sự công bằng”, hành xử như một
người thương dân, ý chí của vua là luật cao nhất. Tuy nhiên luật thành văn thời kỳ
phong kiến, ñặc biệt là “Bộ Quốc Triều Hình Luật” ñã ghi nhận nhiều quan ñiểm mới,
tiến bộ về việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người phạm tội, cho phép ñược tự do bào
chữa và ñảm bảo việc tranh biện kỹ lưỡng.
Trong thời kì Việt Nam là thuộc ñịa của Pháp, các Luật sư ñoàn ñã ñược hình
thành ở các khu vực Hà Nội, Sài Gòn thì ñược ñặt bên cạnh các Tòa án thuộc ñịa, hoạt
ñộng Luật sư ñã có một số thay ñổi theo hướng hành nghề tự do, thay thế chế ñộ Luật
sư công chức bằng chế ñộ thi tuyển, mở rộng phạm vi hành nghề của Luật sư cho cả
người Việt Nam có quốc tịch Pháp, chế ñộ thù lao chuyển từ việc nhà nước ấn ñịnh sang
thỏa thuận. Các quy ñịnh pháp lý ñiều chỉnh về tổ chức và hoạt ñộng Luật sư của Việt
Nam thời này chịu nhiều ảnh hưởng của chế ñịnh Luật sư của Pháp. Nhưng dưới chế ñộ
Ngụy Sài Gòn, chế ñịnh Luật sư ñã mang “hơi hướng” của tự do dân chủ theo kiểu Mỹ.
Với thắng lợi của Cách mạng tháng tám, bộ máy Nhà nước phong kiến bị ñập tan
và nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - Nhà nước ñầu tiên của giai cấp công nhân và

nông dân ñược thành lập. Ngay từ khi Nhà nước còn non trẻ, chính quyền ñã kịp thời
ban hành ra hai sắc lệnh: Sắc lệnh quy ñịnh tổ chức các ðoàn thể luật sư và Sắc lệnh số
13/SL về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán, quy ñịnh về Luật sư và quyền
chữa: “Các Luật sư có quyền biện hộ trước tất cả các Tòa án trừ Tòa án sơ cấp”.
Trungbàotâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Với sự ra ñời của hai Sắc lệnh nêu trên kèm theo những quy ñịnh về vai trò, vị trí
của Luật sư trong một số phiên tòa xét xử vụ án hình sự ñã thể hiện một số thay ñổi cơ
bản so với nền pháp chế phong kiến, tư sản trước ñó. Tuy nhiên, trong các văn bản pháp
luật nêu trên, quyền bào chữa của bị cáo còn nhiều hạn chế, còn biểu hiện nhiều thiếu
sót và nhược ñiểm và không ñược thực hiện quyền bào chữa của Luật sư ở Tòa án sơ
cấp.
Song song với việc ban hành các văn bản pháp luật ñể ñiều chỉnh những quan hệ
xã hội, ngày 9-11-1946, Quốc hội ñã cho ra ñời bản Hiến pháp ñầu tiên. Với ý nghĩa là
Luật cơ bản, Hiến pháp 1946 ñã ñề cập nhiều nguyên tắc quan trọng trong ñó có nguyên
tắc về quyền bào chữa của bị cáo. Khoản 2 ðiều 67 quy ñịnh: “Người bị cáo ñược
quyền bào chữa lấy hoặc mời Luật sư”. Như vậy, lần ñầu tiên trong lịch sử ñã ñề cập
vấn ñề bảo ñảm quyền bào chữa của bị cáo ñược coi là nguyên tắc Hiến pháp, ñây thật
sự là nền móng cho quá trình phát triển và hoàn thiện chế ñịnh quyền bào chữa trong
pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam.
Tiếp sau ñó trải qua nhiều giai ñoạn, pháp luật nước ta ñã cho ra ñời Hiến pháp
hoàn chỉnh - Hiến pháp 1992, ñã thể hiện cách nhìn mới khi xác ñịnh ñịa vị pháp lý của
công dân, quyền và nghĩa vụ của công dân có những thay ñổi khá hơn so với các Hiến
pháp trước ñó, ðiều 50 của Hiến pháp 1992 ñã chính thức ghi nhận quyền con người:
18


“Ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân
sự, kinh tế, văn hóa và xã hội ñược tôn trọng, thể hiện các quyền công dân và ñược quy
ñịnh trong Hiến pháp và luật”, ðiều 71 của Hiến pháp quy ñịnh: “Công dân có quyền

bất khả xâm phạm về thân thể, ñược pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự
và nhân phẩm”. Như vậy, quyền của người công dân ñã ñược khẳng ñịnh trong Bộ luật
tố tụng hình sự 1988, ngay ở Chương I ðiều 12 với tên gọi: “Bảo ñảm quyền bào chữa
của bị can, bị cáo” quy ñịnh: “Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người
khác bào chữa”. Ở ñây quyền bào chữa là nhằm bảo vệ cho bị can, bị cáo.
ðến năm 2003, Luật tố tụng hình sự ñã có bước phát triển vượt bậc, ñó là Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003 ra ñời ñược Quốc hội nước cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26-11-2003, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7
năm 2004. Rõ ràng ñây là bước phát triển quan trọng không chỉ về kỹ thuật lập pháp mà
còn về nội dung của chế ñịnh quyền bào chữa trong luật tố tụng hình sự. ðiều 11 với tên
gọi: “Bảo ñảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” quy ñịnh: “Người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ
quan ñiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo ñảm cho người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy ñịnh của bộ luật này”. ðến ñây thì
quyền bào chữa ñược quy ñịnh không chỉ ñể bảo vệ bị can, bị cáo mà còn bảo vệ cho
tạm giữ.
Trungngười
tâmbịHọc
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Từ khi chế ñịnh về quyền bào chữa ra ñời từ các bản Hiến pháp, thì chế ñịnh về
Luật sư cũng bắt ñầu hình thành ñể ñiều chỉnh những mối quan hệ trong xã hội có liên
quan ñến quyền bào chữa. ðầu tiên là Pháp lệnh tổ chức Luật sư 1987 ñược xây dựng
dựa trên cơ sở pháp lý quy ñịnh tại ðiều 133 Hiến pháp 1980: “Tổ chức Luật sư ñược
thành lập ñể giúp bị can, bị cáo và các ñương sự khác về mặt pháp lý”. Pháp lệnh này
ra ñời tạo cơ sở cho việc hình thành và phát triển ñội ngũ Luật sư Việt Nam, chứa ñựng
những quy ñịnh cơ bản liên quan ñến tổ chức và hoạt ñộng Luật sư, phù hợp với ñiều
kiện của nước ta thời ñó. Tiếp theo những năm sau ñó, do thực hiện ñường lối ñổi mới
của ðảng, ñất nước ta có những chuyển biến to lớn về mọi mặt trong ñời sống xã hội.
Trong tình hình ñó nhiều quy ñịnh của Pháp lệnh tổ chức Luật sư không còn phù hợp
với thực tiễn, làm cho hoạt ñộng Luật sư không ñáp ứng nhu cầu giúp ñỡ pháp lý ngày

càng cao của xã hội. Chính vì thế, năm 2001 Nhà nước ta ñã cho ra ñời Pháp lệnh Luật
sư năm 2001 thay thế cho Pháp lệnh Luật sư 1987, Pháp lệnh luật sư 2001 ñược ban
hành ñã ñạt ñược những yêu cầu sau:
- Tạo cơ sở pháp lý thuận lợi ñể phát triển ñội ngũ Luật sư chuyên nghiệp ñáp ứng
nhu cầu của xã hội trong tình hình của nước ta lúc bấy giờ.
- Xác ñịnh phạm vi hoạt ñộng và hình thức hành nghề thích hợp của Luật sư cho
phù hợp với ñiều kiện xây dựng Nhà nước Pháp quyền Việt Nam;
19


- Tăng cường vai trò tự quản của tổ chức luật sư, ñồng thời ñổi mới hình thức và
nội dung quản lý Nhà nước ñối với hành nghề luật sư;
- Bảo ñảm tính kế thừa lịch sử, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài vận dụng sáng
tạo và thực tế Việt Nam.
Mặc dù Pháp lệnh ñã quy ñịnh tương ñối ñầy ñủ hành nghề luật sư nhưng do xã
hội ngày càng phát triển, nhu cầu về hoạt ñộng Luật sư ngày càng cao ñòi hỏi phải có
một Luật Luật sư ra ñời hoàn chỉnh hơn ñáp ứng những nhu cầu ñang tồn tại trong xã
hội Việt Nam hiện nay. Vì vậy, Quốc hội nước ta thông qua kỳ họp thứ 10 ñã cho ra ñời
Luật Luật sư năm 2006 và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2007. Luật này quy
ñịnh về nguyên tắc, ñiều kiện, phạm vi, hình thức hành nghề, tiêu chuẩn, quyền và
nghĩa vụ của Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật
sư, quản lý hành nghề luật sư, hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài,
Luật sư nước ngoài tại Việt Nam.

1.2.2. Một số quan niệm về quyền bào chữa và Luật sư bào chữa
1.2.2.1. Quan niệm về quyền bào chữa
Pháp luật Việt Nam quy ñịnh tại ðiều 11 Bộ luật tố tụng hình sự 2003: “Người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”. Như vậy,
pháp luật Việt Nam không dừng lại ở quan ñiểm cho rằng: Quyền bào chữa chỉ là quyền
bào chữa của người người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà chúng ta ñã có cách nhìn toàn

Trungtựtâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
diện hơn về vấn ñề này khẳng ñịnh quyền bào chữa bao gồm hai bộ phận không thể tách
rời nhau, quyền bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa. Việc thực hiện quyền tự

bào chữa không làm mất ñi hay triệt tiêu quyền ñược nhờ người khác bào chữa và
ngược lại, sự tham gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự cũng không làm mất ñi
quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Mặc dù trong ñiều luật này chỉ
quy ñịnh quyền bào chữa bảo vệ cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng trên thực tế
trong hoạt ñộng tố tụng hình sự của nước ta, bản chất của quyền bào chữa thật sự còn
bảo vệ cho một loại người nữa mà chưa quy ñịnh trong luật ñó là người bị kết án. Người
bị kết án là người ñã bị kết tội bởi một bản án ñã có hiệu lực pháp luật và ñã có thể ñi
vào giai ñoạn thi hành án nhưng họ vẫn có quyền phát hiện những vi phạm pháp luật
hoặc những tình tiết mới trong các bản án hoặc quyết ñịnh của Tòa án ñã có hiệu lực
pháp luật và có quyền thông báo cho những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền
kháng nghị theo thủ tục giám ñốc thẩm, tái thẩm (ðiều 274, 292 Bộ luật tố tụng hình sự)
nếu họ xét thấy có ñủ căn cứ ñể kháng nghị bản án hoặc quyết ñịnh ñã có hiệu lực pháp
luật ñó. Khi họ làm công việc ñó là họ ñang tự bào chữa cho mình và họ vẫn có quyền
yêu cầu Luật sư bào chữa giúp cho họ. Như vậy, quyền bào chữa còn bảo vệ cho người
bị kết án.
20


1.2.2.2. Quan niệm về luật sư bào chữa
Từ sau khi ñất nước thống nhất (1975) ñến năm 1986, nước ta xây dựng Chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc, các cơ quan nhà nước thực hiện tam quyền phân
lập: Lập pháp, hành pháp và tư pháp nhưng có sự thống nhất với nhau, khi ñó nhà nước
ta có quan niệm chỉ cần nâng cao năng lực quản lí các cơ quan tư pháp và cán bộ trong
các cơ quan tiến hành hành tố tụng là ñiều kiện bảo ñảm quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân nên bấy giờ không cần phải quan trọng hóa công việc của Luật sư. Chính vì

vậy, hoạt ñộng tuyên truyền pháp luật về Luật sư cho dân còn rất ít dẫn ñến nhận thức
của dân về vai trò của Luật sư còn rất mờ nhạt. Vì vậy, vai trò của Luật sư trong giai
ñoạn này không ñược thể hiện rõ trong tố tụng hình sự.
Sau 1986, với Nghị quyết ñại hội ðảng lần thứ VI, ñất nước ta chuyển sang thời
kỳ ñổi mới trên các lĩnh vực của ñời sống xã hội, từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp chuyển sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước ñịnh hướng Xã hội chủ nghĩa. Thực tế ñó một
mặt ñòi hỏi sự ñổi mới về Nhà nước, theo ñó quan ñiểm xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam ñã ñược chính thức thừa nhận.
Mặt khác, việc mở rộng giao lưu, hợp tác về pháp luật Việt Nam, về tập quán và
pháp luật quốc tế là ñòi hỏi tất yếu khi nước ta ñang thực hiện chủ trương hội nhập kinh
quốc tế và khu vực, trong bối cảnh ñó, các quan niệm về Luật sư bào chữa xích lại
Trungtếtâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
gần nhau hơn các quan niệm Luật sư ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.
Thế nhưng các khái niệm về Luật sư lại rất khác nhau, không có sự thống nhất với nhau
về nội dung.
Các tác giả của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn học Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và
ðào tạo giải nghĩa từ “Luật sư Bào chữa” là “Người có chức trách dùng pháp luật bào
chữa cho bị can trước tòa án”1, trong khi ñó, một nhóm tác giả khác lại giải nghĩa từ
“Luật sư” là “Trạng sư, người bênh vực cho một can phạm trước tòa án” còn trong Từ
ñiển tiếng Việt của Nhà xuất bản Thống kê năm 2005 trang 286 ñã giải nghĩa từ “Luật
sư” là “người chuyên dựa vào pháp luật ñể bào chữa cho ñương sự trước Tòa án”.
Tất cả các khái niệm trên ñều chưa ñược hoàn chỉnh, ñầy ñủ về nội dung, những
nội dung của các khái niệm này chỉ nói về chức năng bào chữa của Luật sư, trong khi ñó
Luật sư ở Việt Nam không chỉ thực hiện chức năng bào chữa mà thực hiện ñồng thời cả
hai chức năng bào chữa và tư vấn pháp lý. Vì thế nếu chỉ ñịnh nghĩa Luật sư là người
thực hiện công việc bào chữa trước Tòa án là chưa ñầy ñủ, ñồng thời dùng từ “can
phạm” và “ñương sự” trong các ñịnh nghĩa trên là chưa chính xác. Từ “Can phạm” theo
như giải nghĩa của Từ ñiển tiếng Việt – Nhà xuất bản Thống kê năm 2005 trang 72 là:

“Phạm vào tội mà pháp luật nhà nước ñã quy ñịnh”. Như vậy, theo cách hiểu ñược xác
1

Vấn ñề hoàn thiện pháp luật về Luật sư ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004, tr49

21


ñịnh trong cách giải nghĩa của Từ ñiển tiếng Việt thì “can phạm” ñã là người phạm tội
trong khi ngoài người bị kết án thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa ñược gọi là có
tội bởi chưa có bản án tuyên của Tòa án, nếu dùng từ can phạm ñể chỉ ñối tượng bào
chữa của Luật sư là không ñúng. Còn từ “ñương sự” theo ðiều 59 Bộ luật tố tụng hình
sự bao gồm: người bị hại, nguyên ñơn dân sự, bị ñơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ñến vụ án hình sự, không bao hàm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong
khi Luật sư thực hiện hoạt ñộng tố tụng chủ yếu là bào chữa cho người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo - ñây là một nội dung rất quan trọng trong tố tụng hình sự mà không ñược
thể hiện trong khái niệm Luật sư thì thật sự ñây là một ñiều thiếu sót. Nhưng hiện tại
chúng ta ñã có khái niệm về Luật sư tương ñối hoàn chỉnh ñược thể hiện trong ðiều 2
Luật Luật sư 2006: “Luật sư là người có ñủ tiêu chuẩn, ñiều kiện hành nghề theo quy
ñịnh của luật Luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ
chức”. So với các khái niệm vừa nêu trên thì nội dung thể hiện trong khái niệm này
hoàn chỉnh hơn - Luật sư là người phải ñáp ứng ñủ các yêu cầu theo quy ñịnh của luật
và họ là người thực hiện dịch vụ pháp lý bao gồm: Hoạt ñộng tố tụng, tư vấn pháp lý và
các dịch vụ khác, ñiều này ñã bao quát các hoạt ñộng của Luật sư không như các khái
niệm trên chỉ bó hẹp vai trò của Luật sư trong hoạt ñộng bào chữa. Như vậy, theo quan
niệm của luật Việt Nam hiện nay người Luật sư ñược hiểu là “người hỗ trợ tư pháp” hiện hai chức năng bào chữa và tư vấn pháp lý. Tuy nhiên, trong luận văn này,
Trungthực
tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
người viết sẽ dùng từ “Luật sư” nhằm ñể chỉ người Luật sư thực hiện chức năng bào

chữa trong tố tụng hình sự.

1.2.3. Vai trò của quyền bào chữa và Luật sư bào chữa trong hoạt ñộng tố
tụng hình sự
1.2.3.1. Vai trò của quyền bào chữa trong hoạt ñộng tố tụng hình sự
Trước tiên phải khẳng ñịnh rằng quyền bào chữa chiếm một vị trí ñặc biệt quan
trọng trong hệ thống những bảo ñảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và sự
tham gia của Luật sư bào chữa ñảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc Hiến ñịnh của tố
tụng hình sự, quyền bào chữa ñã nâng cao vai trò của người bị buộc tội trong hoạt ñộng
tố tụng hình sự. Việc xác ñịnh và thực hiện quyền bào chữa trong tố tụng hình sự không
chỉ thể hiện tính chất dân chủ Xã hội chủ nghĩa nói chung và pháp luật tố tụng hình sự
Xã hội chủ nghĩa nói riêng so với các kiểu pháp luật trước ñó mà còn là ñiều kiện cần
thiết ñảm bảo hiệu quả của hoạt ñông tư pháp. Tính chất dân chủ sẽ thể hiện rất rõ nếu
chúng ta xét vấn ñề của quyền bào chữa ñặt trong mối quan hệ giữa các cơ quan tư pháp
với những người bị buộc tội, ñó là mối quan hệ không cân xứng bởi vì một bên là người
bị tình nghi hoặc người bị buộc tội ñang trong tình trạng bị tình nghi hoặc ñang bị coi là
người có tội và ñang bị chất vấn, bị hạn chế quyền công dân, bị kiểm soát, theo dõi từng
hành ñộng, bị ñiều tra về hành vi của mình thậm chí bị hạn chế quyền tự do (tự do ñi lại,
22


tự do giao tiếp…) còn một bên là những người có chức vụ, quyền hạn ñối với những
người bị buộc tội, họ có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thậm chí cả hình phạt
nếu có và họ chính là những người có quyền ra bản án ñể kết luận bị cáo có tội hay
không có tội. Từ vấn ñề ñó chúng ta thấy nếu không có quyền bào chữa thì khi bị tình
nghi, bị buộc tội, những người ñang ở trong tình trạng này sẽ không có quyền bào chữa
cho mình, họ sẽ không ñược bảo vệ trước pháp luật, họ sẽ bị thiệt thòi, bị bắt buộc phải
chấp hành những hình phạt vô cớ, vô lý không ñúng với quy ñịnh của pháp luật mà
không ñược quyền ñưa ra những bằng chứng thậm chí không ñược quyền cãi lại trước
lời buộc tội của các cơ quan có thẩm quyền. Hơn thế nữa, nếu không có quyền bào chữa

những người buộc tội muốn kết luận ai có tội là quyền của họ mà không cần phải nghe
những lời biện bạch của bị can, bị cáo từ ñó dễ dàng dẫn ñến oan sai, giải quyết vụ án
không minh bạch, không công bằng, không ñảm bảo tính khách quan mà lại mang tính
chủ quan nhiều hơn trong quá trình kết tội và còn ảnh hưởng ñến danh dự, gây thiệt hại
về tinh thần và vật chất cho người bị buộc tội oan. Một hậu quả nghiêm trọng hơn là
làm mất lòng tin nơi dân, hệ thống pháp luật nước ta không còn ñảm bảo tính công
bằng, dân chủ, ñúng như pháp lý quy ñịnh. Chính xuất phát từ nguyên nhân này mà hiện
nay hệ thống pháp luật nước ta quy ñịnh chế ñịnh quyền bào chữa cụ thể trong Bộ luật
tố tụng hình sự 2003, có quyền bào chữa sẽ nâng cao quyền và lợi ích hợp pháp của
buộc tội trong tố tụng hình sự và làm tăng sự tin cậy của xã hội ñối với pháp
Trungngười
tâmbịHọc
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
luật Việt Nam nói riêng và pháp luật Xã hội chủ nghĩa nói chung.
Dưới ánh sáng Nghị quyết của ðảng, quyền bào chữa của bị can, bị cáo có ý nghĩa
ñặc biệt quan trọng ñối với việc tiếp tục dân chủ hóa công tác xét xử và tăng cường bảo
vệ quyền của công dân trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc pháp chế Xã hội chủ
nghĩa và các quy phạm tố tụng của các Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, cùng
với việc quan tâm cuộc sống của nhân dân, các cơ quan nhà nước cần phải tôn trọng và
bảo ñảm các quyền của công dân ñã ñược Hiến pháp quy ñịnh. Các cơ quan Tòa án,
Viện kiểm sát, Thanh tra và các Cơ quan ñiều tra phải dựa vào dân ñể phát hiện và ngăn
chặn kịp thời những vi phạm quyền của công dân.
Quyền bào chữa của bị can, bị cáo không phải chỉ là sự bảo ñảm khỏi sự tình nghi,
sự buộc tội không có căn cứ mà còn là một phương tiện quan trọng ñể nhận biết sự thật
khách quan của vụ án nhằm thực hiện các bảo ñảm trong tố tụng hình sự. Tuân theo các
nguyên tắc tố tụng hình sự, việc bảo ñảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo có tác ñộng
tích cực ñến chất lượng xét xử và xác ñịnh sự thật khách quan của vụ án. Nếu pháp luật
quy ñịnh quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà không bảo ñảm thực
hiện nguyên tắc ñó thì phải ñược xem là vi phạm pháp luật tố tụng hình sự bởi vì nó hạn
chế quyền của bị can, bị cáo và ảnh hưởng ñến việc ra bản án có căn cứ, hợp pháp và

công minh.
23


1.2.3.2. Vai trò của Luật sư bào chữa trong hoạt ñộng tố tụng hình sự
Trong công cuộc ñấu tranh, phòng chống tội phạm, yêu cầu ñặt ra là: “Phát hiện
chính xác, nhanh chóng, xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không ñể lọt
tội phạm không làm oan người vô tội”. ðể góp phần hỗ trợ cho hoạt ñộng tư pháp, giúp
cơ quan tiến hành tố tụng xử lý và giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và
ñầy ñủ; làm rõ những chứng cứ xác ñịnh có tội, những tình tiết tăng nặng và những tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý của bị can, bị cáo thì Bộ luật tố tụng hình sự ñã quy
ñịnh sự tham gia của Luật sư với tư cách là người bào chữa bảo vệ cho người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự.
Khi nói tới vai trò của Luật sư là nói tới những tác ñộng, ảnh hưởng của Luật sư
ñối với cá nhân, tổ chức trong quá trình hoạt ñộng của mình, ñối với xã hội thông qua
chức năng cao quý của nghề nghiệp, góp phần vào quá trình phát triển dân chủ, tạo lập
công bằng xã hội, trước hết phải khẳng ñịnh sự tham gia của Luật sư trong tố tụng hình
sự là cần thiết khách quan. Không thể chỉ coi ñây là hình thức thể hiện nội dung dân chủ
trong quá trình khởi tố, ñiều tra, truy tố, xét xử tội phạm khi trong các hoạt ñộng nêu
trên có thêm sự tham gia của những người có trình ñộ pháp lý nhưng không ñại diện cho
công quyền ñể giải quyết vụ án. Sự tham gia của Luật sư trong tố tụng hình sự cần thiết
trước tiên bởi vai trò của họ trong việc thực hiện nguyên tắc bảo ñảm quyền bào chữa
những người bị buộc tội trong thực tế không chỉ bảo ñảm tính dân chủ của luật tố
Trungcủatâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
tụng hình sự Xã hội chủ nghĩa mà ñi xa hơn nữa là chính vai trò của Luật sư ñã tạo ra
ñiều kiện ñể Tố tụng hình sự ñạt ñược những mục ñích ñặt ra trong ñó có mục ñích bảo
vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Như vậy, sẽ là phi dân chủ
và phi khoa học nếu không thừa nhận vai trò của Luật sư trong tố tụng hình sự.
Trong thực tiễn, do hạn chế về trình ñộ hiểu biết pháp luật nên không phải bất cứ

người bị buộc tội nào cũng có khả năng thực hiện ñược và thực hiện có hiệu quả quyền
bào chữa của mình. Chính vì vậy sự giúp ñỡ về mặt pháp lý cho họ từ phía Luật sư là
cần thiết. Chức năng của Luật sư là bảo vệ quyền cơ bản của con người và thực hiện
công bằng xã hội. Luật sư phải thực hiện các nghĩa vụ của mình một cách trung thực,
phải cố gắng hết sức ñể duy trì trật tự xã hội và ñể tăng cường hệ thống pháp luật phù
hợp với chức năng của mình. Bằng hoạt ñộng của mình Luật sư góp phần tích cực bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, tăng cường quản lý kinh tế và quản lý xã hội theo pháp
luật; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức; góp phần vào
việc giải quyết các vụ án ñược khách quan, ñúng pháp luật; góp phần thực hiện quyền
bình ñẳng của mọi công dân trước pháp luật, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; giáo
dục công dân tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống Xã
hội chủ nghĩa. Là người am hiểu pháp luật, thông qua việc hành nghề, Luật sư bào chữa
phải trau dồi kiến thức và sử dụng kiến thức ñó ñể tăng cường giáo dục và phát triển hệ
24


thống pháp luật. Ngoài ra, Luật sư còn quan tâm ñến những khiếm khuyết vệc thực thi
pháp luật và ý thức ñược rằng người nghèo, ñôi khi có cả người không nghèo không
nhận ñược sự hỗ trợ pháp lý ñầy ñủ, vì vậy phải dành thời gian và ảnh hưởng của mình
ñể giúp ñỡ họ.
Luật sư ñóng một vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo vệ quyền cơ bản của
công dân và phát triển xã hội, cùng với thời gian, ñội ngũ Luật sư Việt Nam dần dần
khẳng ñịnh rõ vị trí, vai trò của mình trong xã hội. Luật sư với tư cách là người có kiến
thức sâu, rộng về pháp luật có chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức, tham gia tích cực trong việc bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa, cần phải khẳng
ñịnh mình hơn nữa trong công cuộc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

25



×